1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vai trò của thủy điển trong quan hệ quốc tế ở các nước băc âu

12 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 481,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thụy Điển (tiếng Thụy Điển:Sverige), tên chính thức là Vương quốc Thụy Điển (tiếng Thụy Điển: Konungariket Sverige), là một vương quốc ở Bắc Âu giáp Na Uy ở phía Tây và Phần Lan ở phía Đông Bắc, nối với Đan Mạch bằng cầu Öresund ở phía Nam, phần biên giới còn lại giáp Biển Baltic và Biển Kattegat.

Trang 1

-MÔN:

ĐỀ TÀI: Vai trò của Thụy Điển trong quan hệ quốc tế ở khu vức Bắc Âu

Giáo viên hướng dẫn:

N

ngày 03, tháng 04, năm 2019

Trang 2

Mục lục

Mục lục 1

Lời mở đầu 2

I Tổng quan về chính sách đối ngoại của Thụy Điển 3

1 Giới thiệu chung về Thụy Điển 3

2 Chính sách đối ngoại của Thụy Điển 4

2.1 Chính sách đối ngoại 5

2.2 Các thành viên Bắc Âu 6

II Tác động của chính sách đối ngoại của Thụy Điển đối với các nước Bắc Âu 9

Danh mục tài liệu tham khảo 11

Lời mở đầu

Thụy Điển (tiếng Thụy Điển:Sverige), tên chính thức là Vương quốc Thụy Điển (tiếng Thụy Điển: Konungariket Sverige), là một vương quốc ở Bắc Âu giáp Na Uy ở

Trang 3

phía Tây và Phần Lan ở phía Đông Bắc, nối với Đan Mạch bằng cầu Öresund ở phía Nam, phần biên giới còn lại giáp Biển Baltic và Biển Kattegat

Thụy Điển đứng thứ 7 thế giới về GDP (tổng sản phẩm quốc nội) bình quân đầu người và công dân nước này được hưởng một mức sống rất cao Kinh tế Thụy Điển là một nền kinh tế hỗn hợp theo định hướng xuất khẩu Gỗ, thủy điện và quặng sắt là những nguồn tài nguyên quan trọng nhất của Thụy Điển Lĩnh vực kỹ thuật của Thụy Điển chiếm 50% sản lượng và xuất khẩu, trong khi viễn thông, công nghiệp ô tô và các ngành công nghiệp dược phẩm cũng rất quan trọng Thụy Điển là nước xuất khẩu vũ khí đứng thứ 9 trên thế giới Nông nghiệp chiếm 2% trong cơ cấu GDP và tổng số lao động Thụy Điển cũng là một trong những nước có tỉ lệ người dân sử dụng điện thoại

và truy cập internet cao nhất trên thế giới

Thuỵ Điển, một thành viên ở phía bắc của Liên minh Châu Âu (EU), không chỉ được đặc trưng bởi sự phát triển cao, mô hình dân chủ xã hội thành công mà còn bởi chính sách trung lập riêng biệt Tuy không phải là một cường quốc trên trường quốc tế nhưng với mức độ phát triển kinh tế và một chính sách đối ngoại tích cực, Thuỵ Điển

có những vai trò nhất định trong quá trình nhất thể hoá Châu Âu nói riêng và hoà bình thế giới nói chung

Mục đích của bài viết này là tìm hiểu chính sách đối ngoại của Thuỵ Điển và vai trò của Thụy Điển trong quan hệ quốc tế ở khu vực Bắc Âu, cũng như những tác động của chính sách này đến quá trình thống nhất Châu Âu mà cụ thể là việc hoàn thiện Chính sách đối ngoại và an ninh chung của EU (CFSP)

Trang 4

I Tổng quan về chính sách đối ngoại của Thụy Điển

1 Giới thiệu chung về Thụy Điển

Với diện tích 449 964 km², Thụy Điển là nước lớn thứ ba trong Liên minh châu Âu, với dân số 10.2 triệu người, trong đó có khoảng 2,4 triệu người được sinh ra ở nước ngoài Thụy Điển có mật độ dân số thấp với 21 người/km² nhưng lại tập trung cao ở nửa phía Nam của đất nước Khoảng 85% dân số sống ở thành thị và theo dự đoán con

số này sẽ tăng dần vì quá trình đô thị hóa đang diễn ra Thủ đô của Thụy Điển là Stockholm, đây cũng là thành phố lớn nhất nước

