Mô hình này ban đầu chỉ là xây dựng một tài sản với danh mục thị trường, rủi ro hệ thống hay “beta” có thể đo lường chính xác rủi ro của tài sản và quyết định tỷ suất sinh lợi của tài sả
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- ω -
HOÀNG THỊ ANH THƯ
TÍNH HỆ SỐ BETA THEO CHỈ SỐ VN-TOTAL ĐẠI DIỆN TỔNG THỂ THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Trang 2
- ω -
HOÀNG THỊ ANH THƯ
TÍNH HỆ SỐ BETA THEO CHỈ SỐ VN-TOTAL ĐẠI DIỆN TỔNG THỂ THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế Tài chính – Ngân hàng
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Trang
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, bạn bè, gia đình và các đồng nghiệp
Trước hết, tôi xin chân thành gởi lời cảm ơn đến PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Trang - người đã rất tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và các anh chị trong công ty chứng khoán đã hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này
TP.Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2011 Học viên
Hoàng Thị Anh Thư
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi với sự giúp đỡ của Cô hướng dẫn và những người mà tôi đã cảm ơn; số liệu thống kê là trung thực, nội dung
và kết quả nghiên cứu của luận văn này chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào cho tới thời điểm hiện nay.
Trang 5Mục lục nội dung
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Tính cấp thiết của đề tài 1
3. Mục tiêu nghiên cứu 2
4. Đối tượng nghiên cứu 2
5. Phạm vi nghiên cứu 3
6. Phương pháp nghiên cứu 3
7. Dữ liệu nghiên cứu 4
8. Bố cục luận văn 4
9. Những đóng góp của luận văn 4
CHƯƠNG 1: HỆ SỐ BETA VÀ NHỮNG BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM 5
1.1 Tìm hiểu beta và những ứng dụng của beta vào việc nghiên cứu thị trường vốn . 5
1.2 Beta phụ thuộc vào nhiều nhân tố 7
1.3 Khảo sát thực nghiệm trước đây 9
1.3.1 Những bằng chứng thực nghiệm từ thị trường Mỹ 11
1.3.2 Bằng chứng từ thị trường Anh 13
1.3.3 Bằng chứng thực nghiệm ở thị trường Nhật 15
1.3.4 Bằng chứng từ thị trường mới nổi 16
1.3.5 Bằng chứng từ thị trường Việt Nam 19
1.4 Kết luận chương 1 22
CHƯƠNG 2: KIỂM TRA TÍNH ỔN ĐỊNH VÀ NHỮNG HẠN CHẾ CỦA HỆ SỐ BETA TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM HIỆN NAY 24
2.1. Tổng quan thị trường chứng khoán Việt Nam 24
2.1.1 Số công ty niêm yết 24
Trang 62.1.3 Giá trị vốn hóa thị trường 27
2.2. Kiểm tra tính ổn định của hệ số beta 31
2.2.1. Phương pháp kiểm tra 31
2.2.2 Kết quả 36
2.3. Kết luận chương 2 42
CHƯƠNG 3: TÍNH CHỈ SỐ VN-TOTAL ĐẠI DIỆN CHO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM VÀ HỆ SỐ BETA THEO CHỈ SỐ VN-TOTAL 43 3.1 Tính chỉ số VN-Total đại diện cho thị trường chứng khoán Việt Nam 43
3.1.1 Phương pháp tính 43
3.1.2 Kết quả 46
3.2 Hệ số beta theo chỉ số VN-Total 50
3.3 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 57
3.4 Khuyến nghị sử dụng hệ số beta trong quyết định đầu tư 57
3.5 Kết luận chung 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
PHỤ LỤC 1: Danh mục các công ty chứng khoán trong mẫu phân tích 62
PHỤ LỤC 2: Bài nghiên cứu của Sromon Das (2008) 63
PHỤ LỤC 3: Giả thuyết mô hình CAPM 79
PHỤ LỤC 4: Giả thuyết của hồi quy tuyến tính 81
Trang 8
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2. 1 Số lượng công ty niêm yết trên sàn qua các năm 2000-2010 25
Bảng 2. 2 Khối lượng và giá trị giao dịch trên hai sàn từ 2000-2010 26
Bảng 2. 3 Giá trị beta của mỗi chứng khoán 36
Bảng 2. 4 Ước tính phương trình hồi quy sử dụng thời gian như một biến số 38
Bảng 2. 5 Ước lượng phương trình hồi quy bằng biến giả 41
Bảng 3. 1 Chỉ số VN-Total, VN-Index, HAX-Index giai đoạn 2006-2011 46
Bảng 3. 2 Chỉ số VN-Total theo cách tính VN-Index, theo trọng số khối lượng giao dịch và theo trọng số khối lượng niêm yết 49
Bảng 3. 3 Giá trị beta của các chứng khoán 51
Bảng 3. 4 Ước tính phương trình hồi quy sử dụng thời gian như một biến số 53
Bảng 3. 5 Ước tính phương trình hồi quy sử dụng biến giả với chỉ số VN-Total 55
Trang 9DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2. 1 Giá trị vốn hoá thị trường trên HOSE năm 2000-2010 (tỷ đồng) 28
Hình 2. 2 Giá trị vốn hoá trên cả hai sàn và Upcom (%GDP) 28
Hình 3. 1 Chỉ số VN-Total, VN-Index, HAX-Index giai đoạn 2006-2011 47
Hình 3. 2 Chỉ số VN-Total, VN-Total theo KLGD, VN-Total theo KLNY 50
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thị trường chứng khoán là một khái niệm quen thuộc tại các nước có nền kinh tế phát triển. Trong những năm qua thị trường chứng khoán Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ, đáp ứng ngày càng đa dạng và phong phú của các nhà đầu tư. Bên cạnh đó thì thị trường chứng khoán cũng có những biến động lớn dẫn đến sự thua lỗ cũng như sụt giảm chỉ số VN-Index. Do đó, đầu tư chứng khoán cũng có rủi ro, rủi ro đó là sự
bất ổn, sự biến thiên có khả năng của lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận kỳ vọng. Thông thường để đo lường rủi ro người ta dùng phân phối xác suất với các tham số đo lường phổ biến là phương sai, độ lệch chuẩn, hệ số biến thiên và đặc biệt là hệ số beta (β).
Tuy nhiên bản thân hệ số beta (β) có thể giữ vai trò quyết định đầu tư hay không?
Hệ số beta (β) liệu có ổn định theo thời gian hay không? Hệ số beta (β) phụ thuộc lớn vào chỉ số đại diện cho thị trường chứng khoán Việt Nam VN-Index, trong khi chỉ số này đang bộc lộ một số hạn chế, liệu nên đưa ra chỉ số mới “VN-Total” khắc phục hạn chế đó hay không?
Đây là những câu hỏi mà nhiều nhà kinh tế quan tâm. Và để trả lời những câu hỏi này, tác giả đã lựa chọn đề tài “Tính hệ số beta theo chỉ số VN-Total đại diện tổng thể thị trường chứng khoán Việt Nam” để làm đề tài nghiên cứu luận văn bảo vệ khóa học Thạc sĩ của mình
2 Tính cấp thiết của đề tài
Việc cung cấp hệ số beta chứng khoán liệu có phản ánh đúng mức độ biến động lợi
Trang 11nhuận cổ phiếu cá biệt so với mức độ biến động lợi nhuận danh mục cổ phiếu thị trường hay không rất được quan tâm và thực hiện trong nhiều nghiên cứu kinh tế ở các quốc gia khác nhau trên thế giới.
Tuy nhiên tại Việt Nam, các nghiên cứu về việc tính toán hệ số beta cho thị trường chứng khoán Việt Nam còn khá mới mẻ, chưa có tổ chức chuyên nghiệp đứng ra công
bố và xác nhận độ tin cậy của nó. Những năm gần đây, cùng với sự gia tăng mạnh của thị trường chứng khoán việc cung cấp thêm công cụ đo lường rủi ro đáng tin cậy là cần thiết.
3 Mục tiêu nghiên cứu
4 Đối tượng nghiên cứu
Để đạt mục tiêu nghiên cứu như nêu trên, luận văn hướng đến các đối tượng nghiên cứu như sau:
Trang 12- Phân tích, so sánh kết hợp sử dụng bảng biểu, đồ thị nhằm làm rõ sự khác biệt của chỉ
số VN-Total đại diện tổng thể thị trường Việt Nam so với VN-Index.
