Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định rõ mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là: “xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc” 13, tr.71. Giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là một nội dung cốt lõi quan trọng trong các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng ta từ khi đổi mới đến nay. Sự nhận thức và giải quyết đúng đắn vấn đề này của Đảng cũng là khâu đột phá trong tư duy và thực tiễn lãnh đạo sự nghiệp đổi mới của Đảng.
Trang 1“Quá trình nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong công cuộc đổi mới của Đảng ta”
Trang
Chương 1 TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN PHẢI ĐỔI MỚI
1.2 Sự cần thiết kết hợp giữa đổi mới chính trị với đổi mới
kinh tế trong đường lối đổi mới của đảng ta 9
Chương 2 QUÁ TRÌNH ĐẢNG NHẬN THỨC VÀ GIẢI
QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI KINH TẾ
VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ TRONG CÔNG CUỘC
2.1 Quá trình đảng nhận thức và giải quyết mối quan hệ
giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong công
2.2 Đánh giá chung và một số kinh nghiệm rút ra trong quá
trình giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi
MỞ ĐẦU
Trang 21 Lý do chọn chuyên đề.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội(bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định rõ mục tiêu tổng quát khi kết thúcthời kỳ quá độ ở nước ta là: “xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủnghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp,tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh,hạnh phúc” [13, tr.71] Giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mớichính trị là một nội dung cốt lõi quan trọng trong các quan điểm, đường lối,chính sách của Đảng ta từ khi đổi mới đến nay Sự nhận thức và giải quyết đúngđắn vấn đề này của Đảng cũng là khâu đột phá trong tư duy và thực tiễn lãnhđạo sự nghiệp đổi mới của Đảng
Sau 30 năm vượt qua các thử thách và khó khăn to lớn, tiến hành côngcuộc đổi mới toàn diện trên mọi mặt: chính trị, kinh tế, xã hội , đến nay, ViệtNam có đủ cơ sở để khẳng định rằng đổi mới là sự lựa chọn đúng đắn, đã đặtViệt Nam vào quỹ đạo phát triển mới về chất, phù hợp với xu thế của thời đại vàvới ý nguyện của nhân dân Cội nguồn của những thắng lợi đó do nhiều nguyênnhân khác nhau; nhưng nguyên nhân quan trọng hàng đầu là Đảng ta đã giảiquyết đúng đắn mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, đâychính là cơ sở để đưa đất nước ngày càng phát triển theo định hướng xã hội chủnghĩa, đồng thời thể hiện một đường lối chính trị đúng đắn, thể hiện rõ quanđiểm độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng trong hoạch định đường lối, chủ trương,chính sách đổi mới
Đặc biệt Đảng đã quán triệt và thực hiện tốt quan điểm đổi mới toàn diện,đồng bộ và triệt để trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội với những hình thức,bước đi, cách làm thích hợp, biết lựa chọn trọng tâm, trọng điểm, khâu thenchốt, cơ bản trong sự nghiệp đổi mới Cũng xuất phát từ thực tiễn của cáchmạng Việt Nam từ năm 1976 đến năm 1986 tình hình kinh tế- xã hội đất nướclâm vào khủng hoảng nghiêm trọng, Đảng ta chủ trương lấy đổi mới kinh tế làmtrọng tâm, lấy ổn định chính trị - xã hội làm tiền đề Đồng thời với đổi mới kinh
tế phải từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chínhtrị; phát huy ngày càng tốt hơn quyền làm chủ, tính năng động sáng tạo của nhândân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội.Chính nhờ những chủ trương, sự chỉ đạo đúng đắn của Đảng, công cuộc đổi mới
ở nước ta đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đất nước, xã hội, con người đềuđổi mới
Trang 3Những đổi mới nói trên có ý nghĩa rất quan trọng làm cho hệ thống chínhtrị ngày càng vững mạnh và huy động sức dân vào việc phát triển kinh tế Từ
phân tích trên tôi chọn “Quá trình nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa đổi
mới kinh tế và đổi mới chính trị trong công cuộc đổi mới của Đảng ta” làm
chuyên đề khoa học của mình
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến chuyên đề
Xuất phát từ nhận thức và tư duy đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đãtừng bước vận dụng đúng đắn và giải quyết sáng tạo mối quan hệ giữa kinh tế vàchính trị trong quá trình đổi mới, nhờ đó cách mạng nước ta đã thu được nhữngthành tựu to lớn: đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hộibước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triểntri thức và hội nhập sâu, rộng vào đời sống quốc tế Tuy nhiên, cho đến nay,chúng ta vẫn chưa nhận thức thấu đáo và có hệ thống những quan điểm của chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giữa kinh tế và chính trị,chưa làm rõ về mặt lý luận quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trịtrong điều kiện cụ thể ở Việt Nam Do đó đã có rất nhiều công trình, đề tàinghiên cứu về quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong quá trình đổi mới Do vậy
trong chuyên đề này tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu một khía cạnh đó là “Quá
trình nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong công cuộc đổi mới của Đảng ta”
3 Mục đích, nội dung nghiên cứu của chuyên đề
Nghiên cứu làm sáng tỏ tính tất yếu, quá trình nhận thức và giải quyết mốiquan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam
từ năm 1986 đến nay; nhằm rút ra kinh nghiệm chủ yếu để vận dụng vào thựctiễn trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng: Quá trình nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa đổi
mới kinh tế và đổi mới chính trị của Đảng ta từ khi đổi mới đến nay.