Thành phố lớn thứ hai là Göteborg với dân số khoảng 500.000 người và 900.000 người trên tổng vùng Thành phố lớn thứ ba là Malmö với dân số khoảng 260.000 người và 650.000 người ở tổng vùng Ngày nay, Thuỵ Điển là một nước quân chủ lập hiến với thể chế đại nghị Quyền lực lập pháp của đất nước thuộc về Quốc hội

(Riksdag) đơn viện gồm 349 đại biểu Quyền hành pháp được thực hiện bởi chính phủ

do thủ tướng chủ trì Thụy Điển là một nhà nước đơn nhất, được chia thành 21 hạt và

290 đô thị

Trang 5

2 Chính sách đối ngoại của Thụy Điển

Trong suốt thế kỷ 20, chính sách đối ngoại của Thụy Điển dựa trên nguyên tắc không liên kết trong thời bình và trung lập trong thời chiến

Nguyên tắc trung lập của Thụy Điển đã bắt nguồn từ thế kỷ 19 khi đất nước này đã không ở trong trạng thái chiến tranh kể từ khi kết thúc chiến dịch chống lại Na Uy vào năm 1814 Trong Thế chiến thứ hai Thụy Điển đứng ngoài cuộc chiến và không gia nhập cả hai phe Đồng minh cũng như phe Trục Tuy nhiên sự trung lập của quốc gia này trong Chiến tranh thế giới thứ hai vẫn còn đang là một chủ đề gây tranh cãi Trong một số trường hợp, Thụy Điển đã cho phép quân đội Đức Quốc xã sử dụng hệ thống đường sắt của họ để vận chuyển quân đội và hàng hóa đặc biệt là quặng sắt từ mỏ ở phía bắc Thụy Điển, một nguyên liệu tối quan trọng đối với bộ máy chiến tranh của Đức Tuy nhiên, Thụy Điển cũng gián tiếp góp phần bảo vệ Phần Lan trong Chiến tranh mùa đông, và đã đồng ý cho quân Đồng minh được đào tạo binh lính Na Uy và Đan Mạch ở Thụy Điển sau năm 1943

Trong những năm đầu Chiến tranh Lạnh, Thụy Điển kết hợp chính sách không liên kết và một sự tham gia thấp trong các vấn đề quốc tế với chính sách an ninh dựa trên quốc phòng mạnh mẽ Nhiệm vụ của quân đội Thụy Điển là ngăn chặn mọi cuộc tấn công vào quốc gia này Đồng thời, nước này duy trì một mối quan hệ gần gũi không chính thức với khối phương Tây, đặc biệt là trong lĩnh vực trao đổi thông tin tình báo Năm 1952, một chiếc DC-3 của Thụy Điển bị bắn rơi trên Biển Baltic bởi một máy bay phản lực Mig-15 của Liên Xô Sau đó một cuộc điều tra cho thấy chiếc máy bay này thực sự đã thu thập thông tin cho NATO Một chiếc máy bay khác, máy bay tìm kiếm

và cứu hộ Catalina, được gửi đi vài ngày sau đó và đã bị Liên Xô bắn hạ Thủ tướng Olof Palme đã có chuyến thăm chính thức tới Cuba trong những năm 1970, trong đó ông lên án chính phủ của Fulgencio Batista và ca ngợi những người cộng sản cách mạng Cubavà Căm-pu-chia trong một bài phát biểu

Bắt đầu từ cuối những năm 1960, Thụy Điển đã cố gắng đóng một vai trò tích cực hơn, quan trọng hơn và độc lập hơn trong quan hệ quốc tế Họ đã có những đóng góp đáng kể trong nỗ lực giữ gìn hòa bình quốc tế, đặc biệt là thông qua Liên Hiệp Quốc, cũng như hỗ trợ cho các nước nghèo thuộc thế giới thứ ba

Vào ngày 27 tháng 10 năm 1981, một tàu ngầm lớp Whiskey (U 137) của Liên bang

Xô viết bị mắc cạn gần căn cứ hải quân tại Karlskrona ở miền nam Thụy ĐIển Vụ việc

đã gây ra một cuộc khủng hoảng ngoại giao giữa Thụy Điển và Liên Xô Sau vụ ám sát Olof Palme năm 1986 và sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh, Thụy Điển đã thực hiện một chính sách đối ngoại mang tính truyền thống hơn Tuy nhiên, đất nước vẫn hoạt

