1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Môi Trường Kinh Doanh Cho Sự Phát Triển Khu Vực Kinh Tế Tư Nhân

86 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT NHỮNG ĐIỂM MỚI HOẶC NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA ĐỀ TÀI Đề tài “Môi trường kinh doanh cho sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở Đồng bằng sông Cửu Long” với phương pháp thống kê

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-

LƯƠNG MINH LAN

MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CHO SỰ PHÁT TRIỂN KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh, tháng 01/2010

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-

LƯƠNG MINH LAN

MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CHO SỰ PHÁT TRIỂN KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Người hướng dẫn khoa học: TS Dương Tấn Diệp

TP Hồ Chí Minh, tháng 01/2010

Trang 3

TÓM TẮT NHỮNG ĐIỂM MỚI HOẶC NHỮNG KẾT QUẢ

ĐẠT ĐƯỢC CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài “Môi trường kinh doanh cho sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở Đồng bằng sông Cửu Long” với phương pháp thống kê mô tả, sử dụng các số liệu thống kê từ các Sở ban ngành địa phương đã khẳng định vai trò quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân (doanh nghiệp dân doanh) đối với sự phát triển kinh tế của vùng này và cũng là động lực tăng trưởng kinh tế quan trọng của quốc gia

Ngoài ra, với việc sử dụng kết quả nghiên cứu của VNCI (Dự án Nâng cao Năng lực Cạnh tranh Việt Nam), sử dụng 10 chỉ số thành phần PCI của nghiên cứu đã cho chúng ta thấy được bức tranh hiện trạng môi trường kinh doanh của các địa phương trong khu vực ĐBSCL này Mặc dù nơi đây là vùng đất được đánh giá là có nhiều tiềm năng phát triển, số lượng doanh nghiệp tăng lên đáng kể, nhưng sự phát triển vẫn chưa tương xứng Theo các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân ở đây đánh giá, môi trường khu vực này vẫn chưa thật sự hấp dẫn Nghiên cứu đã đưa ra được những điểm còn yếu kém ở vùng này như chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân ngày càng sụt giảm, chi phí thời gian, chi phí không chính thức vẫn còn cao, vấn đề đào tạo lao động vẫn chưa phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp,…

Với những gợi ý giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh của đề tài, có thể giúp cho các lãnh đạo các địa phương xác định những lĩnh vực và cách thức

để thực hiện những cải cách nhằm cải thiện tốt hơn môi trường kinh doanh hiện tại của khu vực kinh tế tư nhân ở tại địa phương mình, nâng cao khả năng cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các tỉnh, thành với nhau

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

- Tên đề tài: Môi trường kinh doanh cho sự phát triển khu vực kinh tế tư

nhân ở Đồng bằng sông Cửu Long

- Giảng viên hướng dẫn: TS Dương Tấn Diệp

- Người thực hiện: Lương Minh Lan

- Số điện thoại liên hệ: 0918 211 567

Tôi xin cam đoan các thông tin, số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực và được ghi rõ nguồn gốc, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này chưa được công bố tại bất kỳ nghiên cứu nào khác

TP Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2010

Người cam đoan

LƯƠNG MINH LAN

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành với sự giúp đỡ nhiều mặt của Thầy Cô, bạn bè

và gia đình Tôi xin chân thành cảm ơn:

- TS Dương Tấn Diệp đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này Với những đóng góp thực tế mà Thầy

đã hỗ trợ, luận văn này thực sự có nghĩa đối với các nhà hoạch định chính sách tại các địa phương Đồng bằng sông Cửu Long;

- Quý Thầy Cô, những người đã nhiệt tình truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt năm học lớp Cao học;

- Các anh chị em đang làm việc tại Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã cung cấp số liệu để tôi hoàn thành luận văn này

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……….1

I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI……… 1

II MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI……… 2

III CÂU HỎI NGHIÊN CỨU……… 2

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 3

V GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU……… 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN……… 5

1.1 MÔI TRƯỜNG KINH DOANH……….5

1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN……….6

1.2.1 Kinh tế tư nhân trong phát triển kinh tế của các quốc gia………6

1.2.2 Phạm vi khu vực kinh tế tư nhân……….8

1.2.3 Những đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân cho phát triển kinh tế…10 1.3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG ĐIỀU HÀNH KINH TẾ ĐỂ THÚC ĐẨY SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN……… 15

Trang 8

1.3.1 Cách tiếp cận và phương pháp xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp

tỉnh (PCI)……….15

1.3.2 Phương pháp xây dựng chỉ số PCI và ý nghĩa sử dụng………16

1.3.3 Mười chỉ số thành phần của PCI………18

1.3.4 Ba bước xây dựng PCI……… 20

1.3.5 Kết quả PCI 2008 của cả nước và tác động tích cực của điều hành kinh tế cấp tỉnh từ nghiên cứu, đánh giá do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và dự án VNCI công bố……… 21

CHƯƠNG 2.THỰC TRẠNG KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN Ở ĐBSCL.23 2.1 TÌNH HÌNH CHUNG KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN………23

2.2 ĐÓNG GÓP CỦA KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN……… 27

CHƯƠNG 3 MÔI TRƯỜNG KINH DOANH KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG………30

3.1 KẾT QUẢ CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH PCI ……… 30

3.1.1 PCI – chỉ số đại diện tiếng nói của khu vực kinh tế tư nhân………….30

3.1.2 Kết quả chỉ số PCI 2008 của cả nước……… 30

3.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA KHU VỰC ĐBSCL TỪ KẾT QUẢ PCI 2008……….32

3.2.1 Những trở ngại chính của doanh nghiệp ĐBSCL……….35

3.2.2 Nguyên nhân sự sụt giảm của chỉ số PCI 2008……….39

Trang 9

CHƯƠNG 4 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG KINH

DOANH……… 46

4.1 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHỈ SỐ PCI ĐỂ CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH ……… 46

4.2 CÁC GIẢI PHÁP KHÁC……… …51

4.3 CÂU CHUYỆN HÀ TÂY……… ………… 53

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……….54

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 56

PHỤ LỤC………57

Trang 10

MỞ ĐẦU

I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong những năm gần đây, khu vực kinh tế tư nhân đã được nhìn nhận như động lực tăng trưởng kinh tế quan trọng của Việt Nam, phát triển khu vực kinh tế này chính là một nhiệm vụ chủ yếu trong chiến lược phát triển kinh tế

- xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang chuyển đổi sang kinh tế thị trường và hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới như hiện nay thì vai trò của khu vực kinh tế tư nhân ngày càng được khẳng định một cách rõ nét Theo báo cáo tổng hợp của VCCI, ILO vào cuối năm 2008, khu vực kinh tế tư nhân đã chiếm khoảng 60% GDP, và 91% tổng lực lượng lao động Khu vực kinh tế tư nhân còn chiếm tỷ trọng cao trong tổng số lao động đang làm việc, hộ kinh doanh gia đình tuyển dụng hơn 64% tổng lao động công nghiệp, trong khi Doanh nghiệp Nhà nước tuy chiếm khối lượng lớn về đầu vào công nghiệp nhưng chỉ tuyển dụng được 24% tổng lao động công nghiệp Xét về tổng thể trong thời gian gần đây, số lượng lao động làm việc tại khu vực tư nhân tăng 16,2%/năm so với 3,4% trong khu vực nhà nước và nó còn đóng góp tích cực vào việc tăng kim ngạch xuất khẩu, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế,…

Ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cũng như các vùng khác trên cả nước,

số lượng các doanh nghiệp nói chung trong thời gian qua tăng lên khá nhanh, nhất là từ năm 2000 khi có Luật doanh nghiệp đến nay Sự ra đời và hoạt động của các doanh nghiệp khu vực tư nhân đã góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm, thu hút vốn trong dân cư để đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh, khôi phục các ngành nghề truyền thống ở các địa phương Tuy nhiên, môi trường kinh doanh ở khu vực này được đánh giá là chưa hấp

