Vì góc độ tiếp cận khác nhau nên người ta mô tả kinh tế thị trường ở mỗi nước cũng rất khác nhau. Việc nghiên cứu các mô hình kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa hiện đại là cần thiết để có thể hiểu được trong thực tế nền kinh tế thị trường vận hành như thế nào ở mỗi nước cụ thể. Dưới đây nghiên cứu một số mô hình kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa hiện đại. 1. Mô hình kinh tế thị trường tự do Hoa Kỳ Hoa Kỳ là một quốc gia công nghiệp phát triển vào bậc nhất thế giới, có thu nhập bình quân đầu người và tổng lượng sản phẩm – dịch vụ cao hơn nhiều quốc gia khác. Mô hình Hoa Kỳ có đặc trừng là sự chiếm ưu thế của sở hữu tư nhân, cơ chế thị trường cạnh tranh và sự năng đọng của kinh doanh, sự can thiệp thấp của Chính phủ và do đó, chấp nhận sự phân hóa xã hội ở mức cao.
Trang 1Chương 1 Các mô hình chủ yếu của kinh tế thị trường tư bản
1 Mô hình kinh tế thị trường tự do Hoa Kỳ 5
2 Mô hình kinh tế thị trường có điều khiển Nhật Bản 10
3 Mô hình kinh tế thị trường xã hội và nhà nước phúc lợi 17
Chương 2 Mô hình kinh tế thị trường các nước và vùng lãnh thổ
1 Nước công nghiệp mới (NIC), các nước và vùng lãnh thổ
2 Đặc trưng của mô hình kinh tế thị trường các nước và
vùng lãnh thổ công nghiệp mới (NICs) châu Á 32
3 Ưu điểm và nhược điểm của mô hình kinh tế thị trường
các nước và vùng lãnh thổ NIC châu Á 39
Chương 3 Mô hình kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa Trung Quốc 45
1 Sự ra đời và các giai đoạn phát triển của kinh tế thị
2 Bản chất xã hội chủ nghĩa của kinh tế thị trường Trung Quốc 48
3 Đặc trưng chủ yếu của kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa
4 Ưu điểm, nhược điểm của mô hình kinh tế thị trường xã
hội chủ nghĩa Trung Quốc và bài học kinh nghiệm với
Trang 2
Chuyên đề 1 CÁC MÔ HÌNH CHỦ YẾU CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
TƯ BẢN CHỦ NGHĨA HIỆN ĐẠI
Vì góc độ tiếp cận khác nhau nên người ta mô tả kinh tế thị trường ở mỗinước cũng rất khác nhau Việc nghiên cứu các mô hình kinh tế thị trường tư bảnchủ nghĩa hiện đại là cần thiết để có thể hiểu được trong thực tế nền kinh tế thịtrường vận hành như thế nào ở mỗi nước cụ thể Dưới đây nghiên cứu một số môhình kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa hiện đại
1 Mô hình kinh tế thị trường tự do Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là một quốc gia công nghiệp phát triển vào bậc nhất thế giới, cóthu nhập bình quân đầu người và tổng lượng sản phẩm – dịch vụ cao hơn nhiềuquốc gia khác Mô hình Hoa Kỳ có đặc trừng là sự chiếm ưu thế của sở hữu tưnhân, cơ chế thị trường cạnh tranh và sự năng đọng của kinh doanh, sự can thiệpthấp của Chính phủ và do đó, chấp nhận sự phân hóa xã hội ở mức cao
1.1 Đặc trưng về sở hữu
Sự phát triển các doanh nghiệp tư nhân là một trong những đặc trưng cơbản của kinh tế thị trường tự do Hoa Kỳ Tất cả các doanh nghiệp tư nhân đượcphân chia thành 2 loại: những thập đoàn lớn (bao gồm các tập đoàn quốc gia vàsiêu quốc gia), bên cạnh là hàng trăm nghìn công ty nhỏ Sự tập trung nhiềungành công nghiệp trong tay một số ít doanh nghiệp lớn là mộ trong những đặcđiểm của nền kinh tế thị trường Hoa Kỳ Xu hướng tập trung các doanh nghiệpquy mô lớn bắt đầu từ thế kỷ XIX Vào những năm 1920 các tập đoàn lớn đượckhuyến khích phát triển Đặc biệt, Chiến tranh thế giới thứ hai đã thúc đẩy hìnhthành các tập đoàn lớn nhằm sản xuất máy bay và xe tăng cho quân đội đồngminh, nhờ sáp nhập thành các tổng công ty (Conglomerate merger)
Bên cạnh các tập đoàn lớn, ở Mỹ còn có hàng trăm nghìn doanh nghiệp vừa
và nhỏ Việc hình thành các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng là xu thế đang phát
Trang 3triển hiện nay Các doanh nghiệp này có thể do một số người trước đây vốn điềuhành tập đoàn lớn nay tách ra thành lập công ty riêng, hoặc là các công ty gia đìnhđược hình thành trên cơ sở vốn riêng, nhằm tận dụng những công nghệ hiện đại,thuê lao động có trình độ cao, sử dụng kỹ năng quản lý tài chính tiên tiến.
Bên cạnh sở hữu tư nhân, nền kinh tế thị trường Hoa Kỳ còn có bộ phậnkhông lớn kinh tế nhà nước Sở hữu nhà nước trong các ngành công nghiệp ởHoa Kỳ khá hạn chế, nhưng chính phủ các cấp, từ trung ương đến địa phươngđều sở hữu và vận hành những doanh nghiệp thuộc nhiều ngành nghề khác nhau
Ví dụ như Tennessee Valley Authority (TVA), một xí nghiệp công rất lớnchuyên sản xuất và phân phối năng lượng công cộng cho khu vực Đông NamHoa Kỳ TVA được thành lập để xây dựng những công trình thủy lợi, những nhàmáy thủy điện, cung cấp điện năng, cải thiện dòng chảy của dòng sôngTennessee, kiểm soát lũ lụt trên con sông này và ngăn chặn nạn xói mòn đất.Các cơ quan khác của Chính phủ cũng sở hữu các hệ thống vận tải và các nhàmáy sản xuất nước, gas và điện Chính phủ cũng trực tiếp hay gián tiếp sản xuấtnăng lượng nguyên tử và các hàng hóa khác, thực hiện các dự án nhà ở nhằmxóa các khu nhà ổ chuột
1.2 Đặc trưng về sự can thiệp của Chính phủ
* Lý do sự can thiệp của Chính phủ đối với nền kinh tế
- Khi cạnh tranh trên thị trường xuất hiện những trục trặc, những khiếmkhuyết, ví dụ như độc quyền, độc quyền nhóm hay những cấu trúc không hoànhảo của thị trường cạnh tranh, khiến việc phân bổ các nguồn lực không hiệu quả
và hiệu quả kinh tế - xã hội không được đảm bảo
- Khi trong nền kinh tế thị trường, cơ chế giá cả không đảm bảo cung cấpthông tin chuẩn xác, hoặc việc phản ứng đối với quá trình sản xuất và bán ranhững hàng hóa độc hại
- Khi tiến bộ công nghệ tạo nên những ngoại ứng thị trường Ví dụquá trình phát triển ngành chế tạo ôtô đã có những tác động rất sâu rộngđến nền kinh tế Hoa Kỳ trong thời kỳ đầu của thế kỷ XX, tạo ra hàng
Trang 4nghìn việc làm trong những ngành có liên quan như thép và cao su Tuynhiên, ngành công nghiệp ôtô cũng là thủ phạm chính dẫn đén tình trạng
ô nhiễm không khí và tiếng ồn
- Trợ cấp thất nghiệp và các quỹ an sinh xã hội để cung cấp một công cụbảo vệ những người lâm vào tình trạng khó khăn mà không phải hoàn toàn dolõi của họ Cần lưu ý rằng các chương trình phúc lợi xã họi ở Hoa Kỳ được đưavào thực hiện chậm hơn nhiều chưa được hoàn thiện như ở nhiều quốc gia khác
* Một số lĩnh vực can thiệp chủ yếu của Chính phủ trong nền kinh tế.
Tài chính công là một chỉ số đánh giá mức độ tham gia của chính phủ trongnền kinh tế thị trường, mà thuế là công cụ quan trọng Các chính sách bình ổn kinh
tế Những quy định và sự kiểm soát Chính phủ đối với doanh nghiệp Khuyếnkhích cạnh tranh Thi hành luật chống độc quyền để tăng cường tính cạnh tranhtrên thị trường bằng việc ngăn cấm các hoạt động liên kết giữa một nhóm doanhnghiệp nhằm thao túng thị trường Ban hành các quy định xã hội đối với doanhnghiệp trên các phương diện như thuê mướn người tàn tật, an toàn lao động, bảo vệngười tiêu dùng, bảo vệ môi trường…
1.3 Đánh giá ưu điểm và nhược điểm của mô hình
* Ưu điểm
- Sự thắng lợi của mô hình kinh tế thị trường tự do Hoa Kỳ được minhchứng bằng sự thăng hoa của kinh tế từ nửa sau thập kỷ 90 với tăng trưởng kéodài, tỷ lệ thất nghiệp khá thấp và ít lạm phát, sản lượng và năng suất cao hơn
- Mô hình kinh tế thị trường tự do mới đề cao vai trò cá nhân Một xã hộimuốn phát triển thịnh vượng trước hết phải phát huy tính độc lập, sáng tạo củamọi cá nhân và muốn làm được như vậy phải có một môi trường xã hội tự do,thông thoáng Sự can thiệp quá sâu của Nhà nước có thể dẫn đến tình trạng mất
đi tự do và khả năng tự chủ, sáng tạo của cá nhân Chính sách kinh tế dựa trên tưtưởng thị trường tự do với yếu tố chủ đạo của tư tưởng này là cần hạn chế vai tròcủa Chính phủ và thay thế bằng các lực lượng thị trường
- Mô hình kinh tế thị trường tự do Hoa Kỳ giúp tăng tính cạnh tranh caogiữa các doanh nghiệp dẫn đến nền sản xuất sẽ hiệu quả hơn, hàng hóa sẽ đa
Trang 5dạng và phong phú hơn.