Trang 6

động tích cực trong các nhiệm vụ gìn giữ hòa bình và duy trì một ngân sách đáng kể dành cho viện trợ nước ngoài

Từ năm 1995 Thụy Điển đã trở thành một thành viên của Liên minh châu Âu, và trong bối cảnh tình hình an ninh thế giới có những biến đổi mới, chính sách đối ngoại của Thụy Điển đã có sự điều chỉnh, qua đó Thụy Điển đóng một vai trò tích cực hơn trong vấn đề hợp tác bảo đảm an ninh trên toàn châu Âu

2.1 Chính sách đối ngoại

Nền tảng chính sách đối ngoại của Thuỵ Điển là một nền quốc phòng mạnh nhằm duy trì được vị trí trung lập đồng thời đóng góp tích cực cho sự ổn định và an ninh trong khu vực Châu Âu cũng như trên thế giới Với mong muốn thực thi một chính sách đối ngoại tích cực, chính phủ Thuỵ Điển đã đề ra những mục tiêu cụ thể cho chính sách đối ngoại của mình đối với từng khu vực

Trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Thuỵ Điển trước hết là tăng cường hợp tác toàn diện về mọi mặt, tạo điều kiện phát triển kinh tế cũng như đảm bảo an ninh cho các nước trong khu vực Bắc Âu và Baltic Mối quan hệ của Thuỵ Điển với những nước này không chỉ dựa trên những tiền đề về vị trí địa chính trị mà còn từ những tương đồng về văn hoá và lịch sử Cơ chế hợp tác của khu vực này là Hội đồng Baltic

và Hội đồng Bắc Âu sẽ được phân tích ở phần sau

Đối với những thành viên còn lại của EU, Thuỵ Điển duy trì chính sách thương mại

mở, tăng cường trao đổi, hợp tác với các nước này Nhằm duy trì chính sách trung lập, Thuỵ Điển không tham gia vào các hoạt động thúc đẩy liên minh quân sự, song ủng hộ một EU vững mạnh, có vai trò tích cực trong việc đảm bảo hoà bình thế giới Mục tiêu của Thuỵ Điển là nhấn mạnh các giá trị dân chủ, nhân quyền trong hợp tác Thuỵ Điển luôn ủng hộ quá trình mở rộng Châu Âu và quan hệ hợp tác EU-Nga bởi lợi ích của nước này gắn liền với sự ổn định trong quan hệ với Nga

Thuỵ Điển cũng luôn coi trọng mối quan hệ với Mỹ Mặc dù dân chúng Thuỵ Điển không tán thành việc nước này gia nhập NATO, nhưng để đảm bảo an ninh, Thuỵ Điển luôn coi Mỹ là một đối tác quan trọng của cơ chế hợp tác khu vực như Hội đồng Bắc Âu

Đối với các nước phát triển khác, mục tiêu của Thuỵ Điển là tăng cường thương mại, tích cực hợp tác trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế như xoá đói giảm nghèo, bình đẳng xã hội

Với các nước đang và kém phát triển, Thuỵ Điển theo đuổi một chính sách hợp tác phát triển tích cực Giống như một số nước Bắc Âu khác, Thuỵ Điển luôn đi đầu trong

Trang 7

các hoạt động viện trợ Ưu tiên hàng đầu của Thuỵ Điển trong lĩnh vực này là đảm bảo cung cấp nước sạch, xoá đói giảm nghèo, dân chủ hoá và đảm bảo nhân quyền Với một nước có trình độ phát triển cao được đặc trưng bởi chính sách không liên minh thì lĩnh vực hợp tác phát triển này là một trong những phương cách giúp Thuỵ Điển khẳng định vai trò của mình trong nền chính trị quốc tế cũng như đóng góp tích cực cho sự tiến bộ của toàn thế giới Các hoạt động hợp tác phát triển được Thuỵ Điển đẩy mạnh

từ những năm 1960, cho đến nay Thuỵ Điển đã trở thành một đối tác phát triển quan trọng của các nước đang phát triển ở Châu Á và Châu Phi

Cũng cùng mục tiêu tăng cường vị thế và sự đóng góp cho hoà bình thế giới, Thuỵ Điển đã tham gia tích cực vào các hoạt động của Liên Hợp Quốc (LHQ) và của các tổ chức có liên quan khác Là thành viên của LHQ từ năm 1946, không chỉ cung cấp lực lượng mà Thuỵ Điển còn đóng góp những nhà hoà giải cho các cuộc xung đột Từ năm