Trang 11

dẫn, doanh nghiệp ít về số lượng, nhỏ về quy mô Có đến 95% doanh nghiệp quy mô vốn dưới 10 tỷ, trên 98% doanh nghiệp có quy mô lao động dưới 300 người (chuẩn quy định của doanh nghiệp nhỏ và vừa) Tính bình quân trên đầu người thì toàn vùng có 1.353 người dân/1doanh nghiệp, so với mức trung bình của cả nước là 905 người/1doanh nghiệp thì thấp hơn (Số liệu tổng hợp Tổng cục Thống kê 2004) Số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh từ 2000 –

2005 toàn vùng là 15.807, bằng 9,8% so với tổng số cả nước (160.569) Ngay năm đầu khi có luật doanh nghiệp, số lượng đăng ký rất cao, nhưng về sau giảm dần, một lượng lớn doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng chưa có số liệu thống kê chính xác1 Xuất phát từ thực trạng trên, chúng tôi muốn tiến

hành nghiên cứu đề tài “Môi trường kinh doanh cho sự phát triển khu vực

II. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI:

Đánh giá môi trường kinh doanh khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long thông qua kết quả nghiên cứu PCI; từ đó đề xuất giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh nhằm thúc đẩy mạnh khu vực kinh tế tư nhân vùng Đồng bằng Sông Cửu Long phát triển

III. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

1 Vai trò của khu vực kinh tế tư nhân đối với sự phát triển kinh tế ở ĐBSCL như thế nào?

2 Môi trường kinh doanh ở khu vực kinh tế tư nhân như thế nào?

1

S ố đăng ký mới 2001 tăng 57% so với năm 2000 (cả nước tăng 37%), nhưng năm 2002 lại giảm

so n ăm

2001, n ăm 2003 tăng, năm 2004 tăng mạnh hơn nhưng năm 2005 lại giảm Bình quân chung

n ăm 2005 so với 2001 chỉ tăng 64% trong khi của cả nước tăng 102%

Trang 12

IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Phương pháp thu thập dữ liệu:

Nghiên cứu thông qua các nguồn dữ liệu thứ cấp như:

- Số liệu tổng hợp của Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ; Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh;

- Số liệu niên giám thống kê;

- Dữ liệu tổng hợp của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Chi nhánh Cần Thơ (VCCI Cần Thơ);

Ngoài ra còn sử dụng kết quả nghiên cứu của dự án Nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam (VNCI)

2. Phương pháp xử lý, phân tích dữ liệu:

- Sử dụng thống kê mô tả để đánh giá vai trò của khu vực kinh tế tư nhân đối với sự phát triển kinh tế ở ĐBSCL

- Sử dụng các điểm số thành phần của PCI ở 13 tỉnh thành khu vực ĐBSCL

để tìm ra rào cản đối với sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân

- Sử dụng những phân tích nguyên nhân làm hạn chế môi trường kinh doanh

để đề xuất giải pháp

V. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Số liệu thứ cấp được tập hợp từ niên giám thống kê, các Sở Kế hoạch và Đầu

tư các tỉnh nên các số liệu chỉ mang tính tương đối (Số lượng doanh nghiệp giải thể chưa cập nhật, số liệu về lao động khi các Doanh nghiệp đăng ký

Trang 13

không được cập nhật), đây cũng là điểm hạn chế khi tập hợp tính toán, đánh giá

Về đánh giá về môi trường kinh doanh, chúng tôi chỉ đánh giá về mặt chính sách điều hành cấp địa phương, không đề cập đến yếu tố vĩ mô và yếu tố nội tại của doanh nghiệp

Trang 14

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KHU

VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN

1.1 MÔI TRƯỜNG KINH DOANH

Theo cách hiểu rộng nhất, môi trường kinh doanh là tập hợp những điều kiện bên trong và bên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đây cũng là quan điểm của Jauch và Glueck (1988), theo đó có những tầng mức môi trường kinh doanh khác nhau Tầng mức môi trường nội tại bao gồm một số yếu tố bên trong mà doanh nghiệp có thể kiểm soát được như vốn, lao động, thông tin, ý tưởng, đất đai, thiết bị, và quyết định sản lượng Tầng mức môi trường bên ngoài liên quan đến các yếu tố ngành (điều kiện chung cho tất cả các doanh nghiệp hoạt động cùng ngành), quốc gia (hệ thống các yếu tố rộng và bao quát những ngành hoạt động khác nhau của nền kinh tế như ngân hàng, giáo dục, thương mại, công nghiệp,…), khu vực và thế giới (các điều kiện ảnh hưởng đến quốc gia), địa phương (chính sách ưu đãi, chính sách phát triển của địa phương) Đây là tầng mức môi trường mà doanh nghiệp không thể kiểm soát được mà chỉ có thể phản hồi hoặc tương tác lại Các doanh nghiệp sẽ điều chỉnh những thành

tố môi trường nội tại để nắm bắt những cơ hội cũng như để đối mặt với những thách thức từ môi trường bên ngoài

Phần lớn các nghiên cứu hiện tại định nghĩa môi trường kinh doanh chỉ bao gồm những yếu tố bên ngoài doanh nghiệp, Robin Wood (2000) cho rằng môi trường kinh doanh là một tập hợp các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội, công nghệ và được gọi là phân tích PEST (Political, Economic, Socio-cultural, Technology) hoặc STEP (Social, Technological, Political, Economic) Những yếu tố này nằm ngoài tầm kiểm soát và có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động

Trang 15

doanh nghiệp Mở rộng thêm khái niệm của Robin Wood (2000), một số tác giả khác phân chia thành tố môi trường theo các yếu tố xã hội, công nghệ, kinh tế, môi trường và chính trị (STEEP: Social, Technological, Economic, Environmental, Political) hoặc văn hóa – xã hội, chính trị - pháp luật, kinh tế, điều kiện tự nhiên và công nghệ (SPENT: Socio-cultural, Political-legal, Economic, Natural, Technological),…

Thậm chí, một số nghiên cứu tại Việt Nam còn thu hẹp khái niệm môi trường kinh doanh hơn nữa khi cho rằng môi trường kinh doanh chủ yếu là các chính sách và quy định mà chính phủ áp dụng để điều tiết các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, kể cả những hoạt động sắp xếp về mặt tổ chức xung quanh doanh nghiệp

Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về môi trường kinh doanh, những điểm chính của môi trường kinh doanh như thủ tục hành chính và quản lý, hoạt động và chi phí không chính thức, các chính sách hỗ trợ, can thiệp của Nhà nước, khả năng tiếp cận nguồn nhân lực,… vẫn luôn là trung tâm của phần lớn những thảo luận và nghiên cứu về môi trường kinh doanh của các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng Những điểm chính này

đã bao hàm những tầng lớp môi trường chính có tác động đến hoạt động của doanh nghiệp trong phạm vi một quốc gia, cũng như có sự gắn bó mật thiết với thể chế cũng như pháp luật, quy định của chính phủ đối với khu vực doanh nghiệp

1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN

1.2.1 Kinh tế tư nhân trong phát triển kinh tế của các quốc gia

Thuật ngữ “Kinh tế tư nhân” gắn liền với vấn đề sở hữu Sở hữu là quan hệ

giữa con người và con người trong sản xuất, phản ánh quá trình chiếm hữu

Trang 16

của cải vật chất Quan hệ sở hữu xác định quyền của chủ sở hữu chứa đựng những nội dung kinh tế, đồng thời cũng được xác định về mặt pháp lý Quyền

sở hữu xác định quyền của chủ sở hữu trong việc sử dụng và hưởng lợi từ việc khai thác các đối tượng sở hữu Sự phát triển của lực lượng sản xuất chi phối sự phát triển của các quan hệ sản xuất, trong đó có quan hệ sở hữu Quan

hệ sở hữu nguyên thủy trong lịch sử loài người là sở hữu tập thể Sự phát triển của lực lượng sản xuất đã phá vỡ hình thức sở hữu sơ khai đó để thay thế nó bằng quan hệ sở hữu tư nhân