- Mô hình kinh tế thị trường tự do Hoa Kỳ giúp cho đồng vốn lưu thông
dễ dàng hơn Điều đó giúp cho các nước đang phát triển thu hút được nhiềuvốn đầu tư từ đó hấp thu, tiếp cận nhanh hơn với khoa học – công nghệ cao,tạo ra nhiều công ăn việc làm cho dân bản xứ đồng thời nâng cao thu nhập,mức sống người dân
- Mô hình kinh tế tự do Hoa Kỳ với nền tài chính mong manh và khủnghoảng bằng cách tạo nên đầu cơ thay vì một nền kinh tế hướng mạnh vào sảnxuất, làm cho kinh tế đình đốn và bất bình đẳng thêm trầm trọng
- Mô hình kinh tế tự do Hoa Kỳ tạo nên một tầng lớp tư sản rất giàu – mộttầng lớp mại bản – có thu nhập, tài sản và quyền lực chính trị tại các nước đangphát triển Chủ nghĩa tự do mới làm tăng vị thế mặc cả của tư bản đối với laođộng Cải cách tài chính tự do mới ngăn cản các chính sách tiến bộ Các nướcđang phát triển gặp khó khăn trong việc thi hành những chính sách kinh tế và xãhội độc lập Cụ thể, chủ nghĩa tự do mới áp dụng ở các nước châu Mỹ Latinh đãgây ra những hậu quả tiêu cực rõ rệt, như cắt giảm chi phí của Nhà nước chophúc lợi xã hội, giảm thu nhập của công nhân; tư nhân hóa hàng nghìn doanhnghiệp nhà nước; làm hàng chục nghìn doanh nghiệp nhỏ phá sản; tài nguyênquốc gia lọt vào tay tư bản nước ngoài
1.4 Bài học kinh nghiệm cho sự điều hành của Chính phủ đối với nền kinh tế Việt Nam
Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định phương châm “Việt Nam sẵn sàng là bạn với tất cả các nước và tổ chức quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập
Trang 6và chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi” Là nước đi sau do những hoàn cảnh
lịch sử, chúng ta rất xem trọng học tập và tiếp thu những thành tựu của các quốcgia đi trước một cách có chọn lọc và vận dụng thích hợp với tình hình thực tếcủa nước ta Vì vậy, trước những luận thuyết kinh tế mới chúng ta phải thậntrọng cân nhắc, biết chọn lọc cái đúng, gạt bỏ cái sai, không phủ định hết cũngkhông học tập một cách giáo điều
- Vấn đề tư hữu hóa Nhà nước Việt Nam chủ trương sắp xếp lại cácdoanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ Mặt khác, các doanh nghiệp Việt Namvừa hợp tác vừa cạnh tranh với các doanh nghiệp tư bản nước ngoài nên cầngiảm mạnh những doanh nghiệp nhỏ, thua lỗ và tập trung hơn vào các ngành vàlĩnh vực then chốt Doanh nghiệp nhà nước tiếp tục giữ vai trò nòng cốt trongtoàn bộ nền kinh tế đất nước, đáp ứng cơ bản những yêu cầu về quốc phòng và
an ninh, về những dịch vụ công ích hướng về người nghèo Nhà nước giữ cổphần chi phối trong những doanh nghiệp quan trọng với quốc kế dân sinh.Chúng ta cổ phần hóa chứ không tư hữu hóa, kiên quyết chống lại nhữngkhuynh hướng lệch lạc nhằm biến cổ phần hóa thành tư hữu hóa Chủ nghĩa xãhội dựa trên chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất, chứ không dựa trênchế độ tư hữu về tư liệu sản xuất
- Vấn đề “người sử dụng phải trả tiền” hoặc chính sách “thu hồi chi phí”.Nhà nước Việt Nam đã có chủ trương “Nhà nước và nhân dân cùng làm” và rấtxem trọng chính sách đối với người nghèo Hàng loạt các chương trình đã ra đời
và đi vào cuộc sống như xây dựng nhà tình thương cho người nghèo không đủtiền để xây nhà; xây dựng nhà tình nghĩa cho người thân của các liệt sĩ đã hysinh vì độc lập tự do của Tổ quốc; khám chữa bệnh miễn phí đối với trẻ em dưới
6 tuổi; giảm 50% học phí và các khoản đóng góp xây dựng trường đối vớinhững học sinh bị khuyết tật; miễn 100% học phí và các khoản đóng góp xâydựng trường đối với những học sinh bị khuyết tật thuộc diện hộ nghèo; học sinhdân tộc thiểu số thuộc diện nghèo; học sinh mồ côi cha mẹ, mồ côi cha hoặc mẹ
mà người còn lại không đủ khả năng nuôi dưỡng; học sinh bị bỏ rơi, bị mất
Trang 7nguồn nuôi dưỡng Hỗ trợ thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở chonhững học sinh nghèo trong hoàn cảnh một nước nghèo như Việt Nam (theochuẩn nghèo mới đối với khu vực thành thị và khu vực nông thôn).
- Vấn đề: Tất cả để cho “bàn tay vô hình của thị trường” xếp đặt Nhànước ta chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, có sự quản lý của Nhà nước Nhà nước ta chủ trương nâng cao sức cạnhtranh đi đôi với đoàn kết và thi đua XHCN, không phải là cạnh tranh bóp chếtđối thủ để tìm kiếm siêu lợi nhuận; khuyến khích tăng cường các dịch vụ chongười nghèo thông qua đẩy mạnh hoạt động xã hội hóa trong hai lĩnh vực y tế vàgiáo dục đào tạo
- Vấn đề “lao động linh hoạt”, làm thêm 400 – 500 giờ một năm Nhànước ta nhận thấy làm thêm cũng là cần thiết trong sản xuất thời vụ hoặc khi đếnthời điểm giao hàng… nhưng khống chế trong phạm vi 200 giờ một năm đi kèmtrả công làm thêm và các chế độ khác Người lao động trong các doanh nghiệp
bị phá sản mà có đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí theo mức lương cũ và đượcđiều chỉnh tăng thêm 10%
- Vấn đề tự do hóa lĩnh vực tài chính – ngân hàng Nhà nước ta rất thậntrọng bởi đây là vấn đề sinh tử của quốc gia Nhà nước chủ trương đổi mới cơchế, chính sách tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoànkinh tế và các tổng công ty Quản lý chặt chẽ vay và trả nợ nước ngoài; giữ mức
nợ chính phủ, nợ quốc gia trong giới hạn an toàn Điều hành chính sách lãi suất,
tỷ giá linh hoạt theo nguyên tắc thị trường kết hợp chặt chẽ chính sách tiền tệvới chính sách tài khóa Kiện toàn công tác thanh tra giám sát hoạt động tàichính tiền tệ
2 Mô hình kinh tế thị trường có điều khiển Nhật Bản
2.1 Đặc trưng về sở hữu và tổ chức kinh doanh
Sở hữu tư nhân đã được đề cao và khuyến khích phát triển trong nền kinh
tế thị trường Nhật Bản Chính từ sự đề cao này mà mô hình kinh tế Nhật hìnhthành những doanh nghiệp gia đình với qui mô khá lớn Chính phủ Nhật Bản đã
Trang 8ban hành nhiều đạo luật khiến nhiều ngành công nghiệp không còn chịu sự điềuchỉnh của các đạo luật chống độc quyền Nhật Bản đã cho phép một số hình thứccartel trong lĩnh vực xuất nhập khẩu được thành lập và đi vào hoạt động nhằmcải thiện vị trí là một nhà xuất khẩu lớn của thế giới Người Nhật nhận được từHoa Kỳ những ưu đãi, những khoản vay lãi suất thấp và những máy móc kỹthuật có khả năng phục hồi sức sản xuất vốn có nhiều ngành công nghiệp, nhất
là công nghiệp dệt may
Nhật Bản ưu tiên đáp ứng nhu cầu trong nước, nhất là công nghiệp đóngtàu – ngành được sự trợ giúp của Chính phủ đã phát triển nhanh chóng và năm
1956 trở thành quốc gia sản xuất tàu thủy lớn nhất thế giới
Nhật Bản tập trung cho các chính sách xuất khẩu sản phẩm những ngànhcông nghiệp mà Nhật Bản có lợi thế nhờ chi phí nhân công thấp như thủ công mỹnghệ, dệt may và các ngành công nghiệp quy mô nhỏ khác Nguồn lực con người
là nhân tố rất quan trọng cho sự phát triển kinh tế Nhật Bản thời kỳ hậu chiến
Các tổ chức công nghiệp giữ vai trò lớn trong mô hình kinh tế thị trườngNhật Bản với số lượng các tập đoàn lớn đứng thứ hai thế giới chỉ sau Hoa Kỳ.Trong một thời gian dài, Keiretsu được xem là một phương thức tiên tiến củanền kinh tế Nhật Đó là các doanh nghiệp theo chế độ gia đình trị với hình thái
tổ chức là 6 Keiretsu ngang (tập đoàn gia đình mà tầm hoạt động của nó vươntới nhiều ngành công nghiệp khác nhau và tập trung lại thông qua một ngânhàng, chúng nằm trong số 500 tập đoàn lớn nhất thế giới) và 39 Keiretsu dọc(bao gồm một tập đoàn công nghiệp và các công ty trực thuộc) có sự ủng hộ vàgiúp sức của Chính phủ đã sản xuất ra tới 90% GNP của đất nước Hình tháiSogo Shosha (các công ty thương mại) - có thể là một thành viên trong Keiretsu lànhững công ty hàng đầu thế giới hoạt động trên nhiều lĩnh vực kinh doanh khácnhau và cung cấp nhiều dịch vụ khác nhau cho các hãng thành viên Các SogoShosha tham gia vào cả các hoạt động nhập khẩu, xuất khẩu và có thể giúp tậpđoàn trong xử lý, hạn chế rủi ro ngoại hối Họ cũng tham gia vào các nghiệp vụkinh tế ở nước ngoài cho các hãng của Nhật Bản cũng như cho những người mua
Trang 9và bán của các quốc gia khác Các Sogo Shosha hoạt động như một cơ chế xétduyệt để loại ra những mặt hàng nhập khẩu có khả năng gây tổn hại đến các thànhviên của Keiretsu Sự liên minh công nghiệp trên quy mô lớn giữ vai trò thống trịtrong quan hệ thương mại giữa Nhật Bản với nước ngoài
Nhiều ngành công nghiệp quy mô nhỏ (như sản xuất thức ăn và công nghệbán lẻ…) phát triển nở rộ để đáp ứng nhu cầu rất đặc thù của những người tiêu dùngNhật Bản Năng suất của cách ngành này thường thấp nhưng họ lại được Nhà nướcbảo hộ trước sự cạnh tranh của nước ngoài Cũng có những công ty gia đình sử dụng