1948, đã có 70.000 người Thuỵ Điển tham gia vào các chiến dịch của LHQ và khoảng

67 người chết trong khi làm nhiệm vụ Bên cạnh đó, Thuỵ Điển còn tham gia các hoạt động hỗ trợ đa phương qua hệ thống của LHQ Trước những yêu cầu cải cách LHQ, Thuỵ Điển luôn bày tỏ sự ủng hộ nhưng không nhằm mục đích giành quyền lợi, nước này cho rằng cải tổ bộ máy sẽ giúp LHQ làm việc hiệu quả hơn

Như vậy, trọng tâm chính của Thuỵ Điển là hợp tác với các nước láng giềng, tăng cường hợp tác trong khuôn khổ EU, LHQ song song với các hoạt động viện trợ phát triển nhằm duy trì vị thế của nước này trên trường quốc tế

2.2 Các thành viên Bắc Âu

Việc gia nhập EU đã trở thành một bước ngoặt trong lịch sử đối ngoại của Thuỵ Điển Không chỉ tạo ra cơ chế hợp tác đa phương mà EU còn tạo ra những điều kiện mới cho các hoạt động hợp tác song phương giữa Thụy Điển và các nước thành viên Với những đối tác truyền thống như các nước Bắc Âu và Baltic, bên cạnh những cơ chế hợp tác đã tồn tại, các thể chế của EU có những tác động nhất định Sau đây những tiền

đề cũng như mục tiêu trong chính sách của Thụy Điển với các nước thành viên EU sẽ được phân tích theo từng khu vực cụ thể Bao gồm các nước thành viên Bắc Âu, Baltic

và những thành viên khác

Khu vực Bắc Âu với nhiều nét tương đồng trong văn hóa và lịch sử luôn là trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Thụy Điển Trước khi gia nhập EU, Thụy Điển cho rằng hợp tác chặt chẽ trong khu vực sẽ là một bảo đảm cho chính sách trung lập cũng như an ninh của nước này Tuy nhiên quan điểm đó đã thay đổi sau khi Na Uy và Đan Mạch gia nhập NATO Quyết định trên của các nước láng giềng cùng với bối cảnh quốc tế có nhiều chuyển biến trong giai đoạn cuối của chiến tranh lạnh đã tác động đến chính sách của Thụy Điển và dẫn đến quyết định gia nhập EU Mặc dù vậy khu vực

Trang 8

Bắc Âu vẫn luôn được Thụy Điển chú trọng, điều này biểu hiện rõ nét trong chính sách của Thụy Điển với cơ chế hợp tác khu vực là Hội đồng Bắc Âu và Hội đồng Bộ trưởng Hội đồng Bắc Âu được thành lập năm 1952, nền tảng là hợp tác liên nghị viện với

85 thành viên đến từ năm quốc gia (Đan Mạch, Phần Lan, Iceland, Thuỵ Điển, Na Uy)

và ba vùng lãnh thổ trong khu vực (Greenland, quần đảo Faroe, Âland) Thực tế, hợp tác luôn là một yếu tố nổi bật trong khu vực này, các quốc gia Bắc Âu chia sẻ các giá trị chung về văn hoá, lịch sử và sẵn sàng hợp tác chính trị làm nền tảng cho sự phát triển chung Không chỉ hợp tác trong nội bộ mà các nước này còn thúc đẩy hợp tác với các nước lân cận (như các nước Baltic, Tây-Bắc Nga) và các thành viên EU Những thành quả của quá trình hợp tác này là Liên minh hộ chiếu Bắc Âu (1954), tạo điều kiện đi lại tự do cho các công dân của các nước thành viên, Thị trường lao động chung Bắc Âu (1954), và Hiệp ước về các vấn đề như an ninh xã hội, giáo dục Trong chương trình nghị sự mới của Hội đồng, các lĩnh vực được ưu tiên là công nghệ, phát triển bền vững, phúc lợi xã hội Hội đồng Bộ trưởng được thành lập năm 1971 và hai hội đồng

có mối quan hệ chặt chẽ, trong đó Hội đồng Bộ trưởng là cơ quan thực thi

Như vậy đối với khu vực Bắc Âu, trọng tâm hợp tác của Thuỵ Điển đã được thể hiện

rõ nét trong những lĩnh vực hợp tác của cơ chế khu vực Trong những lĩnh vực đó, việc hợp tác với các nước thành viên EU và các nước Baltic cũng được nhấn mạnh Với Thuỵ Điển, việc hợp tác trong khu vực không chỉ vì mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội mà còn là sự đảm bảo chắc chắn cho việc duy trì chính sách trung lập của Thuỵ Điển