- Công cụ: Sử dụng phần mềm Eview để tính toán hệ số beta, cũng như các hàm đặc biệt của excel để lọc dữ liệu và tính toán chỉ số VN-Total.
Trang 137 Dữ liệu nghiên cứu
Trong luận văn tác giả đã sử dụng số liệu thống kê từ các nguồn dữ liệu: Sở giao dịch chứng khoán Tp.HCM và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến 13/10/2011.
8 Bố cục luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn chia làm 3 chương:
Thứ hai, luận văn là nghiên cứu định lượng để xây dựng một chỉ số VN-Total đại diện cho tổng thể thị trường chứng khoán Việt Nam thay cho chỉ số VN-Index hiện tại.
Thứ ba, từ kết quả mô hình, luận văn đã tính toán lại hệ số beta chứng khoán theo chỉ
số VN-Total và kiểm tra tính ổn định của beta theo chỉ số VN-Total từ khi có sự ra đời của Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
Trang 14Góp phần của chứng khoán vào rủi ro của một danh mục đa dạng hoá phụ thuộc vào chứng khoán đó bị tác động như thế nào bởi một sụt giảm chung của thị trường.
Độ nhạy cảm này đối với thị trường được gọi là hệ số beta.
Beta đo lường mức độ mà các nhà đầu tư kỳ vọng giá cổ phần thay đổi đối với một phần trăm thay đổi tăng thêm trên thị trường. Beta trung bình của tất cả các cổ phần bằng một. Một cổ phần có beta lớn hơn một thì có nhạy cảm cao đối với các biến động thị trường, một cổ phần có beta nhỏ hơn một thì không có nhạy cảm cao đối với các thị trường. Độ lệch chuẩn của một danh mục đa dạng hoá tỷ lệ với beta của chúng. Như vậy, một danh mục đa dạng hoá đầu tư vào cổ phần có beta bằng hai sẽ có gấp đôi rủi
ro so với danh mục đa dạng hoá đầu tư vào cổ phần có beta bằng một.
Tính toán beta để nắm bắt “rủi ro hệ thống” là ý nghĩa quan trọng mà công trình nghiên cứu của Giáo sư Sharpe (1964), Lintner (1965) và Mossin (1966) đã thực hiện.
Mô hình này dùng để nghiên cứu thị trường vốn, cụ thể là lựa chọn các chứng khoán riêng lẻ và một danh mục đầu tư. Mô hình này ban đầu chỉ là xây dựng một tài sản với danh mục thị trường, rủi ro hệ thống hay “beta” có thể đo lường chính xác rủi ro của tài sản và quyết định tỷ suất sinh lợi của tài sản đó. Tương tự, các công trình nghiên cứu
Trang 15thực nghiệm thực hiện bởi G.S Black, Jense, Schole (1972) cũng dựa trên “phiên bản beta bằng 0” của G.S Black (1972). Tuy nhiên những nghiên cứu thực nghiệm sau đó
đã đi ngược lại mô hình này cụ thể nghiên cứu của Banz (1981), Daniel (1997) cho thấy rằng quy mô công ty là nhân tố then chốt quyết định tỷ suất sinh lợi chứng khoán.
Có rất nhiều phương pháp để ước lượng hệ số rủi ro beta cho các cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Việc sử dụng phương pháp nào tùy thuộc vào sự phù hợp của phương pháp đó với thị trường đang xét, tùy thuộc vào ý muốn chủ quan của người đánh giá, cũng như phụ thuộc vào hiệu quả mà phương pháp đó mang lại. Các phương pháp thường được sử dụng là:
Ước lượng beta thông qua các phương pháp đơn giản bằng đồ thị.
Ước lượng beta bằng mô hình chỉ số đơn (SIM)
Ước lượng beta bằng mô hình CAPM dựa trên số liệu lịch sử.
Trong đó ước lượng beta qua mô hình CAPM là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất. Theo mô hình CAPM, TSSL kỳ vọng của một tài sản được tính như sau:
Trang 16ra beta cũng đo lường độ biến động và tính thanh khoản của chứng khoán đó. Rủi ro thứ hai là “alpha” (α) có thể đa dạng hóa bởi các nhà đầu tư hợp lý. Lý thuyết này cho rằng những nhà đầu tư hợp lý sẽ loại bỏ rủi ro phi hệ thống. Tuy nhiên điều đó cho thấy rằng nhà đầu tư nhận thấy rủi ro hệ thống hay beta như là rủi ro vốn có của chứng khoán.
Hệ số beta là hệ số rủi ro không thể đa dạng hóa được ngay cả trong mô hình đa nhân tố. Ngày nay, nhà nghiên cứu cho rằng hệ số beta là một trong những nhân tố ảnh hưởng quyết định đầu tư. Tuy nhiên, việc sử dụng hệ số beta là hạn chế do yếu tố tính toán beta dựa trên dữ liệu trong quá khứ và sẽ khó để dự đoán sự thay đổi trong tương lại.
Nhìn vào những quan điểm khác nhau thể hiện trên mô hình, công thức của mô hình CAPM trước đây dự đoán chứng khoán nào có beta càng cao thì sẽ có tỷ suất sinh lợi càng cao khi mà tỷ suất sinh lợi thị trường cao hơn tỷ suất sinh lợi của tỷ suất phi rủi ro. Trong trường hợp tỷ suất sinh lợi thị trường thấp hơn lãi suất phi rủi ro, chứng khoán có beta càng cao thì tỷ suất sinh lợi càng thấp. G.S Pettengill, Sundaram và Mathur (1995) gọi đây là mối quan hệ có điều kiện của beta và tỷ suất sinh lợi. Riêng đối với lý do này, họ xác định quy trình kiểm tra của Fama và Macbeth (1973) bằng cách loại bỏ yếu tố tự nhiên có điều kiện giữa beta và tỷ suất sinh lợi. Phát hiện chủ yếu của họ là mối liên hệ xác định mang ý nghĩa thống kê giữa beta và tỷ suất sinh lợi. Tuy nhiên, Bodie và cộng sự của ông (2008) tranh luận rằng mô hình đa nhân tố ảnh hưởng không nhiều lắm so với những mô tả nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi chứng khoán.
Gooding, A., và O’Malley.F (1977) nghiên cứu sự biến động của beta qua các giai đoạn thị trường và nhận ra rằng hầu hết các danh mục đầu tư bị tác động của xu hướng thị trường và vì vậy beta cũng biến đổi theo.
1.2 Beta phụ thuộc vào nhiều nhân tố
Trang 17Một loạt các nghiên cứu đã xem xét tính ổn định của beta và rút ra kết luận chung rằng thước đo rủi ro này thì không ổn định đối với cổ phiếu cá thể nhưng tính ổn định của beta đối với danh mục các cổ phiếu gia tăng mạnh. Hơn nữa, danh mục các cổ phiếu càng lớn (trên 50 cổ phiếu) và có thời gian dài (trên 26 tuần) thì beta của danh mục càng ổn định. Ngoài ra, các beta cao có xu hướng ngược lại với mức trung bình.
Cụ thể các danh mục có beta cao có xu hướng giảm theo thời gian dần về một (1,00) trong khi các danh mục có beta thấp có xu hướng tăng theo thời gian dần về một (1,00).
Các nhân tố khác ảnh hưởng đến tính ổn định của beta là số tháng được sử dụng để ước lượng beta ban đầu và beta kiểm định. Roenfeldt, Griepemtrog và Pflamm (PGP) (2006) đã so sánh các beta được rút ra từ 48 tháng dữ liệu và beta sau đó của 12, 24,
36, 48 tháng. Các beta 48 tháng thì không tốt để ước lượng cho beta 12 tháng sau đó nhưng khá tốt để ước lượng cho các beta 24, 36, 48 tháng.
Chen (2005) đã kết luận rằng các beta danh mục sẽ bị sai lệch nếu các beta của các chứng khoán cá thể không ổn định, vì vậy ông đã đề xuất mô hình Bayes để ước lượng beta thay đổi theo thời gian.