từ 2 - 100 lao động, họ thường sản xuất những bộ phận hoặc chỉ cung cấp dịch vụthường xuyên cho các khách hàng lớn và phụ thuộc nhiều vào sự thành bại của cáckhách hàng này
Trong nửa cuối thế kỷ XIX, ngân hàng lớn đóng vai trò then chốt trongviệc thực hiện các chính sách phát triển của chính phủ Nhật Bản Họ thực hiệncho vay đối với các thành viên của Keiretsu và mua cổ phiếu phổ thông của cáccông ty này Ngoài ra, có một số ngân hàng tư nhân khác với quy mô nhỏ hơnrất nhiều và quan hệ với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Bên cạnh đó, còn có vaitrò của một số định chế tài chính thuộc sở hữu nhà nước (ngân hàng Phát triểnNhật Bản, Ngân hàng Tiết kiệm Bưu chính, Ngân hàng Xuất nhập khẩu) trongviệc hỗ trợ hoạt động cho các tổ chức tài chính tư nhân, cho vay dài hạn với lãisuất thấp đối với các ngành công nghiệp cơ bản trong nước, huy động tiết kiệmtrong nước và cho vay dài hạn với lãi suất mang tính trợ cấp cho các nhà xuấtkhẩu sản phẩm
2.2 Đặc trưng về vai trò của chính phủ
Chính phủ sử dụng các chính sách tài khóa và tiền tệ để kích thích quátrình tăng trưởng kinh tế, nhất là công cụ thuế; tạo lập được mối quan hệ thườngxuyên, gần gũi giữa Chính phủ và doanh nghiệp
Chính phủ chỉ chiếm phần nhỏ trong tiêu dùng xã hội, nhưng lại lại chiếmphần lớn trong đầu tư và giữ quyền kiểm soát chặt chẽ khu vực tư nhân thông quacác trung gian của Chính phủ Chi tiêu Chính phủ trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội
Trang 10cũng ít hơn nhiều
Các cơ quan hành chính và các bộ, ngành trong nền kinh tế như Bộ Tàichính, Bộ Thương mại và Công nghiệp quốc tế (MITI), là hai bộ quan trọng nhấttrong chính phủ Cơ quan Khoa học và Kỹ thuật công nghiệp (AIST) là cơ quanbán độc lập được thành lập dưới sự cho phép của MITI và có trách nhiệm chính
là xúc tiến công nghệ và phát triển các công nghệ mới Các thể chế tài chínhthuộc chính phủ tham gia vào các hoạt động thiết yếu trên thị trường tài chínhthông qua việc sở hữu một số thể chế chuyên về tín dụng Ngân quỹ cho vay củanhững thể chế này được cấu thành từ những nguồn vốn đối ứng như từ ngânsách chính phủ hay tiết kiệm dân cư dưới hình thức tiết kiệm (niên kim) và bảohiểm xã hội…Bộ Bưu chính viễn thông (MPT) là cơ quan giữ chức năng tiếtkiệm chính yếu và quan trọng của Nhật Bản, với tổng số tiết kiệm lên tới 1 tỷUSD Ngân hàng Nhật Bản thực hiện chính sách tiền tệ thông qua ba công cụchính để kiểm soát tổng lượng tín dụng và tiền tệ cung cấp trên thị trường: lãisuất, tỷ lệ chiết khấu và tỷ lệ dự trữ bắt buộc
2.3 Đánh giá ưu điểm và nhược điểm của mô hình kinh tế thị trường
có điều khiển Nhật Bản
* Ưu điểm
- Thực hiện dân chủ hóa kinh tế gắn liền với dân chủ hóa chính trị và xãhội Ngoài việc giải thoát về tư tưởng và đảm bảo quyền tự do kinh doanh, NhậtBản đã chú trọng phát triển giáo dục – đào tạo
Mô hình kinh tế Nhật Bản đã tạo sự tăng trưởng cao so với các quốc giacông nghiệp phát triển lớn của thế giới trong thế kỷ XX Thời kỳ 1950-1987 tốc độtăng trưởng trung bình của GDP thực tế là 6,0%, tốc độ tăng trưởng so sánh củaNhật Bản là 4,0% trong khi đó 2,9% ở Hoa Kỳ, 2,4% ở Pháp và 2,2% ở Đức
- Tăng cường và chủ động mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại
Điều hành xuất khẩu trong mô hình kinh tế thị trường có điều khiển NhậtBản là lĩnh vực thành công điển hình Trước năm 1900, nước Nhật hoàn toànkhông có xuất khẩu Đầu thể kỷ XX với vị trí thứ 23 xét trên tổng kim ngạch xuất
Trang 11khẩu so với vị trí thứ 12 của Trung Quốc Đến cuối thế kỷ XX, năm 1997 nướcNhật đã xếp thứ 3 thế giới với tổng kim ngạch lớn hơn so với Vương quốc Anh làkhoảng 150 tỷ USD Cũng năm 1997 tài khoản thương mại hàng hóa của Nhật Bảnđạt thặng dư 73 tỷ USD so với khoản thâm hụt 114 tỷ USD trong tài khoản thươngmại nói chung, khoảng ½ trong số đó là quan hệ thương mại với Hoa Kỳ.
- Kinh tế thị trường không có nghĩa là nền kinh tế vô Chính phủ Vì vậycần có sự can thiệp, điều tiết của Nhà nước Thời kỳ đầu tiên phát triển kinh tếthị trường, Chính phủ Nhật Bản can thiệp trực tiếp rộng rãi và khá sâu vào nềnkinh tế, nhưng sự can thiệp đó của Nhà nước càng về sau càng giảm dần
Điều hành vốn của chính phủ Nhật Bản là thành công lớn đạt được vị tríhàng đầu thế giới về vôn cho vay Họ tài trợ cho việc cầm giữ các tài sản nướcngoài thông qua những khoản thặng dư liên tục trên tài khoản xuất nhập khẩuhàng hóa, trong vòng 25 năm con số này đã lên tới 2,2 tỷ tỷ USD Một phầnđáng kể trong số này được đầu tư vào các tài sản của Hoa Kỳ, từ trái phiếu khobạc đến các nhà máy sản xuất ôtô Nhật Bản cầm giữ rất nhiều tài sản nợ củaHoa Kỳ và đã trở thành quốc gia cho vay hàng đầu thế giới
- Chính phủ Nhật Bản điều khiển ngành công nghiệp đạt được thành công.Điều đó có được là do bốn nhân tố: (1) Rất coi trọng chất lượng sản phẩm (2)Coi trọng công tác nghiên cứu (3) Có một lực lượng lao động kỹ thuật cao cũngnhư khối lượng lớn máy móc, thiết bị tính trung bình trên một công nhân (4) Cómột lượng cầu trong nước rất lớn Ưu điểm này bắt nguồn từ sự thành công củacác công ty thành viên trong Keiretsu Do sở hữu cổ phần lẫn nhau và chịu ảnhhưởng của một ngân hàng và công ty thương mại chung, nên các doanh nghiệptrong Keiretsu thường có chiến lược kinh doanh giống nhau, phát huy khả nănghợp tác, tương trợ, đặc biệt là khi gặp khó khăn về tài chính Bên cạnh đó, cáccông ty thành viên còn chia sẻ với nhau những bí quyết kinh doanh, kinhnghiệm quản lý và các cách thức tiếp thị, thâm nhập thị trường
* Nhược điểm
- Mô hình kinh tế thị trường có điều khiển của Nhật Bản, do Chính phủcan dự quá nhiều của vào những lĩnh vực cơ sở hạ tầng và dịch vụ công cộng vì
Trang 12tính hiệu quả giảm sút của sự can dự này
Theo đó, cách điều hành của Chính phủ Nhật đã mắc phải một chứng bệnh –căn bệnh Nhật Bản, nghĩa là tạo ra một sự đồng đều tuân thủ đến cứng nhắc, mất đi
sự sáng tạo và niềm tin cũng như tinh thần của công chúng giảm sút rõ rệt Bên cạnh
đó, những vụ xì căng đan trong các lĩnh vực chính trị, hành chính và kinh doanh dấylên trong thập niên 1990 đang dần mất đi chất keo hàn gắn xã hội của họ, chấtkeo có thể đưa họ tiếp tục quãng đường phát triển trong những thế kỷ tới
Quá trình điều khiển của chính phủ Nhật Bản duy trì mô hình kinh tế chủyếu dựa vào các Keiretsu (nó bộc lộ nhiều yếu điểm) đã dẫn đến kinh tế suygiảm, thể hiện rõ nét nhất trong các doanh nghiệp lớn của Nhật Bản, vốn thốngsoái trên thế giới Tập đoàn chế tạo các sản phẩm điện tử Sharp đã tuyên bố vàođầu tháng 11/2012 rằng đang có những hoài nghi về việc liệu họ có thể tiếp tụchoạt động sau năm thứ hai bị lỗ kỷ lục Panasonic cũng gặp khó khăn tương tự
và dự báo năm thứ hai liên tiếp bị lỗ, với 10 tỷ USD Cũng không thoát khỏi tìnhtrạng thua lỗ như hai công ty điện tử khổng lồ trên, Sony đang chật vật để đứngvững Ba công ty này bị ảnh hưởng nghiêm trọng do việc giảm giá tivi màn hìnhphẳng và các đồ gia dụng khác Nếu một phần sự suy giảm trên có thể là do các hãngcủa Nhật Bản, nhất là các hãng khổng lồ về điện tử, bị các đối thủ nước ngoài cạnhtranh mạnh mẽ, bán hàng với giá rẻ hơn, thì đó còn là do những tiến trình quan trọnghơn đang diễn ra, phản ánh những xu thế bất lợi của nền kinh tế thế giới
- Mô hình kinh tế Nhật Bản thiếu sự thích ứng với điều kiện mới, đã đưaquốc gia vào trong sự bộn bề các vấn đề tài chính Vào cuối những năm 1980,các cổ phiếu của Nhật Bản luôn đắt nhất trên thế giới Nhưng phần lớn đó là hậuquả của một bong bóng bất động sản và tài chính Việc vỡ bong bóng, bắt đầuvào năm 1990, đã chứng kiến chỉ số Nikkei giảm từ 39.000 điểm xuống 9.000điểm như hiện nay Trong hai thập kỷ qua, các chính phủ Nhật Bản kế tiếp nhau,cùng với Ngân hàng Nhật Bản, đã tìm cách thúc đẩy nền kinh tế với những kếhoạch khuyến khích và những khoản tín dụng với giá rất thấp Nhưng tất cả đều
vô ích Nền kinh tế vẫn đi theo con đường quen thuộc, mọi sự tăng trưởng kinh
Trang 13tế sau đó đã trượt dần tới sự suy thoái Hệ thống ngân hàng Nhật Bản đã lâm vàokhủng hoảng đầu những năm 1990 với tỷ lệ nợ xấu lớn Tổng lượng nợ củachính phủ và chi trả lãi suất đã lớn hơn GDP cả nước Các thể chế tài chính NhậtBản hoạt động kém hiệu quả, thiếu minh bạch, còn quan hệ với những kẻ đầu cơbất chính Từ “Bong bóng” bất động sản vỡ kéo thị trường cổ phiếu cũng đổtheo Có 5 ngân hàng thất bại nặng nề nhất trên thị trường tài chính thế giớichính là các ngân hàng Nhật Bản.