Ba nước Baltic (Lithuana, Latvia, Estonia) có mối quan hệ lịch sử, văn hoá gần gũi với Thuỵ Điển Trong thời kỳ Viking (800-1050), người Thuỵ Điển đã tiến hành các hoạt động trao đổi thương mại, sau này là thôn tính các vùng lãnh thổ ven biển Baltic Chính thời kỳ này đã tạo tiền đề cho những giá trị văn hoá của hai vùng tác động lẫn nhau Sự gần gũi về mặt địa lý, văn hoá là một trong những nguyên nhân khiến Thuỵ Điển luôn chú trọng tăng cường quan hệ với các nước Baltic, một trong những yếu tố thúc đẩy sự thành lập của Hội đồng Bắc Âu cũng như Hội đồng Baltic Khi Thuỵ Điển trở thành thành viên EU, mối quan hệ giữa nước này và khu vực Baltic thậm chí được thúc đẩy hơn nữa với những nỗ lực của Thuỵ Điển nhằm ủng hộ cho sự gia nhập EU của các nước Baltic Không chỉ giúp phát triển quan hệ với các nước trong khu vực mà hội đồng còn là một cơ chế hợp tác góp phần cải thiện mối quan hệ giữa EU và Nga, hạn chế sự chia rẽ trong Châu Âu

Hội đồng các nước khu vực biển Baltic được thành lập năm 1992, với mười hai thành viên là Thuỵ Điển, Đan Mạch, Na Uy, Phần Lan, Đức, Nga, Latvia,Lithuana,

Trang 9

Estonia, Iceland, Ba Lan và Uỷ ban Châu Âu Mục tiêu của hội đồng là thúc đẩy phát triển kinh tế, dân chủ, tạo điều kiện thống nhất giữa các nước trong khu vực

Các nước Baltic, cũng như khu vực Bắc Âu không chỉ là những đối tác truyền thống

mà còn là những đối tác chiến lược của Thuỵ Điển Nước này không chỉ mong muốn phát triển quan hệ hợp tác văn hoá, kinh tế, xã hội mà còn hy vọng nâng lên tầm hợp tác quốc phòng an ninh Nhưng điều đó đã không trở thành hiện thực khi một số nước quyết định nằm dưới ô bảo trợ của Mỹ trong NATO Có thể nói chính sách trung lập của Thuỵ Điển mang tính chất thực dụng, mà trong đó hợp tác với khu vực Bắc Âu và Baltic là những ưu tiên hàng đầu nhằm đảm bảo sự phát triển cũng như an ninh của chính Thuỵ Điển

Trước khi gia nhập chính thức EU, Thuỵ Điển đã tiến hành nhiều hoạt động hợp tác kinh tế, thương mại với các nước Tây Âu Thuỵ Điển đã thiết lập quan hệ kinh tế với EEC từ năm 1951 ngay khi tổ chức này mới thành lập Hai bên đã đạt được những thoả thuận liên quan đến việc huỷ bỏ thuế quan đối với hầu hết các mặt hàng công nghiệp, cũng như các thoả thuận khác liên quan đến lao động, vốn Thuỵ Điển coi những cơ chế hợp tác tiền thân của EU đơn thuần là những cơ chế hợp tác kinh tế, chỉ đến khi chiến tranh lạnh gần kết thúc, không còn nhân tố xung đột giữa hai khối cản trở, Thuỵ Điển mới thực sự tham gia hợp tác trên mọi lĩnh vực và chính thức trở thành thành viên năm 1995

Cho đến nay các nước Tây Âu vẫn là những đối tác thương mại hàng đầu của Thuỵ Điển Trong chính sách đối ngoại của Thuỵ Điển, thành viên tích cực của EU là một mục tiêu song song với việc tiếp tục duy trì chính sách trung lập-điều mà đa số người dân Thuỵ Điển vẫn ủng hộ Có thể nói, gia nhập EU là một sự lựa chọn tất yếu của Thuỵ Điển trước những thay đổi của bối cảnh quốc tế nhằm duy trì an ninh cũng như

sự phát triển Như đã phân tích ở trên, chính sách của Thuỵ Điển với các nước thành viên EU vẫn xoay quanh các trọng tâm là tăng cường hợp tác về mọi mặt với các nước Bắc Âu và Baltic, thúc đẩy trao đổi thương mại với các nước Tây Âu, hợp tác tích cực trong khuôn khổ EU Chính sách của Thuỵ Điển đối với EU cũng được thể hiện rõ nét trong quan điểm của nước này đối với một số vấn đề quan trọng của khối

