Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám đã đưa nhân dân Việt Nam từ người dân nô lệ trở thành người dân một nước độc lập, tự mình quyết định vận mệnh lịch sử của mình. Đảng ta từ một đảng hoạt động bất hợp pháp trở thành một đảng nắm chính quyền trong toàn quốc. Song, vừa mới ra đời, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phải đương đầu với những thế lực đế quốc quốc tế và bọn phản động trong nước cấu kết với nhau để hòng tiêu diệt Đảng Cộng sản, phá tan Việt Minh, lật đổ chính quyền cách mạng. Vận mệnh dân tộc như ngàn cân treo sợi tóc. Ngày 25111945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc, xác định: “Cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng. Cuộc cách mạng ấy đang tiếp diễn”... Khẩu hiệu vẫn là “Dân tộc trên hết”, “Tổ quốc trên hết”... “Kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng” 1, tr.190. Trước mắt, nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân ta là củng cố chính quyền cách mạng, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân. Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc và nhiều chỉ thị quan trọng khác của Trung ương Đảng chỉ đạo toàn Đảng, toàn dân ta là củng cố và bảo vệ chính quyền cách mạng. Nhờ có chủ trương đúng đắn và nhiều quyết sách kịp thời và sáng tạo, dũng cảm và sáng suốt, Đảng đã cứu vãn được tình thế, giữ vững chính quyền, tranh thủ từng phút hòa bình để xây dựng lực lượng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.
Trang 1TRƯỜNG CHÍNH TRỊ
*
BÀI THU HOẠCH HẾT HỌC PHẦN Chương trình Trung cấp lý luận chính trị - hành chính
CHỦ ĐỀ: ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ II CỦA ĐẢNG.
Họ tên học viên:
Lớp:……….,……….
Phần:………
, năm 2021
Trang 2Trang
Phần 1 Cơ sở lý luận về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của
1.2 Nội dung chính của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của
Phần 2 Ý nghĩa lịch sử của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II
Phần 3 Kinh nghiệm rút ra từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
II của Đảng (2/1951) Liên hệ với cương vị công tác 6 3.1 Kinh nghiệm rút ra từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II
Trang 3MỞ ĐẦU
Nhằm giải quyết những vấn đề mới mà cách mạng đặt ra, Đại hội đại biểu lần thứ II Đảng Cộng sản Đông Dương được triệu tập Đại hội họp tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, từ ngày 11 đến ngày 19-2-1951
Đến năm 1951, năm thứ sáu của cuộc kháng chiến, thế và lực của chiến tranh nhân dân có sự phát triển vượt bậc Sự ủng hộ về tinh thần, vật chất của Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân
ba nước Đông Dương đẩy kháng chiến mau tới thắng lợi hoàn toàn
Ta đã có những vùng giải phóng rộng lớn, mở được cửa thông thương quốc tế; lực lượng vũ trang có khả năng tiêu diệt bộ phận sinh lực quan trọng của địch Song, thực dân Pháp với sự trợ giúp của đế quốc Mỹ, vẫn nỗ lực tăng cường chiến tranh, gây cho ta nhiều khó khăn, phức tạp
Nhằm giải quyết những vấn đề mới mà cách mạng đặt ra, Đại hội đại biểu lần thứ II Đảng Cộng sản Đông Dương được triệu tập Đại hội họp tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, từ ngày 11 đến ngày 19-2-1951
Dự Đại hội có 158 đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết thay mặt cho trên 76 vạn đảng viên Đại hội diễn ra thành công tốt đẹp có ý nghĩa quan trọng đối với cách mạng nước ta, nhiều nội dung lý luận trong đại hội vẫn còn nguyên
giá trị cho đến ngày hôm nay Do đó, nghiên cứu vấn đề “Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ II của Đảng (2/1951) Ý nghĩa lịch sử” làm đề tài tiểu luận có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
Trang 4NỘI DUNG Phần 1 Cơ sở lý luận về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (2/1951)
1.1 Bối cảnh diễn ra Đại hội