- Mô hình kinh tế thị trường Nhật Bản với sự điều hành của chính phủ đốivới phát triển nguồn nhân lực là một khâu yếu Nhật Bản hiện là một trongnhững nước có dân số già nhất thế giới; tỷ lệ sinh ra của nước Nhật đang giảmxuống và cùng với nó là hiện tượng dân số trong độ tuổi lao động cũng giảmdần Nhật Bản phải đương đầu với hai vấn đề lớn: thứ nhất, nước Nhật chống lạiviệc nhập cư và giữ sự đồng nhất về chủng tộc; thứ hai, người Nhật rất khôngmuốn phụ nữ phải lao động vất vả, họ không muốn bóc lột sức lao động của phụ
nữ và do đó càng làm gánh nặng thuế khóa đối với dân Nhật tăng lên
2.4 Một số kinh nghiệm về tổ chức quản lý và điều hành của chính phủ trong mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam
* Về tổ chức doanh nghiệp
Trong một thời gian dài, Keiretsu được xem là một phương thức tiên tiếncủa mô hình kinh tế Nhật Bản Tuy nhiên, Keiretsu đã tạo ra sức ỳ cực lớn chochính các nhà sản xuất (cung cấp) Họ trở nên lười biếng và vô cùng chậm chạpthay đổi mẫu mã, công nghệ Các công ty đầu đàn của cuộc chơi phải dàn trải tàichính ra quá rộng nên thường đuối sức Giảm khả năng, động lực cạnh tranh vàđổi mới của các bên Hiệu quả kinh tế kém; quá phụ thuộc vào xuất khẩu Từnhững vấn đề nêu trên, đặt ra cho Chính phủ ta phải khẩn trương cơ cấu lạingành nghề kinh doanh của các tập đoàn kinh tế và các tổng công ty nhà nước,tập trung vào một số ngành, lĩnh vực then chốt nền kinh tế; từng bước xây dựngcác doanh nghiệp mang tầm khu vực và toàn cầu Tạo điều kiện hình thành một
số tập đoàn kinh tế tư nhân và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà
Trang 14nước Quản lý chặt chẽ và xử lý đúng đắn việc sở hữu chéo cổ phần của nhau giữacác doanh nghiệp lớn, phải qui định không cho phép chuyển nhượng số cổ phầnnày Nếu xảy ra việc chuyển nhượng cổ phần, phải có chế tài xử lý nghiêm minh.
* Về quản lý điều hành của chính phủ
Các biện pháp mới đánh dấu một sự thay đổi lớn trong các định hướngchính sách thúc đẩy chuyển đổi mô hình kinh tế với việc phát triển thị trườngnội địa làm trọng tâm, tìm cách tăng nhu cầu trong nước và bảo vệ đời sốngnhân dân theo triết lý “tương thân tương ái” hiện nay của mô hình kinh tế NhậtBản là bài học lớn cho chúng ta Theo đó, Chính phủ ta cần quyết liệt hơn trongthực thi chính sách phát triển đa dạng, đồng bộ ngày càng văn minh, hiện đại cácloại thị trường Đẩy mạnh xuất khẩu, nhưng phải chú trọng mở rộng và chiếmlĩnh thị trường trong nước, bảo vệ lợi ích của cả người sản xuất và người tiêudùng, nhất là về giá cả, chất lượng hàng hóa, vệ sinh, an toàn thực phẩm
Tình hình hiện nay đang đặt ra cho Chính phủ ta phải thực thi chính sáchkinh tế - xã hội nhằm thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị trong quátrình phát triển mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Gắn liềnvới phong trào xây dựng nông thôn mới cần phải được tiến hành đồng bộ, chútrọng giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế nông nghiệp nôngthôn, xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn và cải thiện đời sống nông dân
3 Mô hình kinh tế thị trường xã hội và nhà nước phúc lợi
3.1 Mô hình kinh tế thị trường xã hội Cộng hòa liên bang Đức
Mô hình này có đặc trưng: phối hợp sức mạnh của cơ chế thị trường tự dovới sự can thiệp của Nhà nước để đạt được các mục tiêu xã hội đề ra Nhà nướcluôn đảm bảo sự tồn tại của cả hai bộ phận: kinh tế tự do (tư nhân) và kinh tếmệnh lệnh (Nhà nước)
* Đặc trưng về tổ chức kinh doanh
- Hệ thống doanh nghiệp với đẳng cấp trung lưu đóng một vai trò rất độcđáo đối với sự phát triển của nước Đức Nó làm được hai việc cho nền kinh tếĐức: thứ nhất, thu hút khoảng 2/3 tổng số việc làm mà một nửa trong số đó là
Trang 15việc làm trong lĩnh vực kinh doanh buôn bán, và trên 40% trong tổng lượng đầu
tư của nền kinh tế; thứ hai, duy trì một hệ thống giáo dục hướng nghiệp xuất sắc,một hệ thống giáo dục được đánh giá là đứng hàng đầu thế giới
Ngoài ra, ở Đức còn các phòng thương mại và hiệp hội thương mại Tất
cả các doanh nghiệp Đức bất kể quy mô đều phải là thành viên Trách nhiệmchính của các phòng thương mại Đức liên quan tới các chương trình đào tạohướng nghiệp Giống như một cơ quan pháp luật, họ đề ra các quy định như thờigian mở cửa các cửa hàng, cấp giấy phép đăng ký kinh doanh và giấy phép laođộng, giải quyết các tranh chấp giữa các doanh nghiệp và quan hệ qua lại vớichính phủ các cấp Do đó, chức năng của họ chính là hạt nhân cho sự vận hànhcủa hệ thống kinh tế Đức
Doanh nghiệp nhà nước có quy mô và vai trò lớn là đặc trưng riêng của môhình kinh tế thị trường xã hội Đức, trong một số trường hợp, chính phủ tham giatrực tiếp hoặc thông qua hình thức cổ phần Quản lý doanh nghiệp nhà nước đượcphi tập trung hóa tới cấp doanh nghiệp Bộ Tài chính Liên bang vừa như một công
cụ quản lý doanh nghiệp nhà nước vừa thực hiện các nhiệm vụ tư nhân hóa Quátrình phi quốc hữu hóa các doanh nghiệp nhà nước được thực hiện thông qua haicon đường là bán lại doanh nghiệp cho cá nhân và bán cho người có thu nhập thấpvới tỷ lệ ưu đãi Các doanh nghiệp thuộc sở hữu công đoàn được tổ chức theo hìnhthức hỗn hợp, hoạt động vì mục tiêu phúc lợi chứ không nhằm tối đa hóa lợi nhuận
- Hệ thống ngân hàng Đức có sức mạnh tài chính hơn nếu so sánh với cácngân hàng Hoa Kỳ Họ cung cấp nguồn tài chính chủ yếu cho nền công nghiệp;đồng thời là cổ đông lớn nhất trong nền kinh tế Họ cũng cung cấp đa phần cácdịch vụ môi giới chứng khoán cho các khách hàng ở Đức Các ngân hàng lớncủa đều là những ngân hàng tư nhân, trực tiếp hay gián tiếp đang nắm giữ tới 1/4quyền biểu quyết trong 25% các tập đoàn lớn nhất của Đức và chiếm tới 28%trong các hội đồng tư vấn của họ Sau đó phải kể đến các ngân hàng thương mại
ở trung ương và địa phương cũng thuộc sở hữu tư nhân, là nguồn tài chính hầunhư duy nhất của các doanh nghiệp quy mô nhỏ Các ngân hàng Đức kiểm soát
ít nhất một nửa nền kinh tế, do đó sự quan tâm được đặt nhiều vào các mục tiêu
Trang 16và hoạt động của các công ty.
- Đặc điểm về việc ra quyết định về các chính sách kinh doanh Mục đíchcủa việc này là tạo cho người công nhân có tiếng nói trong các quyết sách chung.Khái niệm hợp tác cùng xác định ra đời từ quá trình phát triển của chủ nghĩanghiệp đoàn thương mại thế kỷ XIX Nó gắn liền với ý tưởng về một xã hội theotrật tự xã hội chủ nghĩa, điều này thấm nhuần vào suy nghĩ của các nghiệp đoànthương mại Đức thời đó
Quá trình hợp tác cùng xác định diễn ra theo hai kết cấu - Ủy ban kiểmsoát và Hội đồng lao động Ủy ban kiểm soát phải có từ 1/3 đến ≥ 1/2 số đạidiện công nhân trong các doanh nghiệp sử dụng từ 500 đến ≥ 2.000 côngnhân Đối với các công ty công, đại diện của công nhân và nhà quản lý trong
Ủy ban này phải ngang nhau; đối với công ty tư nhân số đại diện công nhânphải bằng đại diện của nhà quản lý và có một đại diện trung lập khác Ủyban kiểm soát ra quyết định đầu tư và các quyết sách dài hạn khác cho công
ty Là thành viên trong Ủy ban kiểm soát, công nhân có tiếng nói nhất địnhđối với các vấn đề nhân sự, nhưng các vấn đề hoạt động của công ty lạithuộc chức năng của những người quản lý
Hoạt động ở cấp độ nhà máy, Hội đồng lao động có mặt ở hầu hết cácdoanh nghiệp Đức và tham gia vào mọi vấn đề về đảm bảo điều kiện lao động.Bất cứ một quyết định thải hồi công nhân nào cũng phải được trình lên Hội đồngnày trước khi ra quyết định chính thức và Hội đồng có thể can thiệp bằng cách
Trang 17đưa vấn đề này lên tòa án lao động để chống lại việc thải hồi Hội đồng nàycũng giải quyết những quan tâm của người công nhân, như khi nhà máy đóngcửa hay áp dụng quy trình sản xuất mới Tuy nhiên họ không tham gia vào cácquyết định đầu tư của chủ hay can thiệp vào những giao dịch chuển giao vốn lớntrong doanh nghiệp; chức năng căn bản nhất của họ vẫn là tạo cho người laođộng những điều kiện làm việc tốt nhất Trên một vài khía cạnh, Hội đồng laođộng còn quan trọng hơn Ủy ban giám sát vì họ gắn với công nhân hơn, nênquan tâm đến những lợi ích sát sườn của công nhâ.