Lịch sử phát triển kinh tế của các nước trên thế giới cũng chỉ ra rằng, ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển, sở hữu nhà nước vẫn còn tồn tại trong nền kinh tế thị trường Nó thể hiện sự can thiệp của nhà nước vào thị trường, với

tư cách là phương thuốc cho những thất bại của thị trường, giúp nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững hơn Trải qua nhiều thời kỳ phát triển khác nhau, vị trí kinh tế tư nhân được nhìn nhận rất khác nhau trong các hình thái kinh tế xã hội khác nhau Ở các nền kinh tế phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa trước đây, cũng như trong thời kỳ chuyển đổi hiện nay, sự nhìn nhận vai trò của kinh tế tư nhân cũng được thay đổi nhiều qua các thời kỳ trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội

Như vậy, sở hữu tư nhân là quan hệ sở hữu xác nhận quyền hợp pháp của tư nhân trong việc chiếm hữu, quyết định cách thức tổ chức sản xuất, chi phối và hưởng lợi từ kết quả quá trình sản xuất đó Sở hữu tư nhân về quá trình sản xuất là cơ sở ra đời khu vực kinh tế tư nhân Khu vực kinh tế tư nhân có thể hiểu là một thuật ngữ phản ánh một bộ phận kinh tế của các chủ thể xã hội, hoạt động dựa trên quyền sở hữu tư nhân về các điều kiện cơ bản sản xuất

Trang 17

1.2.2 Phạm vi khu vực kinh tế tư nhân

Phạm vi về kinh tế tư nhân có nhiều cách hiểu hoàn toàn không thống nhất, điều này có ảnh hưởng đến công tác thống kê, ảnh hưởng đến công tác nghiên cứu trong việc đánh giá vai trò, tiềm năng khu vực kinh tế tư nhân trong nền kinh tế

Ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển, mọi hoạt động kinh tế không thuộc khu vực kinh tế nhà nước đều được xem là khu vực kinh tế tư nhân Các công

ty tư nhân hay các hợp tác xã, các công ty hợp danh của một nhóm người hay các công ty cổ phần xuyên quốc gia cũng đều có đặc điểm chung là những đơn vị kinh doanh không phải của nhà nước, các quyết định cho hoạt động của doanh nghiệp luôn do cá nhân hay đại diện cho một nhóm cá nhân đề ra Việc nhìn nhận này không chỉ thấy hết tiềm lực kinh tế tư nhân của một quốc gia, mà còn là cơ sở cho một phương thức quản lý thống nhất, bình đẳng đối với các loại hình sản xuất kinh doanh trong xã hội

Ở Việt Nam cũng có những cách hiểu khác nhau về phạm vi kinh tế tư nhân:

- Thuộc về khu vực kinh tế tư nhân gồm các doanh nghiệp tư nhân trong nước

và các doanh nghiệp có vốn nước ngoài dưới dạng liên doanh hay 100% vốn nước ngoài Các doanh nghiệp tư nhân trong nước bao hàm cả các hợp tác xã nông nghiệp và các doanh nghiệp phi nông nghiệp Việc hiểu khu vực kinh tế

tư nhân theo nghĩa rộng như vậy tạo cơ sở đánh giá hết tiềm năng của khu vực kinh tế này đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam, song lại gặp khó khăn trong thống kê, khi muốn tách bạch được phần góp vốn của nhà nước trong các công ty cổ phần, cũng như các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Hơn nữa, theo cách phân biệt này, việc phân tích đôi khi sẽ khó khăn bởi không phải tất cả các bộ phận trong khu vực kinh tế tư nhân đều được nhà

Trang 18

nước đối xử như nhau Các doanh nghiệp nước ngoài nhìn chung luôn nhận được những điều kiện thuận lợi hơn các doanh nghiệp tư nhân trong nước, như công ty trách nhiệm hữu hạn, hộ kinh doanh cá thể

- Khu vực kinh tế tư nhân cũng có thể được hiểu là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh Cách nhìn này dựa trên việc chia nền kinh tế thành 3 khu vực kinh tế: khu vực kinh tế quốc doanh (hay khu vực kinh tế nhà nước), khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Thực tế cho thấy việc đưa khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ra khỏi khu vực kinh

tế tư nhân trong nước sẽ không đánh giá đúng tiềm năng, cũng như vai trò của khu vực này cho sự phát triển kinh tế Việt Nam, đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế mở, hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay

- Khu vực kinh tế tư nhân bao gồm các loại hình doanh nghiệp tư nhân trong nước, nhưng không bao hàm kinh doanh cá thể Cách hiểu này bộc lộ nhiều hạn chế, tuy nhiên các số liệu thống kê thực tế của Việt Nam thường phân loại theo cách này

Các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân là doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh Các loại doanh nghiệp này là hình thức tồn tại của thành phần kinh tế tư bản tư nhân, dựa trên sở hữu tư nhân lớn về tư liệu sản xuất

Theo quan điểm của tôi, để đánh giá đúng tiềm năng của khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam, trong phân tích tôi cho rằng khu vực kinh tế tư nhân bao gồm khu vực kinh tế ngoài quốc doanh (doanh nghiệp dân doanh) và khu vực kinh

tế có vốn đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp FDI) Kinh tế tư nhân cần được hiểu là tất cả các cơ sở sản xuất kinh doanh không dựa trên sở hữu nhà nước

về các yếu tố của quá trình sản xuất Đặc trưng mang tính bản chất của những

Trang 19

doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân là họ sử dụng đồng vốn của chính họ và họ có quyền được hưởng thành quả lao động mà họ làm ra Nhưng do các số liệu được sử dụng là số liệu thống kê của Việt Nam nên trong phần phân tích khu vực kinh tế tư nhân được hiểu là các doanh nghiệp dân doanh

1.2.3 Những đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân cho phát triển kinh tế

xu ất, kinh doanh

Số doanh nghiệp và kinh doanh cá thể gia tăng, phản ánh khả năng huy động vốn từ trong dân cư cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân là rất lớn Yếu tố tích cực này đặc biệt rõ nét khi Luật doanh nghiệp được thực thi Năm 2000, tổng vốn đăng ký của doanh nghiệp đăng ký theo Luật doanh nghiệp gần 1,33 tỷ USD, trong đó gần 1 tỷ USD là vốn mới đăng ký và 0,33 tỷ USD là vốn mới đăng ký bổ sung, cao gấp ba lần so với năm 1999, năm 2001 tổng vốn đăng ký huy động được của các doanh nghiệp

là 2,33 tỷ USD, năm 2002 gần 3 tỷ USD Riêng số vốn mới đăng ký giai đoạn

2000 – 2003 cao gấp 4 lần so với 9 năm trước đây (1991 – 1999)

Tốc độ tăng vốn của từng loại hình doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân diễn ra mạnh mẽ đã làm thay đổi tỷ trọng vốn của khu vực kinh tế tư nhân trong tổng vốn xã hội Tỷ trọng đầu tư của doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước trong tổng đầu tư toàn xã hội tương ứng 20% và 18,5% năm 2000, 23% và 19,3% năm 2001, 25,3% và 16,87% năm 2002, 27% và 17,7% năm 2003 Như vậy, tỷ trọng đầu tư của doanh nghiệp tư nhân trong nước liên tục tăng đã vượt lên hơn hẳn tỷ trọng đầu tư của doanh nghiệp nhà nước

Trang 20

Thông qua hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân, nguồn vốn trong dân đã dần dần được sử dụng hiệu quả, thúc đẩy quy mô đầu tư của nền kinh tế Năm

