Amydan löôõi laø khoái toå chöùc lymphoâ ôû neàn löôõi naèm giöõa chöõ V löôõi vaø hoá löôõi thanh thieät. Khoái naøy ñöôïc chia ra laøm ñoâi bôûi daây chaèng löôõi thanh thieät giöõa. Amydan löôõi laø cöïc döôùi cuûa voøng Vanñaâye, coù khi noù phaùt trieån leân ñeán saùt amydan khaåu caùi. Amydan löôõi cuõng gioáng nhö caùc boä phaän khaùc cuûa voøng Vanñaâye. Noù thöôøng phaùt trieån ñeán möùc cao ñoä ôû treû vaø baét ñaàu thoaùi trieån ôû tuoåi daäy thì. ÔÛ moät soá ít ngöôøi, amydan tieáp tuïc phaùt trieån baát bình thöôøng trong giai ñoïan tröôûng thaønh vaø gaây ra tình traïng beänh lyù. Nhöõng chaát kích thích nhö röôïu, thuoác laù, gia vò... ñoùng vai troø nhaát ñònh trong quaù trình phaùt trieån amydan löôõi. Caùc beänh nhö cuùm, soát phaùt ban hoaëc saâu raêng, vieâm lôïi, vieâm mieäng ñeàu coù theå daãn ñeán vieâm voøng Vanñaâye vaø ñöa ñeán quaù phaùt amydan löôõi. Phaãu thuaät caét amydan khaåu caùi coù theå gaây ra söï quaù phaùt buø tröø cuûa amyñan löôõi.I. Trieäu chöùng. 1. Trieäu chöùng chöùc naêng. Nhìn chung trieäu chöùng chöùc naêng khoâng roõ raøng tröø nhöõng ngöôøi suy nhöôïc tinh thaàn. Caûm giaùc dò vaät: beänh nhaân caûm giaùc coù moät sôïi toùc hay maûnh xöông daêm bò vöôùng ôû trong hoïng laøm cho hoï phaûi nuoát lieân tuïc nhöng dò vaät vaãn khoâng troâi. Vì nuoát khoâng khí luoân mieäng neân hoï bò khí thöïc: ñaày buïng, ôï hôi, töùc thôû, hoài hoäp, maïch nhanh, maát nguû. Ho khan töøng hoài hoaëc töøng tieáng moät coù keøm theo ñaèng haéng. Roái loaïn veà phaûn xaï nhö hen giaû hieäu, buoàn noân, ñoät quî thanh quaûn (itcus laryngeù), chaûy nhieàu nöôùc boït... Tieáng noùi thöôøng khoâng thay ñoåi. AÊn uoáng khoâng bò trôû ngaïi tröø khi bò vieâm. 2. Trieäu chöùng thöïc theå: duøng göông thanh quaûn soi neàn löôõi thaáy neàn löôõi thay ñoåi nhö sau: Theå raûi raùc: caùc toå chöùc taân to baèng haït ñoã xanh, raûi raùc khaép neàn löôõi vaø caùc tónh maïch tím xanh bò giaõn ngoaèn ngoeøo. Theå khoái: toå chöùc taân hình thaønh hai khoái saàn suøi nhö quaû daâu taây ôû hai beân neïp löôõi thanh thieät vaø che laáp raõnh löôõi thanh thieät. Theå toûa lan: toå chöùc taân hình thaønh moät lôùp daøy coäm, goà gheà che phuû toaøn boä neàn löôõi. II. Chaån ñoaùn. Chaån ñoaùn xaùc ñònh baèng caùch soi neàn löôõi. Chaån ñoaùn phaân loaïi: neân loaïi caùc beänh sau: Giang mai hoïng theå quaù phaùt trong thôøi kyø thöù hai: B.W ( VDRL TPHA) döông tính vaø coù theâm caùc trieäu chöùng khaùc ôû nieâm maïc hoaëc ôû ngoaøi da. Ung thö neàn löôõi trong thôøi kyø ñaàu: ngoùn tay sôø thaáy neàn löôõi bò thaâm nhieãm cöùng. Tröôùc trieäu chöùng khaû nghi ñoù caàn phaûi laøm sinh thieát. III. Bieán chöùng. Nhö ñaõ noùi ôû ñoaïn ñaàu, söï quaù phaùt cuûa amydan löôõi ít coù trieäu chöùng vaø ít ñöôïc löu yù. Traùi laïi neáu coù bieán chöùng vieâm thì caùc trieäu chöùng trôû neân roõ reät. 1. Vieâm amydan löôõi theå xuaát tieát: Trieäu chöùng gioáng nhö vieâm hoïng: soát nheï, toaøn thaân moûi meät, nuoát ñau. Ñieåm ñau khu truù ôû sau Xöông moùng. Moãi laàn nuoát ñau nhoùi ñeán taän tai, theø löôõi ra cuõng ñau. Beänh nhaân coù caûm giaùc bò hoùc xöông. Khi khaùm thaáy amydan löôõi ñoû vaø coù giaû maïc traéng. Sôø vaøo neàn löôõi beänh nhaân keâu ñau. Beänh bieán dieãn trong vaøi ngaøy roài khoûi. 2. Vieâm amydan löôõi theå muû.Beänh coù theå xuaát hieän sau vieâm amydan löôõi xuaát tieát hoaëc sau chaán thöông gaây ra bôûi dò vaät hoaëc ñoái dieän ôû neàn löôõi. Muû coù theå khu truù ôû lôùp taân nang beân ngoaøi hoaëc ôû lôùp toå chöùc lieân keát xoáp beân döôùi. Beänh baét ñaàu baèng vieâm xuaát tieát gioáng nhö ôû theå treân nhöng hai trieäu chöùng ñau vaø khoù nuoát ngaøy caøng taêng. Moãi laàn nuoát thì ñau nhoùi leân tai khieán beänh nhaân khoâng daùm aên uoáng. Nhieät ñoä khoaûng 39o, theå traïng xaáu, nöôùc tieåu coù anbumin. Beänh nhaân noùi khoù vaø ñau. Hoâ haáp bò trôû ngaïi chuùt ít. Beänh nhaân khoâng theø löôõi ra ñöôïc. Khi ñaët duïng cuï ñeø löôõi vaøo gaàn neàn löôõi, beänh nhaân ñau khoâng chòu ñöïng ñöôïc. Soi thanh quaûn raát khoù vì khoâng keùo löôõi ra ñöôïc. Chuùng ta thaáy ôû maët sau cuûa neàn löôõi coù moät khoái ñoû laøm phoàng raõnh löôõi thanh thieät vaø ñaåy doàn thanh thiệt veà phía sau. Vieâm thöôøng khu truù ôû moät beân löôõi. Haïch coå ñoâi khi cuõng söng.
Trang 1Amydan lưỡi cũng giống như các bộ phận khác của vòng Vanđâye Nó thường phát triển đến mức cao độ ở trẻ và bắt đầu thoái triển ở tuổi dậy thì
Ở một số ít người, amydan tiếp tục phát triển bất bình thường trong giai đọan trưởng thành và gây ra tình trạng bệnh lý
Những chất kích thích như rượu, thuốc lá, gia vị đóng vai trò nhất định trong quá trình phát triển amydan lưỡi Các bệnh như cúm, sốt phát ban hoặc sâu răng, viêm lợi, viêm miệng đều có thể dẫn đến viêm vòng Vanđâye và đưa đến quá phát amydan lưỡi
Phẫu thuật cắt amydan khẩu cái có thể gây ra sự quá phát bù trừ của amyđan lưỡi
Trang 2- Ho khan từng hồi hoặc từng tiếng một có kèm theo đằng hắng
- Rối loạn về phản xạ như hen giả hiệu, buồn nôn, đột quỵ thanh quản (itcus laryngé), chảy nhiều nước bọt
Tiếng nói thường không thay đổi Ăn uống không bị trở ngại trừ khi bị viêm
2 Triệu chứng thực thể: dùng gương thanh quản soi nền lưỡi thấy nền lưỡi thay đổi như sau:
- Thể rải rác: các tổ chức tân to bằng hạt đỗ xanh, rải rác khắp nền lưỡi và các tĩnh mạch tím xanh bị giãn ngoằn ngoèo
- Thể khối: tổ chức tân hình thành hai khối sần sùi như quả dâu tây ở hai bên nẹp lưỡi thanh thiệt và che lấp rãnh lưỡi thanh thiệt
- Thể tỏa lan: tổ chức tân hình thành một lớp dày cộm, gồ ghề che phủ toàn bộ nền lưỡi
II Chẩn đoán
Chẩn đoán xác định bằng cách soi nền lưỡi
Chẩn đoán phân loại: nên loại các bệnh sau:
- Giang mai họng thể quá phát trong thời kỳ thứ hai: B.W ( VDRL & TPHA) dương tính và có thêm các triệu chứng khác ở niêm mạc hoặc ở ngoài da
- Ung thư nền lưỡi trong thời kỳ đầu: ngón tay sờ thấy nền lưỡi bị thâm nhiễm cứng Trước triệu chứng khả nghi đó cần phải làm sinh thiết
Bệnh biến diễn trong vài ngày rồi khỏi
2 Viêm amydan lưỡi thể mủ
Trang 3Bệnh có thể xuất hiện sau viêm amydan lưỡi xuất tiết hoặc sau chấn thương gây ra bởi dị vật hoặc đối diện ở nền lưỡi
Mủ có thể khu trú ở lớp tân nang bên ngoài hoặc ở lớp tổ chức liên kết xốp bên dưới
Bệnh bắt đầu bằng viêm xuất tiết giống như ở thể trên nhưng hai triệu chứng đau và khó nuốt ngày càng tăng Mỗi lần nuốt thì đau nhói lên tai khiến bệnh nhân không dám ăn uống
Nhiệt độ khoảng 39o, thể trạng xấu, nước tiểu có anbumin
Bệnh nhân nói khó và đau Hô hấp bị trở ngại chút ít
Bệnh nhân không thè lưỡi ra được Khi đặt dụng cụ đè lưỡi vào gần nền lưỡi, bệnh nhân đau không chịu đựng được
Soi thanh quản rất khó vì không kéo lưỡi ra được Chúng ta thấy ở mặt sau của nền lưỡi có một khối đỏ làm phồng rãnh lưỡi thanh thiệt và đẩy dồn thanh thiệt về phía sau Viêm thường khu trú ở một bên lưỡi Hạch cổ đôi khi cũng sưng