* Đặc trưng về giải quyết các vấn đề xã hội của chính phủ
- Giáo dục hướng nghiệp: hệ thống giáo dục là một trong những điểmmạnh nhất của người Đức, nó giúp tạo ra một lực lượng lao động kỹ năng cao,
có khả năng tiếp nhận và sử dụng những công nghệ hiện đại nhất Lực lượng laođộng Đức hàng năm còn có các chương trình đào tạo nghề nghiệp cho khoảngmột nửa số thanh thiếu niên Đức từ độ tuổi 15-19 trong khoảng 400 nghềchuyên môn khác nhau Quá trình đào tạo thường được tiến hành với một ôngchủ và được chọn trước, kéo dài khoảng 2-3 năm Ngoài ra còn có các khóa họcngắn hạn hoặc từ đầu dành cho các công nhân có nhu cầu Chi phí hàng năm chocác chương trình đào tạo dạy nghề đối với các ngành công nghiệp là khoảng 35
tỷ DM (22 tỷ USD); kết quả cuối cùng là lực lượng lao động được đào tạo tốt vànạn thất nghiệp đối với thanh niên là rất thấp Nhờ thế, nước Đức có thị phần lớnnhất thế giới trong lĩnh vực trao đổi buôn bán các mặt hàng đòi hỏi kỹ thuật cao
- An sinh xã hội và các thước đo phúc lợi khác: Năm 1911, khi Sắc luật vềbảo hiểm tổng hợp đã thống nhất tất cả các chương trình bảo hiểm ở Đức lại vớinhau thì tất cả công nhân Đức đã được bảo hiểm khi không may bị bệnh tật haytàn phế, mất khả năng lao động Bảo hiểm thất nghiệp đã được áp dụng ở Đức từnăm 1927 Các vấn đề liên quan tới chiến tranh là một bộ phận quan trọng trong
hệ thống phúc lợi xã hội của Đức Trong đó, có các biện pháp khác nhau để thiếtlập và duy trì các trại chuyển giao và tiếp nhận người tị nạn Các khoản trợ cấpsinh con như cách gọi thông thường của người Đức (Kindergeld) không thuộc
Trang 18hệ thống bảo hiểm xã hội và được tài trợ bởi nguồn thu ngoài ngân sách.
Các khoản chi tiêu dành cho mục đích an sinh xã hội nằm trong Ngânsách xã hội (Sozial buget) và được quản lý bởi Chính phủ Liên bang nhưng táchhẳn khỏi Ngân sách Liên bang hệ thống an sinh xã hội được tài trợ từ các khoảnthuế lương đối với cả chủ và các khoản thu chung từ Ngân sách Liên bang Vàonăm 1997, tổng chi trả cho an sinh xã hội của Đức là khoảng 758 tỷ DM (348 tỷUSD), tương đương khoảng 24% GNP nước Đức
* Đánh giá ưu điểm và nhược điểm mô hình
- Ưu điểm
+ Mô hình kinh tế thị trường xã hội Đức tạo nên thành tựu kinh tế đượcthế giới công nhận Những thành tựu này được hỗ trợ một phần nhờ kế hoạchviện trợ Marshall của Mỹ và từ khoản chi tiêu của NATO Chính sách kinh tếthời hậu chiến của Đức xoay quanh sự kết hợp giữa tự do cá nhân và phúc lợi xãhội đặt trong khuôn khổ của một nền kinh tế thị trường cạnh tranh Các chươngtrình phúc lợi xã hội của Đức trở thành một trong những hệ thống toàn diện,hiệu quả nhất châu Âu Những khuyến khích về thuế được thiết kế để kích thíchđầu tư vào các doanh nghiệp Đức Các chính sách tài khóa và tiền tệ của Đứcsau chiến tranh được thực hiện theo hướng nhằm nâng cao sản xuất
+ Mô hình kinh tế thị trường xã hội Đức trở thành mô hình kinh tế điểnhình thực thi chính sách tiền tệ, thị trường của chính phủ Họ dựa vào lý thuyết
mà chính Deutsche Bank đã theo đuổi trong suốt 40 năm qua là tập trung vàomục tiêu ổn định giá cả Đức có thể duy trì được thị phần hàng đầu của mìnhtrên thương trường thế giới, với năng lực sản xuất tăng trưởng nhanh gấp đôi sảnlượng toàn cầu Ngoài ra, còn lợi thế so sánh về sản xuất các sản phẩm quanghọc và các hàng hóa gia dụng (gốm sứ và trang thiết bị gia dụng…) Các ngânhàng của Đức nằm trong số những ngân hàng có tính cạnh tranh nhất thế giới.Những tác động dài hạn của EU tới Đức là tích cực vì Đức nằm ở trung tâmchâu Âu Bất chấp hai cuộc Chiến tranh thế giới với những thảm họa đã tàn phánền kinh và con người Đức, nước Đức đã phát triển mạnh trong thế kỷ XX Môhình kinh tế Đức thể hiện điểm mạnh trong phát triển các ngành chế tạo động cơ
Trang 19ôtô, hóa chất, dệt may và công nghiệp cơ khí
- Nhược điểm
+ Mô hình kinh tế thị trường xã hội Đức tạo nền tảng thành công củanước Đức không thật sự vững chắc Ôtô, máy móc, thiết bị điện tử và hóa chấtđóng góp hơn một nửa số mặt hàng xuất khẩu nước này, và xuất khẩu lại chính
là nhân tố quyết định cho sự phát triển kinh tế Đức từ năm 2001 tới 2007 Nhâncông phân bổ trong các ngành sản xuất thực chất chiếm ít hơn 1/5 tổng lượngnhân công cả nước Nhìn vào một thực tế không hào nhoáng, những định hướngdịch vụ phi xuất khẩu của Đức đang ở trong tình cảnh khá ảm đạm Ngành dịch
vụ cằn cỗi đang làm suy yếu đi các nguồn thu nhập và đầu tư OECD dự đoánrằng tiềm năng phát triển của Đức sẽ suy sụp, xuống dưới 1% vào năm 2020
+ Mô hình kinh tế thị trường xã hội Đức đang gia tăng nạn thất nghiệp.Nhiều năm kể từ ngày tái thống nhất đất nước, tỷ lệ thất nghiệp vẫn rất cao, nhất
là ở Đông Đức và đối với phụ nữ Cấu trúc thất nghiệp đã thay đổi, thất nghiệpdài hạn tăng dần khi những công nhân lớn tuổi là đối tượng thất nghiệp chủ yếu.Ngoài ra, cũng phải kể đến hiện tượng “thất nghiệp ngầm” bao gồm những ngườiphải về hưu sớm Dân số già và cơ cấu tuổi là vấn đề lớn của nước Đức Cùng với
sự gia tăng về tuổi tác dân số, lực lượng lao động của Đức sẽ sụt giảm, tỷ lệ chếtcao hơn tỷ lệ sinh Ngoài ra, khi quá trình thống nhất đất nước diễn ra đã buộcphải chấp nhận hàng triệu người Đông Đức đang được hưởng trợ cấp - nhữngngười vốn không thực hiện nghĩa vụ với hệ thống an sinh xã hội Tây Đức
+ Mô hình kinh tế Đức có điểm yếu khá rõ là hệ thống luật lệ, quy tắcchưa hiệu quả và hoàn thiện, nhất là trong khu vực dịch vụ; dân số đang già đinhanh chóng và gánh nặng từ những chi phí phúc lợi xã hội đang ngày một tănglên Những rào cản việc làm đối với phụ nữ, bao gồm những khoản thuế và chế
độ phúc lợi không mang tính khích lệ cùng với sự thiếu hụt hệ thống nhà trẻ nênđược sớm khắc phục
3.2 Mô hình kinh tế thị trường nhà nước phúc lợi Thụy Điển
Mô hình kinh tế Thụy Điển là mô hình tăng trưởng gắn với thực hiện công
Trang 20bằng, được xem như “con đường trung gian” của cải cách và thay đổi thể chế.
* Đặc trưng về tác động của Chính phủ Thụy Điển đến phân phối
Tuy khu vực tư nhân chi phối lĩnh vực sản xuất, nhưng trong lĩnh vựcphân phối sản phẩm thì nhà nước lại có vai trò chi phối thông qua chi tiêu chínhphủ Vào những năm 1980, tổng chi tiêu của Chính phủ chiếm 40,8% GNP (Hoa
Kỳ 22,9%) Trong đó, cơ cấu chi tiêu của chính phủ chủ yếu cho nhà ở, tiện nghicông cộng, bảo hiểm xã hội, phúc lợi - chiếm 54,2% tổng chi tiêu chính phủ vàonăm 1988 (nhiều hơn 20% so với những khoản mục tương ứng trong chi tiêucủa chính phủ Hoa Kỳ); chi tiêu cho giáo dục cũng chiếm tỷ lệ lớn hơn, còn chitiêu quốc phòng thì có tỷ lệ giảm đi; trái lại, chi tiêu y tế chỉ chiếm tỷ lệ khiêmtốn 1,1% (Hoa Kỳ 12,5%)
Các chương trình chính phủ được tài trợ chủ yếu từ các khoản thuế, năm
1988 tổng doanh thu thuế chiếm 42,9% GNP (Hoa Kỳ 19,7% và Anh 36,4%)
Cơ cấu các nguồn thu cũng khác nhau đáng kể: cũng năm 1988, thuế từ thunhập, lợi nhuận và vốn chiếm 17,8% doanh thu của chính phủ trung ương (Hoa
Kỳ 51,5%), đóng góp từ bảo hiểm xã hội chiếm tỷ lệ cao Tuy nhiên, Thụy Điểndựa chủ yếu vào các khoản thuế đánh vào hàng hóa và dịch vụ - số thu nàychiếm 29% doanh thu của chính phủ trung ương (Hoa Kỳ 3,6%) Tác động củanhà nước phúc lợi tới tái phân phối thu nhập được thể hiện thông qua phân phốithu nhập thực tế giữa các nhóm dân cư: vào giữa những năm 1980, 20% số hộ
có thu nhập thấp nhất ở Thụy Điển nhận được 8% tổng thu nhập của tất cả các
hộ gia đình, trong khi 20% số hộ có thu nhập cao nhất nhận được 26,9% tổng sốthu nhập (Hoa Kỳ, tương ứng là 4,7% và 41,9%)
Mô hình kinh tế thị trường Thụy Điển vẫn là dựa trên sở hữu tư nhân,nhưng do nhà nước thực hiện vai trò như là cơ quan tái phân phối thu nhập, nên
có những thay đổi quan trọng và bản chất của nó cũng trở nên phức tạp, ThụyĐiển đề cao quan điểm về môi trường, dựa vào nhập khẩu nguyên liệu, có nguồnlực lao động được giáo dục cao, do đó, đã hình thành một cơ cấu sản xuất vàchính sách kinh tế phù hợp với các nguồn lực trên Cốt lõi của mô hình Thụy
Trang 21Điển là khung cảnh của một nền dân chủ xã hội, trong đó có sự bổ sung và hợptác thay cho cạnh tranh xã hội, các mục tiêu và quan điểm của dân chúng đạtđược sự thống nhất thông qua việc tham dự vào những tổ chức đoàn thể nhưcông đoàn, hiệp hội và các tổ chức khác Thông tin thị trường được phân bố để
có thể mang lại lợi ích xã hội cho tất cả mọi người, ví dụ, thị trường lao độngphát triển và hoạt động hiệu quả, với việc áp dụng các hình thức hợp đồng laođộng tập thể toàn ngành Người lao động có thể tham gia vào quản lý doanhnghiệp và sở hữu thông qua các quỹ đầu tư của mình – một cơ chế chuyển lợinhuận thành sở hữu của người lao động Nhà nước còn có vai trò tích cực thôngqua cac công cụ truyền thống như chính sách tài khóa và tiền tệ Thụy Điển đảmbảo phân phối thu nhập công bằng chủ yếu thông qua các hình thức chuyển giao
về hưu trí, y tế, giáo dục và các khoản tương tự, cùng với cam kết về việc làmđầy đủ đã tạo ra một môi trường xã hội ổn định cho phát triển kinh tế
* Đặc trưng về sự điều chỉnh chính sách của Chính phủ
Vào những năm 70 của thế kỷ XX, các nền kinh tế trên thế giới đều gặpkhó khăn do tác động của cuộc khủng hoảng dầu lửa Nền kinh tế Thụy Điểncũng không ngoại lệ Chi phí sản xuất trong nước tăng lên, năng suất giảm sút.Khó khăn về kinh tế thực sự là một thách thức lớn đối với mô hình nhà nướcphúc lợi Duy trì mức sống tăng cao như trước đây trong hoàn cảnh kinh tế khókhăn là điều không thể Hơn nữa, sự can thiệp quá nhiều của Nhà nước vào phânphối đã làm giảm sự hấp dẫn của đầu tư, bất lợi cho các xí nghiệp tham gia cạnhtranh quốc tế, tạo ra mức thất nghiệp cao có tính chất nhân tạo Tình hình này đãbuộc Đảng cầm quyền ở Thụy Điển phải điều chỉnh các chính sách cho hợp lý
Vào đầu những năm 90 của thế kỷ trước, chính phủ đã hạ tỷ lệ thuế thunhập cá nhân: từ mức cao nhất 70% trước đây xuống dưới 50%, thuế suất danhnghĩa của xí nghiệp cũng từ 56% hạ xuống 28%; bên cạnh đó là điều chỉnhmạnh chính sách phúc lợi xã hội, ví như mức bù bảo hiểm xã hội từ 80% xuốngcòn 75%, những điều chỉnh này nhằm đảm bảo phù hợp với điều kiện kinh tế.Nhìn chung nỗ lực của chính phủ là bảo vệ chế độ phúc lợi, nhấn mạnh nhữngnhu cầu cơ bản của dân chúng như khám chữa bệnh, giáo dục và hỗ trợ người già,
Trang 22trẻ nhỏ…không để cơ chế thị trường chi phối.