Carpemter và Upton (2001) xem xét ảnh hưởng của khối lượng giao dịch lên tính
ổn định của beta và kết luận rằng những tiên đoán về beta sẽ tốt hơn nếu sử dụng các beta đã điều chỉnh khối lượng giao dịch. Việc ảnh hưởng của khối lượng giao dịch lên
Trang 18các ước lượng beta có liên quan đến ảnh hưởng công ty nhỏ, điều này cho rằng beta của các chứng khoán có khối lượng giao dịch nhỏ thì bị sai lệch đi xuống như xác định của Ibbotson, Kaplan và Peterson (1998). Trong nghiên cứu của Sromon Dass (2008) tại thị trường Ấn Độ thì hầu hết kết quả beta ổn định qua các giai đoạn phân tích. Tuy nhiên các kết quả phụ thuộc vào lựa chọn thời điểm và dựa vào việc phân loại.
Tóm lại, các beta cá thể nói chung bất ổn theo thời gian trong khi đó beta của các danh mục lớn ổn định. Ngoài ra, nên sử dụng ít nhất 36 tháng dữ liệu để ước lượng beta và tỉnh táo xem xét khối lượng và quy mô giao dịch của các cổ phiếu.
1.3 Khảo sát thực nghiệm trước đây
Nhìn vào công trình nghiên cứu tiên phong thực hiện trong quá khứ về ứng dụng của beta trong những thị trường khác nhau.
Blume (1975) là nhà nghiên cứu đã đóng góp to lớn trong việc ứng dụng beta để nắm bắt rủi ro hệ thống mà trong những giai đoạn sau này mỗi nhà nghiên cứu đã trích dẫn mô hình của họ
Fabbozzi và Francis (1977) đã áp dụng kiểm tra ý nghĩa kinh tế chuẩn để xem xét tính bền vững của thị trường chứng khoán NewYork (NYSE) trong cả hai giai đoạn đầu cơ giá lên và giá xuống (bull and bear) để áp dụng mô hình hồi quy biến giả. Họ kết luận rằng giá trị của alpha và beta không bị ảnh hưởng bởi các thị trường khác nhau (thời kỳ giá lên và giá xuống – bull and bear phases), mà dựa vào từng chứng khoán riêng lẻ.
Trong nghiên cứu của Gooding và O’Malley (1977) xem xét tính ổn định của beta qua các thời kỳ thị trường dựa trên beta danh mục. Họ đã đưa ra kết luận hầu hết danh mục đầu tư bị tác động bởi sự di chuyển (biến động) của giá chứng khoán và xu hướng của thị trường. Vì vậy beta không đứng yên. Họ cũng đưa ra quan điểm có thể những
dự đoán này sẽ cải thiện nếu giai đoạn dự báo là giá tăng.
Trang 19Fstrada (2000) đã phân tích 14 Sở giao dịch chứng khoán châu Âu và ông nhận thấy là sự gia tăng trong giá trị beta khi số lần xuất hiện (tần số) dữ liệu bị giảm. Ông cũng lưu ý rằng hệ số beta thấp nhất khi sử dụng giá cổ phiếu hàng ngày có yếu tố tâm
lý hành vi trong đó. Cũng vậy, giá trị beta ước tính là càng thấp khi sử dụng dữ liệu hàng tháng hơn là dữ liệu hằng quý. Một vài nghiên cứu, Scholes và William (1977) khuyến khích sử dụng tỷ suất sinh lợi hàng ngày để tính beta vì nó liên quan đến một vài câu hỏi kinh tế lượng quan trọng như là “biến nội sinh”.
Faff (2001) trong công trình phân tích của mình cũng cho thấy sự khác nhau giữa beta qua chuỗi thời gian và phần bù rủi ro của mẫu phân tích trong điều kiện thị trường biến đổi.
Woodward và Andeson (2003) một mặt sử dụng mô hình cho phép dịch chuyển nhẹ nhàng giữa các tình trạng khác nhau phụ thuộc vào tỷ suất sinh lợi trung bình của 12 tháng trước đó. Những nhà nghiên cứu cũng lưu ý một số hạn chế của việc sử dụng beta. Mặc dù cho thấy những hạn chế khác nhau, Cochran (2005) gọi mô hình CAPM
là mô hình “đầu tiên, nổi tiếng nhất” và hơn hết là sử dụng mô hình trong định giá tài sản.
Nhìn dữ liệu sử dụng, vấn đề quan tâm cần lưu ý là các nhà nghiên cứu không thay đổi sử dụng dữ liệu hàng quý, hàng tháng, hàng tuần và hàng ngày để tính hệ số beta và lưu ý sự khác nhau trong kết quả của nhiều trường hợp. Tóm lại, nhiều nhà nghiên cứu cho thấy sự hạn chế của việc tính toán hệ số beta khi sử dụng dữ liệu khác nhau. Tuy nhiên, rủi ro hệ thống được nắm bắt bởi beta và xu hướng trong tâm lý giá cổ phiếu trong các thời điểm thị trường khác nhau sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng để phân loại các công ty về rủi ro và đưa ra quyết định đầu tư thích hợp.
Việc tính toán beta dựa vào mô hình CAPM. Sau khi mô hình CAPM đưa ra, nhiều nhà nghiên cứu và các học giả đã thực hiện nhiều kiểm tra thực nghiệm khác nhau để
Trang 20- Thứ nhất, hệ số gốc (hệ số chặn) sẽ cân bằng lãi suất phi rủi ro.
- Thứ hai, beta chỉ đại diện cho rủi ro chứng khoán, được tính toán dựa vào những phân tích biến tỷ suất sinh lợi kỳ vọng và mối quan hệ giữa beta- tỷ suất sinh lợi là quan hệ tuyến tính.
- Cuối cùng, phần bù rủi ro là dương.
Trong phần này, nghiên cứu thực nghiệm trước đây về mô hình CAPM sẽ được xem xét từ cả hai thị trường phát triển và thị trường mới nổi. Toàn bộ những nghiên cứu thực nghiệm trước đây chưa đưa ra kết quả thích hợp. Nói chung những nghiên cứu gần đây ủng hộ mô hình CAPM. Ngược lại, những bằng chứng sau đó dường như không ủng hộ nhiều do beta được lựa chọn để xem như đại diện duy nhất cho rủi ro bị nghi ngờ.
Black, Jense và Scholes (1972) kết luận rằng kết quả kiểm tra của họ đưa ra ủng hộ mạnh mẽ cho mô hình CAPM. Sau khi phân tích tỷ suất sinh lợi của danh mục đầu tư chứng khoán tại các mức độ beta khác nhau từ thời điểm 1926 đến 1966. Họ nhận ra rằng nhìn chung có mối quan hệ đơn giản giữa tỷ suất sinh lợi trung bình và beta thị trường khi sử dụng dữ liệu thị trường NYSE. Cả Blume và Friend (1973) và Fama và Macbeth (1973) đã chỉ ra đường thẳng thể hiện mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh
Trang 21lợi của thị trường NYSE qua ba giai đoạn khác nhau sau cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, sử dụng số liệu thị trường NYSE tương tự từ Trung tâm nghiên cứu giá cả chứng khoán (The Center for Research in Security Pric -SRSP) và COMPUSTAT trong suốt giai đoạn trước 1969. Fama và MacBeth (1973) đã phát hiện ra chênh lệch tỷ suất sinh lợi của thị trường trung bình là 1.3% mỗi tháng và đưa ra mỗi quan hệ giữa beta và tỷ suất sinh lợi hàng tháng là dương. Họ hiểu rằng kết quả không phản ánh hết hai giả thuyết của mô hình SML, và có một đường thẳng thể hiện mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi trong mô hình và quan trọng hơn, không có thước đó rủi ro nào ngoài beta
hệ thống tác động lên tỷ suất sinh lợi trung bình. Thêm nữa, Fama và Macleth (19730)
đã giới thiệu hai bước hồi quy (FM approach) cho lần đầu kiểm tra mô hình CAPM mà sau này phương pháp này đã trở nên vượt trội trong việc kiểm tra thực nghiệm lý thuyết CAPM.