* Phạm vi :
- Không gian: Trên phạm vi cả nước
- Thời gian: Từ 1986 đến nay (có mở rộng nghiên cứu thêm thời gian trước đổi mới 1976 - 1986)
5 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, phương pháp lịch sử, phương pháp lô gíc, ngoài ra còn sử dụng phươngpháp phân tích, tổng hợp, đánh giá và các phương pháp khác
6 Cái mới của chuyên đề
Trang 4Làm rõ tính tất yếu khách quan phải đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; Quá trình Đảng nhận thức, lãnh đạo và chỉ đạo giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong công cuộc đổi mới
7 Giá trị ý nghĩa của chuyên đề.
Đánh giá kết quả và rút ra kinh nghiệm chủ yếu để vận dụng vào thực tiễntrong giai đoạn hiện nay
8 Cấu trúc chuyên đề.
Gồm phần mở đầu, 2 tiết, phần kết luận và danh mục tài liệu thamkhảo
Trang 5Chương 1
TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN PHẢI ĐỔI MỚI KINH TẾ
VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ 1.1 Những vấn đề chung
1.1.1 Khái niệm chính trị, kinh tế
Chính trị là những công việc nhà nước hay xã hội Phạm vi hoạt động gắn
với những quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc và các nhóm xã hội khácnhau mà hạt nhân của nó là vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước Về
thực chất, chính trị là quan hệ về lợi ích (trước hết và cơ bản là lợi ích kinh tế) giữa
các giai cấp, các lực lượng xã hội, các quốc gia, dân tộc mà việc thực hiện lợi ích
đó phải thông qua quyền lực nhà nước Trong chính trị, vấn đề quyền lực chính trị(mà trọng tâm là quyền lực nhà nước) luôn là mục tiêu của các giai cấp Khi nắmđược quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước tức là nắm được công cụ cơ bản nhất
để giải quyết các vấn đề lợi ích của các giai cấp Do vậy, xét từ góc độ quan hệ vớikinh tế thì vấn đề chính trị thực chất cũng chính là vấn đề kinh tế bởi vì giải quyếtvấn đề quyền lực chính trị sẽ trực tiếp tác động đến động lực của sự phát triển kinh
tế Mác - Lênin đã rút ra kết luận : quan hệ chính trị xét về bản chất là do quan hệkinh tế, chính sự ra đời và tồn tại của giai cấp, chính nhu cầu của các giai cấp quyếtđịnh nội dung của các lợi ích chính trị…
Kinh tế được hiểu là toàn bộ các lĩnh vực, các ngành khác nhau của một
nền kinh tế quốc dân, mà cơ sở của nó là các quan hệ cơ bản: quan hệ sở hữu về
tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức và quản lý lao động xã hội (XH), quan hệ phânphối sản phẩm làm ra Phạm vi kinh tế là cơ sở cần thiết và sâu xa nhất của xãhội loài người, gần như toàn bộ các mối quan hệ khác trong xã hội đều được quyđịnh bởi lĩnh vực kinh tế, vì vậy nó quyết định chế độ chính trị và quyết địnhquyền lực nhà nước
1.1.2 Khái niệm đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị
Khái niệm “đổi mới kinh tế”: Qua các văn kiện của Đảng được hiểu là
quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung, bao cấp chủ yếu dựa trênchế độ sở hữu toàn dân và tập thể sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phầnvận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, dưới sự lãnh đạocủa Đảng Cộng sản Việt Nam theo định hướng chủ nghĩa xã hội (XHCN) Đó làbước chuyển từ nền kinh tế cơ bản là “khép kín” sang nền kinh tế “mở” đối vớikhu vực và thế giới, kết hợp tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiệncông bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái và từng bước đẩy mạnh côngnghiệp hoá, hiện đại hoá
Trang 6Khái niệm“đổi mới chính trị”: Qua các văn kiện của Đảng được hiểu là đổi
mới tư duy chính trị về CNXH; đổi mới cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của hệthống chính trị, trước hết là đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; đổi mới,nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) nhằm giữvững ổn đinh chính trị để xây dựng chế độ XHCN ngày càng vững mạnh; thựchiện tốt nền dân chủ XHCN nhằm phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dântrong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và phát triển kinh tế-xã hộidưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
1.1.3 Thực chất đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị
Để giải quyết tốt quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị vấn đềtrước hết cần nắm rõ thực chất của đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở ViệtNam là gì? Về vấn đề này xin được nêu khái quát, ngắn gọn như sau:
* Đổi mới kinh tế
Thực chất của đổi mới kinh tế ở Việt Nam là chuyển từ nền kinh tế kếhoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa Đó là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơchế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộngsản; vừa vận động theo những qui luật của kinh tế thị trường, vừa được dẫn dắtchi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội; trong đó cơ chế thịtrường được vận dụng đầy đủ, linh hoạt để phát huy mạnh mẽ, có hiệu quả mọinguồn lực nhằm phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế
Sau 30 năm đổi mới, chúng ta có được bước tiến mới trong tư duy pháttriển (thể hiện trong 5 quan điểm phát triển của chiến lược kinh tế xã hội 2011-2020), nền kinh tế có được sự tăng trưởng khá nhanh so với các nước trong khuvực Chúng ta đã có sự đổi mới căn bản về hình thức sở hữu, về cơ cấu và vaitrò của các thành phần kinh tế, đã hình thành các loại thị trường, tích cực và chủđộng hội nhập quốc tế Tuy nhiên, cũng còn nhiều vấn đề cần tiếp tục đẩymạnh đổi mới, trong đó, thể chế kinh tế, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạtầng vẫn là những “điểm nghẽn” cản trở sự phát triển
Hiện nay, nội dung chủ yếu của đổi mới kinh tế là tập trung hoàn thiện thểchế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là đổi mới cơ chế,chính sách, tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính Đểthực hiện điều này cần phát triển mạnh các hình thức sở hữu, các thành phần kinh
tế, các loại hình doanh nghiệp Thực hiện phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường
và các loại thị trường Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản
lý của Nhà nước đối với nền kinh tế Đồng thời tiếp tục đổi mới mô hình tăngtrưởng và cơ cấu lại nền kinh tế từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát
Trang 7triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu; gắn kết chặt chẽ phát triển kinh tế vớithực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường Tiếp tục đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nhanh, bền vững.