Để phát triển kinh tế, chính phủ đã đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, cảicách cơ cấu kinh tế Chính phủ ra sức tài trợ ngành công nghệ thông tin và cácngành sản xuất kỹ thuật cao phát triển Nhờ những điều chỉnh về chính sách nên
từ năm 1995 đến năm 2000, GDP của Thụy Điển bình quân hàng năm tăng 3%,lạm phát giảm xuống dưới 2% và tỷ lệ thất nghiệp cũng giảm một nửa Trên cơ sởphát triển kinh tế, từ năm 1988 chính phủ quyết định điều chỉnh mức trợ cấp bảohiểm xã hội trở lại mức 80%, khôi phục hoàn toàn bộ phúc lợi, nâng tiền dưỡnglão, bổ sung tiền nghỉ hưu sớm, phụ cấp trẻ em, phụ cấp nhà ở… Đời sống củangười dân lao động được nâng lên, tuy nhiên khoảng cách giàu nghèo so vớitrước đây có xu hướng nới rộng Ví dụ, năm 2000 thu nhập thực tế của gia đìnhcông nhân Thụy Điển chỉ tăng 4,2% nhưng của gia đình viên chức cao cấp tăng11,1%
* Đánh giá ưu điểm và nhược điểm của mô hình
+ Là mô hình kinh tế hỗn hợp tiên tiến, hướng ngoại và có ngành khaithác tài nguyên phát triển Các ngành công nghiệp chủ đạo là chế tạo ô tô, viễnthông, dược phẩm và lâm nghiệp
+ Mô hình kinh tế Thụy Điển có hai đặc trưng đáng chú ý là dựa trên cácngành công nghệ cao và những phúc lợi Thụy Điển có tỷ lệ thu từ thuế trongtổng thu ngân sách nhà nước cao thứ hai sau Đan Mạch Vào năm 2007, tổng sốthuế thu nhập bằng 47,8% GDP, giảm từ 49,1% năm 2006.[1]
+ Mô hình kinh tế Thụy Điển đã đem lại cho nhân dân có mức sống caonhất của châu Âu ngay từ năm 1930 GDP bình quân đầu người của đất nướcnày xếp vị trí thứ ba trong bảng xếp hạng năm 1970 [2] Năm 2006, Thụy Điểnđứng thứ chín trên thế giới về GDP bình quân đầu người trong điều kiện danhnghĩa và đứng ở vị trí 14 trong điều kiện sức mua tương đương.[3]
+ Việc cải cách ban hành trong năm 1990 đã tạo ra một mô hình, trong đólợi ích phúc lợi xã hội rộng lớn có thể được duy trì trong một nền kinh tế toàn cầu
Trang 23[4] Năm 1994, thâm hụt ngân sách vượt quá 15% GDP Các phản ứng của chínhphủ là phải cắt giảm chi tiêu và tăng cường cải cách để cải thiện khả năng cạnhtranh của Thụy Điển Khi triển vọng kinh tế quốc tế được cải thiện kết hợp với sựphát triển nhanh chóng trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mà Thụy Điển đã cóthể chuyển thành vốn từ cả nước để có thể thoát ra từ cuộc khủng hoảng.[7][8]
- Nhược điểm
+ Mô hình kinh tế phúc lợi Thụy Điển với bất động sản và tài chính đãhình thành nên bong bóng, được thúc đẩy bởi sự gia tăng nhanh chóng trongviệc cho vay Chuyển dịch cơ cấu của hệ thống thuế nhằm duy trì lạm phát thấpkết hợp với nền kinh tế quốc tế phát triển chậm lại trong những năm 1990, gây
ra bong bóng để vỡ tung Chính phủ đã tiếp nhận gần một phần tư tài sản củangân hàng với thua lỗ khoảng 4% GDP Điều này đã được biết đến với nghĩathông tục như là "Stockholm Solution."
+ Khủng hoảng kinh tế trong mô hình kinh tế phúc lợi Thụy Điển Bắt đầu
từ những năm 1970 và đỉnh điểm với sự suy thoái sâu của đầu những năm 1990,mức sống người Thụy Điển phát triển kém thuận lợi hơn so với nhiều nước côngnghiệp hóa khác Hệ thống phúc lợi xã hội vốn là thế mạnh, song không thể duytrì lâu dài do GDP giảm xuống 5% (giữa những năm 1990) và các khoản thanhtoán phúc lợi lớn hơn Tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt, gây ra cuộc khủng hoảng kinh tếtồi tệ nhất ở Thụy Điển kể từ thập niên 1930 Năm 1992 đã có sự giảm nhanh trêncác loại tiền tệ, ngân hàng trung ương trong một thời gian ngắn đã kích lãi suấtlên đến 500% để bảo vệ tỷ giá cố định của đơn vị tiền tệ, nhưng không thành công.[5] Tổng số việc làm giảm gần 10% trong khi cuộc khủng hoảng diễn ra
+ Mô hình kinh tế phúc lợi Thụy Điển với việc thực hiện chính sách xã hộihào phóng nhờ kinh tế tăng trưởng cao nhưng việc tăng liên tục mức thuế (từ 40%GNP vào năm 1970 lên tới 55% vào năm 1990) của dân cư đã làm mất động lựclàm việc của người lao động trong khi tiền thuế được dùng cho các chính sách xãhội hào phóng đến mức mọi người dường như được “bao cấp” kể từ khi lọt lòngcho đến khi xuống mồ lại làm cho người dân thấy không thoải mái bởi quá ít tự
Trang 24do trong lựa chọn Từ đó đã tạo ra một lớp người lười biếng sống dựa dẫm vàocác phúc lợi xã hội Như vậy “cái” xã hội đã phản lại “cái” kinh tế.