Tuy nhiên, mặc dù kết quả thực nghiệm xác định dương nhưng những bằng chứng phủ định chống lại mô hình CAPM vẫn còn. Ví dụ, những nhà nghiên cứu nhận thấy hệ
số gốc ước tính chỉ ra tỷ suất sinh lợi phi rủi ro cao hơn lãi suất phi rủi ro được sử dụng khi đưa vào, và vì vậy nếu minh họa kết quả với đường thị trường chứng khoán, độ dốc của rủi ro – tỷ suất sinh lợi không hoàn toàn dốc đứng. Tuy nhiên, Black (1972) đưa ra
2 lý do cho sự sai lệch này: một là vì sử dụng một đại diện thay vì danh mục đầu tư thị trường thực sự, và điều khác nữa là tỷ suất phi rủi ro thực sự không tồn tại và mô hình CAPM không thể dự đoán tại hệ số gốc bằng 0.
Bằng chứng chắc chắn sau thập niên 1970 ở thị trường Mỹ
Từ sau thập niên 1970, những kiểm tra thực nghiệm về mô hình CAPM đã đưa ra những kết quả pha trộn. Đặc biệt trong 30 năm gần đây, những bằng chứng nghiêng về
xu hướng chung ít đi, nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những tranh cãi khác nhau chống lại
mô hình SML
Trang 22lý danh mục đầu tư có thể sử dụng beta như là một công cụ nhưng không phải là công
cụ duy nhất. Kothair (1995) cũng có một cuộc điều tra về mối quan hệ rủi ro - tỷ suất sinh lợi, sử dụng tiêu chuẩn đánh giá khoảng cách tỷ suất sinh lợi và số liệu thị trường xen kẽ - danh mục công nghiệp S&P dựa vào nghiên cứu từ Fama và French (1992).
Họ đã đưa ra bằng chứng tỷ suất sinh lợi trung bình thực sự phản ánh các thành phần bên trong của rủi ro beta, đưa ra kết luận beta được đo lường với khoảng cách hàng năm. Hơn nữa, Jogannathan và Wang (1996) cũng đồng ý mô hình SML, họ đã đưa ra một đề xuất về mối quan hệ xác định giữa beta và tỷ suất sinh lợi và họ giả định rằng việc nắm giữ CAPM trong điều kiện nhạy cảm với beta và phần bù rủi ro thị trường khác nhau qua thời gian, và do đó cần xác định tính hiệu lực của CAPM.
Theo hướng dẫn của Fama và French (1992), Strong và Xu (1997) nghiên cứu mẫu phân tích tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của cổ phần tại Anh trong giai đoạn 1973-1992. Sau khi kiểm tra mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi kỳ vọng và giá thị trường, tỷ số B/M, đòn bẩy, tỷ số E/P và hệ số beta, họ phát hiện ra rằng tỷ suất sinh lợi trung bình có mối quan hệ dương mang ý nghĩa với hệ số beta, tỷ số B/M và đòn bẩy thị trường, nhưng trái lại giá thị trường và đòn bẩy sổ sách có mối quan hệ âm mang ý nghĩa với tỷ suất sinh lợi kỳ vọng. Tuy nhiên họ quan sát thấy rằng beta trở nên không có ý nghĩa trong hồi quy đa biến theo quy mô, hoặc tính toán dựa trên các biến số như đòn bẩy hoặc tỷ
số B/M được tính đến.
Mặt khác kết quả thực nghiệm ở Anh, họ thấy rằng tỷ số B/M và biến số đòn bẩy chỉ là những biến cố định mang ý nghĩa trong việc giải thích mẫu phân tích tỷ suất sinh
Trang 23lợi chứng khoán kỳ vọng ở Anh, trong khi ảnh hưởng quy mô của mẫu phân tích là không quan trọng. Tuy nhiên, họ cũng đưa ra giải thích bất kỳ sự kết hợp tính toán nào cũng đủ mạnh và biến số tỷ suất sinh lợi trung bình của thị trường là thấp, họ chỉ ra khả năng áp dụng rất thấp với biến số lưu hành (đang phổ biến) ở thị trường Mỹ để giải thích tỷ suất sinh lợi trung bình của mẫu phân tích tại thị trường Anh. Ngoài ra, nghiên cứu của họ xác định tầm quan trọng của tỷ số B/M như khi phát hiện ra nó tại thị trường Mỹ trước đây.
Theo Clare, Priestley và Thomas (1998), có một đường thẳng thể hiện mối quan hệ xác định giữa hệ số beta và tỷ suất sinh lợi kỳ vọng khi sử dụng dữ liệu tỷ suất sinh lợi chứng khoán hàng tháng từ thị trường Anh trong thời kỳ 1980-1993. Ngược lại với những phát hiện ở Mỹ, kết quả của họ cho thấy hệ số rủi ro beta vẫn giữ vai trò quan trọng là hằng số dương ở thị trường Anh. Xa hơn nữa Clare (1998) cũng đưa ra những nghiên cứu trước đó rằng tỷ số B/M giữ vai trò quan trọng trong việc giải thích tỷ suất sinh lợi của mẫu phân tích hơn hệ số beta mà kết quả từ giả thuyết ẩn (implicit) không thích hợp trong việc hồi quy với rủi ro phần dư (residual risk) là không tương quan. Họ
đã lên tiếng chống lại về bảng báo cáo về cái chết của hệ số beta là một cái chết non. Theo hướng dẫn truyền thống của Pettengill, Jonathan Fletcher (1997) đã phân tích mối quan hệ tiêu chuẩn giữa beta- tỷ suất sinh lợi tại thị trường chứng khoán Anh. Giữ vững với lý luận của Strong và Xu (1997), họ thấy rằng không có bằng chứng nào về tầm quan trọng của phần bù rủi ro của beta khi mối quan hệ không có điều kiện giữa beta và tỷ suất sinh lợi được nêu ra. Tuy nhiên sau khi chia mẫu phân tích thành trị trường đi lên và thị trường đi xuống, quan sát thấy có mối quan hệ xác định có ý nghĩa giữa hệ số beta và tỷ suất sinh lợi khi mà tỷ suất sinh lợi thị trường vượt tỷ suất sinh lợi phi rủi ro, và mối quan hệ phủ định (âm) giữa beta - tỷ suất sinh lợi có ý nghĩa khi tỷ suất sinh lợi phi rủi ro vượt qua tỷ suất sinh lợi thị trường. Điều đáng ngạc nhiên trong nghiên cứu của ông là mối quan hệ giữa beta và tỷ suất sinh lợi là bền chặt trong thị
Trang 24Hơn nữa, khi Tom và cộng sự (2001) dưới sự chỉ dẫn của giáo sư Xu (2001) họ đã kiểm tra mô hình ba nhân tố của Fama và French về cổ phiếu chứng khoán của thị trường chứng khoán London (LSE) trong thời kỳ 1975-1999, và nhận xét mô hình ba nhân tố này đưa ra kết quả thực nghiệm tốt hơn mô hình CAPM khi hệ số gốc càng gần zero (0) hơn, mô hình CAPM và R bình phương được cải thiện nhờ mô hình FF (Fama
và French).
Nói chung thị trường Nhật đưa ra kết quả không ủng hộ mô hình CAPM, theo giáo
sư Chan, Hamao và Lakonishok (1991) liên quan đến sự khác nhau về tỷ suất sinh lợi của mẫu phân tích, trong một ví dụ thiết lập chứng khoán Nhật Bản từ cả hai bộ phận của thị trường chứng khoán Tokyo (TSE) thành bốn biến số bao gồm: thu nhập mang lại, quy mô, tỷ số B/M và dòng tiền của thu nhập. Sau khi áp dụng kỹ thuật thống kê lựa chọn và phương pháp ước tính khác nhau với dữ liệu sử dụng từ thời điểm 1971-
1988, mối quan hệ có ý nghĩa giữa những biến số cơ bản được xem xét với tỷ suất sinh lợi kỳ vọng được quan sát ở thị trường Nhật, biến số có ý nghĩa nhất là tỷ số B/M và dòng tiền của thu nhập mang lại, những biến số này tác động hoàn toàn đến tỷ suất sinh lợi kỳ vọng. Kết quả thực nghiệm của họ tự động loại bỏ giá trị của CAPM ở thị trường Nhật.