* Đổi mới chính trị
Đổi mới chính trị ở Việt Nam không phải là thay đổi chế độ chính trị hiệnnay bằng chế độ chính trị khác, mà là quá trình đổi mới tư duy chính trị về chủnghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; đó cũng là quá trình hoànthiện tổ chức bộ máy, nội dung và phương thức hoạt động của cả hệ thống chínhtrị theo hướng tạo lập nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và một Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, thể hiện và thực hiện ý chí,quyền lực của dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Trong đổi mới chính trị trọng tâm là hoàn thiện nội dung và đổi mớiphương thức lãnh đạo của Đảng, gắn quyền hạn với trách nhiệm trong thực hiệnchức năng lãnh đạo của các cấp ủy Đảng; mở rộng dân chủ trong Đảng và trongtoàn xã hội nhằm phát huy vai trò chủ động của các cơ quan nhà nước, khả năngsáng tạo to lớn của nhân dân, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng
Để khắc phục tồn tại nêu trên cần tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới nóichung và tập trung giải quyết tốt mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mớichính trị
Trang 81.2 Sự cần thiết kết hợp giữa đổi mới chính trị với đổi mới kinh tế trong đường lối đổi mới của đảng ta
Giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là mộtnội dung cốt lõi quan trọng trong các quan điểm, đường lối, chính sách củaĐảng ta từ khi đổi mới đến nay Sự nhận thức và giải quyết đúng đắn vấn đề nàycủa Đảng cũng là khâu đột phá trong tư duy và thực tiễn lãnh đạo sự nghiệp đổimới của Đảng
Thời kỳ trước đổi mới, về nhận thức, chúng ta đã nhấn mạnh quá mức vaitrò kiến trúc thượng tầng, coi chính trị là thống soái, quyết định kinh tế và tất cảcác lĩnh vực của đời sống xã hội; chưa đánh giá đúng vai trò của kinh tế trongquan hệ với chính trị Về cơ chế, chúng ta cũng nhận thức một cách đơn giản vềtác động của kiến trúc thượng tầng chính trị đối với cơ sở kinh tế Chính trị canthiệp quá sâu vào các quá trình kinh tế - xã hội bằng hệ thống những mệnh lệnhchủ quan của các cơ quan quản lý các cấp Và thiết chế, bộ máy hành chính cònquan liêu, cửa quyền, cồng kềnh, kém hiệu quả
Từ khi đổi mới đến nay, về quan điểm Đảng ta chủ trương “Kết hợp ngay
từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm,
đồng thời từng bước đổi mới chính trị” [7, tr.71] Đây là nhận thức đúng cả về
mặt lý luận cả về mặt thực tiễn
1.2.1 Cơ sở lí luận
Cơ sở khách quan qui định giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế vàđổi mới chính trị chính là quan hệ biện chứng giữa yếu tố kinh tế và yếu tố chínhtrị Theo quan điểm của các nhà kinh điển Mác - Lê-nin, trong quan hệ giữa kinh
tế và chính trị, kinh tế có vai trò quyết định, nó qui định nội dung và kết cấuchính trị Đến lượt mình chính trị có tác động mạnh mẽ tới kinh tế, định hướngcho quá trình phát triển kinh tế Mối quan hệ đó được Lênin khái quát như sau:
“Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế” và “Chính trị không thể không giữ
vị trí ưu tiên so với kinh tế” [22, tr.273] Nắm vững và giải quyết tốt mối quan
hệ biện chứng này là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, song có ý nghĩa quyết địnhđối với sự thành bại của tiến trình cách mạng
* Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế
Thứ nhất, với tư cách là một yếu tố của kiến trúc thượng tầng, chính trị sẽ do
cơ sở kinh tế quyết định Cơ sở kinh tế có vai trò rất to lớn đối với tư tưởng chínhtrị và hệ thống tổ chức chính trị Chính cơ sở kinh tế quy định sự xuất hiện, quyếtđịnh nội dung, tính chất, mục tiêu, các nguyên tắc của chính trị Còn mạnh mẽ hơnthế nữa, cơ sở kinh tế còn có vai trò quyết định đến sự thay đổi và phát triển củađường lối chính trị, hệ tư tưởng chính trị và cơ cấu của hệ thống chính trị Thực
Trang 9tiễn của cuộc cách mạng XHCN và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước trên thếgiới và ngay cả ở nước ta đã chứng minh một cách hùng hồn về vai trò của kinh tế
có ý nghĩa quyết định đối với chính trị
Thứ hai, do chính trị là biểu hiện tập trung của nền kinh tế, nên mọi chính
sách chính trị đúng đắn đều phải xuất phát từ tình hình hiện thực, phản ánh sát,đúng với trạng thái hiện thực của nền kinh tế và chính sách đó xét cho cùngcũng do tình hình kinh tế quyết định Tình hình kinh tế là cơ sở xuất phát choviệc lựa chọn các phương tiện, chính sách kích thích nền sản xuất phát triểnnhằm hoàn thiện nền sản xuất xã hội Đồng thời kinh tế cũng có vai trò quyếtđịnh cả việc lựa chọn chính sách phân phối và sự dụng hợp lý tổng sản phẩm xãhội, sản phẩm thặng dư dưới hình thức giá trị và hiện vật Luận điểm này đãđược V.I.Lênin áp dụng để chỉ đạo việc xây dựng xã hội mới ở nước Nga saucách mạng tháng Mười năm 1917