1999, tổng vốn đầu tư vào khu vực kinh tế tư nhân là 31.542 tỷ đồng, chiếm 24,03% tổng vốn đầu tư xã hội, nhưng kết quả đóng góp khu vực tư nhân vào GDP đạt 81.455 tỷ đồng, chiếm 31,7% GDP toàn quốc Đến năm 2000, tổng vốn đầu tư vào khu vực tư nhân là 34.593,7 tỷ đồng, chiếm 23,8% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, đóng góp vào GDP là 86.926 tỷ đồng, chiếm 31,77% Như vậy, trong giai đoạn 1999 – 2000, tỷ trọng vốn đầu tư vào khu vực tư nhân giảm trong tổng vốn đầu tư xã hội, nhưng vẫn đóng góp nhiều hơn vào GDP toàn quốc, chứng tỏ kinh tế tư nhân ngày càng sử dụng vốn có hiệu quả

b/ T ạo thêm nhiều việc làm cho người lao động

Ở Việt Nam hàng năm có thêm khoảng 1,2 đến 1,4 triệu người đến tuổi lao động; ngoài ra số lao động nông nghiệp có nhu cầu chuyển sang làm việc trong các ngành phi nông nghiệp cũng tăng đáng kể Yêu cầu mỗi năm phải tạo thêm hàng triệu việc làm đang là một áp lực xã hội lớn đối với nhà nước

và các cấp chính quyền địa phương Việc tạo công ăn việc làm rõ ràng không chỉ là giải quyết vấn đề xã hội, mà là giải quyết vấn đề cơ bản của phát triển kinh tế hiện nay của nước ta Trên lĩnh vực này, đóng góp của khu vực kinh tế

tư nhân là không thể phủ định được Sự tăng lên nhanh chóng số lượng doanh nghiệp tư nhân cùng với các loại hình doanh nghiệp khác nhau đã tạo khả năng thu hút một lực lượng lớn lao động trong xã hội Các hộ kinh doanh cá thể, các doanh nghiệp mới được thành lập và sự mở rộng về quy mô, cũng như địa bàn kinh doanh của các doanh nghiệp hiện có đã, đang và sẽ thực sự

là nguồn cung to lớn về chỗ làm việc mới cho xã hội

Năm 2000 khu vực kinh tế tư nhân trong nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thu hút 1.448.467 lao động, chiếm 40,95% tổng số lao động cả nước

Trang 21

Năm 2002 con số này tăng lên 2.397.497 lao động, chiếm 51,46% Theo Sở

Kế hoạch và Đầu tư, trung bình mỗi doanh nghiệp đăng ký thành lập mới sẽ

sử dụng 17 đến 20 lao động; mỗi chi nhánh, văn phòng đại diện sử dụng 4 đến

5 lao động Như vậy, trong giai đoạn 2001 – 2002 đã có khoảng 650.000 đến 750.000 chỗ làm mới được tạo ra nhờ doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện mới đăng ký

c/ Đóng góp ngày càng lớn trong GDP

Năm 1995, GDP cả nước là 228.892 tỷ đồng, trong đó khu vực kinh tế tư nhân (tính cả khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài) đóng góp 136.915 tỷ đồng Năm 2003, còn số này đạt 605.586 tỷ đồng, với sự đóng góp khu vực kinh tế tư nhân là 368.920 tỷ đồng Tỷ lệ đóng góp của khu vực tư nhân vào GDP toàn quốc ngày càng đáng kể (Năm 1995 kinh tế tư nhân đóng góp 59,82% trong tổng GDP toàn quốc, năm 2000 là 61,47%, năm 2001 là 61,60%, năm 2002 là 61,62%,…) Điều này thể hiện sự lớn mạnh của khu vực

tư nhân trong hầu hết các lĩnh vực và ngày càng đóng góp vị trí quan trọng trong GDP cả nước Trong quá trình phát triển kinh tế Việt Nam, rõ ràng không thể thiếu vai trò của khu vực kinh tế tư nhân

Cơ cấu kinh tế có ý nghĩa thiết thực trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển

đa dạng, năng động, phát huy lợi thế tiềm năng về nguồn nhân lực, vật lực, tài lực Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu luôn có sự đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân Sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân đã xác lập lại cơ cấu đầu tư theo từng thời kỳ phát triển, góp phần nâng cao tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân

Trang 22

Tỷ trọng tham gia của khu vực kinh tế tư nhân vào các lĩnh vực của nền kinh

tế có sự thay đổi đáng kể qua các giai đoạn Tỷ trọng khu vực kinh tế tư nhân trong ngành sản xuất công nghiệp giảm nhanh từ 35% giai đoạn 1991 – 1996 còn 15% giai đoạn 1998 – 2000, trong ngành thương mại tăng nhanh từ 39% lên 54% Chính sự thay đổi này của khu vực kinh tế tư nhân đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả nước, đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ Năm 1990, tỷ trọng dịch vụ trong cơ cấu kinh tế nước ta là 38,6%, tăng lên 44,1% năm 1995 và 2000 là 39,1%

Trình độ sản xuất kinh doanh của kinh tế tư nhân ngày càng tiến bộ, số lượng hàng hóa thay thế hàng hóa nhập khẩu tăng lên Chất lượng nhiều mặt hàng tăng đã góp phần đẩy lùi sự xâm nhập của hàng ngoại Bên cạnh việc thực hiện sản xuất đồng bộ sản phẩm hàng hóa xuất khẩu, khu vực kinh tế tư nhân còn tham gia nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất sản phẩm xuất khẩu Một số sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của nước ta như thủy sản, sản phẩm nông nghiệp, thủ công mỹ nghệ ,… đều do khu vực kinh tế tư nhân sản xuất Khu vực kinh tế tư nhân còn chiếm tỷ trọng đáng kể trong xuất khẩu hàng may mặc, da giày,… Báo cáo của Bộ Thương mại cho rằng khu vực kinh tế tư nhân đóng góp gần nửa tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Trong số các doanh nghiệp hoạt động chủ yếu trong các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động có tới 3/4 sản lượng sản xuất ra được xuất khẩu, trong đó hàng dệt may và da giày chiếm tỷ lệ xuất khẩu cao nhất 80,5% và 80% Điều này thể hiện sự đóng góp to lớn của khu vực tư nhân vào sản xuất

e/ T ạo môi trường cạnh tranh lành mạnh

Trong thời kỳ đổi mới, nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, thị trường hoạt động đơn điệu và chỉ mang tính hình thức Yếu tố cạnh tranh gần như không tồn tại, do các doanh nghiệp không phải cạnh tranh

Trang 23

với nhau để mua các yếu tố sản xuất và bán sản phẩm Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều do nhà nước chi phối Quan hệ cung cầu, giá cả cũng mang tính mệnh lệnh chỉ huy, các thị trường không thừa nhận Trong quá trình đổi mới nền kinh tế, quan hệ hàng hóa tiền tệ mới thực

sự hình thành và phát triển Các doanh nghiệp được tự do cạnh tranh với nhau trên thị trường, các loại thị trường dần dần được thừa nhận và mở rộng Nhìn chung, thị trường hàng hóa dịch vụ phát triển khá mạnh, ngày càng phong phú

và đa dạng Thị trường các yếu tố sản xuất như thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường công nghệ,… dần dần được hình thành Thị trường nước ngoài được mở rộng, các quan hệ thị trường từng bước được xác lập Nguyên tắc tự do cạnh tranh về cơ bản được áp dụng, tín hiệu giá cả do cung cầu quy định