Nimal (2006) cũng đưa ra những nghiên cứu gần đây nhất về CAPM tại thị trường Nhật. Trong bài nghiên cứu của ông, dữ liệu thị trường chứng khoán Tokyo được chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn đầu từ tháng 7/1975 đến tháng 12/1989 và giai đoạn hai từ tháng 1/1990 đến tháng 12/2002. Ông đã đưa ra những bằng chứng thực nghiệm về mô hình CAPM tương tự những nghiên cứu trước đây đó là không ủng hộ đối với dự đoán chính là có sự tồn tại mối quan hệ beta - tỷ suất sinh lợi. Mặt khác, tác động của quy
Trang 25tỷ suất sinh lợi trong thời kỳ giá xuống dường như dốc đứng phủ định (âm) ở thị trường TSE hơn khi thị trường đi lên. Do đó, ông kết luận rằng do mối quan hệ truyền thống của beta và tỷ suất sinh lợi, việc sử dụng beta xem như là công cụ đo lường rủi
ro thị trường vẫn có giá trị.
Trong suốt hai thập niên gần đây, những nhà nghiên cứu đã bắt đầu kiểm tra tính hiệu lực của CAPM ở các thị trường mới nổi, đặc biệt thị trường chứng khoán châu Á. Tuy nhiên, có quá ít những kiểm tra CAPM áp dụng thị trường mới nổi so với tại thị trường phát triển. Quả thật mô hình CAPM truyền thống không thích hợp với thị trường mới nổi vì nó được thiết kế dựa trên thị trường phát triển (theo giáo sư Hwang
và Satchell, 1990). Theo giả định của CAPM thì thị trường vốn hoàn hảo, trong khi đó thị trường mới nổi là đạt quá ít so với tiêu chuẩn cũng như cấu trúc của định chế thị trường là đứng yên khi vận hành. Do đó, không mấy ngạc nhiên để thấy rằng kết quả chủ yếu của mối quan hệ giữa beta và tỷ suất sinh lợi được dự đoán bởi mô hình CAPM nói chung không được ủng hộ tại thị trường mới nổi. Lưu ý đối với thị trường mới nổi châu Á, ví dụ như Trung Quốc, HongKong, Đài Loan (Taiwan), Hàn Quốc, Singapore và Malaysia vẫn phát triển nhanh chóng, mặc dù thị trường chứng khoán này là tương đối nhỏ so với những thị trường chứng khoán phát triển chính như NYSE
và LSE… Theo giáo sư Wang và Tan (1991) đã kiểm tra thị trường Singapore trong giai đoạn 1980-1985 với dữ liệu hàng tuần, phát hiện ra mối quan hệ phủ định (âm) giữa beta và tỷ suất sinh lợi cả những chứng khoán đơn lẻ và danh mục đầu tư. Giáo sư Bark (1991) đã nghiên cứu thị trường Hàn Quốc và nhận ra mối quan hệ giữa beta - tỷ
Trang 26suất sinh lợi (là) quá yếu. Giáo sư Lee (1988) đã xây dựng bài kiểm tra mô hình CAPM bằng cách sử dụng phương pháp FM (1973). Sau khi phân tích dữ liệu từ giai đoạn 1977-1987, ông ấy chỉ ra rằng xu hướng của thu nhập danh mục đầu tư có beta cao thì
tỷ suất sinh lợi thấp và ngược lại, và không đứng yên so với dự đoán của CAPM. Tương tự, kết quả quan sát của giáo sư Cheung (1993) khi kiểm tra thực nghiệm ở thị trường Hàn Quốc và Đài Loan giai đoạn 1980-1988 cũng phát hiện ra mối quan hệ yếu giữa beta và tỷ suất sinh lợi. Xa hơn nữa là giáo sư Huang (1997) đã kiểm tra thị trường Đài Loan giai đoạn 1971-1993 bằng cách sử dụng tỷ suất sinh lợi hàng ngày. Trái ngược với dự đoán của mô hình CAPM, kết quả chỉ ra mối quan hệ ngược lại giữa
tỷ suất sinh lợi và rủi ro hệ thống tương ứng rủi ro cá thể và tổng rủi ro. Ông cũng cho rằng mối quan hệ phủ định giữa beta - tỷ suất sinh lợi không nên quy cho yếu tố mùa
vụ hàng tháng.
Aydogan và Gursoy (2000) đã đưa ra một nghiên cứu toàn diện với dữ liệu là 19 thị trường mới nổi đại diện cho tổng thể. Mặc dù mối quan hệ như nhau giữa beta và tỷ suất sinh lợi, kết quả của họ đã đưa ra cả hai chỉ số P/E và B/M có khả năng dự đoán chính xác tỷ suất sinh lợi tương lai, cụ thể qua thời gian dài. Ngoài ra Aydogan và Gursoy, Drew và Veeraraghavan (2003) đã xem xét giả định của mô hình định giá đa nhân tố của Fama và French cho những thị trường mới nổi bao gồm HongKong, Hàn Quốc, Malaysia và Philippines. Họ cũng đề xuất quy mô công ty và giá trị sổ sách đến giá trị thị trường để có thể giúp giải thích biến số tỷ suất sinh lợi chứng khoán, trong khi đó chỉ một hệ số beta không đủ để mô tả tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của mẫu phân tích.
Tuy nhiên, mối quan hệ yếu giữa beta và tỷ suất sinh lợi quan sát ở thị trường mới nổi có thể là kết quả từ đại diện tượng trưng của những thị trường như vậy hơn là những vấn đề quyết định nền tảng của mô hình CAPM. Hệ số beta là ước tính truyền thống dựa vào dữ liệu lịch sử 5 năm mà theo FM (1973) sử dụng cho thị trường phát
Trang 27triển, trong khi đó những nền kinh tế đang phát triển đã trải qua sự thay đổi nhanh chóng mà trong đó hệ số beta ít đứng yên. Vì vậy giống như nhiều nghiên cứu, đưa ra mức tổn thất do rủi ro thay đổi theo thời gian là phù hợp và thích hợp hơn là sự tổn thất
do rủi ro cố định cho thị trường mới nổi do thị trường mới nổi năng động hơn, đặc biệt
là các quốc gia thuộc khu vực Thái Bình Dương. Nói chung những mô hình càng phức tạp cho phép mức tổn thất do rủi ro biến đổi theo thời gian hay nhân tố rủi ro bên ngoài
có thể giải thích cho việc định giá cổ phần thị trường mới nổi. Tuy nhiên, mô hình như thế là khó để thực hiện bởi vì dữ liệu thị trường mới nổi nhỏ và hỗn tạp.
Thị trường chứng khoán HongKong được đề cập do HongKong là một trung tâm tài chính và thương mại quốc tế, và nó được đánh giá là thị trường chứng khoán lớn thứ hai ở châu Á và đứng vị trí thứ bảy trên thế giới. Nó được xem như là một thị trường
đã phát triển hơn là thị trường mới nổi.
Tóm lại, các nhà nghiên cứu tập trung những kiểm tra sau này vào tính hiệu lực của
mô hình CAPM và nhận thấy không thể áp dụng với thị trường HongKong. Mok và cộng sự (1990) đã xem xét tỷ suất sinh lợi của chỉ số 37 HongKong và phát hiện ra mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi và beta là âm trong giai đoạn 1982-1983 dẫn đến mối quan hệ có ý nghĩa âm. Hơn nữa, thị trường chứng khoán không cân xứng cũng có thể nhận ra hướng di chuyển của giá chứng khoán khi thị trường đi xuống hơn là sự di chuyển của giá chứng khoán trong thị trường đi lên.
Cheugn và Wong (1992) đã phân tích mối quan hệ giữa beta - tỷ suất sinh lợi bằng cách sử dụng số liệu hàng tháng của 90 chứng khoán từ năm 1980-1989, và nhận thấy
có mối quan hệ có hệ thống giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi tồn tại yếu trong cả giai đoạn, không kể phát hiện có mối quan hệ âm giữa beta có hệ thống trong giai đoạn 1982-
1983. Họ đã đạt được kết quả tương tự khi chia 90 chứng khoán thành 18 danh mục đầu tư, khám phá ra ở đó tồn tại đường thẳng thể hiện mối quan hệ giữa rủi ro hệ thống
và tỷ suất sinh lợi .