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám đã đưa nhân dân Việt Nam từ người dân nô lệ trở thành người dân một nước độc lập, tự mình quyết định vận mệnh lịch sử của mình Đảng ta từ một đảng hoạt động bất hợp pháp trở thành một đảng nắm chính quyền trong toàn quốc Song, vừa mới ra đời, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phải đương đầu với những thế lực đế quốc quốc tế và bọn phản động trong nước cấu kết với nhau để hòng tiêu diệt Đảng Cộng sản, phá tan Việt Minh, lật đổ chính quyền cách mạng Vận mệnh dân tộc như ngàn cân treo sợi tóc Ngày 25-11-1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ
thị Kháng chiến kiến quốc, xác định: “Cuộc cách mạng Đông Dương lúc này
vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng Cuộc cách mạng ấy đang tiếp diễn”
Khẩu hiệu vẫn là “Dân tộc trên hết”, “Tổ quốc trên hết” “Kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào
chúng” [1, tr.190] Trước mắt, nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân ta là củng cố chính quyền cách mạng, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải
thiện đời sống nhân dân Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc và nhiều chỉ thị quan
trọng khác của Trung ương Đảng chỉ đạo toàn Đảng, toàn dân ta là củng cố và bảo vệ chính quyền cách mạng Nhờ có chủ trương đúng đắn và nhiều quyết sách kịp thời và sáng tạo, dũng cảm và sáng suốt, Đảng đã cứu vãn được tình thế, giữ vững chính quyền, tranh thủ từng phút hòa bình để xây dựng lực lượng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài
Với dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa, thực dân Pháp đã bội ước, khiêu khích và tấn công ta về quân sự, lần lượt đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn và đến ngày 18-12-1946, chúng đã gửi tối hậu thư cho Chính phủ ta đòi tước khí giới, đòi để cho chúng kiểm soát Thủ đô Hà Nội
Trong hai ngày 18 và 19-12-1946, tại Vạn Phúc, Hà Đông, Ban Thường
vụ Trung ương Đảng họp khẩn cấp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trang 5đã hạ quyết tâm chiến lược tiến hành kháng chiến trên quy mô cả nước và vạch
ra những quan điểm cơ bản về đường lối kháng chiến
Đêm 19-12-1946, cả nước đã nhất tề đứng lên chiến đấu với tinh thần quyết tử và một niềm tin tất thắng theo lời kêu gọi kháng chiến của Hồ Chí Minh: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!” [3, tr.165]
Kể từ Đại hội I đến Đại hội II của Đảng đã trải qua hơn 15 năm với bao biến đổi đã diễn ra trên thế giới và Đông Dương Cách mạng và kháng chiến của nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia đã giành được những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược và đang tiếp tục phát triển mạnh mẽ Thực tiễn phong phú của cách mạng đòi hỏi Đảng phải tổng kết, khẳng định và bổ sung hoàn chỉnh về đường lối Từ năm 1930 đến năm 1951, Đảng Cộng sản Đông Dương là người
tổ chức và lãnh đạo cách mạng của cả ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia Tình hình xã hội, kinh tế, chính trị của mỗi nước có những thay đổi khác nhau Cách mạng và kháng chiến của mỗi nước cũng có những bước phát triển riêng biệt Tình hình đó đòi hỏi mỗi nước cần phải và có thể thành lập một chính đảng cách mạng theo chủ nghĩa Mác - Lênin, trực tiếp đảm nhiệm sứ mệnh lịch sử trước dân tộc mình và chủ động góp phần vào sự nghiệp cách mạng chung của nhân dân ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương
Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng được triệu tập nhằm đáp ứng những đòi hỏi bức thiết đó
1.2 Nội dung chính của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (2/1951)
Đại hội họp tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
trong 19 ngày Những ngày họp trù bị, Đại hội đã thảo luận, bổ sung Dự thảo
Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi
thư cho Đại hội trù bị, chỉ rõ: “Đại hội ta là Đại hội kháng chiến Nhiệm vụ chính của Đại hội ta là đẩy kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và xây dựng Đảng Lao động Việt Nam Vậy việc thảo luận cần đặt trọng tâm vào hai việc đó” [2, tr.310] Đại hội họp công khai từ ngày 11 đến ngày 19-2-1951 Dự Đại
Trang 6hội có 158 đại biểu chính thức, 53 đại biểu dự khuyết thay mặt cho hơn 766.000 đảng viên trong toàn Đảng Đến dự Đại hội còn có đại biểu của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Thái Lan