IV Điều trị
1 Điều trị bằng thuốc: không sử dụng những chất kích thích (rượụ, thuốc lá, gia vị ), ngậm viên clorat kali, bôi glyxerin iôdê 3% hoặc nitrat bạc 3% vào
amydan lưỡi
2 Điều trị bằng phẫu thuật:
Dùng kìm bấm Escat cắt bớt amydan lưỡi nếu là những khối xù to
Dùng đông điện tiêu hủy nếu là những khối lymphô mọc sát cạnh nhau
Dùng Benghen liệu pháp nếu tổ chức lymphô hình thành một lớp dày che phủ nền lưỡi
3 Điều trị biến chứng viêm xuất tiết:
- Tiêm pênixilin
- Phun hơi (Vaponsation) với glyxerin bôratê 5%
- Chấm Bônanh Nếu là viêm tấy có túi mủ thì phải chích bằng dao cong nicacdô Bôtay (Ricardo Botey) hoặc bằng côte điện đầu cong
Trang 4Bài 30: DỊ VẬT HỌNG
Dị vật ở họng thường vào bằng đường miệng như xương, đinh, huy hiệu, kim, cá rô đặc biệt đối với
trẻ em nhỏ và những người loạn trí thì không kể hết được những thứ mà họ có thể cho vào miệng Dị vật cũng có thể vào họng bằng đường mũi do hít vào hoặc đi từ dạ dày lên do nôn
Với vết thương chiến tranh dị vật có thể vào họng bằng bất kỳ lối nào: xuyên qua miệng, xuyên qua mũi, xuyên qua cổ, xuyên qua thanh quản, xuyên qua cột sống đó là những viên đạn hay những mảnh bom, mảnh róc két, mảnh lựu đạn
Trong vết thương chiến tranh có đặc điểm cần chú ý là lỗ vào ở ngoài da rất nhỏ nhưng bệnh tích ở trong khá nặng
Dị vật ở trong họng sẽ gây ra khó nuốt Niêm mạc có thể bị rách ngay tức khắc nếu là dị vật nhọn hay sắc bén Trái lại niêm mạc sẽ bị thương tổn muộn sau vài ba ngày nếu là dị vật to và có khía cạnh tù
Những dị vật sắc bén và mảnh bom đạn thường làm rách thành họng (niêm mạc cân và cơ) và gây ra biến chứng viêm nhiễm chung quanh họng
1 Dị vật (vòm mũi họng) họng mũi
Dị vật vào bằng đường mũi (khuy áo, kim băng, bút chì…)
Mũi bị viêm và chảy mủ một bên Bệnh nhân kêu đau tai và có khi viêm tai Soi mũi trước ít khi thấy được dị vật vì nó ở trong sâu Soi mũi sau thấy dị vật dính vào cửa mũi sau hoặc ở loa vòi (ơstasi)Eustache
Nếu là dị vật nhỏ chúng ta có thể gắp ra bằng đường mũi, sau khi bơm cocain vào mũi và vòm mũi họng Nếu dị vật to hoặc có khía cạnh chúng ta sẽ gắp ra bằng kìm (Kôxe) Kocher cong theo đường miệng
Trang 52 Dị vật ở họng miệng
Đây là những dị vật nhỏ, nhọn và sắc bén như xương cá, kim khâu Chúng thường cắm vào amidan khẩu cái hoặc amidan lưỡi hoặc ở rãnh lưỡi amidan
Bệnh nhân kêu nuốt đau và vướng họng Khám họng trực tiếp và gián tiếp bằng gương thanh quản sẽ dễ dàng thấy dị vật nếu chúng cắm nông Trong trường hợp dị vật cắm sâu, toàn bộ chui vào khe amidan, thì không nhìn thấy nó và rất khó tìm Chúng ta phải bơm (cocain) lidocain vào họng để gây tê rồi dùng que bông hoặc cái móc đầu tù thăm dò các khe, vén các rãnh của amydan để tìm dị vật Chúng
ta cũng có thể dùng ngón tay sờ vào mặt amidan để tìm gai nhọn của dị vật và điểm đau gây ra bởi dị vật
Trang 63 Dị vật ở họng thanh quản
( Nguồn Thanh Sơn)
Dị vật mắc ở vùng này thường lớn, có gai góc và có khía cạnh sắc như xương gà, hàm răng giả, huy hiệu
Triệu chứng chức năng là nuốt đau, nuốt vướng, chảy nhiều nước bọt, tiếng nói ồ ồ như cóc kêu Soi thanh quản gián tiếp và trực tiếp sẽ thấy dị vật cắm vào sụn phễu hoặc nẹp phễu thanh thiệt hoặc đáy xoang lê
Nếu là dị vật cản quang, chúng ta có thể thấy hình dị vật trên phim X quang
Dị vật hạ họng thường gây ra biến chứng nguy hiểm như viêm thanh quản (khó thở), viêm tấy chung quanh họng… (sốt, mạch nhanh, tiểu ít, người bơ phờ, máng cảnh đóng bánh, cổ sưng, khó nuốt, khó thở) có thể đưa đến tử vong
Giải quyết dị vật họng thanh quản bằng hai cách: nếu là dị vật nhỏ không cắm sâu vào thành họng, chúng ta gắp ra bằng kìm (Frankael) Fraenkel trong khi soi thanh quản gián tiếp hay bằng kềm thực quản dài 30 cm khi soi thanh quản trực tiếp Trước khi gắp dị vật nên bôi (cocain 10% và adrenalin 1‰) lidocain vào niêm mạc
Nếu là dị vật to, cắm chặt cứng vào thành họng thì nên làm phẫu thuật mở họng sau sụn giáp để lấy
dị vật ra
Kháng sinh rất cần thiết để chống nhiễm trùng
Trang 8Nguyên nhân của bệnh có thểâ do viêm họng mãn tính làm rối loạn sự trưởng thành của niêm mạc ở các khe amyđan
1 Triệu chứng
Bệnh bắt đầu một cách rất trầm lặng Bệnh nhân là người bị viêm họng mãn tính, họ thường kêu là nuốt vướng, nghẹn họng hay đằng hắng Tình cờ họ soi gương và thấy có những điểm trắng trên amyđan
Khám họng thấy ở hai amydan có nhiều điểm trắng nhọn hình nón, to bằng hạt gạo Xuất phát từ các khe giống như những cái gai cụt Gai không cứng nhưng chắc như sừng và bám chặt vào amydan Dùng que bông nặn không ra và cũng không chảy máu Muốn nhổ phải dùng cặp phẫu tích mới lôi ra được Động tác này đau và làm cho amydan chảy máu
Dùng gương thanh quản soi nền lưỡi sẽ thấy ở amydan lưỡi cũng có những bệnh tích như trên, cái to bằng đầu que diêm, cái bằng hạt đậu xanh Hình dáng bệnh tích làm cho chúng ta nghĩ đến những cái đinh bằng bạc đóng vào gỗ
Trang 9Niêm mạc họng gần như bình thường, đây đó có vài đảo lymphô hơi đỏ Cổ không hề có hạch, thề trạng tốt Bệnh nhân ăn uống bình thường
2 Thể lâm sàng
- Thể thanh quản: gai sừng tràn lan xuống đến băng thanh thất
- Thể vòi ơstasi: gai sừng tràn lan xung quanh loa vòi ơstasi, nhất là ở amydan vòi
- Thể tập trung: các gai sừng dài khoảng 2mm tập trung lại từng cụm thành những mào gà hoặc những đám mịn như nhung, màu trắng bệch hoặc xám tro
2 Diễn biến
Bệnh kéo dài trong nhiều tuần hoặc nhiều tháng nhưng rốt cuộc cũng sẽ khỏi Bệnh hết một cách bất ngờ, thường không cần thuốc men gì Chưa có tác gỉả nào nêu bệnh sưng họng(sừng hĩa họng) có gây ra biến chứng
3 Chẩn đoán
Chẩn đoán quyết định dựa vào những đặc điểm sau đây:
- Gai trắng giống như đầu đinh
- Các gai này dính chặt vào khe amydan
- Niêm mạc chung quanh bình thường
Chẩn đoán phân loại với các bệnh:
- Viêm amydan cấp: có những điểm trắng mới nhìn sơ qua có vẻ giống như gai sừng nhưng lúc dùng que bông chùi thì bựa bong đi, hơn nữa niêm mạc chung quanh
bị viêm đỏ, bệnh nhân sốt
- Viêm amydan khe mãn tính: bã đậu kết hợp lại thành khối trắng ở miệng khe Lúc nặn amydan, bã dậu sẽ phun ra
- Bạch hầu: giả mạc chiếm từng mảng và lan rộng nhanh đến trụ trướùc, đến lưỡi gà, hạch cổ sưng, toàn thể trạng bị ảnh hưởng
Bệnh nhân kiêng thuốc lá, kiêng rượu, kiêng gia vị
b Điều trị chủ yếu của sừng hóa họng là phẫu thuật
- Nếu chỉ có vài điểm rải rác trên amydan hàm ếch chúng ta có thể gây tê bằng
côcain 6%(lidocain 10%) rồi dùng cặp phẫu tích nhổ ra từng cái một
- Nếu bệnh đã tập trung nhiều ở amydan thì chúng ta sẽ cắt amydan toàn bộ
Trang 10- Nếu bệnh đã lan rộng thành từng mảng hoặc xuống đến amydan lưỡi thì chúng ta có thể đông điện
Trang 11Các bệnh trên hầu như khác nhau về mọi mặt: nguyên nhân, tiến triển, tiên lượng chỉ trừ một điểm chung, đó là bệnh tích ở niêm mạc: bong bóng nước Bong bóng nước trong họng hay trong miệng, hình thành rất nhanh trong vài ngày do sự tập hợp các mụn nước nhỏ lại hoặc do sự phát triển mở rộng của một mụn nước lớn