Trang 28Hơn nữa, bài viết của Lam (2001), mối quan hệ giữa beta và tỷ suất sinh lợi được nghiên cứu bằng cách sử dụng phương pháp có điều kiện dựa trên hướng dẫn có điều kiện của Pettengill (1995). Sau khi xem xét dữ liệu thị trường HongKong giai đoạn 1980-1995, kết quả kiểm tra thực nghiệm đã minh họa cho mối quan hệ xác định và không xác định có điều kiện giữa rủi ro - tỷ suất sinh lợi. Thêm nữa, mối quan hệ bất cân xứng đã phát hiện ra phần bù rủi ro ước tính trong cả hai thị trường, và ở thị trường
đi xuống thì tầm quan trọng của phần bù thị trường đi xuống lớn hơn phần bù khi thị trường đi lên. Do đường thẳng thị trường chứng khoán ước tính (SML) ở thị trường đi xuống là dốc đứng âm hơn độ dốc dương của đường SML ước tính khi thị trường đi lên với CAPM có điều kiện. Tuy nhiên, ông cũng kết luận CAPM truyền thống vẫn có giá trị thực tiễn ở thị tường chứng khoán HongKong mặc dù tác động âm (phủ định).
Trên thị trường chứng khoán ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, các thông tin về Công ty niêm yết như tỷ suất sinh lợi, rủi ro và các thông tin quan trọng khác được tính toán và công bố hàng ngày trên thị trường để giúp các nhà đầu tư xem xét, cân nhắc khi ra quyết định đầu tư. Một trong những tham số quan trọng phản ánh rủi ro của cổ phiếu là hệ số beta (β). Hệ số này thường do các tổ chức nghiên cứu tài chính chuyên nghiệp cung cấp. Tuy nhiên, ở Việt Nam do thị trường chứng khoán ra đời chưa lâu, bản thân thị trường chưa được coi là thị trường hiệu quả nên việc áp dụng
mô hình CAPM để tính toán hệ số beta còn hạn chế. Bên cạnh các công ty chứng khoán đã cung cấp miễn phí hệ số beta trên trang Web của mình có một vài nghiên cứu tiêu biểu về beta như sau:
Nghiên cứu của PGS.TS Trương Đông Lộc và Ths Trần Thị Hạnh Phúc (2011) về
“Kiểm định mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro của các cổ phiếu niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Tp.HCM”, bài viết này kiểm định mối quan hệ giữa lợi nhuận
Trang 29độ chính xác của việc ước lượng hệ số beta khi kiểm định mối quan hệ giữa lợi nhuận
và rủi ro, các cổ phiếu trong mẫu nghiên cứu được phân thành 10 danh mục (8 cổ phiếu/danh mục) theo thứ tự hệ số beta của các cổ phiếu từ thấp đến cao. Kết quả nghiên cứu thu được từ mô hình phân tích hồi quy cho thấy CAPM là phù hợp với các
cổ phiếu niêm yết trên HOSE. Một cách cụ thể, các cổ phiếu có rủi ro càng cao thì lợi nhuận của nó càng cao. Tuy nhiên, dựa trên những bằng chứng thực nghiệm có được từ nghiên cứu này tác giả có thể kết luận rằng mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro của các cổ phiếu niêm yết trên HOSE là quan hệ phi tuyến tính chứ không phải là quan hệ tuyến tính như trong CAPM.
Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Vũ – Giảng viên Đại học Đà Nẵng với “Hệ số beta trong phân tích rủi ro khi đầu tư chứng khoán”, Tạp chí Chứng khoán Việt Nam (10/2010) đã trình bày phương pháp tính toán hệ số bêta và dựa trên cơ sở dữ liệu về giá cổ phiếu giao dịch của một số Cty niêm yết tại Sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) trong giai đoạn từ ngày 02/01/2007 đến ngày 30/09/2009 để tính hệ số bêta của các công ty này nhằm cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư tham khảo khi ra quyết định đầu tư sao cho có hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên theo tác giả ở thị trường Việt Nam do bản thị trường chứng khoán Việt Nam chưa thể được coi là một thị trường hiệu quả. Những vấn đề tồn tại ở thị trường chứng khoán Việt Nam bao gồm: Thứ nhất là về mức giá,
ở Việt Nam, mức giá chỉ thể hiện một phần nhỏ về doanh nghiệp, phần lớn là do sự tác động từ cung cầu về cổ phiếu của các nhà đầu cơ. Đặc biệt, tâm lý đầu tư theo “bầy đàn”, hay “hiệu ứng đám đông” luôn chi phối mạnh mẽ đến giá cổ phiếu. Do vậy, beta được tính toán từ các mức giá này không thể nói lên rủi ro của doanh nghiệp. Thứ hai
là danh mục thị trường. Hiện nay, ở Việt Nam có hai chỉ số chính là VN-Index và HNX-Index. Hai chỉ số này chưa đủ sức để tạo nên một danh mục thị trường, bởi
Trang 30danh mục này chưa có đầy đủ các lĩnh vực ngành nghề trong nền kinh tế và trong từng lĩnh vực không bao gồm các doanh nghiệp đại diện cho lĩnh vực đó; bởi vì còn thiếu các công ty lớn. Chính vì vậy, sự biến động của danh mục chưa đánh giá chính xác sự biến động của nền kinh tế. Thứ ba khoảng thời gian các công ty được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán còn quá ngắn, chủ yếu từ cuối năm 2006, do đó dữ liệu giá chưa
đủ độ dài để có thể tiến hành hồi quy tìm ra hệ số beta chính xác. Với những hạn chế nêu trên, beta hầu như không có ý nghĩa nếu được tính toán trong giai đoạn này. Tuy nhiên, beta vẫn rất hữu ích nếu chúng ta sử dụng nó đúng cách
Luận án tiến sĩ của Trần Thị Hải Lý về “Nghiên cứu rủi ro và tỷ suất sinh lợi trên thị trường chứng khoán Việt Nam” (năm 2010), luận án nghiên cứu mối quan hệ giữa
tỷ suất sinh lợi và các nhân tố rủi ro trên thị trường chứng khoán Việt Nam, qua đó xác định nhân tố rủi ro chủ yếu tác động đến tỷ suất sinh lợi làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp kiểm soát rủi ro, đối tượng nghiên cứu tập trung vào thị trường cổ phiếu chính thức, mẫu được chọn là các cổ phần niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán
TP. Hồ Chí Minh và chỉ số thị trường VN-Index. Kết quả nghiên cứu có thể tóm lược như sau:
- Nhân tố thị trường tác động mạnh nhất lên tỷ suất sinh lợi các chứng khoán.
- Đặc trưng sở hữu của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường Việt Nam dẫn đến làm đảo ngược hiệu ứng quy mô so với các nghiên cứu trên nhiều thị trường chứng khoán quốc tế. Nhân tố sở hữu nhà nước là một nhân tố rủi ro đáng quan tâm trên thị trường Việt Nam.
- Kiểm định mối quan hệ của các nhân tố kinh tế vĩ mô với tỷ suất sinh lợi VN-Index cho thấy tỷ suất sinh lợi có ít quan hệ với các nhân tố này. Có thể thấy
ở trên toàn giai đoạn và trên giai đoạn khủng hoảng chỉ có nhân tố tăng trưởng cung tiền là có tác động bền vững lên tỷ suất sinh lợi, vì thế các nhà hoạch định chính sách (cụ thể là Ngân hàng nhà nước) cần quan tâm tới nhân tố này như là một công cụ
Trang 31điều tiết thị trường. Trong giai đoạn nghiên cứu mở rộng, thị trường dường như quan tâm hơn đến nhân tố lạm phát, nhưng đổi lại nhân tố sản lượng công nghiệp lại bị đảo ngược dấu và không có ý nghĩa thống kê. Như vậy có thể nói rủi ro hệ thống của thị trường Việt Nam không phải bắt nguồn chủ yếu từ các nhân tố vĩ mô. Kết quả từ phân tích định lượng cho thấy hành vi bầy đàn tồn tại rất mạnh trên thị trường Việt Nam, kết quả khảo sát đã củng cố thêm chứng cứ thực nghiệm này. Như vậy có thể nói hành vi bầy đàn tác động mạnh đến tỷ suất sinh lợi thị trường. Các nhân tố thuộc về
vi mô của thị trường như hạn chế hàng hóa cơ sở, cơ chế giao dịch - thanh toán T+3, chưa triển khai nghiệp vụ bán khống là những rào cản lớn đối với các chiến lược kinh doanh chênh lệch giá, làm cho giá chứng khoán trên thị trường bị sai lệch kéo dài
và mang tính hệ thống. Bên cạnh đó tính minh bạch của thông tin còn nhiều bất cập kết hợp với khả năng phân tích thông tin hạn chế của các nhà đầu tư cá nhân (lực lượng chủ yếu trên thị trường) góp phần làm sai niềm tin của họ. Thông qua việc kiểm định mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi cho thị trường chứng khoán Việt Nam bằng các mô hình nhân tố, luận án phát hiện ra rằng rủi ro hệ thống là nhân tố chi phối rủi ro tổng thể trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Nhưng rủi ro này không phải xuất phát
từ sự thay đổi của các nhân tố vĩ mô cơ bản mà chủ yếu xuất phát từ hành vi bầy đàn của các nhà đầu tư trên thị trường.