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, Việt Nam đang mở rộng hợp tác kinh tế với tất cả các quốc gia trên thế giới theo nguyên tắc đa phương hóa và đa dạng hóa Trong bối cảnh này, sự tồn tại và lớn mạnh của các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân đã làm cho môi trường cạnh tranh năng động hơn Môi trường kinh doanh thực sự mang tính cạnh tranh cao diễn ra không chỉ giữa các doanh nghiệp tư nhân mà chính các doanh nghiệp nhà nước cũng chịu sức ép phải nâng cao hiệu quả kinh doanh hơn Sự ra đời của khu vực kinh tế tư nhân không những thúc đẩy cạnh tranh trong nước phát triển mà còn thúc đẩy cạnh tranh hội nhập, tạo môi trường thuận lợi cho các thành phần kinh tế khác có thể khai thác tiềm năng của đất nước, đồng thời

mở rộng cạnh tranh thương mại đối với các nước trong khu vực và thế giới

Trang 24

1.3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG ĐIỀU HÀNH KINH TẾ ĐỂ THÚC ĐẨY SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN

1.3.1 Cách tiếp cận và phương pháp xây dựng chỉ số năng lực cạnh

tranh cấp tỉnh (PCI)

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (tên viết tắt tiếng Anh là PCI – Provincial Competitiveness Index) do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Dự án Nâng cao Năng lực Cạnh tranh Việt Nam (VNCI) hợp tác xây dựng công bố đầu tiên vào 2005 và trở thành hoạt động thường niên từ đó đến nay

PCI là chỉ số nhằm đánh giá và xếp hạng môi trường kinh doanh và chính sách phát triển tư nhân của 64 tỉnh, thành phố trên cả nước sau khi loại trừ những điều kiện khác biệt về vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng, quy mô thị trường,…

Bằng việc điều tra, khảo sát trên 7.000 doanh nghiệp tư nhân trên cả nước, PCI chính là công cụ góp phần phản ánh được tỉnh, thành nào có chất lượng điều hành tốt và được các doanh nghiệp hài lòng Qua đó giúp các tỉnh, thành nhận rõ những điểm mạnh, điểm yếu trong môi trường kinh doanh hiện tại cần phải khắc phục để trở nên cạnh tranh hơn so với các tỉnh, thành khác ở Việt Nam

PCI cũng là chỉ số cung cấp thông tin tham khảo cho các nhà đầu tư, cộng đồng doanh nghiệp trong hoạt động đầu tư, kinh doanh; cho chính quyền Trung ương trong việc xây dựng và hoàn thiện chính sách cũng như là công

cụ tham khảo cho các chương trình hỗ trợ kỹ thuật của các nhà tài trợ Những năm vừa qua, PCI cũng đã nhận được sự ủng hộ và hợp tác chặt chẽ từ các cơ quan báo chí, truyền thông, các nhà nghiên cứu, là kinh nghiệm tốt được một

Trang 25

số nước tham khảo Sử dụng dữ liệu điều tra doanh nghiệp là đánh giá và cảm nhận của doanh nghiệp đối với môi trường kinh doanh địa phương, kết hợp các dữ liệu tin cậy và có thể so sánh được thu thập từ các nguồn chính thức và các nguồn khác ở địa phương Chỉ số PCI xếp hạng năng lực cạnh tranh các tỉnh trên thang điểm 100 Chỉ số PCI là chỉ số tổng hợp bao gồm 10 chỉ số thành phần phản ánh những khía cạnh quan trọng khác nhau của môi trường kinh doanh cấp tỉnh, những khía cạnh này chịu tác động trực tiếp từ thái độ và hành động của cơ quan chính quyền địa phương

1.3.2 Phương pháp xây dựng chỉ số PCI và ý nghĩa sử dụng

Phương pháp nghiên cứu có một số điểm đặc biệt góp phần làm cho kết quả nghiên cứu có thể được vận dụng dễ dàng vào công tác đổi mới điều hành

Th ứ nhất, bằng cách loại trừ ảnh hưởng của các điều kiện truyền thống ban

đầu tới sự tăng trưởng kinh tế (những điều kiện này là các nhân tố căn bản cần thiết cho sự tăng trưởng nhưng rất khó hoặc thậm chí không thể đạt được trong thời gian ngắn), kết quả nghiên cứu cho thấy thực tiễn điều hành kinh tế tốt ở cấp tỉnh có vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng và những thực tiễn này còn góp phần lý giải sự khác biệt về phát triển kinh tế giữa các tỉnh hoặc tại sao các tỉnh đạt kết quả phát triển kinh tế tương đồng mặc dù điều kiện truyền thống ban đầu của mỗi tỉnh này rất khác nhau Tập trung vận dụng các thực tiễn điều hành tốt sẽ góp phần cải thiện sự phát triển kinh tế mà không nhất thiết phải đòi hỏi ngay một sự thay đổi to lớn nào về mặt hạ tầng cơ sở vật chất hay con người ở vùng đó

Th ứ hai, bằng cách chuẩn hóa điểm quanh các thực tiễn tốt nhất đã có ở Việt

Nam, chỉ số PCI hướng chính quyền địa phương vào cải thiện cách điều hành của họ, không nhất thiết cứ phải dựa vào chuẩn mực lý tưởng nào về mô hình

Trang 26

điều hành mà có thể căn cứ ngay vào những thực tiễn tốt nhất đã sẵn có ở các tỉnh bạn và ngay trong cùng một hệ thống chính trị Vì vậy, về lý thuyết, bất

cứ tỉnh nào cũng có thể đạt tới điểm tuyệt đối bằng cách áp dụng thực tiễn tốt sẵn có của Việt Nam Điều đó có nghĩa là chẳng có lý gì để biện hộ cho sự điều hành yếu kém ở tỉnh mình khi mà chính quyền của bất cứ tỉnh nào đều có thể tự cải thiện để tạo ra môi trường kinh doanh hấp dẫn ngay tại địa phương mình

Th ứ ba, bằng cách so sánh thực tiễn điều hành kinh tế với thực tế phát triển

kinh tế, chỉ số PCI cung cấp các đánh giá ban đầu về tầm quan trọng của thực tiễn điều hành đối với sức thu hút đầu tư và tăng trưởng Cuộc nghiên cứu này

là một minh chứng cụ thể về mối tương quan giữa thực tiễn điều hành kinh tế tốt với đánh giá của doanh nghiệp, và đặc biệt quan trọng là với sự cải thiện phúc lợi của địa phương Mối quan hệ thứ hai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

vì nó nêu rõ các chính sách và thực tiễn điều hành kinh tế tốt không chỉ làm lợi cho các doanh nghiệp mà còn làm lợi cho xã hội, khu vực kinh tế tư nhân năng động sẽ tạo thêm việc làm, góp phần nâng cao mức sống cho nhân dân

Trang 27

1.3.3 Mười chỉ số thành phần của PCI

Chi phí gia nhập thị trường: (i) đo lường thời gian một doanh nghiệp cần để đăng ký kinh doanh hoặc xin cấp đất và nhận được mọi loại giấy phép; (ii) thời gian cần thiết để thực hiện mọi thủ tục cần thiết để bắt đầu tiến hành hoạt động kinh doanh; (iii) số lượng giấy phép cần hoàn thành để tiến hành hoạt động kinh doanh; và (iv) cảm nhận về mức độ khó khăn trong việc xin các giấy phép đó

Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất: được tính toán dựa trên hai

khía cạnh về đất đai mà doanh nghiệp phải đối mặt - việc tiếp cận đất đai có

dễ dàng không và khi có đất thì doanh nghiệp có được đảm bảo về sự ổn định,

an toàn trong sử dụng đất hay không Khía cạnh thứ nhất phản ánh tình trạng liệu doanh nghiệp có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), có

đủ mặt bằng thực hiện những yêu cầu mở rộng kinh doanh hoặc doanh nghiệp

có đang thuê lại đất của DNNN không và đánh giá việc thực hiện chuyển đổi đất đai tại địa phương Khía cạnh thứ hai bao gồm đánh giá cảm nhận của doanh nghiệp về những rủi ro trong quá trình sử dụng đất (ví dụ rủi ro từ việc

bị thu hồi đất, định giá không đúng, thay đổi hợp đồng thuê đất) cũng như thời hạn sử dụng đất