3.3 Bài học kinh nghiệm từ hai mô hình trên cho Việt Nam
Điều đầu tiên có thể thấy ở 2 mô hình kinh tế thị trường xã hội CHLBĐức và kinh tế thị trường nhà nước phúc lợi Thụy Điển nêu trên là chúng đượctạo dựng trên một cơ sở xác định cả về lý thuyết và thực tiễn Những bài họckinh nghiệm từ nghiên cứu hai mô hình trên như sau:
- Phải xác định ngay từ đầu cơ sở lý luận và thực tiễn rõ ràng, triệt để vànhất quán để định hướng cho các quyết sách về phát triển xã hội tạo dựng môhình thích hợp hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệphóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
Hai mô hình nêu trên, có thể thấy “chất xã hội” rất rõ Mà chất xã hội nàydường như rất gần với “chất xã hội chủ nghĩa” Mác-Lênin ít nhất ở các nội dungđảm bảo phúc lợi cao nhất cho người dân Vậy phải chăng cơ sở lý luận và thựctiễn của mô hình phát triển xã hội Việt Nam chính là luận thuyết về nền kinh tếthị trường hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa với truyền thống của mộtđất nước luôn biết đoàn kết một lòng đấu tranh thoát ra khỏi sự lệ thuộc để giànhđộc lập dân tộc
Hai mô hình phúc lợi xã hội nêu trên mang đặc điểm chung là sự lo toan
và bảo đảm mức phúc lợi tối đa cho mỗi người dân tuỳ theo hoàn cảnh mỗinước Mỗi nước thực hiện điều này theo những cách khác nhau nhưng điểmchung là phải bảo đảm đạt được mức tăng trưởng kinh tế đủ cao để tạo cơ sở vậtchất cho phân phối công bằng Đương nhiên sản xuất ra của cải vật chất là điềukiện tiên quyết quan trọng nhất nhưng điều đó không có nghĩa phát triển xã hội
là khía cạnh phụ thuộc hoàn toàn thụ động trước các yêu cầu phát triển kinh tế
- Việt Nam cần một chính sách nhất quán chủ động về phát triển xã hộitrên cơ sở thấy rõ vai trò quan trọng của nhân tố xã hội và tác động tương hỗgiữa kinh tế và xã hội
Một sự coi trọng các yếu tố xã hội và biết hướng vào khai thác tác động
Trang 25tích cực của các yếu tố này đến tăng trưởng kinh tế để tạo ra sự cộng hưởng tácđộng hai chiều là rất cần thiết của một mô hình phát triển kinh tế - xã hội thíchhợp cho Việt Nam hiện nay Chính sách xã hội không phải là “sản phẩm phụ”của tăng trưởng kinh tế mà là một nhân tố sinh lợi (productive factor) Cần phảicân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và các nhu cầu xã hội, sự cân bằng giữa cácmục tiêu về phồn vinh kinh tế và phồn thịnh trong đời sống xã hội
- Nhà nước ta cần có chính sách thích hợp phát huy được tối đa năng lựccủa khu vực kinh tế tư nhân với sự mở rộng từng bước lĩnh vực kinh tế - sảnxuất cho khu vực này nắm Những lĩnh vực xã hội từ chăm sóc sức khoẻ cho đếngiáo dục đào tạo về cơ bản phải do nhà nước chi phối và chỉ nên giành mộtphạm vi nhất định cho tư nhân theo mục tiêu thu lợi đi liền với nâng cao chấtlượng phục vụ Đồng thời phải rất thận trọng về mức độ “thị trường hóa” từchăm sóc sức khoẻ cho đến giáo dục đào tạo Phải nâng cao hiệu quả thực hiệnchính sách phát triển khu vực công và làm chủ lĩnh vực xã hội với việc thực hiệnchính sách phân phối lại thích hợp theo từng thời kỳ lịch sử (thường thông qua
hệ thống thuế) nhằm đảm bảo công bằng xã hội
- Phải xác định làm sao cho “hợp lý” vai trò và chức năng của nhà nướctrong phát triển kinh tế - xã hội
Sự nơi lỏng của nhà nước hay sự can thiệp quá sâu của nhà nước sẽ gây ra
sự trì trệ và xơ cứng hệ thống kinh tế - xã hội Phải rành mạch, rõ ràng giữa vai
trò chức năng của nhà nước với vai trò chức năng của thị trường Chúng ta phải
xem xét kỹ cái gì nhà nước đáng làm thì tập trung làm thật tốt, còn những cái gìkhông đáng làm thì hãy để hoàn toàn cho thị trường làm, tránh can thiệp vào gâyméo mó thị trường Mặt khác, cũng không được tuyệt đối hóa vai trò của thịtrường, phải thấy những thất bại của thị trường và nhà nước phải ra tay để khắcphục các khiếm khuyết, thất bại này
hội, chúng ta cần hết sức chú ý đến nhân tố quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóanói chung và tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam
Trang 26Toàn cầu hoá kinh tế đã thúc đẩy việc tổ chức lại nhà nước phúc lợi theohướng thị trường hơn trong khi hội nhập Theo đó, đòi hỏi phải cân bằng đượcliên kết kinh tế và điều tiết quốc gia với hệ thống luật pháp và chính sách xã hộicủa các quốc gia
- Chính phủ cần hoàn thiện chính sách phù hợp bảo đảm điều chỉnh sựmất cân bằng cung - cầu về giải quyết các vấn đề xã hội trong khi ngân khoảncung ứng có chiều hướng ngày càng eo hẹp, còn sự dung hòa giữa các nhóm lợiích đang đòi hỏi tăng cường đối thoại giữa các đối tác xã hội Do đó, đi đôi vớiphát triển rộng hệ thống an sinh xã hội phải nuôi dưỡng được nguồn cung bềnvững và tạo được hài hòa lợi ích giữa các đối tác xã hội
- Chính phủ ta phải tập trung cao độ để giải quyết tình trạng mất cân đốitrong đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước
Việc phát triển hệ thống giáo dục đào tạo có quan hệ trực tiếp đến tạo việclàm đầy đủ cho người lao động – đang là điểm nóng của các nước trên thê giớihiện nay Theo đó, Nhà nước có biện pháp giúp học sinh định hướng nghềnghiệp từ sớm thông qua các tổ chức xã hội, các phương tiện thông tin đại chúngbên cạnh việc phát triển hệ thống các trường dạy nghề tiêu chuẩn trong đó quantrọng nhất là xây dựng hệ thống đào tạo ở các doanh nghiệp, khuyến khích sự
gắn kết giữa các trường dạy nghề và các công ty Đồng thời tạo bình đẳng về cơ
hội cho tất cả mọi người, giảm thiểu việc bị loại trừ xã hội, quan tâm thiết thựchơn tới phụ nữ và các gia đình; quan trọng hơn nữa là phải tạo dựng được cácthể chế hỗ trợ cần thiết cho mô hình định hướng gia đình này
- Quan tâm xây dựng một xã hội công dân (civil society) trong đó vai tròlãnh đạo của Đảng được thực hiện thông qua sự tham gia trực tiếp của các đảngviên vào bộ máy chính quyền các cấp và vào các tổ chức xã hội các loại Kinhnghiệm phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở hai mô hình trên cho thấyvai trò quan trọng của các tổ chức xã hội Theo đó, phải vừa phát triển kinh tếnâng cao tính cạnh tranh phát huy quyền dân chủ của nhân dân vừa kết hợpđược với vai trò điều tiết của nhà nước phát huy được sức mạnh cộng hưởng của
Trang 27mọi nguồn lực trong phát triển xã hội Đây cũng chính là phương hướng cảicách mô hình kinh tế thị trường xã hội phúc lợi trong những năm trước mắt.
- Chính phủ phải ưu tiên tối cao bảo vệ môi trường ngay từ đầu trong quátrình tăng trưởng kinh tế Qua đó, các hoạt động kinh tế, chính sách thu hút đầu
tư nước ngoài chú trọng hơn đến các vấn đề ô nhiễm môi trường, sẵn sàng nói
“không” với những dự án có công nghệ cũ lạc hậu có hại đến môi trường Cầnthiết phát triển dịch vụ bảo hiểm tài chính môi trường và sớm đưa thuế môitrường vào cuộc sống
VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 Mô hình kinh tế thị trường tự do Hoa Kỳ - đặc trưng – ưu, nhược điểm
và bài học kinh nghiệm
2 Mô hình kinh tế thị trường có điều khiển Nhật Bản - đặc trưng – ưu,nhược điểm và bài học kinh nghiệm
3 3 Mô hình kinh tế thị trường xã hội, phúc lợi của Đức và Thụy Điển đặc trưng – ưu, nhược điểm và bài học kinh nghiệm
-TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đặc trưng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở ViệtNam, Nxb CTQG Hà Nội – 2006
2 Các mô hình kinh tế thị trường trên thế giới Nxb Thông kê Hà Nội – 1994
3 Đỗ Lộc Diệp: Chủ nghĩa tư bản ngày nay: những nét mới từ thực tiễn
Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002,
4 X.Motrernưi: “Sở hữu và đặc điểm phát triển của nó trong các nướcphát triển trên thế giới, Tạp chí Kinh tế Ucraina, Số 4-1994
Trang 28Chuyên đề 2
MÔ HÌNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG CÁC NƯỚC
VÀ VÙNG LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP MỚI (NICs) CHÂU Á
Trước khi nghiên cứu mô hình kinh tế thị trường các nước và vùng lãnhthổ công nghiệp mới châu Á, chúng ta phải nghiên cứu tìm hiểu và trả lời nhữngđược những câu hỏi lớn đặt ra như: Trong lịch sử thế giới có các hệ thống kinh
tế nào ? Hệ thống kinh tế thị trường ra đời trong điều kiện nào ? Kinh tế thịtrường tư bản chủ nghĩa phát triển qua các giai đoạn nào ? Đối với mô hình pháttriển kinh tế thị trường các nước và vùng lãnh thổ công nghiệp mới (NICs) châu
Á, với tính tương đồng của nó, chúng ta có thể tham khảo trong xây dựng môhình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
1 Nước công nghiệp mới (NIC), các nước và vùng lãnh thổ công nghiệp mới (NICs) châu Á
1.1 Nước công nghiệp mới (Newly Industrialized Country - NIC)
Thuật ngữ “ nước công nghiệp mới” bắt đầu được sử dụng ở thập niên 1970.Nước công nghiệp mới là quốc gia mới công nghiệp hóa trên thế giới, tuychưa đạt được trình độ tiến bộ kinh tế xã hội như các nước thuộc thế giới thứnhất, nhưng có sự phát triển vượt trội so với các nước đang phát triển thuộc thếgiới thứ ba với tốc độ tăng trưởng cao (thường là hướng về xuất khẩu)
Quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng là một chỉ số quan trọng để trởthành một nước công nghiệp mới Ở nhiều NIC, đảo lộn xã hội có thể xảy ra đặcbiệt là ở khu vực nông thôn: dân cư nông nghiệp di cư ra các thành thị kiếm việclàm, nơi sự đi lên của lĩnh vực chế tạo cần rất nhiều lao động
Các NIC thường mang đặc điểm chung là:
Quyền dân sự và tự do xã hội được cải thiện Kinh tế chuyển đổi từ nôngnghiệp sang công nghiệp, đặc biệt là lĩnh vực chế tạo Nền kinh tế thị trườngngày càng mở, cho phép tự do thương mại với các nước trên toàn thế giới Cáctập đoàn quốc gia lớn bành trướng hoạt động ra toàn cầu Hấp thu luồng đầu tư
Trang 29tư bản dồi dào từ nước ngoài Lãnh đạo chính trị mang lại ảnh hưởng lớn đến sựthúc đẩy kinh tế phát triển.