Thứ ba, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế Song, chính trị không
phải là sự phản ánh giản đơn, trực tiếp quá trình kinh tế, mà là sự phản ánh mộtcách sáng tạo, phản ánh tập trung các hiện tượng kinh tế Chính trị phản ánh về tưtưởng những nhu cầu của kinh tế trên lập trường lợi ích chung của giai cấp, là tậptrung ý chí, sức lực, hành động của giai cấp để thực hiện một cách thực tế lợi íchchung đó Sự biểu hiện tập trung, khái quát của kinh tế trong chính trị được thể hiệntrước hết thông qua lợi ích kinh tế Lợi ích kinh tế biểu hiện như là cái kích thíchhoạt động thực tiễn của con người Trong lịch sử xã hội loài người, khi các quan hệ
xã hội mang tính chất chính trị thì điều chắc chắn là kinh tế không bao giờ tự nóphát triển được hay không một thứ kinh tế nào phát triển ngoài chính trị Chính trịgiữ vai trò lãnh đạo, điều khiển, quản lý, định hướng phát triển kinh tế Tất cả sựphát triển kinh tế có sự tác động của chính trị thông qua quyền lực chính trị và thiếu
nó thì sự phát triển kinh tế có thể dẫn đến hỗn loạn Do thế, chính trị phải là sựphản ánh chủ động, tập trung trở thành một hệ thống điều khiển kinh tế và điềukhiển toàn bộ xã hội
* Chính trị không thể không chiếm vị trí hàng đầu
Trong hoạt động thực tiễn ở nước Nga, V.I.Lênin đã kiên quyết đấu tranhvới phái “kinh tế” để bảo vệ quan điểm chính trị chiếm vị trí hàng đầu Người đãnhiều lần nhấn mạnh và bảo vệ quan điểm này V.I.Lênin viết: “Từ chổ cácquyền lợi kinh tế đóng vai trò quyết định, tuyệt nhiên không thể kết luận đượcrằng các cuộc đấu tranh kinh tế lại có một tầm quan trong bậc nhất, vì nhữngquyền lợi chủ yếu “quyết định” của các giai cấp, nói chung, chỉ có thể thỏa mãnđược bằng những cuộc cải biến chính trị căn bản; còn quyền lợi kinh tế trọngyếu của giai cấp vô sản nói riêng chỉ có thể thỏa mãn được bằng một cuộc cách
Trang 10mạng chính trị thay thế chuyên chính của giai cấp tư sản bằng chuyên chính vôsản” [20, tr.59] Vị trí hàng đầu của chính trị so với kinh tế thể hiện ở nhữngđiểm sau:
Thứ nhất, thắng lợi của cách mạng chính trị là tiền đề, điều kiện tiên quyết
cho những về chất và phát triển kinh tế diễn ra tiếp theo Đó là một trong nhữngđiều kiện tất yếu đảm bảo sự thống trị về mặt chính trị của giai cấp công nhân,đảm bảo cho nhân dân lao động thực hiện có kết quả quyền lực chính trị và quản
lý các quá trình hoạt động của xã hội, trong đó có kinh tế Vì vậy, vai trò hàngđầu của chính trị đối với kinh tế là nhân tố quan trọng nhất để thực hiện lợi íchcăn bản của giai cấp công nhân, là đòi hỏi của xã hội nhằm phát triển nền kinh tế
có hiệu quả, vì lợi ích tất cả mọi thành viên trong xã hội
Thứ hai, chính trị có tác động trở lại đối với kinh tế theo hướng thúc đẩy
hoặc kìm hãm, nếu quan điểm chính trị mà sai lầm thì nó có thể làm tiêu vongtoàn bộ những thành tựu kinh tế, làm cho nền kinh tế phát triển chệch hướng.V.I.Lênin đã nói: “… cố nhiên là tôi đã, đang và sẽ còn nói mong muốn rằngchúng ta làm chính trị ít hơn, và làm kinh tế nhiều hơn Nhưng cũng dễ hiểurằng muốn cho lòng mong muốn thành sự thực thì cần phải không có nhữngnguy cơ về chính trị và những sai lầm chính tri” [22, tr.352] Vì vậy, muốn đểkinh tế phát triển phát triển đồng thuận với sự tác động của chính trị, đòi hỏiphải quan tâm tới cả ba phương diện: đường lối, chính sách kinh tế; thể chế kinh
tế và chủ thể kinh tế
Thứ ba, chính trị đóng vai trò định hướng và tạo môi trường chính trị
-xã hội ổn định cho phát triển kinh tế Muốn có một -xã hội phát triển toàn diệnthì chính trị phải trở thành phương tiện quan trọng, chính trị phải bảo đảm sựlãnh đạo đúng hướng trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống – xã hội Sau khi giaicấp công nhân đã giành được chính quyền, trọng tâm chính trị chuyể dần vàolĩnh vực kinh tế, chính trị ngay trong kinh tế Sau Cách mạng tháng Mười năm
1917, để chiến thắng thù trong giặc ngoài, bảo vệ thành quả cách mạng,V.I.Lênin đã chỉ ra rằng: “ mỗi bước dẫn chúng ta tiến tới ngày thắng lợi bọnbạch vệ, đều chuyển dần trọng tâm đấu tranh vào chính trị trong lĩnh vực kinhtế” [21, tr.482] và người đã nhấn mạnh: “Chính trị chủ yếu của chúng ta lúc này
là xây dựng nước nhà về mặt kinh tế để tích góp được nhiều lúa mì hơn, để sảnxuất được nhiều than hơn, để sử dụng lúa mì và than, đó là hợp lý hơn sao chokhông còn người đói nữa” [21, tr.483]
Quan hệ chính trị với kinh tế là quan hệ cơ bản, nhảy cảm và phức tạp Đểgiải quyết tốt quan hệ này cần tránh khuynh hướng tuyệt đối hóa kinh tế vì nhưvậy, kinh tế sẽ phát triển tự phát, vô chính phủ và khuynh hướng tuyệt đối hóa
Trang 11chính trị vì theo khuynh hướng này nền kinh tế bị áp đặt, không theo quy luậtkhách quan Tuy nhiên, nếu đồng nhất chính trị với kinh tế sẽ làm chính trị trởnên cứng nhắc, giáo điều.
Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị là một nội dung được quan tâmnhiều nhất Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị thường được biểu hiện trongđời sống xã hội, trong đường lối chính sách của Đảng cộng sản Trong quá trìnhđổi mới đất nước, khi xác định đường lối phát triển giữa chính trị và kinh tế,Đảng ta khẳng định “lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm” Điều này xuất phát từquan điểm kinh tế là nền tảng của chính trị, kinh tế bao giờ cũng quyết địnhchính trị và điều này được khẳng định hoàn toàn trong lý luận cũng như trongthực tiễn
1.2.2 Cơ sở thực tiễn.
* Tình hình thế giới
Giữa lúc Việt Nam chính thức quyết định tiến hành công cuộc đổi mới,trên thế giới cũng diễn ra nhiều biến đổi quan trọng Những biến đổi ấy vừa cóảnh hưởng tới Việt Nam, vừa gợi ra những bài học kinh nghiệm mà Việt Nam
có thể tham khảo với các mức độ khác nhau Đó là :
Quá trình cải tổ ở Liên xô và Đông Âu, do xử lý mối quan hệ giữa cải
cách kinh tế và chính trị không tốt đã dẫn đến sự sụp đổ của chế độ xã hội chủnghĩa ở các quốc gia này Với mục đích đẩy nhanh cải tổ, thực hiện các liệupháp sốc về kinh tế và ưu tiên cải tổ chính trị đi trước đã đẩy xã hội lâm vào rốilọan, làm cho Đảng Cộng sản mất quyền lãnh đạo đất nước Sự không thànhcông của công cuộc cải tổ đã dẫn tới sự sụp đổ của CNXH ở Liên xô và nhiềunước Đông âu là một bài học phản diện Sự sụp đổ đó là bằng chứng về sự thấtbại của con đường cải tổ theo kiểu “phủ định sạch trơn”, sử dụng “liệu phápsốc”, giải quyết không đúng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong quátrình cải tổ Cái giá phải trả là rất đắt
Trong khi đó, Trung Quốc Công cuộc cải cách kinh tế Trung Quốc theo
hướng thị trường - mở cửa bắt đầu diễn ra từ năm 1978, ngay từ đầu đã tiếnhành đồng bộ cải cách thể chế chính trị với cải cách kinh tế, chính vì vậy đã tạo
sự phát triển ấn tượng Tuy nhiên, sau sự kiện năm 1989, tốc độ cải cách chínhtrị có phần chững lại, không theo kịp đà cải cách và phát triển trong lĩnh vựckinh tế Bất cập này đã tác động bất lợi đến sự phát triển kinh tế, làm nảy sinhcác tiêu cực và nhiều vấn đề khác như phân hóa xã hội, gia tăng bất bình đẳng
về thu nhập1 Những thành tựu cải cách nổi bật mà Trung quốc thu được đã được
1 “Việc đi sâu cải cách thể chế kinh tế riêng rẽ sau sự kiện 89, sự nhảy vọt của lĩnh vực kinh
tế không chỉ chưa tạo điều kiện cho cải cách thể chế chính trị, trái lại đã kìm hãm cải cách thể chế chính trị… và đã xuất hiện hàng loạt vấn đề như tiêu cực, phân hóa xã hội, gia tăng
Trang 12Đảng và Chính phủ Việt Nam quan tâm do có sự tương đồng nhiều mặt về cácđiều kiện kinh tế - xã hội giữa hai nước
Thành công của các nước “công nghiệp mới” ở Đông Á đưa ra những gợi ý
về cách thức và giải pháp phát triển đối với những nước vốn xuất phát từ nhữngnước nông nghiệp và có quan hệ xã hội theo kiểu những giá trị văn hoá phươngĐông Đó là những thành công của các chiến lược phát triển: phát huy mạnh nội lực,thị trường - mở cửa, hướng vào xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài
Xu hướng hợp tác và cạnh tranh trên thế giới đang từng bước thay thế xuhướng đối đầu và xung đột Tình huống này buộc các quốc gia phải định hướnglại tư duy về các vấn đề phát triển Khác hẳn trước đây, trong hoàn cảnh pháttriển mới, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế trở thành nhu cầu tự thân bêntrong đối với nền kinh tế nông nghiệp vốn mang đậm tính chất khép kín, tự cấp
tự túc của Việt Nam
Toàn bộ tình hình trên đây, ở trong cũng như ngoài nước đã tác động đếnViệt Nam về cả hai phương diện Một mặt, nó đòi hỏi phải đổi mới tư duy pháttriển, đặt trọng tâm vào phát triển kinh tế theo một phương thức mới Mặt khác,
nó cũng đòi hỏi phải đổi mới cả về chính trị, phương thức lãnh đạo để tạo ra các
cơ hội và điều kiện để sự thay đổi đó diễn ra thuận lợi Đó là điểm khởi đầu cả
về lịch sử lẫn lý luận của quá trình Đảng giải quyết mối quan hệ giữa đổi mớichính trị với đổi mới kinh tế
* Tình hình trong nước.
Trong nhiều thập kỷ trước đổi mới, cũng giống như các nước XHCNkhác, Việt Nam thực hiện công cuộc xây đựng nước theo mô hình XHCN đượcquan niệm lúc bấy giờ Theo đó, chế độ sở hữu toàn dân và tập thể về tư liệu sảnxuất và cơ chế kế hoạch hoá tập trung đóng vai trò là những yếu tố chủ đạo của
mô hình phát triển
Cần nhấn mạnh rằng trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, nhân dânViệt Nam phải ra sức động viên và tập trung sức mạnh toàn dân tộc để vừa xâydựng đất nước, vừa thực hiện cuộc chiến tranh không cân sức nhằm bảo vệ độclập dân tộc, thống nhất Tổ quốc Việc thực hiện mô hình phát triển này đã manglại những kết quả to lớn không thể phủ nhận Đó là sự bảo đảm quyết định đểgiành thắng lợi trong cuộc chiến giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, tạo lập những cơ
sở vật chất - kỹ thuật ban đầu rất quan trọng của XHCN, mang lại cho nhân dân
khoảng cách giàu nghèo” Theo Trương Hiểu Phong và Trương Phóng: Suy nghĩ về cải cách thể chế chính trị ở Trung Quốc, bài phát biểu trong Hội thảo tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền ngày 10-10-2009
Trang 13cuộc sống tự do, việc làm, quyền làm chủ xã hội cùng với những cải thiện đáng
kể trong đời sống vật chất và tinh thần