Tính minh bạch và tiếp cận thông tin: đánh giá khả năng mà doanh nghiệp có thể tiếp cận những kế hoạch của tỉnh và văn bản pháp lý cần thiết cho hoạt động kinh doanh, tính sẵn có của các loại tài liệu, văn bản này; liệu chúng có

Trang 28

được đưa ra tham khảo ý kiến doanh nghiệp trước khi ban hành và khả năng

dự đoán trong quá trình triển khai thực hiện văn bản đó, mức độ tiện dụng của trang web của tỉnh đối với doanh nghiệp

Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước: đo lường thời gian

mà các doanh nghiệp phải tiêu tốn khi chấp hành các thủ tục hành chính, cũng như mức độ thường xuyên và thời gian doanh nghiệp phải tạm dừng kinh doanh để các cơ quan Nhà nước của tỉnh thực hiện việc thanh tra, kiểm tra

Chi phí không chính thức: đo lường mức chi phí không chính thức mà doanh nghiệp phải trả và những trở ngại do những chi phí này gây ra đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc trả những chi phí không chính thức như vậy có đem lại kết quả hay “dịch vụ” như mong đợi không và liệu các cán bộ Nhà nước có sử dụng các quy định pháp luật của địa phương để trục lợi không

6/ Ưu đãi đối với DNNN (môi trường cạnh tranh)

Ưu đãi đối với DNNN (môi trường cạnh tranh): đánh giá tập trung vào cảm nhận về sự ưu đãi đối với các DNNN và DNNN đã cổ phần hóa của chính quyền tỉnh, thể hiện các ưu đãi cụ thể, phân biệt về chính sách và việc tiếp cận nguồn vốn

Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh: đo lường tính sáng tạo, sáng suốt của tỉnh trong quá trình thực thi chính sách Trung ương cũng như trong

Trang 29

việc đưa ra những sáng kiến riêng nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời đánh giá khả năng hỗ trợ và áp dụng những chính sách đôi khi chưa

rõ ràng của Trung ương theo hướng có lợi cho doanh nghiệp

Chính sách phát triển Kinh tế tư nhân: phản ánh chất lượng và tính hữu ích của các chính sách cấp tỉnh trong việc phát triển khu vực kinh tế tư nhân như xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin pháp luật cho doanh nghiệp, hỗ trợ tìm kiếm đối tác kinh doanh, cung cấp dịch vụ công nghệ cũng như phát triển các khu, cụm công nghệ tại địa phương

9/ Đào tạo lao động

Đào tạo lao động: phản ánh mức độ và chất lượng những hoạt động đào tạo nghề và phát triển kỹ năng do tỉnh triển khai nhằm hỗ trợ cho các ngành công nghiệp địa phương cũng như tìm kiếm việc làm cho lao động địa phương

Thiết chế pháp lý: phản ánh lòng tin của doanh nghiệp dân doanh đối với các thiết chế pháp lý của địa phương, việc doanh nghiệp có xem các thiết chế tại địa phương này như là công cụ hiệu quả để giải quyết tranh chấp hoặc là nơi

mà doanh nghiệp có thể khiếu nại những hành vi nhũng nhiễu của cán bộ công quyền tại địa phương hay không

1.3.4 Ba bước xây dựng PCI

Quá trình điều tra và xây dựng PCI có thể chia thành ba giai đoạn chính như sau:

Trang 30

1 Thu th ập số liệu: gồm có dữ liệu từ kết quả điều tra 33.000 doanh nghiệp tư

nhân trên cả nước và dữ liệu có sẵn từ các cơ quan khác như Tổng cục Thống

kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Công thương, Tòa án Nhân dân tối cao, Ngân hàng Thế giới,… Giai đoạn thu thập

số liệu được đặc biệt chú ý để có được số liệu đáng tin cậy nhất Quá trình thu thập số liệu điều tra, nhập số liệu, kiểm tra chéo, có cơ sở dữ liệu tự động không cho nhập những giá trị sai hoặc ngoài khoảng cho phép và công tác kiểm tra và “làm sạch” số liệu

2 Xây d ựng chỉ số thành phần: Để xây dựng 10 chỉ số thành phần của PCI và

các chỉ tiêu nhỏ hơn tạo ra từng chỉ số thành phần, nhóm nghiên cứu PCI thực hiện các bước chính:

- Kiểm định chuẩn đoán

- Chuẩn hóa điểm theo công thức: {9*((Điểm chỉ số của tỉnh – Giá trị nhỏ nhất của mẫu)/(Giá trị lớn nhất của mẫu – Giá trị nhỏ nhất của mẫu))+1}

- Sau đó chỉ số thành phần được tính bằng cách bình quân các chỉ tiêu

3 Xây d ựng chỉ số PCI tổng hợp có trọng số, thể hiện được mức đóng góp

của từng chỉ số thành phần đối với sự phát triển số lượng doanh nghiệp, vốn đầu tư và mức lợi nhuận

1.3.5 Kết quả PCI 2008 của cả nước và tác động tích cực của điều hành kinh tế cấp tỉnh từ nghiên cứu, đánh giá do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và dự án VNCI công bố

Kết quả điều tra PCI 2008 cho thấy, trong điều kiện các nhân tố ban đầu không thay đổi, một điểm cải thiện trong điểm số PCI tính theo thang điểm

100 trong một năm nhất định, tại một tỉnh xác định góp phần làm số doanh

Trang 31

nghiệp đang hoạt động tăng 6,9%, đầu tư bình quân đầu người tăng 2,6% và GDP bình quân đầu người trong năm kế tiếp tăng 1,6% Các tác động này rất

có ý nghĩa về mặt thống kê và các kết quả được củng cố, tăng cường khi thay đổi các biến giữ cố định và các mô hình hồi quy khác nhau Trong nghiên cứu lần này một lần nữa, tính công khai, minh bạch của các thông tin liên quan đến kinh doanh, sự năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh, các chính sách đào tạo lao động có tác động nhất quán và mạnh mẽ đến sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân Tăng khả năng tiếp cận các loại văn bản pháp lý và tài liệu kế hoạch thông qua cải thiện trong chỉ số công khai, minh bạch sẽ góp phần tăng số doanh nghiệp trên 10.000 dân ở một tỉnh thêm 3,7% Một số chỉ

số thành phần chỉ có vai trò ít quan trọng trong các năm trước đây đã chứng tỏ các tác động đáng kể đến các biến kết quả của năm nay Nổi bật là chỉ số chi phí gia nhập thị trường, do tác động khác biệt của việc triển khai cơ chế một cửa trên cả nước, có liên hệ đáng kể đến số doanh nghiệp được thành lập mới

ở một tỉnh Đáng chú ý, chi phí gia nhập thị trường thấp hơn có mối liên hệ ngược chiều với mức lợi nhuận bình quân trên mỗi doanh nghiệp Điều này có thể lý giải được bởi lẽ các rào cản gia nhập thị trường thấp đi sẽ làm tăng mức

độ cạnh tranh lên các doanh nghiệp hiện có, và làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp này Mặt khác, tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất lại có tác động rất lớn đến lợi nhuận doanh nghiệp Một điểm cải thiện trong chỉ số thể hiện việc công nhận quyền sở hữu này góp phần làm tăng lợi nhuận hàng năm trên mỗi doanh nghiệp lên gần 9 triệu đồng

Trang 32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN

Ở ĐBSCL

2.1 TÌNH HÌNH CHUNG KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN

Theo số liệu thống kê của Sở Kế hoạch và Đầu tư các địa phương trong vùng, tính đến cuối 2006 số liệu DN ở tất cả các loại hình pháp lý được tổng hợp qua bảng 1 dưới đây Về tổng số các doanh nghiệp theo các loại hình pháp lý của khu vực vốn trong nước đến cuối 2006 cả vùng có 24.325 doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 99,35%, có địa phương chiếm tới 99,93% như Long An, Cần Thơ 99,77%