1.2 Các nước công nghiệp mới (NICs) châu Á.
Các nước công nghiệp mới châu Á còn gọi là "Bốn con hổ châu Á" hay “Bốncon rồng châu Á” là Hồng Kông (khi đó còn là thuộc địa của Anh), Hàn Quốc,Singapore và Đài Loan nổi lên với sự tăng trưởng ngoạn mục từ thập niên 1960
Bốn nước NIC châu Á giờ đây đã đạt trình độ tương đương các nước pháttriển với tiến trình cởi mở chính trị, GDP trên đầu người cao và chính sách kinh
tế mạnh mẽ, hướng về xuất khẩu "Bốn con hổ châu Á" còn được gọi là cácnước công nghiệp mới thế hệ thứ nhất để phân biệt với các nước công nghiệphóa đi sau
2 Đặc trưng của mô hình kinh tế thị trường các nước và vùng lãnh thổ công nghiệp mới (NICs) châu Á
2.1 Đặc trưng tổng quát
Kết hợp thị trường với sự điều tiết mạnh và “thông minh”của Nhà nước
Có sự khác biệt căn bản so với mô hình phát triển rút ngắn cổ điển ở mức độ sửdụng tư bản nước ngoài và độ mở cửa nền kinh tế Hay còn gọi là mô hình kinh
tế thị trường đặc thù hướng ngoại ( hướng về xuất khẩu)
Khi ngành công nghiệp nào đó của Nhật Bản đang ở pha gia tăng xuấtkhẩu thì các nước Hàn Quốc, Đài Loan, Hong Kong, Singapore nhập khẩu sảnphẩm công nghiệp đó Cùng với thời gian, xuất khẩu của ngành này ở Nhật đạttới đỉnh cao và bắt đầu giảm xuất khẩu cũng là lúc các nước kia đẩy mạnh tự sảnxuất thay thế nhập khẩu Khi các nước kia đẩy mạnh xuất khẩu thì cũng là lúcngành công nghiệp này ở Nhật không còn lợi thế cạnh tranh và bắt đầu kết thúcxuất khẩu Nhưng Nhật Bản lại có ngành công nghiệp khác thay thế làm ngànhxuất khẩu chủ đạo Cứ như vậy từ ngành này sang ngành khác (dệt tới đóng tàu
và ô tô khách, tới hàng điện tử và ô tô cao cấp), từ Nhật Bản sang các nướcNICs rồi sang các nước khác Đây được gọi là mô hình đàn nhạn bay, mà NhậtBản là con nhạn đầu đàn, các nước NICs ở hàng thứ hai, các nước ASEAN phát
Trang 30triển hơn ở hàng thứ ba, các nước khác như Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam ởhàng sau Cứ thế đàn nhạn bay từ ngành này sang ngành khác
Ở góc độ khác, người ta dùng mô hình đàn nhạn bay để miêu tả sự phâncông lao động quốc tế trong khu vực Đông Á Tại một thời điểm nhất định, NhậtBản sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm tiên tiến nhất, các nước NIC châu Ásản xuất và xuất khẩu các sản phẩm trung bình, còn các nước đi sau sản xuất vàxuất khẩu các sản phẩm đơn giản hơn
Nghiên cứu lịch sử cho thấy có các con đường phát triển kinh tế thịtrường khác nhau như: con đường phát triển tuần tự cổ điển, con đường pháttriển rút ngắn cổ điển và con đường phát triển rút ngắn hiện đại Do những đặcthù về điều kiện lịch sử cụ thể như thời gian ra đời, bối cảnh quốc tế và đặc điểm
về chính trị - kinh tế - xã hội, mà các mô hình phát triển kinh tế thị trường cũngrất khác nhau, sự ra đời kinh tế thị trường có những nội dung, yêu cầu cụ thể vàsắc thái riêng Nhưng về nguyên tắc, thời đại ngày nay đã tạo ra cơ hội cho phépkhông nhất thiết phải đi theo con đường phát triển kinh tế thị trường kiểu tuần tự
- cổ điển và dạng tiến hoá - tự nhiên
do hoạt động trong môi trường kinh doanh mở, tính minh bạch tài chính cao, giá
cả ổn định Nhờ đó Singgapore là một trong những nước có GDP bình quân đầungười cao nhất thế giới Thành công trong lĩnh vực điện tử - ngành sản xuất
Trang 31hàng hóa đem bán sang phương Tây của Đài Loan suốt từ những năm 1960 đếnnay cho thấy sự ra đời của hàng loạt công ty sản xuất hàng điện tử (công ty sảnxuất máy notebook, chip, màn hình LCD …) và mở các chuỗi kinh doanh…vìthế đưa Đài Loan thành một đối trọng lớn trong ngành công nghệ thông tin thếgiới Chỉ sau một thế hệ, chính sách kinh tế đề cao vai trò của doanh nhân trongkinh tế thị trường đã đưa một lãnh thổ nghèo trở nên hùng mạnh hơn rất nhiều.
Ở mô hình Hàn Quốc, doanh nghiệp hoạt động hiệu quả cả ở thị trường trongnước và thị trường nước ngoài Hàn Quốc đã chú trọng tái cơ cấu lại các doanhnghiệp lớn, điều chỉnh lại nhân sự, nhấn mạnh phát triển kinh tế tri thức Năm
2011, Hàn Quốc có 8 doanh nghiệp được nằm trong top 50 doanh nghiệp hàngđầu tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chỉ đứng thứ 2 (sau Trung Quốc).Top 50 doanh nghiệp này được chọn lựa từ 1000 doanh nghiệp ở Châu Á, cómức doanh thu hoặc giá trị vốn thị trường ít nhất đạt 3 tỷ USD Tiêu chuẩn đểđánh giá dựa trên hiệu suất tài chính trong vòng 5 năm Đến nay, các tập đoàn lớncủa Hàn Quốc đảm nhiệm vai trò thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Vai trò này đượcthể hiện trong mục tiêu đặt ra cho 30 tập đoàn hàng đầu quốc gia phải đạt mứcđầu tư 101 tỷ USD, tăng 12% so với mức đầu tư của năm 2010 (khoảng 90 tỷUSD), tuyển dụng 1 triệu nhân viên và xuất khẩu 500 tỷ USD Bên cạnh đó, cácdoanh nghiệp dành hơn 23 tỷ USD cho hoạt động nghiên cứu và phát triển nhữngđộng lực tăng trưởng mới Những con số này cho thấy vai trò to lớn của cácdoanh nghiệp Hàn Quốc trong lĩnh vực tạo việc làm 1
Thứ hai, đặc trưng vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế thị trường
Chính phủ các quốc gia và vùng lãnh thổ NIC Châu Á hạn chế sự thamgia vào hoạt động kinh doanh Chính phủ tập trung vào việc thực thi hệ thốngchính sách nhất quán để tạo môi trường cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển
Vì vậy, tỷ trọng của khu vực kinh tế nhà nước luôn rất nhỏ và sự tồn tại của khuvực kinh tế nhà nước không bao giờ dẫn đến lấn át, chèn ép kinh tế tư nhân, mà là
để giúp đỡ kinh tế tư nhân Chính phủ chỉ đầu tư vào những ngành nhiều rủi ro
1 Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 17 tháng 1 năm 2012.
Trang 32hoặc tư nhân chưa đủ tiềm lực về tài chính hoặc kỹ thuật Minh chứng là mô hìnhĐài Loan: phần lớn tài sản tịch thu từ người Nhật sau chiến tranh đều được tổ chứclại thành các công ty thuộc sở hữu nhà nước Sau đó, nhiều công ty có qui mô nhỏ
đã được tư nhân hóa, góp phần chuyển vốn của địa chủ thành vốn công nghiệp
Với tư cách đại diện cho lợi ích quốc gia, chính phủ luôn đi đầu trongnhững lĩnh vực khó khăn phức tạp và sau khi đã vượt qua giai đoạn khởi đầu giankhó, khi doanh nghiệp đã hoạt động tốt, dần dần chính phủ chuyển giao lại cho tưnhân thông qua chương trình tư nhân hóa Bằng chứng là mô hình Hàn Quốc: Đểgiữ đà tăng trưởng kinh tế sau khủng hoảng, Chính phủ tiếp tục nâng cao tỷ trọngngành dịch vụ và ngành chế tạo, cố gắng giảm tỷ trọng ngành nông lâm ngưnghiệp, tiếp tục chú trọng và nâng đỡ một số doanh nghiệp lớn (đóng tàu, hóa dầu,ôtô, điện tử ) hiện đang có sức cạnh tranh và chiếm được thị phần đáng kể trên thếgiới Các doanh nghiệp lớn (Samsung, Hyundai, SK) và một số doanh nghiệp kháctạo ra giá trị tới hơn 60% doanh thu kinh tế được chính phủ ưu tiên phát triển.Chính phủ chọn 17 ngành công nghiệp làm động lực tăng trưởng kinh tế trongtương lai, thuộc ba lĩnh vực chính (công nghệ xanh, công nghiệp công nghệ cao vàdịch vụ có giá trị gia tăng cao) Các ngành công nghiệp này sẽ tạo nền tảng tăngtrưởng kinh tế qua việc mở rộng thị trường, phát triển các công nghệ cơ bản, tạo ragiá trị gia tăng khoảng 600 tỷ USD, hơn 3,5 triệu việc làm và tăng kim ngạch xuấtkhẩu trong các ngành công nghiệp lên 700 triệu USD vào năm 2018.1
Nhằm phát triển cơ sở hạ tầng để tăng việc làm, tạo điều kiện cho ngànhxây dựng cũng như kinh tế địa phương phát triển, chính phủ Hàn Quốc đã nhanhchóng thực hiện “chính sách kinh tế - xã hội mới” với chi phí 38 tỷ USD Ngoài
ra, chính phủ tuyên bố “kế hoạch phát triển kinh tế xã hội xanh” để tạo 96 ngànviệc làm cho đến năm 2012 Hàn Quốc muốn thông qua những kế hoạch nàyvừa là để tạo việc làm, vừa là để nhằm củng cổ các nền tảng cho sự phát triểnsau khủng hoảng.2
Đồng thời chính phủ các quốc gia và vùng lãnh thổ NICS Châu Á rất chú
1 Báo đd.
2 Báo đd
Trang 33trọng việc xây dựng Chính phủ mạnh và hiệu quả; đội ngũ công chức được đàotạo kỹ càng, chuyên nghiệp hóa cao, để thực thi nhiệm vụ; đề xuất và thực thi tốtnhững chính sách thông minh, sáng suốt Do vậy, hoặc kích thích khả năng sángtạo và chủ động của các công ty tư nhân; hoặc bảo vệ quyền lợi chính đáng của
tư nhân trong các cuộc xung đột; hoặc điều hòa tốt lợi ích tư nhân với nhau;hoặc điều hòa được lợi ích tư nhân với lợi ích Chính phủ, lợi ích cục bộ với lợiích toàn cục Để nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp saukhủng hoảng, Chính phủ thực hiện tái cơ cấu doanh nghiệp thông qua các biệnpháp cắt giảm thuế, tăng chi ngân sách và bảo đảm tính thanh khoản; loại bỏnhững công ty làm ăn thua lỗ và hỗ trợ những doanh nghiệp có tiềm năng cũngnhư những công ty vừa và nhỏ Đặc biệt, Chính phủ trợ giúp để những người cóthu nhập thấp bảo đảm cuộc sống trong tình hình kinh tế khó khăn
Chính phủ các NIC châu Á khi nâng đỡ cũng như khi trừng phạt, tất cảđều thực hiện một cách nhất quán, minh bạch trong khuôn khổ luật pháp quốcgia và công ước quốc tế Bằng chứng là khi đầu tư và tiêu dùng cá nhân suygiảm, chính phủ Hàn Quốc đề xuất các giải pháp cải cách thuế sâu rộng (cắtgiảm thuế thu nhập và thuế doanh nghiệp) để thúc đẩy nền kinh tế trong nướcđang gặp khó khăn Giá trị cắt giảm thuế sẽ lên tới 17,8 tỷ USD vào năm 2012.Giải pháp cải cách thuế của chính phủ đã góp phần kích thích kinh tế tăngtrưởng và khôi phục hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp Hàn Quốc 1
Thứ ba, đặc trưng khuyến khích “hướng ngoại” mạnh mẽ
NICs Châu Á tuy có thực hiện sản xuất thay thế nhập khẩu, nhưng chỉtrong thời gian ngắn, không đáng kể Vì vậy, có thể nói rằng chiến lược “hướngngoại“, hướng về xuất khẩu là chiến lược chủ yếu trong đường hướng phát triểncủa mô hình NICs châu Á Chủ trương công nghiệp hóa hướng về xuất khẩuđược thực thi một cách nhất quán theo phương thức: vốn, kỹ thuật, phương phápquản lý hiện đại là của các công ty xuyên quốc gia, còn lao động và nguyên liệu(một phần nào đó) là của nước sở tại và thị trường tiêu thụ là các nước công
1 Báo đd