Đường kính của mỗi bong bóng có thể từ 1 - 5cm Trong bong bóng có nước màu vàng nhạt hoặc màu đen Dùng que bông ấn nhẹ thì bong bóng lõm xuống và không đau
Bong bóng sẽ vỡ ra và để lại một vết loét nông, bờ rõ rệt, hình tròn hoặc đa vòng, niêm mạc mềm mại không bị thâm nhiễm
Vị trí của bệnh tích không nhất định, khi thì ở thành sau họng, khi thì ở các trụ,
ít khi ở amydan
Trước những bệnh tích kể trên chúng ta phải chẩn đoán phân loại, với bỏng miệng do nước sôi hay do chất ăn mòn (causlique) bằng cách hỏi tiền sử bệnh Khi biết chắc đó là viêm họng bong bóng nước chúng ta phải hội chẩn với khoa
da liễu để tìm ra bản chất của bệnh
Chẩn đoán nguyên nhân: Khi chẩn đoán nguyên nhân các loại bong bóng nước ở họng chúng ta dựa vào tuổi tác, vào hình dáng và vị trí của bệnh tích, vào tác hại đến toàn thân, vào diễn biến và vào chẩn đoán tế bào hay sinh thiết
1 Pemphigut mạn tính thông thường (pémphigus chronique vulgaire)
Pemphigus Vulgaris
Trang 12Đây là một bệnh hiếm thấy nhưng là bệnh nặng Tuổi của bệnh nhân thường ngoài năm mươi Bệnh tích ở niêm mạc xuất hiện trước bệnh tích ngoài da Bong bóng hình thành một cách đột ngột trong lớp biểu mô Bệnh nhân không đau, không sốt
Bong bóng vỡ sẽ để lại một vết loét có giả mạc che phủ Chỗ loét bị hoại thư và bệnh nhân nuốt đau Lúc này toàn thể trạng suy sụp nhanh chóng: sốt cao, rối loạn tiêu hóa, gầy sút
Khi xét nghiệm nước dịch trong bong bóng hoặc trên mặt vết loét chúng ta thấy có nhiều tế bào biểu bì Manpighi rời rạc có nghĩa đây là hiện tượng tiêu gai (acantholyse)
Tiên tượng của pemphigút thông thường rất xấu Khoảng một năm bệnh nhân sẽ chết
Các loại thuốc A.C.T.H, coctison, quinacrin chỉ có tác dụng một phần nào chứ không giải quyết hoàn toàn bệnh
2 Bệnh Đurinh – Brôc (Duhring - Brocq)
Bệnh này không nguy hiểm lắâm và thường gặp ở những người trẻ
Bệnh tích ở họng xuất hiện sau bệnh tích ngoài da và được báo hiệu bằng đau rát họng Toàn thể trạng không bị ảnh hưởng mấy
Vị trí của bong bóng là ở dưới lớp biểu bì hoặc biểu mô, không có hiện tượng tiêu gai Chẩn đoán tế bào cho thấy rằng biểu bì bị bong từng mảng nhưng các tế bào manpighi vẫn dính với nhau bởi các gai, không phân tán rời rạc từng tế bào một
Bệnh biến diễn từng đợt, kế tục và thưa dần Sau cùng sẽ khỏi
Tiên lượng tốt
Người ta cũng dùng A.C T H, coctison, quacrin, sunfapyridin để điều trị
Trang 133 Bệnh Loctat - Glacôp (Dermatite bulleuse muco - synéchiante et atrophiante de Lortat - Jacob)
Bệnh bắt đầu bằng bong bóng ở họng và miệng Bong bóng vỡ đi và để lại vết loét nông Những vết loét này biến thành sẹo dính hoặc dây chằng ở màn hầu, ở thành sau họng, ở thanh thiệt
Ơû mắt chúng ta cũng thấy những bệnh tích tương tự: mi mắt dính vào nhãn cầu và có thể làm cho mù mắt
Một số tác giả cho rằng bệnh này là một thể lâm sàng của bệnh Đurinh - Brôc
4 Bệnh ban đỏ đa dạng bóng nước hay hydroa
Trang 14Bài 11
VIÊM HỌNG BẠCH HẦU
Bệnh bạch hầu có thể gặp ở mọi lứa tuổi, đặc biệt trẻ con từ một đến bảy tuổi thường hay mắc bệnh này hơn các độ tuổi khác Những trẻ em đã tiêm phòng bạch hầu cũng có thể bị lại nhưng cấp độ bệnh nhẹ
Vi trùng gây bệnh là trực trùng Klebs – Loeffler Người ta phân ra làm ba loại:
- Trực trùng dài: chiều dài gấp sáu lần chiều ngang, xếp từng đống ngổn ngang, thường thấy trong thể bệnh nặng
- Trực trùng trung bình: xếp thành hàng rào song song và được gặp trong thể thông thường
- Trực trùng ngắn: chiều dài bằng hai chiều ngang xếp thành chữ M, N hay L Loại này ít gây ra bệnh và dễ nhầm với trực trùng giả bạch hầu Hoffman
1 TRIỆU CHỨNG
Vềâ mặt lâm sàng có hai thể hạch hầu: thể thông thường và thể ác tính
1.1 Bạch hầu thông thường
- Bệnh bắt đầu một cách âm thầm Bé (bệnh nhân thường là
em bé) mệt, biếng chơi, hơi ngạt mũi, họng cũng hơi rát Thân nhiệt lên đến 38o, mạch nhanh, da mặt xanh nhạt Kiểm tra họng thấy niêm mạc đỏ
- Sau 24 giờ giả mạc xuất hiện ở amydan Thoạt tiên nó giống như một vết sơn trắng nhỏ, dần dần nó lan rộng ra che phủ amydan, lan sang các trụ, đến lưỡi gà màn hầu Đôi khi giả mạc lên đến vòm mũi họng và phát triển ra phía lỗ mũi trước
- Điểm đặc biệt của giả mạc bạch hầu: màu trắng ngà hoặc xám tro, bám vào niêm mạc, khi bóc rớm máu, tái phát rất
Trang 15nhanh, không tan trong nước, chứa nhiều vi trùng Loeffler
Klebs Có một thể không có giả mạc ở họng miệng, mà chỉ có niêm mạc đỏ gọi là thể đỏ Trong thể này, các triệu chứng toàn thân, nhất là da mặt xanh nhạt, mạch nhanh, yếu và hạch cổ to làm cho chúng ta nghi ngờ và quệt họng làm xét nghiệm
- Trước những bệnh cảnh nói trên chúng ta phải quệt lấy giả mạc hay tơ huyết (fibrine) trên amydan gửi đi soi trực tiếp và cấy vi trùng
Nếu được điều trị, thể bạch hầu thông thường sẽ khỏi trong vòng năm đến sáu ngày: giả mạc thu lại dần và rụng hết
Nếu không điều trị, bệnh đôi khi cũng tự khỏi được, nhưng thường hay lan rộng ra, biến diễn kéo dài và để lại một số biến chứng như khó thở, liệt màn hầu, viêm cơ tim
* Chú ý: bệnh có khả năng tái phát Khi nhiệt độ đã xuống,
giả mạc đã tan nhưng em bé vẫn còn mệt và xanh, ít hôm sau nhiệt độ tăng trở lại, giả mạc xuất hiện lần thứ hai và lúc đó bệnh có thể chuyển sang thể ác tính
1.2 Bạch hầu ác tính
- Thể ác tính thường xuất hiện ngay từ khi bệnh mới phát, nhưng đôi khi bệnh xuất hiện tiếp sau thể bạch hầu thông thường
- Bệnh bắt đầu một cách ồ ạt: nhiệt độ cao, người mệt lả, da mặt tái xanh Bệnh nhân đau họng không nuốt được và kêu đau bụng (do thiểu năng thượng thận) Đôi khi có phát ban ở ngoài da
- Đầu tiên niêm mạc họng đỏ rực, sau đó giả mạc xuất hiện Giả mạc màu nâu, dày cộm, có mùi thối Niêm mạc chung quanh sưng đỏ và dễ chảy máu Bệnh nhân ngạt mũi và từ mũi
Trang 16chảy ra một chất đục lỏng, thối Cửa mũi trước bị loét Cổ sưng
to và bạnh ra do viêm hạch và viêm chung quanh hạch
- Triệu chứng toàn thân rất xấu: mặt nhiễm độc xám xịt, mắt có quầng, lưỡi và môi khô đen, cánh mũi phập phồng, tứ chi lạnh, móng tay tím, nhiệt độ có thể lên 40o hoặc ở dưới 37o Mạch nhanh, yếu, nhỏ Urê máu lên cao, huyết áp hạ thấp
- Bệnh nhân có thể tử vong trong vòng 6 đến 8 ngày do thương tổn ở gan, ở thận, ở thượng thận hoặc ở tim với triệu chứng lịm dần, co giật hoặc ngất Một số bệnh nhân chết vì biến chứng yết hầu(croup), phế quản phế viêm
2 Biến chứng
Các thể bạch hầu đều có thể gây ra biến chứng, đặc biệt đối với thể nặng
2.1 Biến chứng do lan rộng
- Yết hầu (croup): tức là viêm thanh quản bạch hầu Bạch hầu
lan rộng từ họng xuống thanh quản khiến bệnh nhân khàn tiếng, mất tiếng và khó thở Trong trường hợp này, khó thở thanh quản điển hình với những triệu chứng:
+ Ho rè rè, tiếng nói mất đi
+ Tiếng rít, lúc đầu ở thì hít vào, về sau ở cả 2 thì
+ Co kéo thượng ức, thượng vị, liên sườn
+ Nhịp thở chậäm ở thời kỳ đầu Thỉnh thoảng lại những cơn
co thắt làm bệnh nhân ngạt thở