Bảng 1: Số liệu Doanh nghiệp tính đến cuối 2006 của ĐBSCL

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Địa

phương Tổng số DNNN Tổng số DNTN TNHH Cty Cty CP Cty Hợp danh HTX

ĐBSCL 24,325 160 24,165 17,773 4,386 554 1 1,451

An Giang 2,677 18 2,659 1,932 510 27 0 190 Bạc Liêu 1,012 6 1,006 812 62 11 0 121 Bến Tre 642 12 630 323 189 44 0 74 Cần Thơ 3,459 8 3,451 2,187 967 138 1 158

Cà Mau 2,450 27 2,423 2,010 245 58 0 110 Đồng Tháp 1,621 5 1,616 1,124 312 32 0 148 Hậu Giang 659 4 655 502 56 18 0 79 Kiên Giang 3,284 24 3,260 2,597 472 52 0 139 Long An 2,702 2 2,700 1,876 703 69 0 52 Sóc Trăng 1,247 8 1,239 909 185 42 0 103 Tiền Giang 2,275 20 2,255 1,832 308 21 0 94 Trà Vinh 745 11 734 495 94 15 0 130 Vĩnh Long 1,552 15 1,537 1,174 283 27 0 53

Ngu ồn: Số liệu Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh trong vùng ĐBSCL

Trang 33

Tính riêng doanh nghiệp đăng ký theo Luật doanh nghiệp bao gồm DNTN, Cty TNHH, Cty CP, tỷ lệ này tính chung toàn vùng chiếm 93,99% trong tổng

số doanh nghiệp Những địa phương có tỷ lệ doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân chiếm cao là Long An (98,07%), Vĩnh Long (96,55%), Kiên Giang (95,74%), Tiền Giang (95,83%), chiếm tỷ lệ thấp nhất so với tính chung cả vùng là Trà Vinh (82,29%), kế tiếp là Hậu Giang (87,94%)

Bảng 2: Cơ cấu loại hình pháp lý doanh nghiệp ở ĐBSCL (%)

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Địa phương Tổng số DNNN Tổng số DNTN TNHH Cty Cty CP

DN đăng

ký theo Luật DN HTX

Trang 34

Ngoài ra, số lượng doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân còn được tăng dần theo các năm, tuy nhiên số liệu về các doanh nghiệp đã giải thể thì không được các cơ quan quản lý cập nhật nên chúng ta không biết chính xác hiện tại

số doanh nghiệp đang hoạt động ở các địa phương là bao nhiêu

Bảng 3: Số lượng doanh nghiệp đăng ký mới hàng năm

Ngu ồn: Số liệu Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh trong vùng ĐBSCL

Qua các số liệu trên có thể khẳng định vai trò quan trọng của khu vực kinh tế

tư nhân về số lượng trong tổng số doanh nghiệp ở các địa phương trong vùng

Số liệu tổng hợp bảng 4 dưới đây phản ánh số doanh nghiệp trước và sau khi thực hiện Luật doanh nghiệp

Trang 35

Bảng 4: Số liệu Doanh nghiệp đăng ký trước và sau khi có Luật DN

Tỉnh/ Thành

Vốn ĐK (triệu đồng)

Vốn BQ (triệu đồng)

Số DN

Vốn ĐK (triệu đồng)

Vốn BQ (triệu đồng)

Ngu ồn:Số liệu VCCI Cần Thơ tính đến 31/12/2004

Số liệu trên cho thấy vốn đăng ký kinh doanh tính bình quân một doanh nghiệp sau khi có Luật DN cao hơn 1,48 lần so với trước khi có Luật DN

Bảng 5: So sánh vốn đăng ký bình quân 1 doanh nghiệp vùng ĐBSCL với

cả nước

Vốn đăng ký bình quân 1 DN (tỷ đồng) Năm

Trang 36

Năm 2000, 2001 vốn đăng ký bình quân 1 doanh nghiệp của vùng (1,131 tỷ

đồng; 1,355 tỷ đồng) cao hơn tính chung cả nước (0,965 tỷ đồng; 1,295 tỷ

đồng); nhưng năm 2002 – 2004 đều thấp hơn, đặc biệt năm 2003 chỉ bằng

76% so với tính chung cả nước Điều đó cho thấy DN đăng ký mới ở ĐBSCL

vẫn tập trung nhiều hơn ở loại hình DNTN, quy mô về vốn nhỏ Đây chính là

một trong những yếu tố quan trọng vừa là đặc điểm và vừa là khó khăn trong

quá trình hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân của vùng

2.2 ĐÓNG GÓP CỦA KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN

Chính sự phát triển mạnh mẽ của khu vực kinh tế tư nhân (đặc biệt là doanh

nghiệp nhỏ và vừa) đã có những đóng góp quan trọng đối với sự phát triển

của vùng ĐBSCL Số liệu sau sẽ cho thấy sự đóng góp của khu vực kinh tế tư

nhân và làm thay đổi cơ cấu theo các thành phần kinh tế trong giá trị sản

phẩm công nghiệp của vùng

Bảng 6: Giá trị sản phẩm công nghiệp tính theo giá so sánh năm 1994

ĐVT: tỷ đồng

Vùng ĐBSCL 23,331.20 27,696.73 31,775.02 38,275.10 44,542.01 53,482.01 65,027.43 Khu vực kinh tế

trong nước 19,998.80 23,308.65 26,769.82 32,289.60 38,235.78 45,977.59 56,547.45 Doanh nghiệp nhà

nước 10,961.70 12,429.67 13,866.00 15,769.40 17,613.38 19,374.72 21,698.69 Ngoài quốc doanh 9,037.10 10,878.98 12,903.82 16,520.20 20,622.40 26,602.87 34,848.76 Khu vực có vốn

đầu tư nước ngoài 3,332.40 4,388.08 5,005.20 5,985.50 6,306.23 7,504.42 8,479.98

Ngu ồn: Số liệu tổng hợp của VCCI Cần Thơ

Giá trị sản phẩm công nghiệp của khu vực kinh tế tư nhân đạt được năm 2000

là 9.037,1 tỷ đồng, chiếm 38,73% trong tổng giá trị công nghiệp toàn vùng đã

Trang 37

tăng lên 34.848,76 tỷ đồng vào 2006, chiếm tỷ lệ tương ứng là 53,59% Nếu tính riêng cho khu vực kinh tế trong nước (bảng 8) thì khu vực kinh tế tư nhân ngày càng chiếm tỷ lệ cao hơn, từ 45,19% năm 2000 đã tăng lên chiếm 61,63% năm 2006

Bảng 7: Cơ cấu giá trị sản phẩm công nghiệp theo các thành phần kinh tế

ĐVT: %

Vùng ĐBSCL 100.00 100.00 100.00 100.00 100.00 100.00 100.00 Khu vực kinh tế trong

Doanh nghiệp nhà nước 46.98 44.88 43.64 41.20 39.54 36.23 33.37 Ngoài quốc doanh 38.73 39.28 40.61 43.16 46.30 49.74 53.59 Khu vực có vốn đầu tư

Ngu ồn: Số liệu tổng hợp của VCCI Cần Thơ

Bảng 8: Cơ cấu giá trị sản phẩm công nghiệp của khu vực trong nước

Ngu ồn: Số liệu Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh trong vùng ĐBSCL

Sự phát triển nhanh của khu vực kinh tế tư nhân đã góp phần quan trọng cho

sự phát triển chung của nền kinh tế Điều đó được thể hiện qua số liệu bảng 9 Giai đoạn 2000 – 2004 chỉ số phát triển công nghiệp bình quân của vùng hàng năm (116,46%) đều cao hơn so với giai đoạn 1996 – 1999 (107,67%), riêng