Sau Diễn văn khai mạc của đồng chí Tôn Đức Thắng, Đại hội đã nghiên cứu và thảo luận Báo cáo chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Báo cáo Bàn về
cách mạng Việt Nam của đồng chí Trường Chinh, Báo cáo về tổ chức và Điều lệ Đảng của đồng chí Lê Văn Lương và các báo cáo bổ sung về Mặt trận dân tộc
thống nhất, chính quyền dân chủ nhân dân, quân đội nhân dân, kinh tế tài chính và về văn nghệ Ngoài ra còn một số tham luận khác
Trong mười ngày làm việc, Đại hội đã nghiên cứu, thảo luận Báo cáo chính trị, Báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam, Báo cáo về tổ chức và Điều lệ của Đảng, các báo cáo bổ sung về Mặt trận dân tộc thống nhất, chính quyền dân chủ nhân dân, quân đội nhân dân, kinh tế tài chính, văn nghệ nhân dân
Báo cáo chính trị do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày (chiều ngày 11-2) là
một văn kiện có giá trị thực tiễn và lý luận to lớn Báo cáo tổng kết những kinh nghiệm phong phú của Đảng trong hơn 20 năm lãnh đạo cách mạng, vạch ra những phương hướng, nhiệm vụ đưa cuộc kháng chiến thắng lợi hoàn toàn Báo cáo khẳng định đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài vì độc lập thống nhất, dân chủ của Đảng là đúng đắn, cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ nhất định thắng lợi Báo cáo nêu hai nhiệm vụ chính của Đảng lúc này là:
1 Đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn
2 Tổ chức Đảng Lao động Việt Nam
Đưa sự nghiệp kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn là nhiệm vụ cấp bách Các nhiệm vụ khác đều nhằm phục vụ nhiệm vụ cấp bách đó Báo cáo chỉ rõ, để đưa kháng chiến đến thắng lợi, phải đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang và các tổ chức quần chúng đẩy mạnh thi đua yêu nước, thi hành chính sách ruộng đất ở vùng tự do, bồi dưỡng lực lượng kháng chiến, thành lập Mặt trận thống nhất Việt - Lào - Campuchia, đoàn kết quốc tế
Trang 7Về tổ chức Đảng, Báo cáo khẳng định: “Chúng ta phải có một Đảng công khai,
tổ chức hợp với tình hình thế giới và tình hình trong nước để lãnh đạo toàn dân
đấu tranh cho đến thắng lợi, Đảng đó lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam”.
Báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam do đồng chí Trường Chinh trình bày
(ngày 12-2) phân tích một cách hệ thống và sâu sắc toàn bộ đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến dần lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, về các chính sách của Đảng và về Đảng Lao động Việt Nam Báo cáo phân tích xã hội Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám và trong kháng chiến chống Pháp, nêu
rõ xã hội Việt Nam chứa chất nhiều mâu thuẫn, trong đó có hai mâu thuẫn cơ bản Đó là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc và tay sai; mâu thuẫn giữa nhân dân, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến Mâu thuẫn chính là mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam với đế quốc xâm lược và tay sai
Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, trừ diệt bọn phản quốc, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, thống nhất, xóa bỏ di tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng, tiến lên chủ nghĩa xã hội Nhiệm vụ phản đế và phản phong có mối quan hệ khăng khít, nhưng trọng tâm của cách mạng giai đoạn hiện tại là giải phóng dân tộc
Trên cơ sở nhiệm vụ cách mạng, thái độ chính trị của các giai cấp trong
xã hội, Báo cáo nêu rõ sự sắp xếp lực lượng cách mạng như sau: lực lượng cách mạng Việt Nam là giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, giai cấp tiểu tư sản và
giai cấp tư sản dân tộc, chủ yếu là công nhân và nông dân Lực lượng lãnh đạo
cách mạng Việt Nam là giai cấp công nhân Báo cáo chỉ rõ cách mạng Việt Nam
là một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
Căn cứ tình hình, nhiệm vụ, tính chất cách mạng, Báo cáo vạch ra 12 chính sách của Đảng trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Toàn bộ đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội của Đảng
được Đại hội thảo luận và đúc kết một cách khái quát trong Chính cương Đảng
Lao động Việt Nam.