Người ta thường chia khó thở thanh quản ra làm 3 cấp: cấp một (nhẹ), cấp hai (nặng), cấp ba (thật nặng) (Xem phần viêm thanh quản cấp)
- Phế quản phế viêm: bệnh nhân bị khó thở kiểâu phổi, nghĩa
là có khò khè, co kéo, nhịp thở nhanh, có phập phồng cánh mũi, có tiếng ran ở phổi nhưng không có tiếng rít
Trang 17- Bạch hầu mũi khá phổ biến: có giả mạc ở cửa mũi trước, có
xuất tiết và dễ lây
- Bạch hầu tai hiếm có: cần quệt giả mạc ống tai và mang đi
cấy vi trùng
2.2.Biến chứng do nhiễm độc
- Viêm cơ tim: hầu hết các thể bạch hầu không ít thì nhiều
đều gây tác hại đến tim
+ Hội chứng ác tính Marfan là một thí dụ điển hình: sau khi được tiêm huyết thanh chống bạch hầu tình trạng bệnh nhân khá lên, giả mạc rụng hết, hạch cổ hết sưng nhưng bé còn xanh, suy nhược, mặt bơ phờ, mạch nhanh và yếu Khoảng
10 ngày sau bệnh dần trở nên nghiêm trọng, bắt đầu bằng liệt màn hầu rồi đến trụy tim mạch: mạch đập nhanh, loạn nhịp (nhịp bào thai), tiếng tim đục, mõm tim chạm dội vào lồng ngực huyết áp xuống thấp, urê máu lên cao Bệnh nhân nằm lịm và triệu chứng nôn báo hiệu rằng bệnh nhân sắp tử vong + Trong hội chứng ác tính Grơne (Grenel) các biến chứng đến muộn: từ 20 đến 40 ngày sau khi giả mạc rụng Có ba triệu chứng: trụy tim mạch, bại liệt cơ hô hấp (chủ yếu là cơ hoành) và tăng urê máu Bệnh nhân chết do ngất đột ngột trong khi ngồi dậy ho hoặc với tay cầm chén nước
- Viêm thượng thận: thương tổn ở thượng thận cũng là một
hiện tượng phổ biến trong bệnh bạch hầu Trường hợp bệnh nặng, bệnh nhân có triệu chứng suy nhược, mỏi rời chân tay, huyết áp thấp, đau bụng, da và niêm mạc sẫm Viêm thượng thận là nguyên nhân của chết đột ngột trong thể bạch hầu ác tính
Trang 182.3 Biến chứng thần kinh
Độc tố bạch hầu gây liệt các dây thần kinh (viêm đa dây thần kinh)
- Liệt màn hầu:
Trong thể bạch hầu thông thường, khoảng ngày thứ 15 thì bại liệt xuất hiện Màn hầu có thể liệt một bên và vẹo sang bên lành hoặc liệt cả hai bên, lưỡi gà buông thõng không cử động khi bệnh nhân nói ê Bệnh nhân uống nước bị sặc lên mũ, nói giọng mũi hở, không nói được vần k, c (Lào Cai đọc thành Lào Hai)
- Liệt họng:
Bệnh nhân nuốt khó, thường hay sặc vào thanh quản gây ra cơn ho rũ Nếu liệt một bên thì bệnh nhân có triệu chứng vén màn (thành sau họng bị kéo lệch về bên lành)
- Liệt mắt: thường hay liệt dây thần kinh vận động nhãn cầu
đồng thời có triệu chứng lác mắt, sụp mi mắt và rối loạn điều
tiết xa gần
- Liệt các chi: liệt cơ duỗi ở bàn chân, bệnh nhân phải kéo lê
bàn chân khi đi
3 Tiên lượng
- Phải cẩn thận trong vấn đề tiên lượng bệnh bạch hầu Một bệnh nhân được điều trị đúng mức và có tiêm phòng bệnh trước vẫn có thể chết vì hội chứng ác tính thứ phát Marfan
- Tuy rằng trong thể nhẹ có khả năng bệnh tự khỏi nhưng nếu không được điều trị thì tiên lượng sẽ xấu hoàn toàn
- Thời gian bình phục của bệnh bạch hầu thường kéo dài và có nhiều bất ngờ Nếu qua được ngày thứ 50 thì có thể yên tâm
4 Chẩn đoán
Trước một bệnh nhân viêm họng giả mạc chúng ta phải quệt họng và xét nghiệm vi trùng Xem trực tiếp chỉ cho chúng ta
Trang 19biết có vi trùng dạng bạch hầu nhưng không thể khẳng định được bệnh Cần phải cấy vi trùng trên môi trường huyết thanh bò đông, vi trùng sẽ mọc sau 18 giờ Vi trùng bạch hầu Corynebacterium diphtheriae Loeffler có đặc tính là lên men glucôza, và chỉ mọc trên mặt của môi trường thạch Vayông (Veillon), nhờ đó mà người ta phân biệt trực trùng Loéffler loại ngắn với trực trùng Hoffmann
- Kết quả của phòng xét nghiệm sẽ giúp chúng ta loại một số bệnh viêm họng trắng có giả mạc như :
+ Bệnh tăng bạch cầu đơn nhân (mononucléose), đôi khi có giả mạc kèm theo suy nhược và nước da xanh tái
+ Bệnh bạch cầu cấp và mất bạch cầu hạt có thể cho những triệu chứng ở họng giống như bạch hầu ác tính
+ Viêm họng Vanhxăng (Vincent) do sự kết hợp giữa vi trùng thoi và xoắn ở giai đoạn đầu cũng có giả mạc
+ Viêm họng do chấn thương, do vi trùng tụ cầu, liên cầu, phế cầu, Friedlander cũng có thể có giả mạc
5 Điều trị
Điều trị bệnh bạch hầu gồm có hai phần: điều trị bệnh bạch hầu và điều trị biến chứng do bạch hầu gây ra
5.1 Điều trị bệnh bạch hầu
Trước một trường hợp viêm họng có giả mạc trắng, khi đã ngờ là bệnh bạch hầu thì mặc dù chưa có kết quả chính thức của phòng xét nghiệm chúng ta cũng phải lập tức điềâu trị như bệnh bạch hầu thật sự
- Huyết thanh chống bạch hầu:
Hiện nay người ta dùng huyết thanh ngựa, một ml chứa 1000 đơn vị
Trang 20+ Đối với bạch hầu thông thường, bác sĩ tiêm vào dưới da 2.000 đơn vị cho một kilogam cơ thể (10.000 đơn vị làm một lần cho hài nhi 18 tháng; 30.000 đơn vị cho em bé 12 tuổi) + Nếu bệnh nhân đã từng tiêm huyết thanh trước kia, thì bây giờ phải áp dụng phương pháp giải mẫn cảm Besredka tức là tiêm làm 4 lần, sau mỗi ba mươi phút tiêm một lần: lần thứ nhất tiêm 1/4ml, lần thứ hai tiêm 1/2ml, lần thứ ba tiêm 1ml và lần cuối cùng tiêm tất cả liều thuốc còn lại
(chocanaphylactique) ngay sau khi tiêm, bệnh nhân thấy tức ngực, khó thở, mạch đập nhanh, yếu, không đều, ra mồ hôi lạnh, ngất và có khi tử vong Da ở chỗ tiêm thuốc có thể sưng nóng và đỏ như là viêm tấy (viêm tấy giả hiệu)
- Biến chứng của huyết thanh có thể xuất hiện muộn: tám ngày sau khi tiêm, bệnh nhân bị sốt và lả người, mạch nhanh, nước tiểu có albumin, các khớp đau, da bị mẩn nổi mề đay
- Trường hợp sốc thuốc chúng ta điều trị bằng noradrenaline, dung dịch glucoza ưu trương 30% vào mạch máu, coctison, thuốc kháng histamin tổng hợp…
Còn đối với biến chứng muộn ở da, ở khớp, chúng ta có thể dùng coctison hoặc phênecgan, pipolphen, A.H 3, thiantettés
- Pênixilin cũng có tác dụng trong bệnh bạch hầu thông
thường Tiêm mỗi ngày từ 500.000 đến 1.000.000 đơn vị Uống têtraxyclin cũng có tác dụng
- Nằm nghỉ: cần phải bắt bé nằm nghỉ ít nhất là một tuần cho
đến khi mạch đập và nhiệt độ trở lại bình thường
Nếu là bệnh bạch hầu ác tính phải tăng liều lượng huyết thanh lên 50.000 đơn vị cho trẻ em lớn
- Ngoài ra cần bổ sung thêm:
+ Vitamin C, cao thượng thận 10cg
Trang 21+ Strychnin: từ 1 đến 5mg (chỉ nên dùng sau khi đã mở khí quản)
+ Long não
5.2 Điều trị biến chứng
Yết hầu là biến chứng quan trọng nhất
Cần phải mở khí quản cấp cứu đề giải quyết khó thở Trong khi chờ đợi phẫu thuật phải đặt ống khí quản Froin hoặc cho bé thở oxy
Bại liệt: tiêm strychnin với liều lượng ngày càng tăng, cộng thêm vitamin B1
Viêm cơ tim: uabain, cafêin, long não
dêsoxycocticostêron 5mg (D.O.C.A hay percortêne)
5.3 Điều trị bệnh nhân mang vi trùng
Uống Erythromyxin: 2g/ ngày, uống 7 ngày
Tiêm bắp Procain penixilin G 600.000 đơn vị 2 lần / ngày,
dùng trong 10 ngày hoặc chích Cephalothin
- Đối với những người mang vi trùng (có thể là bản thân bệnh nhân đang trong thời kỳ bình phục hoặc người khoẻ mạnh bên cạnh) chúng ta phải cách ly họ và sẽ cắt amydan cho họ