II Tác động của chính sách đối ngoại của Thụy Điển đối với các nước Bắc Âu

Thuỵ Điển luôn ủng hộ việc EU mở rộng về phía đông, trong nhiệm kỳ chủ tịch của mình, nước này đã nỗ lực thúc đẩy đàm phán với các nước ứng cử viên gia nhập liên minh Trong thời gian này quá trình đàm phán đã đạt được một số thoả thuận quan trọng liên quan đến việc di chuyển lao động giữa EU và Hungary, Slovakia và Latvia,

Trang 10

hay liên quan đến các vấn đề môi trường với Lithuania, Estonia, Cộng hoà Séc,

Slovenia

Với chính sách ngoại giao thực dụng, Thuỵ Điển ủng hộ sự gia nhập của các nước Trung và Đông Âu song song với các hoạt động hợp tác nhằm cải thiện quan hệ của

EU với Nga Với mục tiêu đó, Thuỵ Điển không chỉ thể hiện được vai trò tích cực trong EU mà còn đảm bảo được những lợi ích an ninh của quốc gia này

Không chỉ có quan hệ hợp tác chặt chẽ với Mỹ dựa trên những yếu tố lịch sử như vai trò của người di cư gốc Thuỵ Điển trong quá trình hình thành nước Mỹ, đối với Thuỵ Điển, Mỹ còn là một đối tác thương mại lớn sau các nước thành viên EU

Mặt khác tuy người dân Thuỵ Điển chưa chấp thuận việc nước này gia nhập NATO, nhưng trong bối cảnh nhiều nước láng giềng đã gia nhập khối này thì an ninh của Thuỵ Điển không thể không chịu tác động từ mối quan hệ với Mỹ hay quan hệ EU-Mỹ Do vậy duy trì quan hệ hợp tác thân thiện với Mỹ là một trong những mục tiêu chiến lược của Thuỵ Điển kèm theo đó là sự ủng hộ quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa EU và Mỹ CFSP là một bước lớn trong quá trình hợp tác của EU liên quan đến lĩnh vực đối ngoại và an ninh Ngay từ những thời điểm đầu, Thuỵ Điển đã tham gia đầy đủ các hoạt động hợp tác liên quan, hơn thế nữa còn có nhiều đóng góp vào việc phát triển chính sách đối ngoại chung Ví dụ như những tác động tích cực đến hợp tác EU-Nga, chính sách của EU đối với các nước khu vực biển Baltic, vai trò của EU trong cuộc xung đột Trung đông, ủng hộ việc tôn trọng nhân quyền và phát triển dân chủ ở các quốc gia trên thế giới

Mặt khác, CFSP cũng đặt ra nhiều thách thức cho Thuỵ Điển Chính sách này sẽ tạo

ra sự liên kết chặt chẽ về mặt an ninh và đối ngoại, phần nào hạn chế chủ quyền của các nước thành viên, điều đi ngược lại quan điểm trung lập của Thuỵ Điển Tuy chưa sẵn sàng cho việc tham gia một liên minh toàn diện bao gồm cả lĩnh vực quốc phòng nhưng Thuỵ Điển vẫn biểu hiện mong muốn tham gia đầy đủ tiến trình hợp tác này, trước tiên là các hoạt động nhân đạo và gìn giữ hoà bình Nước này ủng hộ chính sách đối ngoại phát triển theo hướng độc lập, góp phần tăng cường vai trò của EU trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế

Tóm lại đối với EU, Thuỵ Điển thực thi một chính sách ngoại giao tích cực, ủng hộ quá trình liên kết chặt chẽ hơn giữa các thành viên trong khối, cũng như mối quan hệ hợp tác với các nước lân cận và Mỹ Mặc dù với một số vấn đề khác, Thuỵ Điển còn gặp những cản trở nhất định như gia nhập đồng tiền chung Châu Âu, nhưng trên tất cả, mục tiêu hợp tác của Thuỵ Điển đối với EU là đảm bảo sự thịnh vượng, an ninh và góp

Ngày đăng: 21/08/2021, 09:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w