Tuy nhiên, thực tế trước đổi mới, nhất là của hơn 10 năm tiến hành xâydựng CNXH trên phạm vi cả nước (1975 - 1986), chứng tỏ rằng trong nền kinh tếmang đậm bản sắc nông dân - nông nghiệp, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, môhình phát triển gắn với cơ chế kế hoạch hoá tập trung có những khiếm khuyết lớntrong việc giải quyết các nhiệm vụ phát triển, nhất là trong lĩnh vực kinh tế Saunhiều năm vận động trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, tuy đất nước có đạtđược những thành tựu to lớn, song nhiều vấn đề mấu chốt và thiết yếu nhất củacuộc sống nhân dân (ăn, mặc, ở) vẫn chưa được giải quyết đầy đủ; đất nước chưa
có những thay đổi sâu sắc và triệt để trong phương thức phát triển; tình trạng mấtcân đối trong nền kinh tế ngày càng trầm trọng; nhiệt tình lao động và năng lựcsáng tạo của nhân dân, tài nguyên và các nguồn lực chưa được khai thác, phát huyđầy đủ, thậm chí bị xói mòn
Nhìn tổng quát, với cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nền kinh tế Việt Namvận động thiếu năng động và kém hiệu quả Những mất cân đối và nguy cơ bất
ổn định tiềm tàng trong đời sống kinh tế - xã hội bị tích nén lại Tình trạng thiếuhụt kinh niên làm gia tăng các căng thẳng trong đời sống xã hội Lòng tin củaquần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước giảmsút Trên thực tế, đến cuối những năm 70, đất nước đã thực sự lâm vào cuộckhủng hoảng kinh tế - xã hội Vấn đề cấp bách đặt ra cho Đảng Cộng sản và Nhànước Việt Nam lúc này là tìm kiếm cách thức phát triển mới có khả năng đápứng các mục tiêu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong đó quan trọngnhất là phải tháo gỡ các ràng buộc về cơ chế và thể chế để giải phóng các nguồnlực phát triển của đất nước
Thực tế ngay khi đất nước mới lâm vào khủng hoảng, trong nền kinh tế ViệtNam, dưới áp lực của thực tiễn, đã diễn ra hai cuộc thử nghiệm quan trọng: ápdụng chế độ khoán sản phẩm đến hộ gia đình nông dân trong hợp tác xã nôngnghiệp và triển khai chế độ “kế hoạch 3 phần” ở các xí nghiệp công nghiệp quốcdoanh Về nguyên tắc, cả hai cuộc thử nghiệm này đều diễn ra theo một xu hướngchung: nới lỏng các ràng buộc của cơ chế kế hoạch hoá tập trung, mở rộng hơnphạm vi hoạt động của các quan hệ thị trường, trao nhiều quyền chủ động kinhdoanh hơn cho các chủ thể kinh tế và người lao động Phong trào lan rộng ra khắpnền kinh tế và đã nhanh chóng đưa lại những thành tựu nổi bật, trước hết là trênmặt trận nông nghiệp Tuy nhiên, kết quả của xu hướng cải cách này còn bị hạn chế
do việc thực hiện những cải cách theo hướng thị trường mới mang tính cục bộ vàchỉ dừng lại ở cấp vi mô, trong khuôn khổ cố gắng bảo tồn cơ chế kế hoạch hoá tập
Trang 14trung ở tầm vĩ mô Vì vậy, những cuộc thử nghiệm này tuy đưa đến những thànhtựu nổi bật trong nông nghiệp nhưng vẫn không ngăn cản được cuộc khủng hoảngngày càng trở nên trầm trọng Tình hình đó đã khiến cho đổi mới trở thành một nhucầu hết sức bức bách, là đỏi hỏi bức thiết của cuộc sống Nhận rõ nhu cầu bức thiết
ấy, Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam ( 12/1986) đã chính thức khởi xướng
sự nghiệp đổi mới
Chương 2 QUÁ TRÌNH ĐẢNG NHẬN THỨC VÀ GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ TRONG
CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI
Ý thức rõ ràng đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị có quan hệ chặt chẽ vớinhau, không phải đổi mới kinh tế đi trước đổi mới chính trị, càng không phải đổimới kinh tế tách rời đổi mới chính trị, và đây được coi là hai vế của một chỉnh thểthống nhất trong quá trình đổi mới của cách mạng nước ta Đại hội Đại biểu toànquốc lần thứ VI của Đảng là Đại hội đổi mới, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật,đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, Đại hội đã tổng kết những thành tựu đạt đượcđồng thời chỉ ra những khuyết điểm, sai lầm tồn tại và từ đó xác định những chủtrương, giải pháp quan trọng đổi mới toàn diện đất nước, trong đó Đảng nhận thức
và giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị được coi là vấn
đề coi là vấn đề cốt lõi trong công cuộc đổi mới
2.1 Quá trình đảng nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong công cuộc đổi mới.
2.1.1 Quá trình Đảng nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị từ năm 1986 đến năm 2000.
* Quá trình Đảng ta tìm tòi, khảo nghiệm đường lối đổi mới trước Hội
nghị Bộ Chính trị (tháng 8 năm 1986)
Để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của Đảng trong việc quyết định đường lốicách mạng cho giai đoạn mới Đảng ta tiến hành Đại hội vào tháng 12/1976, tạiĐại hội này, bên cạnh việc tổng kết tương đối toàn diện cuộc cách mạng dân tộcdân chủ nhân dân trong cả nước và 20 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miềnBắc, Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương đã tổng kết quá trình đấutranh gian khổ và anh hùng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong cuộckháng chiến chống Mỹ, cứu nước Đại hội cũng đã xác định đường lối chungcủa cách mạng xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 15Triển khai nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Ban Chấp hànhTrung ương Đảng đã có nhiều hội nghị chuyên bàn về kinh tế, một trong nhữngvấn đề quan trọng bậc nhất của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.Tuy nhiên do ta chủ quan nóng vội nên kinh tế của đất nước lâm vào tình trạngcực kỳ khó khăn; đời sống nhân dân, nhất là người làm công ăn lương ngày càngtrở thành vấn đề nóng bỏng.