Trang 38

khu vực kinh tế tư nhân giai đoạn 2000 – 2004 có chỉ số phát triển (118,33%) cao hơn tính chung cả vùng, chỉ đứng sau khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (119,43%)

Bảng 9: Chỉ số phát triển công nghiệp vùng ĐBSCL

1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 Vùng ĐBSCL 107.5 108.7 107.8 106.7 112.4 117.3 115.9 120.5 116.4

KV ktế trong nước 109.1 108.5 106.2 104.9 110.8 116.5 115.3 120.6 118.4

DN nhà nước 112.9 110.0 108.8 104.2 112.1 117.5 116.1 113.7 111.7

DN ngoài quốc doanh 105.3 106.8 103.3 105.8 109.3 115.3 114.2 128.0 124.8

KV có vốn đầu tư nước ngoài 88.7 111.7 130.8 127.5 127.5 124.1 120.6 119.6 105.4

Ngu ồn: Số liệu tổng hợp của VCCI Cần Thơ

Số liệu trên cho thấy chỉ số phát triển của khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh cao hơn chỉ số phát triển công nghiệp chung của cả vùng Chính sự phát triển nhanh của khu vực doanh nghiệp dân doanh đã góp phần quan trọng làm thay đổi cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp trong giai đoạn 2000 – 2004 (Bảng 8)

Tuy nhiên, qua số liệu phân tích ở trên cho thấy về số lượng doanh nghiệp tăng khá nhanh nhưng tỷ trọng đóng góp của khu vực này chưa tăng lên nhiều, và thực tế số lượng doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả và tự giải thể cũng không phải là con số ít, nhưng do các Sở Kế hoạch và Đầu tư chưa thống kê được nên không có số liệu cụ thể Để tìm ra nguyên nhân của nó cần phải phân tích môi trường kinh doanh của khu vực này như thế nào

Trang 39

CHƯƠNG 3 MÔI TRƯỜNG KINH DOANH KHU VỰC

ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

3.1 KẾT QUẢ CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH PCI

3.1.1 PCI – chỉ số đại diện tiếng nói của khu vực kinh tế tư nhân

PCI đảm bảo tính đại diện khá tốt với tất cả 64 tỉnh, thành phố trong cả nước,

số doanh nghiệp phản hồi mỗi tỉnh có ít nhất là 50 phiếu trả lời, tỷ lệ phản hồi năm 2008 là 30%, chênh lệnh về tỷ lệ phản hồi ở các tỉnh không đáng kể Có tới 43% tổng số doanh nghiệp phản hồi là doanh nghiệp tư nhân (3.249 doanh nghiệp), 43% là công ty trách nhiệm hữu hạn (3.319 doanh nghiệp) và 16% là các doanh nghiệp đăng ký dưới hình thức công ty cổ phần (1.204 doanh nghiệp) Theo thiết kế điều tra, các tỷ lệ này phản ánh cơ cấu doanh nghiệp phổ biến ở cấp tỉnh vì điều tra PCI sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên ở phạm vi cấp tỉnh

3.1.2 Kết quả chỉ số PCI 2008 của cả nước

Điểm số PCI có trọng số của tỉnh trung vị (53,2 điểm) năm 2008 thấp hơn một chút so với tỉnh trung vị năm 2007 (55,6 điểm) nhưng vẫn cao hơn so với 52,4 điểm của tỉnh trung vị 2006 Sự sụt giảm tập trung vào 2 chỉ số chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân và đào tạo lao động

PCI 2008 có sự dịch chuyển theo hướng đi xuống về nhóm xếp hạng, số tỉnh trong nhóm Rất tốt và Tốt ít hơn 2007 Hai tỉnh Bình Định và Vĩnh Long rớt khỏi nhóm Rất tốt và thêm hai tỉnh mới gia nhập nhóm Thấp (từ 4 lên 6 tỉnh)

Trang 40

76.23 75.39 66.49

64.67 64.64 64.11 63.39 61.27 60.45 58.30 58.13 56.85 56.83 56.42 55.99 55.97 55.95 55.82 55.34 55.33 54.93 54.79 54.43 54.42 53.25 53.11 53.06 52.71 52.70 52.66 52.61 52.25 52.18 52.18 51.65 51.27 50.54 50.53 50.40 50.34 50.17 49.98 49.64 48.89 48.73 48.49 48.35 47.90 47.27 47.21 46.63 46.29 45.82 45.30 45.22 44.20 43.99 42.89 42.35 42.28 41.38 40.73 38.91 36.76

Bình Dương

Đà Nẵng Bình Định Vĩnh Long

Đồ ng Nai Lào Cai Tp.HCM Vĩnh Phúc

An Giang Cần Thơ

Đồ ng Tháp Yên Bái Trà Vinh Quảng Nam Bắc Giang Hưng Yên BRVT Ninh Bình Sóc Trăng Khánh Hòa Phú Yên Bắc Ninh Nghệ An Phú Thọ Quảng Ninh Bến Tre Gia Lai Thái Nguyên Hải Dương Bình Thuận Hậu Giang Lâm Đồng Tiền Giang Quảng Trị Đắc Lắk Kiên Giang Thái Bình TT-Huế Long An

Hà Nội Hòa Bình Hải Phòng Lạng Sơn Nam Định Bắc Kạn

Hà Giang Tây Ninh Quảng Bình

Hà Nam Tuyên Quang Cao Bằng Bình Phước Ninh Thuận Thanh Hóa Sơn La Quảng Ngãi

Cà Mau Bạc Liêu

Hà Tĩnh

Đ iện Biên Kon Tum

Hà Tây

Đắ k Nông Lai Châu

Ngày đăng: 21/08/2021, 10:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Carlier, Amanda và Trần Thanh Sơn (2004), “Vận động của doanh nghiệp sau ĐKKD: Các doanh nghiệp nội địa mới đang làm thế nào” Chính sách phát triển kinh tế tư nhân Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận động của doanh nghiệp sau ĐKKD: Các doanh nghiệp nội địa mới đang làm thế nào
Tác giả: Carlier, Amanda và Trần Thanh Sơn
Năm: 2004
2. Gillespie, John (2002), “Thay đổi luật doanh nghiệp: Phân tích lý thuyết và văn hóa về Gia nhập thị trường ở Việt Nam”. Tạp chí Luật quốc tế 51: 641 – 672 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thay đổi luật doanh nghiệp: Phân tích lý thuyết và văn hóa về Gia nhập thị trường ở Việt Nam
Tác giả: Gillespie, John
Năm: 2002
3. Lê Đăng Doanh và Nguyễn Minh Tú (1997), “Khu vực kinh tế phi chính quy”. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu vực kinh tế phi chính quy
Tác giả: Lê Đăng Doanh và Nguyễn Minh Tú
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1997
4. Nguyễn Văn Thắng (2005), “Doanh nghiệp nhà nước có làm hạn chế sự phát triển khu vực tư nhân không?” Số liệu điều tra PCI, Hà Nội: Dự ánVNCI, tháng tám Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp nhà nước có làm hạn chế sự phát triển khu vực tư nhân không
Tác giả: Nguyễn Văn Thắng
Năm: 2005
5. Nguyễn Đình Tài (2006), “Khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân Việt Nam nhìn từ góc độ hiệu quả chính sách”. Tài liệu tham khảo tại VCCI Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân Việt Nam nhìn từ góc độ hiệu quả chính sách
Tác giả: Nguyễn Đình Tài
Năm: 2006
6. Trần Ngọc Bút (2002), “ Phát triển kinh tế tư nhân định hướng xã hội chủ nghĩa”. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế tư nhân định hướng xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Trần Ngọc Bút
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2002
7. Trịnh Thị Hoa Mai (2005), “Kinh tế tư nhân Việt Nam trong tiến trình hội nhập”. NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế tư nhân Việt Nam trong tiến trình hội nhập
Tác giả: Trịnh Thị Hoa Mai
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w