Trang 22- Đối với những cơ thể khoẻ mạnh mang vi trùng bạch hầu đều có sẵn miễn dịch tự nhiên trong người nên họ không bị bệnh này Chúng ta có thể phát hiện sự miễn dịch này bằng phản ứng Shick: kết quả âm tính nghĩa là có miễn dịch
Trang 23Bài 12:
VIÊM HỌNG VINCENT
Viêm họng Vanhxăng (Vincent) nằm trong nhóm viêm họng loét Do nhóm kết hợp giữa vi trùng thoi và vi trùng xoắn gây ra
Vi trùng thoi và vi trùng xoắn là những tạp trùng không đặc hiệu thường thấy trong miệng Chúng chỉ gây bệnh khi cơ thể bị suy yếu, giảm sức đề kháng vì rối loạn dinh dưỡng
Nguyên nhân khởi phát thường là sâu răng, cao răng, viêm bao răng khôn, gây rối loạn dinh dưỡng ở niêm mạc họng
1 Triệu chứng
- Bệnh thường gặp ở những người trẻ và bắt đầu một cách âm thầm
Bệnh nhân đến khám bệnh vì thấy trong mình mỏi mệt, rát họng, nuốt đau ở một bên Trên amidan bên đau có một vết trắng đục, niêm mạc chung quanh đỏ Vết trắng ngày càng lớn và khu trú ở amiđan Đây là lớp giả mạc dày, trắng đục, dễ vỡ
Amiđan bên kia có vẻ bình thường, hơi thở có mùi hôi, nước bọt chảy nhiều
- Vài hôm sau giả mạc rụng đi, để lại một vết loét không sâu, bờ cao, thành đứng, đáy màu xám hoại tử Có khi vết loét bị trụ trước che kín do đó phải vén trụ trước lên mới thấy rõ
Dùng ngón tay sờ thấy amiđan không bị thâm nhiễm cứng Hạch chỉ có ở bên bệnh: hạch không to lắm, đau, quanh hạch không bị viêm và khu trú ở sau góc hàm dưới Triệu chứng chức năng trở nên rõ rệt: nuốt đau
2 Các thể lâm sàng
a Thể giả mạc
Giả mạc khu trú ở một phần của amidan và rụng đi sau bốn năm ngày Niêm mạc không loét mà chỉ đỏ Khi bệnh nhân nuốt hầu như không đau Triệu chứng toàn thân rất ít
ở họng đã lành
Ơû những thể địa yếu, bệnh kéo dài hơn và có thể lan ra lưỡi, ra miệng
Nhìn chung trong hai trường hợp nói trên bệnh đều có thể tái phát nhiều lần
Trang 243 Chẩn đoán
Sự có mặt của vi trùng thoi và vi trùng xoắn không có ý nghĩa quyết định trong việc chẩn đoán, vì hai loại vi trùng này có thể gặp trong các loại bệnh viêm họng khác Tuy vậy xét nghiệm vi trùng vẫn có giá trị vì nó giúp chúng ta loại trừ bệnh bạch hầu
Chẩn đoán viêm họng Vanhxăng dựa vào lâm sàng là chính
Cần loại ra các bệnh:
- Viêm họng do các bệnh về máu (bạch cầu cấp, mất bạch cầu hạt) bằng cách đếm hồng cầu và làm công thức bạch cầu
- Ung thư amiđan bội nhiễm bằng cách làm sinh thiết
- Loét amiđan do sỏi: bằng cách dùng que trâm thăm dò vết loét (cảm giác chạm vào đá)
- Bệnh bạch hầu bằng cách cấy vi trùng như đã nói ở trên Bệnh bạch hầu thường ở cả hai bên và lan ra màn hầu, ra trụ
- Săng (chancre) giang mai ở amiđan Bệnh này có triệu chứng gần giống như bệnh Vanhxăng: loét một bên, ít đau, thể trạng tốt Nhưng trong giang mai, amiđan
bị thâm nhiễm cứng, có nhiều hạch bao vây một hạch to Trong trường hợp khó phân định phải dùng kính siêu hiển vi ultropak để phân biệt treponema pallidum với vi trùng xoắn, đoán, thường phản ứng B.W trong giang mai xuất hiện muộn (25 ngày sau khi mắc bệnh) nên không giúp nhiều cho chẩn đoán
Trường hợp chưa phân biệt rõ không nên dùng penicilin vì thuốc này dùng không đúng liều lượng chỉ che đậy giang mai chứ không chữa khỏi hẳn Hơn nữa bệnh viêm họng Vanhxăng thông thường có thể chữa khỏi bằng thuốc côlutoa bôi miệng
- Lao họng: lao họng loét chỉ thấy ở giai đoạn cuối cùng của lao phổi, trong đó các triệu chứng lao đã quá rõ rệt
4 Điều trị
a Điều trị cục bộ
- Bôi thuốc côlutoa (collutoire) kết hợp với sunfasenobenlon (sulfarsénobenzol) trong vòng 12 giờ:
Sunfasenobenzon O,30g
Glyxerin 30g
- Bôi họng bằng dung dịch pênixilin 20.000 đơn vị trong 1ml hoặc ngậm viên pênixilin
- Gỡ giả mạc rồi chấm phênol vào ổ loét
b Điều trị toàn thể
Pênicilin tiêm: chỉ nên dùng khi nào bệnh kéo dài và chắc chắn không phải giang mai
5 Phòng bệnh
Chữa răng sâu, răng bệnh, cắt amiđan
Tránh dùng chung chén, đũa, ly, muỗng với người bệnh
Trang 25amiđan có những chấm trắng, to bằng hạt đậu xanh Đó là những giả mạc che phủ những vết loét gây ra bởi mụn nước
- Các vết giả mạc con này sẽ tập hợp lại và hình thành những mảng to không đều, rìa đa vòng
Ngoài ra, ở màn hầu và ở trụ trước rải rác vài mụn nước chưa vỡ
Ở môi hoặc ở cửa mũi đôi khi cũng có một chùm ecpet Những triệu chứng quanh miệng này rất có giá trị cho việc chẩn đoán
Trang 26Bệnh biến diễn tương đối nhanh Chỉ sau ba bốn ngày sốt cao, nhiệt độ sẽ trở lại bình thường, giả mạc rụng dần, họng cũng bớt đau Trong vòng một tuần lễ bệnh nhân sẽ bình phục lại Bệnh này thường không có biến chứng hoặc di chứng
Đôi khi ecpet họng kết hợp với ecpet da (ở mặt, mắt, bộ phận sinh dục ) Ecpet ở âm hộ thường tái phát và dễ nhiễm trùng
- Herpangin: Hecpangin là một bệnh ở họng giống như ecpet do một loạt virut gần với virut ecpet gây ra
Bệnh này thường gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi, trong khi ecpet chỉ thấy ở người lớn Bệnh xuất hiện vào đầu mùa hè và có thể gây ra những dịch bệnh nhỏ ở nhà trẻ Bệnh bắt đầu một cách ồ ạt: trẻ sốt cao, lên cơn giật, bỏ bú hoặc không ăn uống được vì đau họng
Khám họng thấy có nhiều mụn nước ở dọc theo bờ của màn hầu và ở trụ trước
Niêm mạc chung quanh đỏ, không sưng Mụn nước vỡ và để lại những vết loét tròn, trắng xám Cổ không có hạch
Bệnh sẽ khỏi trông vòng ba bốn ngày và không gây ra biến chứng
Chẩn đoán
Chẩn đoán dựa vào các mụn nước hoặc các rìa đa vòng của vết loét
Chẩn đoán phân biệt với các bệnh sau đây:
- Viêm họng đỏ có bựa: trong bệnh này nhiệt độ cơ thể không cao lắm Bựa trắng khu trú ở amiđan và không bám chặt vào niêm mạc
- Viêm họng giả mạc: không có những mụn nước hoặc rìa hình đa vòng Giả mạc lan từ amiđan ra trụ và màn hầu
- Zôna họng: thường ở một bên và không đụng chạm đến amiđan Triệu chứng đau rất đặc biệt: đau trong sâu, đau như bị bỏng
Điều trị
Bệnh tự nhiên sẽ khỏi Chỉ cần giữ vệ sinh ở miệng và ở mũi, ngậm Kali clorat Hecpangin làm cho bé không bú được, chúng ta có thể dùng dung dịch NaCl và glucôza để tránh mất nước cho bé trong vài ngày Sau đó em bé sẽ khỏi Nếu bé nuốt được thì cho uống aurêômyxin
Trang 27Bài 16:
ZÔNA HỌNG (Herpes zoster)
Bệnh Zôna họng do một loại virut ái thần kinh, gần giống như virut thủy đậu Bệnh khu trú dọc theo chi nhánh của dây thần kinh hàm trên Trái với bệnh Zôna ngoài da thường xuất hiện sau chấn thương, sau nhiễm trùng thì Zôna họng xuất hiện độc lập và thường thấy ở người già
1 Triệu chứng
Bệnh bắt đầu bằng sốt nhẹ, nhức đầu, ăn mất ngon Sau đó xuất hiện hai triệu chứng chính: đau họng và mụn nước Đau có tính cách nóng bỏng, đau trong sâu, bệnh nhân nuốt khó Đau kéo dài khoảng 24 giờ và chấm dứt khi mụn nước xuất hiện Mụn nước nhỏ chỉ mọc ở một bên và dọc theo dây thần kinh hàm ếch, chi nhánh của dây thần kinh hàm trên, cụ thể là ở phần ba trên của trụ trước và sau, ở màn hầu, ở hàm ếch, trừ amydan ra Mỗi mụn nước có một quầng đỏ bao chung quanh Các mụn nước vỡ ra và hợp lại với nhau hình thành một vết loét đa vòng có một lớp giả mạc trắng che phủ Bệnh tích bao giờ cũng khu trú ở nữa bên hàm ếch và dừng lại đúng ở đường trung vị, thường có vài mụn nước mọc trên gò má phía bên bệnh
Hạch ở cổ sưng nhẹ, rách dưới bờ sườn
Bạch cầu trong máu tăng, tế bào ưa axit cũng tăng
Hội chứng màng não rất kín đáo Nếu chọc dò tủy sống sẽ thấy albumin và tế bào lymphô tăng
Bệnh biến diễn trong vài tuần Vết loét sẽ lành và để lại những sẹo chóng mờ ở niêm mạc Đối với người có sức khoẻ tốt thường không có biến chứng, nhưng đối với người già yếu thường hay có những di chứng đau trong thời gian dài
Trang 282 Thể lâm sàng:
Zôna họng có thể kết hợp với Zôna của các dây thần kinh khác, tạo ra nhiều thể lâm sàng
- Thể phối hợp với Zôna dây thần kinh mắt (zôna ophtalmique) có những mụn nước ở trán và đau nhức rất nhiều Đôi khi có những biến chứng về mắt như viêm giác mạc kẽ, liệt nhãn cầu
- Thể kết hợp với dây thần kinh Vrisbec (Wrisberg) gây ra những mụn nước
ở ống tai ngoài và đau nhức tai, thường để lại di chứng liệt mặt
3 Chẩn đoán
Chẩn đoán xác định tương đối dễ nhờ vị trí của mụn nước, mụn mọc ở nữa bên hàm ếch và không đụng chạm đến amiđan Nếu có những mụn nước ngoài da thì chẩn đoán càng dễ hơn nữa
Cần phân biệt với các bệnh:
- Viêm họng ecpet trong đó các mụn nước mọc khắp hai bên họng và cả ở
amiđan
- Bệnh Aptơ trong đó có những vết loét tròn bờ đỏ, đáy vàng mọc rải rác cách
xa nhau Bệnh thường khu trú ở niêm mạc má và môi
- Bệnh Tabet gây ra loét họng do rối loạn dinh dưỡng, do nguyên nhân thần kinh Trong Tabet có mất phối hợp, mất phản xạ, mất cảm giác và có những cơn đau phủ tạng
3 Điều trị
Acyclovir: 800mg*5/ngày trong 7-10 ngày
- Giữù vệ sinh ở miệng Cho bệnh nhân uống những thuốc giảm đau thông thường (aspirin, phênaxêtin, paracétamot, glifanan, analgin )
- Riêng với người già, zôna thường để lại di chứng đau nhức dây thần kinh sinhba mà không có thuốc giảm đau nào trị được Trong trường hợp đó chúng ta có thể dùng các môn vật lý trị liệu như tia cực tím, điện nóng, quang tuyến Rơnghen (Roéntgen), iôn - hóa acònitin hoặc dùng phẫu thuật như cắt rễ hạch Gatxe (Gasser)
Trang 29Bài 18:
BỆNH APTƠ (Aphte)
Bệnh Aptơ thường thấy ở phu nữ và người trẻ
Nguyên nhân của bệnh còn chưa rõ, người ta nghĩ đến virut, nhưng chưa phân lập ra được Những yếu tố khởi phát bệnh thường là: viêm nhiễm, kinh nguyệt, thai nghén, rối loạn tiêu hoá
1 Lâm sàng
Có hai loại Aptơ: viêm miệng Aptơ và sốt Aptơ
a Viêm miệng Aptơ
Bệnh bắt đầu là một điểm đỏ ở niêm mạc miệng (môi, má, lưỡi) sau đó trở thành mụn nước Sau vài giờ mụn nước vỡ ra và để lại một vết loét nông hình tròn hoặc hình quả trứng, to bằng hạt gạo, đáy vàng Có một vòng đỏ bao vây
Vết loét rất sót, bệnh nhân ăn uống khó Toàn thể trạng tốt
Bệnh kéo dài từ bốn đến năm ngày rồi khỏi, nhưng tái phát suốt trong nhiềâu năm Tiên lượng tốt
Aptơ miệng có thể kèm theo Aptơ âm hộ, nhất là ở trẻ em
Aphte niêm mạc mơi dưới
Ngu ồn Bull, Color Atlas of ENT Diagnosis © 2003 Thieme
b Sốt Aptơ
Bệnh bắt đầu bằng nhiều triệu chứng: sốt cao, nhức đầu, lưỡi trắng, ăn mất ngon Aptơ xuất hiện ở lưỡi, ở mặt trong của má, ở hàm ếch, ở rãnh lợi môi, ở amydan, ở thành sau của họng Các nốt loét có thể tập hợp lại thành những mảng lớn làm cho bệnh nhân đau đớn và ăn uống khó khăn Vết loét có thể xuất hiện ở bộ phận sinh dục, ở kẽ tay
Trang 30Aphte khẩu cái mền
Ngu ồn Bull, Color Atlas of ENT Diagnosis © 2003 Thieme
Bệnh sẽ khỏi trong vài tuần Tiên lượng tốt
Người ta tìm ra được virut gây bệnh sốt Aptơ trong sữa bò tươi
Đối với sốt Aptơ chúng ta bôi xanh mêthylen 0,5% vào miệng, chấm nitrat bạc 3% hoặc axit crômic l% vào vết loét, tiêm salixylat natri, cho uống quinin và uroformin
Công thức điều trị bệnh Aptơ của răng hàm mặt: vitamin C 500mg, vitamin B6 25mg, nicobion 50mg, Vitamin K1, spiramixin + mêtronidajon, levamisol 50mg Xúc họng bằng dung dịch oxy già pha lỗng với nước chín tỉ lệ 1:5
Trang 31
Bài 20:
VIÊM HỌNG MÃN TÍNH
Phản ứng của niêm mạc họng đối với viêm họng mãn tính thể hiện dưới ba hình thức chính: xuất tiết, quá phát và teo Bệnh tích có thể lan rộng hoặc khu trú
I Viêm họng mãn tính tỏa lan
1 Nguyên nhân: có nhiều nguyên nhân như:
- Viêm mũi xoang lâu ngày, viêm amydan mãn tính
- Tắc mũi do vẹo vách ngăn, do cuốn mũi quá phát, do pôlyp
- Do chất kích thích: hơi hóa học, bụi vôi, bụi xi măng, thuốc lá, rượu
- Do cơ địa: tạng khớp (arthritisme), suy yếu gan thận, bệnh gút, urê máu cao
2 Triệu chứng:
Tùy theo tuổi tác, viêm họng mãn tính được xếp loại như sau:
- Trẻ em thường bị viêm họng nang (pharyngite folliculaire) với những hạt lổn nhổn ở thành sau họng
- Thiếu niên và người lớn thường hay bị viêm họng long tiết vàviêm họng quá phát Đặc biệt người cao tuổi hay bị viêm họng teo, những người khoảng bốn mươi tuổi cũng có thể mắc bệnh này
- Triệu chứng thứ hai là bệnh nhân nuốt nghẹn, tiếng nói bị khàn trong giây lát rồi trở lại bình thường Nếu bệnh nhân uống rượu, hút thuốc lá, nói nhiều thì những triệu chứng kể trên tăng lên
b Triệu chứng thực thể:
Hình ảnh của họng khác nhau tùy theo thể bệnh
Viêm họng long tiết: Niêm mạc họng đỏ, ướt, có nhiều hạt lổn nhổn ở thành
sau họng, không có tia mạch máu chung quanh hạt (viêm họng hạt giả) Tiết nhầy chảy dọc theo vách họng Thỉnh thoảng các hạt (nang lymphôø) bị viên làm cho bệnh
nhân đau họng, khó nuốt
Viêm họng quá phát: Niêm mạc họng dày và đỏ Các cơ quan của họng đôi
khi cũng quá phát Bên cạnh mỗi trụ sau có một nẹp giả do niêm mạc quá phát gây
ra Họng bệnh nhân rất nhạy cảm, bệnh nhân dễ buồn nôn gây khó khăn khi khám họng Khi dụng cụ đè lưỡi chạm nhẹ vào miệng, bệnh nhân cũng không chịu được,
ở thành sau của họng có những mảng quá sản dày cộp, bóng và đỏ Màn hầu và lưỡi
gà trở nên dày Eo họng bị hẹp
Niêm mạc loa vòi Ơstat cũng quá sản (ù tai) Mép sau của thanh quản bị dày, bệnh nhân ho khan và tiếng khàn
Trang 32Đồng thời với sự quá phát, sự xuất tiết cũng tăng Ban đêm tiết nhầy đọng lại ở sau mũi, buổi sáng bệnh nhân phải khịt mũi và khạc ra mới cảm thấy dễ chịu Bản chất bệnh không có gì đáng ngại, nhưng cảm giác vướng họng kèm theo khịt mũi, đằng hắng suốt ngày khiến bệnh nhân rất bực mình và dần đâm ra lo lắng
Viêm họng teo: Thể viêm quá phát dần chuyển sang thể teo Các tuyến nhầy
và tân nang xơ hóa Hai trụ giả phía sau amydan biến mất Các hạt ở sau họng cũng không còn, màn hầu và lưỡi gà mỏng trở lại Niêm mạc trở nên nhẵn, mỏng, trắng bệch, có mạch máu nhỏ Quá trình teo có thể xâm phạm đến lớp cơ Họng trở thành rỗng tuếch Eo họng giãn ra Tiết nhầy khô lại và biến thành vảy dính vào niêm
mạc Bệnh nhân cố dặng hắng và ho để tống vảy ra nhưng vô hiệu
Thể viêm họng teo còn có thể do già nua hoặc di chứng củatrĩ mũi, của hơi độc chiến tranh, của suy yếu niêm mạc hô hấp trên Với những nguyên nhân này, bệnh không qua giai đoạn quá phát
Trang 333 Thể lâm sàng:
Các biểu hiện bệnh lý ở họng thay đổi tùy theo cơ địa
a Thể sung huyết
Bệnh nhân có cảm giác họng nóng, cay kèm theo ngứa, ho cơn Những cơn ho như vậy thường xảy ra đầu hôm (lúc đi ngủ) Bệnh nhân nằm nghiêng bên phải thì tắc mũi phải, nằm nghiêng bên trái thì tắc mũi trái
Những hiện tượng nói trên thường gặp ở những người suy gan, rối loạn dạ dày ruột, rối loạn tuần hoàn, rối loạn nội tiết
Viêm mũi họng ở tuổi dậy thì cũng nằm trong loại này Mặt bệnh nhân mọc mụn trứng cá, niêm mạc họng dày, mũi lúc nào cũng ướt, chảy nhiều tiết nhầy Viêm mũi họng ở tuổi dậy thì sẽ tự khỏi khi bệnh nhân trưởng thành Trong quá trình bệnh có thể nhỏ mũi bàng naphtazoline, cho uống cao benladon, không nên đốt mũi sâu hoặc cắt cuốn mũi
b Viêm họng vận mạch
Thể này tương đương với hen hoặc viêm mũi co thắt (rhinite spasmodique) và nó có thể xuất hiện độc lập hoặc xen kẽ với những bệnh này Khi mắc bệnh, bệnh nhân đột nhiên có cảm giác rằng họng mình bị sưng và khô, sau năm mười phút cảm giác đó mất đi, bệnh nhân bắt đầu xuất tiết nhầy Bệnh có thể khu trú ở vòm mũi họng (ù tai, chóng mặt, nhức đầu sau gáy) hoặc ở thanh quản (ho cơn, thở rít) Chấm adrênalin vào họng có thể làm dứt cơn bệnh được
c Viêm họng trong các bệnh thể trạng
Trang 34- Đáo tháo đường: họng đỏ và khô, bệnh nhân lúc nào cũng khát nước
- Bệnh suy dinh dưỡng: niêm mạc họng đỏ, lổn nhổn như vỏ quả cam, có nhiều dòng dịch rỉ, keo đặc chảy dọc theo thành sau
- Tạng khớp (arthritisme): niêm mạc họng đỏ quá phát, bệnh nhân buồn nôn
- Trĩ mũi (ozène): niêm mạc họng teo, nhẵn, khô và có vảy thối
d Viêm họng nấm
Viêm họng do aclinomyces: Bệnh tự phát do bệnh nấm ở xương hàm trên, ở
lưỡi lan vào
Bệnh cũng có thể nguyên phát và bắt đầu ở amydan
Diễn biến bệnh không có triệu chứng cơ năng, không có triệu chứng toàn thân Amydan tự nhiên to lên và cứng Sợi nấm thường xuất hiện ở các khe amydan Nếu không điều trị, bệnh sẽ lan ra chung quanh họng và lộ ra vùng dưới góc hàm thành một khối thâm nhiễm cứng như gỗ, màu đồng vỏ cua
Sử dụng thuốc iôdua kali có tác dụng tốt đối với bệnh nấm này
Viêm họng leplothrix hay viêm họng sừng hóa (pharyngokérutose): Lúc
đầu bệnh không có triệu chứng chức năng cũng như triệu chứng toàn thể Bệnh được phát hiện một cách tình cờ Trên hai amydan hoặc thành sau họng có nhiều điểm trắng bằng nửa hạt gạo, đầu nhọn, bám chặt vào các khe như những cái đinh Dùng cặp nhổ rất khó khăn, có khi rướm máu vẫn không lấy hết được Những tổ chức bệnh lý này có thể kết lại thành từng chùm giống như mào gà Lúc này bệnh nhân có cảm giác trong họng mình vướng phải những hạt ổi Trước kia mọi người cho rằng bệnh này do nấm gây ra Hiện nay đã chứng minh được rằng những “đinh nấm” trắng ở các khe là những vùng biểu bì sừng hóa Nguyên nhân của sừng hóa vẫn chưa tìm ra nhưng có một điều chắc chắn là nấm leptothrix không có dính líu
vào việc này
Bệnh có xu hướng kéo dài, nhưng sẽ khỏi và không có biến chứng Toàn thể trạng luôn tốt
e Viêm họng ở trẻ em đã cắt amyda
Trang 35Đối với trẻ em đã cắt amydan (và nạo V.A), chúng ta có thể thấy một loại viêm họng khá đặc biệt
Tổ chức tân nang quá phát hình thành những đảo, những khối ở thành sau của họng và lan vào hai hố amydan Các trụ sau bị quá sản và hình thành những sợi thừng đứng dọc
Amydan lưỡi cũng quá sản
Vòm mũi họng đầy những tân nang nằm hỗn độn, có khi đè lên loa vòi Ơstat Bé ngạt mũi, nghe kém và ho vặt
Đây là sự phản ứng của cơ thể khi một phần lớn của vòng Vanđâye bị bỏ đi đột ngột
Hiện tượng này cho chúng ta thấy rằng nạo V.A và cắt amydan cùng một lúc
ở trẻ em dưới 5 tuổi thường không có lợi
4 Điều trị
a Điều trị nguyên nhân
Giải quyết các ổ viêm ở mũi, ở xoang nhất là xoang sàng và xoang bướm, ở amydan
Giải quyết sự lưu thông của mũi, thông xoang bướm, nạo xoang sàng…
Phẫu thuật những hố mũi (quá rộng) bằng cách chèn gạc dưới niêm mạc hay di chuyển vách mũi xoang
Trong trường hợp không có bệnh tích ở mũi xoang, phải làm xét nghiệm máu như glucoza huyết, ure huyết, công thức máu, prôtit máu, phản ứng Gros, phản ứng Mac-Lagan… để phát hiện các bệnh ở tạng khớp, gan, thận
b Điều trị cục bộ
Trong giai đoạn long tiết:
- Súc miệng bằng dung dịch:
- Phun hơi nước:
Với bicabônat natri 14%
Hoặc bôrat natri 5%
Hoặc clôrat kali 3%
- Bôi colutoa iôdô – iôdurê 3%
Hoặc côlutoa tananh 5%
Hoặc dung dịch nitrat bạc 5%
Trang 36thành họng có tiết nhầy đặc quánh thì phải dùng vòi Murơ (Mure) và dung dịch bôrat natri 1% rửa sau họng Oxi gia
Trong giai đoạn quá phát:
Đốt trụ sau và các đảo lymphô sau khi bôi lidocain 10% Đốt bằng hạt trai nitrat bạc hoặc côte điện
Nếu là quá sản toàn bộ niêm mạc thì nên bôi:
Cũng có thể bôi nitrat bạc 5 ngày một lần với độ đậm đặc ngày càng tăng: 5%- 10%- 15%
c Trong giai đoạn teo:
Dùng dung dịch bôrat l% và vòi Murơ (Moure) rửa sau họng mũi sao cho bong hết vảy, bôi glyxerin iôdê loại nhẹ 0,50% mỗi ngày hai lần, hoặc pômat thủy ngân 1%
Có tác giả khuyên nên hít khí dung nước biển
c Điều trị toàn thân
Nếu có triệu chứng dị ứùng phải dùng thuốc chống dị ứng tổng hợp (Théralère) coctison
Đối với bệnh nhân suy gan, rối loạn tiêu hóa nên dùng dung dịch B (Bourget): nước Vichy, nước suối Karlsbad, uống hoặc tiêm cao gan, uống vitamin A và vitamin D2 trong thời gian dài Đồng thời đưa bệnh nhân đi điều trị các bệnh về thể tạng: bệnh gút, bệnh tiểu tháo đường, bệnh ure máu cao
Dùng thuốc an thần: cao lạc tiên, brômua có tác dụng tốt đối với những người hay lo sợ
5 Phòng bệnh
Không hút thuốc lá, không uống rượu Ăn uống điều độ, tập thể dục đều đặn Tránh những nơi có nhiều bụi hóa học hoặc hơi độc, không khí quá khô và nóng Tránh cắt amydan cho trẻ quá nhỏ khi không cần thiết, nếu có thể nên thay bằng phương pháp nạo V.A
II Viêm họng mãn tính khu trú
1 Viêm V.A
Họng chúng ta có rất nhiều tổ chức lymphô, chúng vừa nằm rải rác ở khắp niêm mạc vừa tập trung thành từng khối, xếp theo một vòng tròn ở mặt trước của họng gọi là vòng Vanđâye (Waldeyer)
Gômênol 50cg
Dầu vaselin 100g
Trang 37Vòng Vanđâye gồm những bộ phận có vẻ rời rạt như V.A (amydan họng Luschka), amydan vòi (amydan Gerlach), amydan khẩu cái và amydan lưỡi Quan sát bằng kính hiển vi, chúng ta thấy chúng có sự thống nhất rõ rệt, những nang lymphô tập trung lại thành khối
V.A (Végétations adénoides) là một tổ chức lymphô ở vòm mũi họng, bình thường mọi đứa trẻ đều có Lớp tân nang này dày khoảng 2mm, nằm trong niêm mạc nóc vòm và thành sau của vòm, gồm nhiều nẹp nhỏ chạy dài từ sau ra trước và hướng về hố Toocvan (Tornwaldt) (một chỗ lõm ở giữa nóc vòm) Khi tổ chức này
bị viêm và quá phát thì nó biến thành những khối to gọi là sùi vòm, có thể che lấp mũi sau
Nhìn chung sùi vòm phát triển ở trẻ từ hai đến sáu tuổi Nhưng trong một số trường hợp cá biệt chúng ta có thể thấy sùi vòm quá phát to ở trẻ sơ sinh hay người lớn
Tạng bạch huyết và giang mai bẩm sinh là những yếu tố thuận lợi cho sự quá phát của V.A
Có khi có vi trùng lao trong V.A nhưng chúng ta không thể kết luận đó là viêm
do lao vì vi trùng Koch thường đi qua tổ chức lymphô họng để vào cơ thể
a Triệu chứng
Sùi vòm gây ra hội chứng tắc mũi sau điển hình Các triệu chứng thường xuất hiện vào thời kỳ một và hai của trẻ(18 tháng đến 6 tuổi rưỡi)
Triệu chứng phát hiện bệnh:
Triệu chứng chính cũng là triệu chứng đầu tiên là nghẹt mũi Trước mũi ngạt ít về sau ngạt nhiều Khó thở ở cả hai mũi Mũi thường bị viêm, tiết nhầy và mủ chảy
ra cửa mũi trước Bệnh nhân hay ho và sốt vặt, tối ngủ không yên giấc, thường ngáy
to, giật mình Tai nghễnh ngãng, dễ bị viêm
Triệu chứng toàn thân:
Cơ thể bé phát triển chậm so với những bé cùng tuổi, chậm chạp, ăn uống không biết ngon, nước da trắng bệch
Bệnh nhân thường hay sốt vặt, năm ngày ba tật
- Sờ vòm: đối với trẻ em nhỏ, chúng ta có thể thay thế soi mũi sau bằng sờ vòm Sờ bằng đầu ngón tay út, chúng ta có thể đánh giá được khối lượng, mức độ cứng của V.A
- Soi họng: thành sau họng có nhiều khối lymphô to bằng hạt đậu xanh, mủ nhầy chảy từ vòm xuống
Trang 38Màn hầu bị đẩy dồn về phía trước Khi bệnh nhân nói a,a nó không dính sát vào thành sau của họng
Hàm ếch thường bị hẹp chiều ngang và lõm sâu Răng hay mọc lệch
Nhìn chung, bé có “bộ mặt sùi vòm” (faciès adénoidien): da xanh, miệng há, môi trên bị kéo xếch lên để lộ răng cửa vầu, môi dưới dài thòng, đôi mắt mở to, trẻ trông có vẻ ngây ngô
Người ta quan niệm “bộ mặt sùi vòm” như là đặc hiệu của V.A Thật ra không đúng như vậy Có những “bộ mặt sùi vòm” điển hình mà không có V.A to Nhiều tác giả cho rằng “bộ mặt sùi vòm” là do còi xương nhẹ hoặc rối loạn nội tiết gây ra
b Biến chứng:
Biến chứng của sùi vòm thường đi đôi với bệnh vì vậy biến chứng giúp chúng
ta nhiều trong việc tìm ra nguyên nhân bệnh
Biến chứng viêm nhiễm
- Viêm thanh quản, khí quản và phế quản chiếm một tỷ lệ cao so với các loại viêm khác, có thể là viêm cấp tính đường hô hấp trên (ARI) Những triệu chứng như
ho dai dẳng, sốt vặt khiến ta nghĩ đến bệnh về tai mũi họng và đưa bé đi khám bệnh
Viêm V.A có thể gây ra những cơn khó thở đột ngột và kịch liệt về đêm (xem bài viêm thanh quản rít) ở những bé có cơ địa co thắt
Đối với bệnh nhân bị hen, viêm V.A có thể làm cho những cơn hen xuất hiện thường xuyên hơn và nặng hơn
- Viêm tai có khả năng xảy ra cao xếp thứ hai trong các loại biến chứng Có ba loại viêm tai: một là viêm tai giữa thành dịch nhầy (otite séro-muquese), trong đó
Trang 39màng nhĩ không thủng, chỉ đục và dày; hai là viêm tai tiết nhầy mủ, trong đó màng nhĩ bị thủng ở góc dưới và trước; ba là viêm tai mủ thông thường Cả ba loại này đều dẫn đến điếc nhưng loại thứ nhất thì gây điếc sớm, hai loại còn lại gây điếc muộn hơn Điếc không nặng lắm, phần lớn tai bị chỉ nghễnh ngãng.
- Viêm đường tiêu hóa: đau bụng, đi ngoài ra nhầy, ra nước Một số tác giả cho rằng viêm V.A có thể gây ra viêm ruột thừa
- Viêm hạch: thường là viêm hạch trên nhiều vùng ở cổ, hạch nhỏ bằng hạt đậu nành, không đau, dễ di động Khi bệnh bộc phát, hạch có thể mưng mủ, nhất là hạch Gilet (Gillette) gây ra apxe ở thành sau họng của trẻ sơ sinh
- Viêm thận: tác hại của viêm V.A đối với thận nhẹ hơn trong viêm amydan mãn tính Sự thay đổi bệnh lý của nước tiểu là do albumin tăng
- Viêm ở mắt: viêm màng tiếp hợp, viêm mi mắt, chảy nước mắt
Rối loạn phát triển
Ngoài “bộ mặt sùi vòm” và bộ mặt V.A mà chúng tôi đã nói ở đoạn trên, cơ thể bệnh nhân còn có những biến dạng như lồng ngực bị dẹt và hẹp bề ngang, lưng bị cong vẹo hoặc gù, bụng ỏng, đít teo
Những bé bị V.A thường không tập trung tư tưởng, lười biếng hay buồn ngủ, học hành kém Sở dĩ có hiện tượng này vì bé nghe kém, béù không hiểu những lời giảng của thầy giáo, không thấy hứng thú trong học tập Muốn nghe đầy đủ một bài giảng bé phải cố gắng gấp đôi gấp ba một bé bình thường, nhưng bộ máy hô hấp của bé khống đủ sức cho bé làm việc này
Sự phát triển trì trệ của một bé mắc bệnh V.A có bị hạn chế Nhưng sự hạn chế này không phải do ngu đần hay bệnh tích ở não gây ra mà do em bé nghe kém và thở kém Nếu chúng ta giải quyết được hai điểm này thì em bé có thể học hành bình thường như mọi trẻ khác
Tiên lượng của bệnh không đáng ngại nếu chúng ta giải quyết bệnh kịp thời trước khi biến chứng trở thành cố định
d Chẩn đoán
Sự có mặt của tổ chức lymphô ở vòm mũi họng là một hiện tượng bình thường Hiện tượng này trở thành bệnh lý (sùi vòm) khi nào khối lượng tân nang quá to, che lấp cửa mũi sau hoặc gây ra viêm nhiễm thường xuyên ở tai, ở đường hô hấp, ở đường tiêu hóa
Trong chẩn đoán phân loại nên nghĩ đến các bệnh viêm màng, viêm xoang, tịt cửa mũi sau Chúng ta loại các bệnh này bằng cách khám mũi, thông mũi (bằng que thông nhựa kiểu thông vòi ơstat) và chụp X quang có bơm thuốc cản quang
Chúng ta cũng loại các u ở vòm mũi họng trẻ như pôlyp cửa mũi sau, u xơ vòm mũi họng, u ác tính vòm mũi họng bằng cách soi mũi sau và bằng sinh thiết
Apxe thành sau họng cũng có phần nào giống viêm V.A Nhưng trong apxe thành sau họng, bệnh nhân không chỉ khó thở ra mà còn khó nuốt và khối u ở dưới thấp ngang tầm nền lưỡi
e Thể lâm sàng
Trang 40-Thể trẻ nhỏ: sùi vòm có thể gặp ở trẻ sơ sinh hay ở trẻ nhỏ
Thể này đáng ngại vì tắc mũi làm cho trẻ sơ sinh không bú được Hơn nữa V.A có thể gây ra viêm tai xương chũm với những hậu quả như nhiễm độc thần kinh, suy mòn
- Thể người lớn:
Bình thường đến tuổi dậy thì thì V.A bắt đầu teo lại Nhưng trong một số ít trường hợp V.A không teo và gây ra một số triệu chứng bệnh lý như: nhức đầu sau gáy (viêm túi thanh mạc Thornwald), ù tai, nghe kém (viêm tai xơ) vướng họng hay khạc ho (viêm họng hạt, viêm khí phế quản)
g Điều trị
Điều trị bằng thuốc
Đối với trẻ em hay viêm V.A có thể điều trị bằng thuốc: kháng viêm,kháng dị úng,giảm tiết và kháng sinh Nhưng khi V.A quá to làm bé bú khó thì nhất định phải nạo
Trong những đợt viêm, chúng ta có thể cho bệnh nhân uống hoặc tiêm kháng sinh phổ rộng
Để củng cố kết quả phẫu thuật, nhất là đối với những cơ địa bạch huyết, nên dùng những thuốc sau đây : chất iôt (sirô iodotan), thạch tín (Liqueur de Fowler), vitamin A và D2 (dầu cá), chất sắt (viên sắt), kháng histamine (sirop Théralène, sirop Phénergan), Calcigènol
Điều trị bằng phẫu thuật
Đến tuổi nào có thể nạo V.A? Thật ra không có giới hạn về tuổi, nếu cần thiết thì ở tuổi nào cũng có thể nạo Tuy nhiên đối với trẻ được vài tháng tuổi vòm mũi họng còn rất bé nên cho thìa nạo vào khó khăn, dễ nạo sót hoặc làm rách trụ sau, do đó có ý kiến cho rằng nạo vào lúc 18-24 tháng là tốt
Trong những thời kỳ có dịch truyền nhiễm như bệnh bạch hầu, bệnh bại liệt nên hoãn nạo
Đối với những người có màn hầu ngắn cũng không nên nạo vì nạo xong bệnh nhân sẽ nói giọng mũi hở
Kết quả nạo V.A: V.A sau khi được nạo hết, sẽ không mọc lại, nhưng đôi khi bé vẫn sổ mũi và ho vì bị dị ứng, tạng bạch huyết, giang mai
Nếu sau khi nạo bé còn bị ngạt mũi, còn có mủ chảy xuống họng, chúng ta phải kiểm tra lại xem còn sót V.A không hoặc có viêm xoang, viêm tổ chức lymphô