1.4 Kết luận chương 1
Trong chương này những kiểm tra thực nghiệm về mô hình CAPM đã được xem xét cả trong những thị trường đã phát triển và thị trường mới nổi. Cụ thể, có những tranh luận chống lại mô hình CAPM, có những biện hộ ủng hộ mô hình CAPM về mối quan hệ giữa beta và tỷ suất sinh lợi. Tất cả những điều này nhằm đưa ra những ý kiến chung về tính ứng dụng của mô hình CAPM vào thực tiễn.
Trang 32Nói chung, mô hình CAPM không có hiệu lực cả trong thị trường phát triển và thị trường mới nổi trong đó có ba thị trường quan trọng nhất là Mỹ, Anh và Nhật, khi hầu hết các nghiên cứu đưa ra những biến số khác là có ý nghĩa trong việc nắm bắt sự dao động của tỷ suất sinh lợi trung bình. Tuy nhiên, phương pháp truyền thống nhìn chung được ủng hộ. Mặt khác, nó dường như cần một mô hình phức tạp để giải thích mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi và rủi ro trong thực tế.
Trang 33
CHƯƠNG 2: KIỂM TRA TÍNH ỔN ĐỊNH VÀ NHỮNG HẠN CHẾ CỦA HỆ SỐ BETA TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
HIỆN NAY
2.1 Tổng quan thị trường chứng khoán Việt Nam
2.1.1 Số công ty niêm yết
Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.HCM chính thức giao dịch ngày 28/07/2000 với chỉ hai mã chứng khoán. Số công ty niêm yết thêm tăng lên khá chậm trong các năm tiếp theo, tính đến năm 2005, trung bình mỗi năm chỉ có 5 công ty niêm yết thêm. Tuy nhiên năm 2006, số công ty niêm yết thêm lên tới 74 công ty, đưa số lượng công ty niêm yết cuối năm 2006 lên 106 công ty. Trong năm 2007 và 2008 mỗi năm có thêm 32 công ty niêm yết. Số công ty niêm yết trên thị trường vào cuối 2008 lên 170 công ty, trong đó phần lớn là các doanh nghiệp nhà nước cổ phần. Trong năm 2009, có 52 công ty niêm yết thêm, song có 24 công ty khác chuyển ra niêm yết trên HNX do không đáp ứng nhu cầu vốn (theo quy định tại điều 8 NĐ 14/2007/NĐ-
CP, vốn điều lệ tối thiểu để được niêm yết trên Sở giao dịch là 80 tỷ), hai công ty bị hủy niêm yết là BTC (Công ty CP Cơ khí và Xây dựng Bình Triệu – ngày giao dịch cuối cùng trên HOSE là 26/06/2009) và công ty BBT (công ty cổ phần Bông Bạch Tuyết – ngày hủy niêm yết là 07/08/2009), nên số công ty niêm yết tăng thêm thuần là
26 công ty. Tính đến cuối tháng 12/2010 sở HOSE đã có 329 mã chứng khoán.
Quỹ đầu tư đại chúng chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trên thị trường chính thức, tính đến tháng 12/2010, cả thị trường chỉ có 4 chứng chỉ quỹ đầu tư được niêm yết, đó là chứng chỉ quỹ VFMVF1 của quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam (VF1) được niêm yết
Trang 34vào tháng 11/2004, chứng chỉ quỹ PRBF1 của quỹ đầu tư cân bằng Prudential niêm yết vào tháng 12/2006, chứng chỉ quỹ MAFPF1 của quỹ đầu tư tăng trưởng Manulife, niêm yết vào tháng 12/2007 và cuối cùng là chứng chỉ quỹ VFMVF4 của quỹ đầu tư doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam niêm yết vào tháng 6/2008.
Trung tâm giao dịch Hà Nội đi vào hoạt động từ năm 2005, với 5 công ty, số công
ty tăng mạnh qua các năm và chủ yếu là các công ty có vốn dưới 40 tỷ đồng. Năm
2009 số công ty niêm yết thêm trên HNX tăng 95 công ty trong đó gồm có 24 công ty chuyển từ HOSE sang do không đáp ứng đủ yêu cầu về vốn. Tổng số công ty niêm yết trên cả hai sàn đến cuối năm 2010 là 701, cùng với 4 chứng chỉ quỹ.
Bảng 2. 1 Số lượng công ty niêm yết trên sàn qua các năm 2000-2010
HOSE HNX Cả hai sàn Niêm yết
thêm
Tích lũy
Chứng chỉ quỹ
Niêm yết thêm Tích lũy
Niêm yết thêm
Tích lũy
Trang 352.1.2 Khối lượng và giá trị giao dịch
Khối lượng cổ phiếu được giao dịch khá thấp và ít biến động trong giai đoạn từ năm 2001 đến 2004, nhưng kể từ năm 2005 trở về sau, cùng với sự ra đời của trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội và số công ty niêm yết tăng cao trên HOSE nên khối lượng giao dịch trên toàn thị trường tăng khá mạnh. Trong năm 2009 có hơn 16,8
tỷ cổ phiếu trên sàn niêm yết được chuyển nhượng giữa các nhà đầu tư, con số này còn tăng mạnh trong năm 2010 lên 20,6 tỷ cổ phiếu do tăng số lượng công ty niêm yết và nhà đầu tư bắt đầu lạc quan trở lại, thanh khoản thị trường được cải thiện hơn so với năm 2009.
Giá trị giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam tăng ngoạn mục vào năm
2006 lên tới 39 ngàn tỷ đồng, năm 2007 tiếp tục tăng lên tới 281 ngàn tỷ đồng. Điều này một mặt do khối lượng giao dịch tăng, mặt khác do giá cổ phiếu trong thời gian này tăng mạnh. Sang 2008, giá cổ phiếu trên thị trường sụt giảm kéo theo giá trị giao dịch trên cả hai sàn đều sụt giảm mạnh, tổng giá trị giao dịch năm 2008 giảm gần
100 ngàn tỷ đồng so với năm trước đó, tuy nhiên năm 2009 tăng mạnh trở lại lên tới
630 ngàn tỷ đồng, tăng gần 3,5 lần so với năm 2008. Tổng giá trị giao dịch năm 2010 lên tới 835 tỷ đồng.
Bảng 2. 2 Khối lượng và giá trị giao dịch trên hai sàn từ 2000-2010
Năm Khối lượng giao dịch (Chứng khoán) Giá trị giao dịch (Tỷ đồng)
HOSE HASTC Tổng HOSE HASTC Tổng
Trang 36Năm Khối lượng giao dịch (Chứng khoán) Giá trị giao dịch (Tỷ đồng)
HOSE HASTC Tổng HOSE HASTC Tổng
2.1.3 Giá trị vốn hóa thị trường
Thị trường chứng khoán hoạt động năm đầu tiên với giá trị vốn hóa thị trường trên HOSE là 986 tỷ đồng, từ năm 2001 đến 2004, giá trị vốn hóa thị trường tăng trưởng chậm. Giá trị vốn hóa thị trường tăng ấn tượng trong năm 2006 lên tới 147 ngàn tỷ đồng, gấp 20 lần so với năm 2005, năm 2007 vốn hóa thị trường đã ở mức 364 ngàn tỷ tăng xấp xỉ 2,5 lần của năm liền kề. Trong hai năm 2006 và 2007 thị trường chứng kiến sự chào sàn của các công ty nhà nước cổ phần hóa có mức vốn lớn như Công ty cổ phần Sữa Việt Nam (VNM), Tổng công ty phân bón và hóa chất Dầu Khí (DPM), Tổng công ty cổ phần Khoan và Dịch vụ Dầu Khí (PVD) , đã góp phần làm mức vốn hóa thị trường tăng mạnh, nhưng năm 2008 giá trị vốn hóa thị trường sụt giảm hơn 54%. Năm 2009, với sự gia tăng niêm yết và giá chứng khoán có phần phục hồi so với năm trước, đưa vốn hóa thị trường của HOSE lên tới 495 ngàn tỷ đồng, tăng gần 3 lần so với cuối năm 2008.