Trước thực tế đó, Hội nghị Trung ương sáu khoá IV (8/1979) đã họp cótrách nhiệm lịch sử hết sức nặng nề là đề ra phương hướng và giải pháp khắcphục những khó khăn gay gắt của đời sống kinh tế - xã hội; tìm kiếm một lốithoát đưa nền kinh tế ra khỏi tình trạng trì trệ, khủng hoảng Hội nghị đã thôngqua hai nghị quyết: Nghị quyết số 20-NQ/TW về tình hình và nhiệm vụ cấpbách và Nghị quyết số 21-NQ/TW về phương hướng, nhiệm vụ phát triển côngnghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương
“Có thể coi Hội nghị Trung ương sáu (Khoá IV) với chủ trương và quyếttâm làm cho sản xuất “bung ra” là bước đột phá đầu tiên của quá trình đổi mới ởnước ta” “Làm cho sản xuất bung ra” nghĩa là phải khắc phục những yếu kémtrong quản lý kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa, đề ra chủ trương phù hợp đểphát triển lực lượng sản xuất Những chủ trương đó đã nhanh chóng được nhândân cả nước hồ hởi đón nhận và biến thành hành động cụ thể trong thực tiễnkinh tế
Tuy nhiên, do những khó khăn bởi chiến tranh biên giới phía Bắc và Tây Namgây ra, do thiếu đồng bộ của tư tưởng đổi mới và chưa có đủ thời gian để nhữngchủ trương đổi mới phát huy tác dụng, trong khi đó, nhiều chỉ tiêu cơ bản do Đạihội IV đưa ra là quá cao so với thực tế nên không thực hiện được Nền kinh tế tiếptục ở trạng thái trì trệ, sa sút; đời sống nhân dân có nhiều khó khăn Vấn đề bức xúcphải giải đáp là làm thế nào để đưa đất nước thoát khỏi trạng thái trì trệ và sự giảmsút kinh tế đang ở mức “dưới đáy” trong lúc này
Tiếp đó, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ tám khoá V (tháng6/1985) được coi là “bước đột phá thứ hai” về tư duy lý luận trên lĩnh vực lưuthông, phân phối với nét nổi bật là thừa nhận sản xuất hàng hoá và những quyluật của sản xuất hàng hoá Tháng 9/1985, cuộc tổng điều chỉnh giá, lương, tiềnđược thực hiện Tuy nhiên, do vẫn còn tư tưởng chủ quan duy ý chí, cuộc tổngđiều chỉnh này đã làm cho “giá cả thị trường có nhiều diễn biến phức tạp, ảnhhưởng không tốt đến nhiều mặt hoạt động kinh tế - xã hội” Lạm phát bị đẩy lêntốc độ phi mã Sự chênh lệch giữa giá và lương, giữa lương danh nghĩa và lươngthực tế quá lớn Chính vì vậy, đầu năm 1986, lại phải lùi một bước: thực hiệnchính sách hai giá Trên mặt trận phân phối, lưu thông: lạm phát vẫn đứng ở
Trang 16mức 3 con số trong nhiều năm, đỉnh cao là 774,7% năm 1986 Lượng lưu thôngtiền tệ năm 1994 bằng 8,4 lần cuối năm 1980 Nhiều vấn đề nóng bỏng chưa giảiquyết được, có mặt ngày càng trầm trọng thêm.
Cuối năm 1985, mọi công việc chuẩn bị cho Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VI được tiến hành rất khẩn trương Trước tình hình kinh tế- xã hội đất nước gặpnhiều khó khăn, tháng 7 năm 1986 sau khi tổng hợp sơ bộ ý kiến đóng góp của đạihội đảng bộ các cấp vòng một, Bộ Chính trị nhận thấy dự thảo báo cáo chính trị lầnđầu đưa ra lấy ý kiến chưa đáp ứng yêu cầu của cán bộ, đảng viên và nhân dân Vìvậy, Bộ Chính trị chỉ đạo Tiểu ban chuẩn bị văn kiện đại hội tập trung nghiên cứunhững quan điểm kinh tế quan trọng nhất, có ý nghĩa chỉ đạo xây dựng nền kinh tếnước ta, đối chiếu, so sánh và phân tích những điểm khác nhau để Bộ Chính trịnghiên cứu, thảo luận làm rõ đúng sai và có kết luận, lấy đó làm cơ sở để điềuchỉnh Báo cáo Chính trị trình Đại hội VI
Căn cứ ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị, từ ngày 1 tháng 8 năm 1986, BáoNhân dân mở mục “góp ý kiến với Đại hội Đảng” Đây là hình thức sinh hoạtdân chủ chính trị đầu tiên, thể hiện sự đổi mới về phong cách lãnh đạo củaĐảng Chỉ trong một thời gian ngắn, báo Đảng đã nhận được hàng vạn ý kiếnđông đảo của các tầng lớp nhân dân, kể cả người Việt Nam định cư ở nướcngoài đóng góp vào dự thảo Văn kiện Đại hội VI Trên cơ sở tổng hợp các ýkiến đóng góp của Đại hội Đảng bộ các cấp vòng một và của nhân dân cả nước,Tiểu ban dự thảo Văn kiện Đại hội VI đã chốt 3 vấn đề đang còn có ý kiến khácnhau để trình Bộ Chính trị kết luận, đó là: Cơ cấu sản xuất, cải tạo xã hội chủnghĩa và cơ chế quản lý kinh tế
* Quá trình Đảng nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị từ năm 1986 đến năm 2000.