Trang 8Đại hội thảo luận và nhất trí thông qua Điều lệ mới của Đảng Lao động Việt Nam Căn cứ trách nhiệm mới của Đảng là lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo chiến tranh cách mạng, số lượng đảng viên đã phát triển, Điều lệ của Đảng Lao động Việt Nam có nhiều điểm sửa đổi so với Điều lệ năm 1935 Điều lệ mới quy định thời hạn dự bị của đảng viên xuất thân công nhân từ 2 tháng lên 6 tháng, của đảng viên xuất thân trung nông và tiểu tư sản từ 4 tháng lên 1 năm
Về nhiệm vụ đảng viên, ngoài nhiệm vụ số 1 là thực hiện nghị quyết, chính sách của Đảng, Điều lệ mới bổ sung thêm nhiệm vụ hết lòng phục vụ quần chúng, học hỏi, giáo dục quần chúng; kiên quyết đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc và hòa bình; gương mẫu trong mọi công tác cách mạng Báo cáo về tổ chức và Điều lệ Đảng phân tích kỹ vấn đề mở rộng dân chủ, tăng cường tập trung và phát triển phê bình, tự phê bình trong Đảng
Đại hội quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai lấy tên là Đảng Lao
động Việt Nam, thông qua Chính cương Điều lệ và Tuyên ngôn của Đảng Đại
hội quyết định sẽ thành lập những tổ chức cách mạng phù hợp hoàn cảnh Lào và Campuchia Đảng Lao động Việt Nam có nghĩa vụ giúp đỡ các tổ chức cách mạng Lào và Campuchia lãnh đạo kháng chiến của hai dân tộc ấy giành thắng lợi cuối cùng
Ban Chấp hành Trung ương mới của Đảng do Đại hội bầu ra gồm 29 đồng chí Đồng chí Hồ Chí Minh được bầu giữ chức Chủ tịch Đảng Bộ Chính trị do Trung ương bầu gồm 7 ủy viên chính thức: đồng chí Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Quốc Việt, một ủy viên dự khuyết là đồng chí Lê Văn Lương Đồng chí Trường Chinh được bầu lại làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Phần 2 Ý nghĩa lịch sử của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (2/1951)
Dưới ánh sáng của Đại hội lần thứ II và các nghị quyết Trung ương tiếp theo, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân tiến hành giải quyết các nhiệm vụ kinh tế, tài chính, sản xuất, đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, kết thúc bằng
chiến dịch lịch sử Điện Biên phủ “Lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu”,
Trang 9chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp và đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Thắng lợi đó là minh chứng hùng hồn về tính đúng đắn, sáng tạo
của đường lối cách mạng Việt Nam nói chung, của Chính cương, đường lối cách
mạng và đường lối kháng chiến do Đại hội lần thứ II của Đảng đề ra
Trong lịch sử đấu tranh anh dũng và vẻ vang của Đảng ta, Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng là mốc son quan trọng đánh dấu sự trưởng thành của Đảng ta về mọi mặt Đại hội đã tổng kết một bước quan trọng lý luận và thực
tiễn cách mạng Việt Nam, là sự tiếp tục bổ sung và phát triển Cương lĩnh cách
mạng đầu tiên của Đảng, đồng thời chuẩn bị mọi điều kiện để đưa cuộc kháng
chiến đến thắng lợi hoàn toàn, đặt cơ sở cho việc hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc và kiến thiết nước nhà
Từ Đại hội lần thứ II đến Đại hội lần thứ XIII của Đảng là khoảng thời gian
70 năm Bảy mươi năm ấy, “ý Đảng lòng dân đã thành một khối” [2, tr.319], sức mạnh “vô địch” của dân tộc Việt Nam đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đồng thời khẳng định vị trí, vai trò và tầm quan trọng của Việt Nam trong cộng đồng thế giới Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định chân lý: Đảng ta, nhân dân ta sẽ mãi mãi đi theo con đường cách mạng mà Đảng và Bác đã chọn: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” quyết tâm chung sức đồng lòng thực hiện mục
tiêu ”Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Phần 3 Kinh nghiệm rút ra từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (2/1951) Liên hệ với cương vị công tác (Văn thư, thủ quỹ UBND
xã Minh Thành)
3.1 Kinh nghiệm rút ra từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (2/1951)
Một là, về công tác chuẩn bị Đại hội
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I họp ở Ma Cao (tháng 3-1935) đến Đại hội II của Đảng (tháng 2-1951) cách nhau 15 năm 8 tháng, là khoảng thời gian
Trang 10dài nhất so với thời gian giữa các kỳ Đại hội Trong thời gian đó, tình hình thế giới và Đông Dương có nhiều chuyển quan trọng, đặt ra những yêu cầu cấp bách đòi hỏi Đảng phải giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn phù hợp với thời cuộc; phải bổ sung và hoàn chỉnh đường lối cách mạng dân tộc dân chủ, tiến lên chủ nghĩa xã hội; kịp thời hoạch định những chủ trương để đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi; đặc biệt là, Đảng phải ra công khai lãnh đạo cách mạng với
tư cách là một Đảng cầm quyền
Để làm tròn nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang đó, Đảng đứng đầu là Chủ tịch
Hồ Chí Minh, đã có một quá trình chuẩn bị công phu, kỹ lưỡng, chặt chẽ, để lại những dấu ấn và bài học quý Ngay sau chiến thắng Việt Bắc, Hội nghị Trung ương mở rộng họp từ ngày 15 đến ngày 17-1-1948 đã đặt vấn đề chuẩn bị cho Đại hội Đảng lần thứ II Tiếp đó, Hội nghị cán bộ lần thứ 6 (tháng 1-1949) nêu
rõ việc chuẩn bị Đại hội lần thứ II của Đảng với hai nội dung quan trọng: “một là, Trung ương chuẩn bị đề án cho kịp thời, có đề án riêng cho các chi bộ; hai là, các địa phương phải gửi báo cáo tình hình mọi mặt về Trung ương trước tháng 3-1949” [1, tr.256] Trong Báo cáo của Hội nghị, Tổng Bí thư Trường Chinh khẳng định công việc chuẩn bị Đại hội II của Đảng là một trong những nhiêm vụ lớn và không thể chậm trễ Đại hội có mục đích: “Sửa đổi chính cương, Điều lệ Đảng Đúc kinh nghiệm toàn quốc về mọi mặt quân sự, dân vận, Đảng và định
rõ nhiệm vụ của Đảng ta mọi mặt trong giai đoạn kháng chiến hiện tại”
Bế mạc Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ việc trước hết phải làm là
“chỉnh đốn nội bộ Đảng Phải nêu ra những việc chính, nắm lấy nó mà làm Đảng ví như cái máy phát điện, các công việc trên ví như những ngọn đèn, máy mạnh thì đèn sáng” [4, tr.189]
Dấu ấn đặc biệt trong quá trình chuẩn bị Đại hội II là Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Thư gửi Đại hội trù bị với những ý kiến chỉ đạo ngắn gọn, súc tích không chỉ phản ánh tư tưởng chủ đạo và nội dung chính của Đại hội là “…Đại hội kháng chiến Nhiệm vụ chính của Đại hội ta là đẩy kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và xây dựng Đảng lao động Việt Nam”, mà còn chứng tỏ Người rất quan tâm đến thành công của Đại hội thông qua gợi ý cách thảo luận Người