Trang 37Hình 2. 1 Giá trị vốn hóa thị trường trên HOSE năm 2000-2010 (tỷ đồng) Nguồn: Báo cáo thường niên HOSE
Tính trên cả hai sàn, giá trị vốn hóa thị trường tăng mạnh vào năm 2007 lên tới 43% GDP, tăng gấp đôi so với 2007, nhưng năm 2008, cùng với sự sụt giảm giá cổ phiếu giá trị vốn hóa thị trường trên GDP đã giảm xuống chỉ còn 15,1% GDP.
Trang 38Giai đoạn 1: Thị trường tăng trưởng nóng trong giai đoạn 2006 – tháng 10/2007
Năm 2006 đã chứng kiến sự phát triển đầy sôi động của thị trường chứng khoán Việt Nam với nhiều sự kiện đáng chú ý. Trong đó, ấn tượng nhất là sự mở rộng về quy
mô thị trường với tổng mức vốn hóa của toàn thị trường chứng khoán Việt Nam đạt 220.000 tỷ đồng, tương đương 13,8 tỷ USD, tăng gấp hơn 20 lần so với cuối năm 2005
và bằng khoảng 17% tổng sản phẩm quốc nội
(GDP) năm 2006, vượt xa so với mục tiêu đạt 5% GDP mà các nhà quản lý đặt ra hồi đầu năm đạt mức tăng trưởng cao nhất khu vực Châu Á- Thái Bình Dương với 145% , thậm chí đứng trên thị trường chứng khoán Thượng Hải với mức tăng 130%.
Và đầu năm 2007 vẫn đang tăng 46% - cao nhất trên thế giới. Thị trường tăng mãnh liệt đã gây sốc cho không ít nhà đầu tư trong nước và các chuyên gia
Chứng khoán kể cả những nhà quản lý thị trường Có thể giải thích hiện tượng này bằng các yếu tố trong tài chính hành vi: phản ứng thái quá, tâm lý bầy đàn và quá tự tin. Quá trình phản ứng thái quá những thông tin tốt như: gia nhập WTO, Tổng thống
Mỹ George W. Bush đã đến thăm trung tâm giao dịch chứng khoán TP. HCM và gặp
gỡ với lãnh đạo nhiều Doanh nghiệp lớn của Việt Nam, luồng vốn đầu tư nước ngoài ồ ạt… đã làm dấy lên sự hưng phấn của giới đầu tư trong và ngoài nước
Bản thân doanh nghiệp cũng tranh thủ có một lượng huy động cao, bằng mọi cách
để đưa giá lên mà chưa đề cao sự xứng đáng hay không với giá trị thực sự của nó. Thậm chí, có những hành vi phản ứng thái quá tiêu cực là lợi dụng thời cơ này để kiếm tiền “nóng”, bằng việc dành rất nhiều thời gian để “thổi giá” cổ phiếu, thay vì tập trung vào những tính toán mang tính chiến lược.
Về phía các nhà đầu tư thì cứ thấy doanh nghiệp huy động vốn bằng phát hành cổ phiếu mới, chia cổ tức bằng cổ phiếu, có nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phiếu thì tham
Trang 39“phản ứng thái quá” trên thị trường chứng khoán
Giai đoạn 2: Từ tháng 11/2007 đến tháng 3/2009: thị trường suy giảm
Cuối 2007 diễn biến thị trường chứng khoán (TTCK) VN xấu nhất trong suốt hơn 8 năm hoạt động. Chỉ số giá chứng khoán của cả hai sàn giảm mạnh: HaSTC-Index ở dưới mức 100 điểm vào ngày 27/11. So với thời điểm đầu năm 2008, HaSTC-Index và VN-Index giảm tương ứng 67,2% và 66,9%. Việc huy động vốn qua TTCK giảm tới
75 - 80% và cả 3 kênh: Phát hành tăng vốn của doanh nghiệp, cổ phần hóa, phát hành trái phiếu đều sụt giảm mạnh so với năm trước; Tính thanh khoản - khối lượng giao dịch giảm khoảng 70% so với năm trước… Ðể phục hồi thị trường, ngay từ đầu năm,
cơ quan quản lý đã đưa ra nhiều giải pháp, trong đó, có những giải pháp khiến dư luận
kỳ vọng nhiều rồi lại thất vọng không ít như: cho phép Tổng Cty Ðầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) mua vào cổ phiếu, thu hẹp biên độ rồi lại nới rộng biên độ
Thị trường chứng khoán sụt giảm trong những tháng qua chủ yếu xuất phát từ chính nội tại của nền kinh tế, bên cạnh đó là yếu tố bày đàn của các nhà đầu tư trong nước.
Giai đoạn 3: Quý 2/2009 đến nay thị trường bắt đầu sự phục hồi tương đối ấn tượng
Thị trường chứng khoán bắt đầu đi lên sau khi thiết lập mức đáy 235 điểm vào cuối tháng 2/2009. Tính đến ngày 8-6, chỉ số VN-Index đã tăng 113% so với mức đáy trên, trong khi giá nhiều cổ phiếu đã tăng gấp hai, gấp ba lần tốc độ tăng trung bình của thị trường. Dòng tiền lại ồ ạt chảy vào thị trường chứng khoán. Nếu trong năm 2008 giá trị giao dịch bình quân một phiên của cả hai thị trường chỉ khoảng 500 tỉ đồng, thì hiện nay con số đó khoảng 1.500 tỉ đồng.
TTCK tăng trưởng mạnh mẽ, nằm ngoài dự đoán của giới chuyên gia và trở thành điểm sáng ấn tượng khi có tốc độ phục hồi nhanh nhất châu Á. Các nhà đầu tư trong
Trang 40tư nước ngoài bán ra mạnh thì khối lượng mua vẫn ở mức cao và giá chứng khoán vẫn tăng.
Hầu hết các chuyên gia đều lắc đầu khi nhắc đến lý do vì sao thị trường chứng khoán lại tăng mạnh mẽ trong vài tháng gần đây. Lý do chung nhất được đưa ra là nhà đầu tư đang trong trạng thái hưng phấn sau khi thị trường đã điều chỉnh quá sâu trong suốt năm 2008 và những tháng đầu năm 2009, đồng thời nền kinh tế trong nước đã có những dấu hiệu hồi phục sau khủng hoảng năm 2008.
Nguyên nhân từ sự hồi phục của nền kinh tế thế giới cũng được nhắc đến nhiều như một yếu tố củng cố tâm lý của nhà đầu tư Việt Nam. Ngoài ra việc chia cổ tức đến sớm tạo hứng khởi cho các nhà đầu tư.
Tuy nhiên từ tháng 11 cho tới cuối năm các chỉ số bắt đầu rơi vào chu kỳ giảm điểm do nửa cuối tháng 10-2009, Ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu các ngân hàng phải chấm dứt cho vay chứng khoán và yếu tố tâm lý xu hướng điển hình - nhà đầu tư lao vào xả hàng vì lo sợ “lịch sử lặp lại” (chứng khoán có thể sẽ lập đáy như thời điểm đầu năm)
2.2 Kiểm tra tính ổn định của hệ số beta
2.2.1 Phương pháp kiểm tra
Mục đích chính của chương này là kiểm tra tính ổn định của beta qua các giai đoạn. Ước tính beta chỉ là một vấn đề, nhưng vấn đề quan trọng hơn trong thực tế là liệu rằng việc duy trì tính ổn định của beta qua thời gian có quan trọng hay không?
Trong phần này, tính ổn định của beta được kiểm tra bằng hai phương pháp:
- Sử dụng thời gian như là biến số
- Sử dụng biến số giả để đo lường sự thay đổi của beta qua thời gian.