Đại hội lần thứ VI của Đảng xác định: Muốn đưa nền kinh tế sớm thoátkhỏi tình trạng rối ren, mất cân đối, phải dứt khoát sắp xếp lại nền kinh tế quốcdân theo cơ cấu hợp lý, trong đó các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế,các loại hình sản xuất có quy mô và trình độ kỹ thuật khác nhau phải được bố trícân đối, liên kết với nhau, phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm cho nền kinh
tế phát triển ổn định Để thực hiện sắp xếp đó, trước hết phải bố trí lại cơ cấu sảnxuất, điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư Trong cơ cấu ngành, trước hết là các ngànhsản sản xuất công nghiệp và nông nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Cơ cấu
đó phải bảo đảm cho nền kinh tế phát triển cân đối với nhịp độ tăng trưởng ổnđịnh Với mỗi giai đoạn, mỗi chặng đường khác nhau, vị trí của nông nghiệp vàcông nghiệp cũng khác nhau
Trang 17Đại hội VI của Đảng xác định: cơ cấu thành phần kinh tế bao gồm hai bộphận; kinh tế xã hội chủ nghĩa gồm có: kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế
hộ gia đình Còn kinh tế phi xã hội chủ nghĩa bao gồm:kinh tế tiểu sản xuất hànghoá, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tư nhiên, tự cấp, tựtúc Trong các thành phần kinh tế trên thì kinh tế quốc doanh phải chi phối trongsản xuất, lưu thông và chi phối các thành phần kinh tế khác
Trong xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng vàcải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế, Đại hội VI của Đảng đã đưa ra quanđiểm mới về cải tạo xã hội chủ nghĩa dựa trên 3 nguyên tắc sau:
Một là, cải tạo xã hội chủ nghĩa nhất thiết phải theo quy luật về sự phù
hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất đểxác định bước đi và hình thức thích hợp
Hai là, cải tạo xã hội chủ nghĩa xuất phát từ thực tế của nước ta và là sự
vận dụng quan điểm của Lênin coi nền kinh tế có cơ cấu kinh tế nhiều thànhphần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ
Ba là, trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa phải xây dựng quan hệ sản
xuất mới trên cả 3 mặt: xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, chế độquản lý và chế độ phân phối xã hội chủ nghĩa
Về phương hướng và nhiệm vụ cụ thể của công tác cải tạo xã hội chủnghĩa Với các thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa, Đại hội VI chỉ rõ: “ để tiếnhành vững chắc công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa, phát huy tác dụng tích cựccủa cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, điều quan trọng nhất là củng cố và pháttriển kinh tế xã hội chủ nghĩa, trước hết là làm cho kinh tế quốc doanh thực sựgiữ vai trò chủ đạo, chi phối được các thành phần kinh tế khác”; “kinh tế xã hộichủ nghĩa với khu vực quốc doanh làm nòng cốt phải giành được vai trò quyếtđịnh trong nền kinh tế quốc dân” [1, tr.446]
Đối với kinh tế quốc doanh, phải đổi mới cơ chế quản lý, bảo đảm cho cácđơn vị kinh tế quốc doanh có quyền tự chủ, thật sự chuyển sang hạch toán kinhdoanh xã hội chủ nghĩa Kinh tế quốc doanh phải chủ động mở rộng liên kết vớicác thành phần kinh tế khác, hướng các thành phần kinh tế đó vào quỹ đạo củachủ nghĩa xã hội
Đối với kinh tế tập thể xã hội chủ nghĩa, phải nâng cao trình độ tổ chức,quản lý và tăng cường cơ sở vật chất- kỹ thuật đi đôi với thực hiện quan hệ traođổi và liên kết với kinh tế quốc doanh, kinh tế gia đình Ngoài kinh tế quốcdoanh và khu vực kinh tế tập thể thì kinh tế gia đình- một bộ phận cấu thành củakinh tế xã hội chủ nghĩa cũng có vị trí hết sức quan trọng, đòi hỏi phải được
Trang 18khuyến khích và giúp đỡ phát triển trong mối quan hệ liên kết với quốc doanh vàtập thể
Với các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, Đại hội VI cũng đã chỉ
ra phương hướng cụ thể để sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế này Đốivới kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá, một mặt “vận động những người lao động cáthể đi vào làm ăn tập thể theo nguyên tắc tự nguyện và cùng có lợi” [1, tr 427];Nhà nước thừa nhận sự tồn tại cần thiết của bộ phận kinh tế này, xoá bỏ địnhkiến hẹp hòi đối với người lao động ở khu vực kinh tế này
Đối với kinh tế tư bản tư nhân, Nhà nước, Nhà nước cho phép những nhà
tư sản nhỏ sử dụng vốn, kiến thức kỹ thuật và quản lý để tổ chức sản xuất, kinhdoanh trong lĩnh vực sản xuất và dịch vụ Quy mô và hoạt động của các cơ sởkinh tế tư bản tư nhân được hướng dẫn đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa xã hộithông qua sự kiểm soát của Nhà nước và sự liên kết với kinh tế quốc doanh,kinh tế tập thể
Đối với kinh tế tư bản nhà nước, Nhà nước sẽ thông qua nhiều biện pháp,đặc biệt là những chính sách thuế, chính sách giá cả để biến thành phần kinh tếnày thành mắt xích trung gian giữa nền tiểu sản xuất và chủ nghĩa xã hội Kinh
tế tư bản nhà nước là hình thức kinh tế quá độ để cải tạo và sử dụng tư sản vì lợiích chung của xã hội
Đối với kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc tồn tại trong một bộ phận đồng bàodân tộc thiểu số ở Tây nguyên và các vùng núi cao khác Do những đặc điểmđặc thù của họ có thể duy trì hình thức sản xuất cá thể, không nhất thiết phải xâydựng hợp tác xã hoặc tập đoàn sản xuất, nhưng phải giúp đỡ họ và hướng họtừng bước đi vào các tổ đoàn kết sản xuất
Về cơ chế quản lý kinh tế, Đại hội VI đã đề ra phương hướng đổi mới cơ chếquản lý kinh tế mới là cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch toán kinh doanh
xã hội chủ nghĩa, theo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; đã tiến hành đổi mớitoàn diện chính sách xã hội, coi chính sách xã hội là một bộ phận cấu thành chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội Thực hiện công bằng xã hội, lối sống có văn hoá;bảo đảm an toàn xã hội, khôi phục trật tự, kỷ cương trong mọi lĩnh vực của đờisống xã hội Chăm lo đáp ứng các nhu cầu giáo dục, văn hoá, bảo vệ và tăng cườngsức khoẻ của nhân dân Xây dựng chính sách bảo trợ xã hội Thực hiện đúng chínhsách giai cấp và chính sách dân tộc Hơn nữa trong đường lối đổi mới kinh tế, Đạihội VI của Đảng xác định nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát cho những nămcòn lại của chặng đường đầu tiên ở nước ta là: “ổn định mọi mặt tình hình kinh tế -
xã hội, xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội