1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn THẠC sĩ quản lý di tích và lễ hội đền trần thương, huyện lý nhân hà nam

107 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lý Di Tích Và Lễ Hội Đền Trần Thương, Huyện Lý Nhân - Hà Nam
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Quản Lý Văn Hóa
Thể loại luận văn
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 129,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn hóa là tổng thể các hệ thống giá trị, bao gồm các mặt vật chất và tinh thần của xã hội. UNESSCO đã khẳng định: Văn hóa là cội nguồn trực tiếp của sự phát triển xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội.Trong xu thế toàn cầu hóa như hiện nay thì di sản văn hóa của nước ta có nhiều cơ hội để quảng bá và phát triển trong đó di tích lịch sử có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc là tài sản vô giá của toàn dân tộc, là bộ phận quan trọng hợp thành nền văn hóa Việt Nam được lưu giữ trường tồn từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ở đó thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc, các sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng diễn ra tại di tích có tác dụng giáo dục lòng tự hào dân tộc, lòng yêu quê hương đất nước.Và việc bảo vệ di tích ngày càng có ý nghĩa lớn lao hơn nữa trong việc tìm về cội nguồn của dân tộc, từ đó góp phần khai thác, bảo tồn, phát huy những tinh hoa văn hóa truyền thống của dân tộc và lấy đó làm nền tảng để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

Trang 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

VH,TT&DL Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Văn hóa là tổng thể các hệ thống giá trị, bao gồm các mặt vật chất vàtinh thần của xã hội UNESSCO đã khẳng định: Văn hóa là cội nguồn trực tiếpcủa sự phát triển xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội

Trong xu thế toàn cầu hóa như hiện nay thì di sản văn hóa của nước ta

có nhiều cơ hội để quảng bá và phát triển trong đó di tích lịch sử có vai trò hếtsức quan trọng trong đời sống xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc là tài sản vôgiá của toàn dân tộc, là bộ phận quan trọng hợp thành nền văn hóa Việt Namđược lưu giữ trường tồn từ thế hệ này sang thế hệ khác Ở đó thể hiện bản sắcvăn hóa dân tộc, các sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng diễn ra tại di tích có tácdụng giáo dục lòng tự hào dân tộc, lòng yêu quê hương đất nước

Và việc bảo vệ di tích ngày càng có ý nghĩa lớn lao hơn nữa trong việctìm về cội nguồn của dân tộc, từ đó góp phần khai thác, bảo tồn, phát huynhững tinh hoa văn hóa truyền thống của dân tộc và lấy đó làm nền tảng đểxây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

Tuy nhiên, hiện nay những Di tích lịch sử văn hóa luôn đứng trướcnhững nguy cơ bị hủy hoại do sự tác động của thời gian, thiên tai và nhữnghoạt động thiếu ý thức của con người…làm hao mòn, thất thoát tài sản vănhóa Việt Nam

Do đó những vấn đề bảo vệ di sản nói chung và quản lý di tích lịch sửvăn hóa riêng đang được đặt ra hết sức cần thiết Từ thực tiến quản lý trongnhiều năm vừa qua, mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm trong việcxây dựng cán bộ quản lý, chú trọng trong công tác bảo tồn hệ thống di sản vănhóa của dân tộc Tuy nhiên, do điều kiện thực tế còn nhiều bất cập, đội ngũ

Trang 3

nhân viên quản lý chưa nhiều, trình độ chuyên môn chưa cao, hơn nữa một bộphận nhỏ nhân dân chưa ý thức rõ tầm quan trọng của di tích văn hóa trongđời sống xã hội đã làm cho các di tích bị xuống cấp một cách nhanh chóng Vìvậy việc nghiên cứu, tìm hiểu về công tác quản lý hệ thống các di sản càngcần thiết hơn nữa để có những biện pháp hợp lý, kịp thời nhằm bảo lưu tốtnhững giá trị vốn có của dân tộc

Hà Nam là một trong những tỉnh chứa đựng khá nhiều những di tíchlịch sử văn hóa nổi tiếng, ở đây đã phát hiện được 1269 di tích văn hóa cácloại Huyện Lý Nhân là một trong 6 đơn vị hành chính của tỉnh, tại đây có 16

di tích lịch sử - văn hóa - kiến trúc - nghệ thuật đã được công nhận cấp tỉnh vàcấp quốc gia, tiêu biểu như: đình Văn Xá (xã Đức Lý), đình Vĩnh Trụ, đìnhThọ Chương (xã Đạo Lý) đền Bà Vũ (xã Chân Lý)…Đặc biệt đền TrầnThương thuộc địa phận xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân, là một di tích lịch sửvăn hóa tiêu biểu, là nơi hội tụ những giá trị văn hóa, lịch sử, nghệ thuật tâmlinh vượt trội, đã được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóa năm 1989

và đón nhận bằng xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt năm 2016 Đền TrầnThương là công trình kiến trúc đẹp và thiêng liêng song di tích cũng đang phảiđương đầu với rất nhiều thách thức, các giá trị văn hóa của di tích đang cónguy cơ bị thương mại hóa, trở thành một trong những công cụ cho hoạt độngkinh tế

Nhận thấy vấn đề trên là một vấn đề cần được quan tâm, tìm hiểu đánh giá đúng thực trạng đang diễn ra tại di tích và thấy mình phải có trách nhiệmđóng góp một phần nhỏ bé vào sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị di sảnvăn hóa của địa phương nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung, mặt

Trang 4

tài: “Quản lý di tích và lễ hội đền Trần Thương, huyện Lý Nhân- Hà Nam”

làm đề tài luận văn tốt nghiệp Cao học chuyên ngành Quản lý văn hóa củamình

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở khảo sát, đánh giá thực trạng của việc quản lý khu di tích và

lễ hội đền Trần Thương - huyện Lý Nhân - Hà Nam, luận văn chỉ rõ nguyênnhân và đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý khu

di tích và lễ hội này trong giai đoạn hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài chính là khu di tích và lễ hội đền TrầnThương huyện Lý Nhân - tỉnh Hà Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về thực trạng quản lý khu di tích và lễ hộiđền Trần Thương - huyện Lý Nhân - tỉnh Hà Nam trong giai đoạn hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp logic và lịch sử, phân tích

và tổng hợp đồng thời chú ý các phương pháp:

Phương pháp nghiên cứu liên ngành trong văn hóa học

Phương pháp khảo sát, điền dã thực địa, sưu tầm tài liệu

Trang 5

khái quát thiên về mô tả lễ hội chưa đi sâu tìm hiểu những gái trị to lớn của nóđối với đời sống xã hội.

Cuốn “Địa chí Hà Nam” (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005), đã

khảo tả về khu di tích và nhân vật được thờ

Cuốn “Hà Nam di tích và thắng cảnh”, Sở văn hóa thông tin Hà Nam,

(2003), đã giới thiệu cho bạn đọc những nét khái quát về kiến trúc đền, cókèm theo ảnh minh họa

Tác giả Mai Khánh có nhiều bài viết về giá trị lịch sử và văn hóa của

đền như: Đền Trần Thương bóng dáng Phủ Đệ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, Đền Trần Thương - lịch sử lễ hội.

Ban quản lý khu di tích đã lưu trữ được 2 cuốn VCD liên quan đến hoạt

động của đền như: Di tích lịch sử và lễ rước nước, lễ tế cá.

6 Đóng góp của luận văn

Phân tích có hệ thống thực trạng hoạt động, quản lý khu di tích và lễ hộiđền Trần Thương Từ đó tìm ra những nguyên nhân cơ bản dẫn đến những tồntại và hạn chế trong công tác quản lý khu di tích và lễ hội đền Trần Thươngtrong giai đoạn từ năm 2000 cho đến nay

Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động và quản lý, đề tài đưa ra hệthống những giải pháp mang tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng quản lýkhu di tích và lễ hội đền Trần Thương - Lý Nhân - Hà Nam gắn với phát triển

du lịch

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn gồm 3 chương:

Trang 6

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý di tích và lễ hội đền TrầnTrương - huyện Lý Nhân - tỉnh Hà Nam

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích và lễ hội đềnTrần Thương

Trang 7

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH

Ở LỄ HỘI ĐỀN TRẦN THƯƠNG, HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM 1.1 Những vấn đề lý luận chung về quản lý di tích lịch sử - văn hóa

1.1.1 Các khái niệm cơ bản

Khái niệm trong Hiến chương quốc tế: Trong Hiến chương Venice Italia năm 1964 di tích bao gồm “những công trình xây dựng riêng lẻ, nhữngkhu di tích ở đô thị hay ở nông thôn, là bằng chứng của một nền văn minhriêng biệt, của một sự tiến hóa có ý nghĩa hay là một biến cố về lịch sử” [24,tr.390]

-Nghị định số 98/2010/NĐ - CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chínhphủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửađổi bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa quy định tại Điều 11 nêu rõ:

Di tích là các di tích lịch sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm danhnhân), di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ, danh lam thắng cảnh” [39,tr.78]

Di tích bao gồm những bộ phận cấu thành: môi trường, cảnh quan thiên

Trang 8

giá trị văn hóa tinh thần, hay còn gọi là văn hóa phi vật thể gắn với công trình,địa điểm đó.

1.1.1.2 Khái niệm di tích lịch sử-văn hóa

Di tích lịch sử văn hóa là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóadân tộc Di tích là những gì còn lại qua thời gian Những di tích lịch sử vănhóa là những nguồn sử liệu trực tiếp, cho những thông tin quan trọng để khôiphục các trang sử hùng tráng của dân tộc Đó là những tài sản quý giá mà chaông ta đã để lại cho hậu thế, qua di tích lịch sử văn hóa, ta hiểu sâu sắc hơn vềbản sắc văn hóa dân tộc

Di tích lịch sử văn hóa là dấu tích, vết tích còn lại Mỗi nước cũng đưa

ra những khái niệm về di tích lịch sử văn hóa của dân tộc mình Điều 1, Hiếnchương Vernice quy định: “Di tích lịch sử văn hóa bao gồm những công trìnhxây dựng đơn lẻ, những khu di tích ở đô thị hay nông thôn, là bằng chứng củamột nề văn minh riêng biệt, của một sự tiến hóa có ý nghĩa hay một biến cố vềlịch sử” [24, tr.12]

Ở Việt Nam cũng có nhiều khái niệm quy định về Di tích lịch sử vănhóa, thông thường nhất theo từ điển Bách Khoa thì: “Di tích là các loại dấu vếtcủa quá khứ, là đối tượng nghiên cứu của khảo cổ học, sử học… Di tích là disản văn hóa - lịch sử được pháp luật bảo vệ, không ai được tùy tiện dịchchuyển, thay đổi, phá hủy” [27, tr.667]

Luật Di sản văn hóa do Quốc hội nước CHXH chủ nghĩa Việt Nam banhành năm 2001 và sửa đổi, bổ sung Luật Di sản văn hóa 2009 quy định:

“Di tích lịch sử văn hóa là những công trình xây dựng địa điểm và các di vật,

cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa,khoa học”[33, tr.13] Trong đó, Danh lam thắng cảnh được hiểu “là cảnh quanthiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công

Trang 9

trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ khoa học” Cổ vật được hiểu “là hiệnvật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từmột trăm năm tuổi trở lên” Bảo vật quốc gia được hiểu “là hiện vật được lưutruyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, vănhóa, khoa học”.

Như vậy có nhiều khái niệm khác nhau về di tích lịch sử văn hóa,nhưng các khái niệm đó đều có một điểm chung đó là: di tích lịch sử văn hóa

là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó có chứa đựng cácgiá trị điển hình của lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân sáng tạo ra trong lịch sử

để lại [27, tr.17]

Theo luật Di sản văn hóa, di tích được phân loại như sau: Loại hình ditích lịch sử; Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật; Loại hình di tích khảo cổhọc; Loại hình di tích danh lam thắng cảnh

1.1.1.3 Khái niệm di tích quốc gia đặc biệt

Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặtđất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử Ở Việt Nam, một di tích khi đủ cácđiều kiện sẽ được công nhận theo thứ tự: di tích cấp tỉnh, di tích cấp quốc gia

và di tích quốc gia đặc biệt

Di tích quốc gia đặc biệt là những di tích Việt Nam có giá trị đặc biệttiêu biểu của quốc gia Di tích quốc gia đặc biệt do Thủ tướng Chínhphủ quyết định xếp hạng trên cơ sở lựa chọn các di tích quan trọng đãđược Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích quốc gia, lần xếphạng đầu tiên là vào năm 2009

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 29 Luật Di sản văn hóa 2001 được sửa

Trang 10

văn hoá, danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt (di tích quốc gia đặc biệt) là ditích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia, bao gồm:

Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện đánh dấu bước chuyểnbiến đặc biệt quan trọng của lịch sử dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc,danh nhân tiêu biểu có ảnh hưởng to lớn đối với tiến trình lịch sử của dân tộc;

Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc

đô thị và địa điểm cư trú có giá trị đặc biệt đánh dấu các giai đoạn phát triểnkiến trúc, nghệ thuật Việt Nam;

Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triểnvăn hóa khảo cổ quan trọng của Việt Nam và thế giới;

Cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnhquan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị đặc biệt củaquốc gia hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị về địa chất, địa mạo, địa lý, đadạng sinh học và hệ sinh thái đặc thù nổi tiếng của Việt Nam và thế giới

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 30 Luật Di sản văn hóa 2001 được sửađổi bởi Khoản 11 Điều 1 Luật di sản văn hóa sửa đổi 2009 thì Thủ tướngChính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, cấp bằng xếp hạng ditích quốc gia đặc biệt đối với các di tích đáp ứng các tiêu chí sau đây:

Đối với di tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây:Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểucủa quốc gia hoặc của địa phương;

Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anhhùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự pháttriển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử;

Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu;

Trang 11

Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc

đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn pháttriển kiến trúc, nghệ thuật

Đối với danh lam thắng cảnh phải có một trong các tiêu chí sau đây:Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quanthiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu;

Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đadạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng nhữngdấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của trái đất

1.1.1.4 Khái niệm quản lý

Quản lý là một cuộc thử nghiệm gắt gao trong cuộc đời mỗi cá nhân, vàđiều đó sẽ mài giũa họ trở thành các nhà lãnh đạo Quản lý là một hoạt độngthiết yếu đảm bảo sự phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt đến mục tiêu

tổ chức nhất định Quản lý là một nghệ thuật khiến công việc được thực hiệnthông qua người khác Theo giáo trình “Quản lý hành chính nhà nước” củaHọc viện Hành chính Quốc gia ghi rõ: “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điềukhiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng pháttriển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng ý chí của ngườiquản lý” [24, tr.127]

Trong đời sống xã hội, hoạt động quản lý bao gồm nhiều phương diệnnhu cầu, đòi hỏi nhiều lĩnh vực hoạt động của con người để đáp ứng nhu cầu

đó Mỗi lĩnh vực hoạt động này đều đặt dưới sự chỉ huy của một cơ chế quản

lý xã hội Trước đây đã có nhiều học giả, nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm vềquản lý, tuy nhiên ở một góc độ nào vấn đề quản lý có hai vấn đề cơ bản sau:

Trang 12

làm cho những hoạt động hoàn thành với hiệu quả cao, bằng và thông quanhững người khác.

Từ những quan điểm trên, có thể hiểu: Quản lý là quá trình tác động

có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu nhất định thông qua hệ thống luật pháp và các quy định có tính pháp

lý Ngoài ra, quản lý được hiểu: Là quá trình hoàn thành công việc thông qua con người và làm việc với con người Đó là cách thức tổ chức, bố trí nhân sự, lãnh đạo và kiểm soát công việc và những nỗ lực của con người nhằm đạt được những mục tiêu đặt ra.

Quản lý là một hoạt động hết sức cần thiết trong bối cảnh xã hội hiệnnay, nhất là ở lĩnh vực DSVH nói chung và DT LSVH nói riêng Để bảo tồn

và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa

1.1.1.5 Khái niệm quản lý di tích lịch sử - văn hóa

Theo A.A.Radugin, quản lý văn hóa là: Sự tác động chỉ huy và quản lýđối với hoạt động kinh tế trong văn hóa, trong điều kiện nhà nước là chủ thể.Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng việc tham gia này là cần thiết, nhưngvấn đề ở chỗ mức độ và hình thức tham gia như thế nào để đảm bảo mối cânbằng giữa việc lãnh đạo của nhà nước với việc tự quản của đơn vị văn hóatrong xã hội và hoàn cảnh lịch sử cụ thể [59, tr.374-375]

Theo một số tác giả quản lý di sản văn hóa thực chất là tên gọi thựchành trong quản lý văn hóa Nó là một nhánh của quản lý nguồn tài nguyênvăn hóa như bảo tàng học, khảo cổ học, di tích và kiến trúc nghệ thuật Trọngtâm quản lý là nhận diện, phân loại, đánh giá các giá trị đặc trưng của di sảnvăn hóa Đồng thời, phân tích, đánh giá, cũng như đề xuất về cơ chế, chínhsách bảo tồn các giá trị di sản văn hóa Thực hiện cơ chế giám sát trong quátrình thực hiện bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa

Trang 13

Trong các hoạt động quản lý di sản văn hóa, nhà quản lý thường trútrọng phát triển các nguồn lực về con người và tài chính để đầu tư vào bảo tồn,tôn tạo và phục hồi đối với di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trước các mối

đe dọa: Phát triển đô thị, phát triển nông nghiệp quy mô lớn, hoạt động khaithác khoáng sản, cướp bóc, thiên tai và sự phát triển không bền vững Mặtkhác, chính phủ và các nhà quản lý cần có trách nhiệm thông tin cho ngườidân hiểu biết và ý thức được những giá trị, tiềm năng của di sản đối với sựphát triển kinh tế xã hội, mà trong đó du lịch là một khía cạnh quan trọng sẽđóng góp một phần thu nhập đáng kể hỗ trợ thường xuyên cho công tác quản

lý di sản

Từ các khái niệm trên, theo tác giả quản lý di tích lịch sử - văn hóa là sự

quản lý của nhà nước đối với toàn bộ di tích lịch sử - văn hóa của quốc gia

bằng quyền lực của Nhà nước thông qua Hiến pháp, pháp luật và cơ chế chính

sách, nhằm bảo vệ, giữ gìn và làm cho các giá trị của các di tích lịch sử - văn

hóa được phát huy theo chiều hướng tích cực

1.1.2 Nội dung quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa

1.1.2.1 Quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa

Quản lý văn hóa có thể tạm hiểu là một dạng quản lý nhà nước đối, vớilĩnh vực văn hóa, gắn với chức năng vai trò của nhà nước đối với lĩnh vực vănhóa Quản lý văn hóa là một khái niệm khá rộng, mà cho tới nay rất ít nhà trithức, các nhà nghiên cứu cho ra khái niệm về quản lý văn hóa là gì Đây làmột thuật ngữ mang nội dung bao trùm rộng tới cả hai lĩnh vực mà đối tượngquản lý và quản lý về văn hóa vật chất, quản lý về văn hóa tinh thần trong đờisống sinh hoạt con người Từ đó ta có thể phân biệt rõ ràng giữa khái niệm

Trang 14

Các hoạt động văn hóa tất yếu phải có sự quản lý của nhà nước Cuộcđấu tranh trên lĩnh vực văn hóa bao giờ cũng thể hiện tập trung nhất so vớicuộc đấu tranh về chính trị, tư tưởng và kinh tế Hoạt động văn hóa là mộthoạt động sáng tạo, hoạt động tư tưởng và hoạt động kinh tế Vì thế quản lývăn hóa là hoạt động xã hội mang tính đặc thù Quản lý nhà nước trên lĩnh vựcvăn hóa là hoạt động mang tính tất yếu khách quan Việc quản lý văn hóađược thực hiện bằng hệ thống luật pháp và các chính sách liên quan đến sựphát triển văn hóa Nội dung, phương thức cách thức, biện pháp để quản lývăn hóa cũng có sự thay đổi, bổ sung, nhằm đáp ứng yêu cấu của sự phát triểntùy theo mỗi quốc gia và truyền thống văn hóa của mỗi nước, mà có nhữngcách thức quản lý văn hóa khác nhau cho phù hợp với sự phát triển.

Quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa là một dạng hoạt động có đặcthù riêng biệt, vì hoạt động văn hóa là một hoạt động sáng tạo, có thể tạo racác sản phẩm văn hóa mang giá trị lưu truyền từ đời này sang đời khác Hoạtđộng văn hóa là hoạt động tư tưởng tinh thần có khả năng làm cho xã hội tốthơn hoặc xấu đi trong quá trình phát triển Hoạt động văn hóa góp phần làmthúc đẩy các hoạt động kinh tế, là động lực cho sự phát triển kinh tế Quản lývăn hóa không những thể hiện trong từng lĩnh vực cụ thể của đời sống vănhóa, mà còn thể hiện ở công tác quản lý nhà nước về văn hóa ở các cấp lãnhđạo, từ vĩ mô đến các cấp đơn vị cơ sở Ở nước ta, quản lý nhà nước về vănhóa được chia làm hai dạng quản lý: Quản lý nhà nước và quản lý sự nghiệpđối với các hoạt động văn hóa

Thực tế ở nước ta cho thấy, quản lý DSVH là quá trình xuyên suốttrong đời sống xã hội ở tất các các cấp độ, các địa phương Công tác này giúpcho đời sống văn hóa của xã hội có được nền tảng ổn định bền vững để tồn tại

và phát triển Di sản văn hóa là tài sản của quá khứ để lại, lưu giữ dấu ấn thời

Trang 15

gian nhưng cũng trở thành đối tượng bị thời gian tàn phá cho nên chúng ta cầnphải có những biện pháp bảo tồn thích hợp để có thể gìn giữ lâu dài Đồngthời phải làm cho các di sản đến từ quá khứ phải trở thành một hợp phần quantrọng của đời sống xã hội hiện đại Tất cả những hoạt động đó được coi lànhững công việc thuộc về quản lý di sản văn hóa Tuy nhiên, công tác quản lýDSVH không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn những giá trị đặc sắc mà còn phảitiến hành những động thái tích cực, phù hợp để bổ sung, nâng cao những giátrị đó phù hợp với yêu cầu của xã hội đương đại.

Quản lý di tích lịch sử văn hóa là sự định hướng, tạo điều kiện của tổchức điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các DTLS - VH, làm cho giá trị của ditích phát huy theo chiều hướng tích cực Nội dung Quản lý nhà nước về di sảnđược đề cập trong Luật DSVH do Quốc hội nước CHXH chủ nghĩa Việt Namban hành năm 2001, sửa đổi, bổ sung một số điều 2009 Nội dung của Quản lýnhà nước về di sản văn hóa bao gồm:

(1) Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược quy hoạch, chính sách cho

sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;

(2) Ban hành và thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sảnvăn hóa;

(3) Tổ chức chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị DTLS

-VH tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa;

(4) Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo bồi dưỡngđội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa

(5) Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giátrị di sản văn hóa;

Trang 16

(7) Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị disản văn hóa;

(8) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khâu khiếunại tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hóa

1.1.2.2 Nội dung quản lý di tích lịch sử - văn hóa

Với bề dày hàng mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, hệ thống các

di tích lịch sử văn hóa ở nước ta chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong hệthống di sản văn hóa Việt Nam Để bảo tồn và phát huy giá trị của di tích sửvăn hóa phải thực hiện theo đúng nội dung quản lý di sản văn hóa đã được ghitrong Luật Di sản văn hóa năm 2001 và được bổ sung năm 2009

Nội dung của Quản lý nhà nước về di sản văn hóa bao gồm; Xây dựng

và chỉ đạo thực hiện chiến lược quy hoạch, chính sách cho sự nghiệp bảo vệ

và phát huy giá trị di sản văn hóa; Ban hành và thực hiện các văn bản quyphạm pháp luật về di sản văn hóa; Tổ chức chỉ đạo các hoạt động bảo vệ vàphát huy giá trị DTLS - VH tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về disản văn hóa; Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo bồidưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa; Huy động, quản lý, sửdụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; Tổ chức chỉđạo, khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị; Tổ chức và quản lýhợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; Thanh tra, kiểmtra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khâu khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạmpháp luật về di sản văn hóa

Quản lý Nhà nước về di sản văn hóa là sử dụng cơ chế, chính sáchthông qua bộ máy quản lý tác động có tính chất định hướng tới cộng đồng xãhội nhằm đạt tới mục tiêu đề ra mà không làm thay và đặc biệt không khoántrắng cho dân [51, tr.90-93]

Trang 17

1.1.3 Vai trò của công tác quản lý đối với di tích lịch sử - văn hóa

Công tác quản lý đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với các di tíchlịch sử - văn hóa Công tác quản lý giúp nắm bắt được toàn bộ thực trạng củacác di tích để từ đó có thể bảo tồn và phát huy được giá trị của di tích mộtcách phù hợp

Việc quản lý các giá trị DSVH nói chung, quản lý DTLSVH nói riêng làgóp phần đưa ra hệ thống các giải pháp, biện pháp bảo tồn, gìn giữ và pháttriển các giá trị di sản văn hóa, trao truyền cho các thế hệ tương lai Muốnquản lý có hiệu quả, những nhà quản lý cần thực hiện các biện pháp, giải phápquản lý một cách khoa học, có hệ thống, có tính kế thừa để thế hệ sau tiếp tụcthực hiện những mục tiêu quản lý của thế hệ trước

Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa là hai mặt của một thể thốngnhất Hai hoạt động này có tác động tương trợ nhau trong quá trình phát triểncủa mỗi xã hội Văn hóa hiện nay đang được xem là nền tảng của sự pháttriển Việc phát huy các giá trị văn hóa sẽ có tác dụng làm tăng ý thức, trướchết là của mỗi thành viên trong cộng đồng dân tộc, thậm chí là của nhân loạiđối với trách nhiệm bảo tồn các giá trị văn hóa nói chung theo công ước Quốc

tế về bảo tồn các giá giá trị văn hóa Ngược lại việc bảo tồn di sản văn hóa củamỗi cộng đồng dân tộc sẽ là cơ sở và tiền đề tạo ra cơ hội được cộng đồngkhác thừa nhận giá trị văn hóa của dân tộc mình

Do vậy, có thể coi các giá trị văn hóa là một trong những dạng tàinguyên du lịch để khai thác tạo ra các sản phẩm du lịch hấp dẫn, khác biệt và

có khả năng cạnh tranh không chỉ giữa các vùng miền, các địa phương trongnước mà còn giữa đất nước ta với các nước trong khu vực và quốc tế Thông

Trang 18

cho hoạt động thu thập, nghiên cứu di sản; bảo vệ, tu sửa, tôn tạo, kinhnghiệm thực hiện các bước bảo tồn, trình độ, đội ngũ nhân lực, về trình độkhoa học công nghệ Ngược lại, nguồn thu từ du lịch sẽ đóng góp quan trọngcho hoạt động bảo tồn của chính những giá trị văn hóa Nguồn thu có từ dulịch cũng sẽ là động lực làm tăng ý thức bảo tồn, phát huy giá trị di sản củacộng đồng nhân dân nói chung và nhất là nhóm những người được hưởngnguồn lợi trực tiếp từ hoạt động du lịch gắn với các giá trị di sản văn hóa.

1.2 Tổng quan về huyện Lý Nhân và khu di tích, lễ hội đền Trần Thương

1.2.1 Hhuyện Lý Nhân trong vùng văn hóa tỉnh Hà Nam

Lý Nhân là một huyện nằm ở phía đông tỉnh Hà Nam Lý Nhân là nơigiàu truyền thống lịch sử văn hóa Tại nơi đây đã phát hiện được trống đồng

cổ, còn nguyên vẹn và có nhiều giá trị nghệ thuật, thuộc văn hóa Đông Sơn

-đó là trống đồng Ngọc Lũ Được phát hiện ở xã Như Trác năm 1893-1894nhưng được đem tặng cho xã Ngọc Lũ huyện Bình Lục nên có tên là trốngđồng Ngọc Lũ, nơi đây cũng là nơi phát hiện cuốn sách đồng cổ nhất ViệtNam, hiện nay nó vẫn đang được lưu giữ ở nơi đã tìm ra nó, thôn Văn An, xãBắc Lý

Huyện Lý Nhân nằm ở phía đông tỉnh Hà Nam, phía hữu ngạn sôngHồng, có vị trí địa lý: Phía bắc giáp thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên vớisông Hồng là ranh giới tự nhiên Phía tây và tây bắc giáp thị xã Duy Tiên vớiranh giới là sông Châu Giang Phía tây nam và phía nam giáp huyện Bình Lục.Phía đông nam giáp huyện Mỹ Lộc, tỉnh nam Định cũng với ranh giới là sôngChâu Giang Phía đông giáp các huyện Hưng Hà và Vũ Thư, tỉnh TháiBình nằm bên tả ngạn sông Hồng

Trang 19

Huyện Lý Nhân khu vực giữa huyện cách thành phố Phủ Lý 24km, cuốihuyện xã Hòa Hậu đến Phủ Lý là 34km, từ thị trấn Vĩnh Trụ đến Phủ Lý là13km cách Hà Nội 84km Đây là huyện duy nhất của tỉnh Hà Nam không tiếpgiáp thành phố Phủ Lý Trên địa bàn huyện có hai tôn giáo chính: Phậtgiáo và Thiên chúa giáo, 12% dân số theo đạo Thiên Chúa.

Huyện Lý Nhân có 21 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm thịtrấn Vĩnh Trụ (huyện lỵ) và 20 xã: Bắc Lý, Chân Lý, Chính Lý, Công Lý, Đạo

Lý, Đức Lý,Hòa Hậu, Hợp Lý, Nguyên Lý, Nhân Bình, Nhân Chính, NhânKhang, Nhân Lý, Nhân Nghĩa, Nhân Thịnh, Phú Phúc, Tiến Thắng, TrầnHưng Đạo, Văn Lý, Xuân Khê

Về kinh tế - xã hội: Lý Nhân là huyện thuần nông, qua nhiều tháng nămlao động vất vả, nhân dân trong huyện đã đóng góp rất nhiều công sức, tiềncủa để xây dựng các công trình thủy lợi, đê, bối Hàng trăm km đê bối sôngHồng, sông Châu Giang, sông Long Xuyên cùng hàng ngàn km mương máng

sử dụng tưới tiêu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp

Trong sản xuất nông nghiệp, cây lúa nước có vị trí đặc biệt quan trọngđến đời sống nhân dân Từ rất sớm người Lý Nhân đã biết tuyển chọn các loạigiống lúa tốt cho năng suất cao phù hợp với vùng đất quê mình như: Nếp CáiHoa Vàng ở Mạc Thượng, Tả Hà, nếp Quýt ở Phú Đa, Tám thơm nổi tiếng Ởchân ruộng cao có giống lúa Lốc gieo xạ trên cạn, ở ruộng chân trũng thườngcấy lúa Rong gạo đỏ, cứng cây chịu ngập, chịu rét, ít sâu bệnh, năng suất lại

ổn định rất thích hợp với khu vực đồng chiêm trũng

Trong vườn, trên đất bãi người dân đã lựa chọn trồng những giống cây

ăn quả quý có giá trị kinh tế như: Cam chanh, quýt cơm ở xã Văn Lý, Tảo

Trang 20

Người dân Lý Nhân sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng, ngoài ra còn cómột số người làm nghề thủ công và buôn bán nhỏ Nhiều nghề thủ công truyềnthống từ lâu đã phát triển trên mảnh đất này Nghề mộc với nhiều sản phẩmđộc đáo như: Giường, tủ, bàn ghế phục vụ nhu cầu đời sống của người dân,đặc biệt nhiều công trình kiến trúc khắc từ gỗ vô cùng khéo léo và độc đáomang bản sắc dân tộc như: đình Văn Xá (Đức Lý), Kiệu Lồng (đình ThọChương) nhiều đền chùa, đình đài khác cho đến nay vẫn còn tồn tại Ngoài racòn có nghề lụa ở Nga Khê, dệt vải ở Đại Hoàng, nghề nuôi tằm lấy tơ ở Văn

Lý, nổi tiếng khắp nơi Một số mặt hàng đã có mặt ở các tỉnh Nam Bộ

Không thể không kể đến nghề mây tre đan cũng có từ rất sớm và kháphổ biến ở Lý Nhân đã tạo ra sản phẩm vừa bền vừa đẹp như thúng Quang Ốc,gầu giai chợ Cầu, rổ, rá ở Mạc Thượng, cót ở Vũ Xá (Đạo Lý)…từ cây mây,lũy tre gắn bó với làng quê, người Lý Nhân đã tạo ra nhiều sản phẩm có íchnhư cây chông, cánh ná, mũi tên giết giặc, đến các đồ gia dụng phục vụ đờisống Bên cạnh đó còn có nghề làm bánh ở Tống Ngu Nhuế, tổng Vũ Điện cónghề thêu, nghề dệt, tổng Thổ Ốc có nghề làm may, làm gạch, thợ mộc Ở cáckhu vực ven sông Hồng có nghề đánh cá, nuôi cá Tính chung Lý Nhân có tớihơn 20 ngành nghề thủ công cổ truyền, các nghề thủ công cùng với nghề nôngnghiệp trồng lúa trồng màu tạo nên nguồn sống cho nhân dân trong toànhuyện, ngoài những lúc làm đồng ruộng lúc mùa màng thì tất cả người dânđều có thể làm thêm các nghề thủ công phụ để phục vụ nhu cầu sử dụng tronggia đình hoặc bán sản phẩm cải thiện đời sống

Di tích lịch sử văn hóa: Đền Trần Thương (Di tích lịch sử Quốc gia đặcbiệt, thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo) xã Trần Hưng Đạo; Đền Bà Vũ Thờ bà

Vũ Thị Thiết Di tích Quốc gia 24/3/1993(Người con gái Nam Xương) xãChân Lý; Khu tưởng niệm Nhà văn Nhà cách mạng Nam Cao, xã Hòa Hậu;

Trang 21

Chùa Lưu Ly, xã Công Lý; Đình Mạc Hạ, Di tích kiến trúc nghệ thuật cấpQuốc gia (công nhận năm 2001), xã Công Lý; Đình Văn Xá, thuộc thôn Văn

Xá, xã Đức Lý là ngôi đình có niên đại sớm nhất ở Hà Nam còn lại đến nay

Ngoài những di tích kể trên, huyện Lý Nhân còn có 13 di tích cấp quốcgia khác

1.2.2 Lễ hội và những giá trị của khu di tích đền Trần Thương

1.2.2.1 Lễ hội đền Trần Thương trong không gian văn hóa xứ Nam

Đền Trần Thương thuộc thôn Trần Thương, xã Trần Hưng Đạo, huyện

Lý Nhân Cũng như những nơi thờ Quốc công tiết chế Hưng Đạo Vương TrầnQuốc Tuấn khác, đền Trần Thương tổ chức lễ hội tưởng nhớ vị anh hùng dân

tộc này vào ngày 20 tháng 8 âm lịch hàng năm Dân gian có câu: “Tháng Tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ” là để nói về hai lễ hội lớn về hai vị thánh: Đức

thánh Trần (Trần Hưng Đạo), Đức thánh Mẫu (Liễu Hạnh)

Lễ hội theo quy định được tổ chức 3 ngày nhưng trên thực tế có thể dàihơn bởi vì số lượng người về lễ khá đông nên cần thêm ngày để bố trí cho cácđội tế Mỗi ngày có 4 đến 5 đám tế, từ rằm tháng 8 đã có đoàn đến tế ở đền

Vào ngày chính hội, phần lễ có rước kiệu, dâng hương, tế lễ, phần hội

có các trò đánh cờ tướng, bơi chải, đi cầu kiều, tổ tôm điếm… Thu hút sựquan tâm của nhiều người nhất là tục thi đấu cờ tướng Tục này diễn ra trướccác trò hội Khi tiếng trống nổi lên báo hiệu cuộc chơi thì các đấu thủ cùngdân làng đến sân đền tham dự Làng chọn các lão làng, các chức sắc có giaphong tốt vào khai cuộc, trong đó, người cao tuổi nhất được làm chủ tế Chủ tếlàm lề cáo yết Đức Thánh Trần rồi rước bàn cờ từ hậu cung quay ra, đến trướchương án nâng bàn cờ lên vái ba vái Sau đó, cuộc chơi bắt đầu Hai đấu thủ

Trang 22

cờ cùng bàn cờ được rửa bằng nước giếng của đền và nước ngũ quả, lau chùicẩn thận rồi đặt lên hương án Tục chơi cờ nhằm tưởng nhớ tài thao lược quân

sự của Hưng Đạo Đại Vương, rèn luyện trí tuệ, nêu cao truyền thống chốnggiặc ngoại xâm của ông cha ta

Hội rước đền Trần Thương Lễ hội đền Trần Thương là một trong ba lễhội vùng của tỉnh Hà Nam Lễ hội này có ý nghĩa là một cuộc hành hương vềcội nguồn không chỉ đối với người dân địa phương mà đối với người dân cảnước

Độc đáo Lễ hội phát lương đền Trần Thương Cùng với giá trị lịch sử văn hoá, đền Trần Thương còn mang đậm giá trị văn hoá tâm linh thông qua lễhội Lễ hội đền Trần Thương hằng năm được nhân dân mở từ ngày 20/8 Âmlịch đã trở thành một nét văn hóa tín ngưỡng lâu đời của người dân Hà Namnói riêng và du khách thập phương nói chung Trong lễ hội diễn ra nhiều hoạtđộng văn hóa dân gian, tục thi đặc sắc, độc đáo nhất là lễ rước nước và thi bơichải trên sông Các nghi thức trên vừa mang ý nghĩa cầu cho mưa thuận, gióhòa, “Phong đăng, hòa cốc”, “Quốc thái dân an”, nhắc nhở đạo lý “Uống nướcnhớ nguồn”, đồng thời gợi nhớ nguồn gốc của dòng tộc nhà Trần vốn quennghề sông nước

-Tại lễ hội, nhân dân còn tổ chức “Diễn sướng Thanh đồng”, một lễ nghiđặc sắc có từ lâu đời của đền Trần Thương với sự tham gia đông đảo của các

“cơ cánh” đến từ các tỉnh đồng bằng sông Hồng Lễ hội đền Trần Thương làmột trong ba lễ hội vùng của tỉnh Hà Nam Lễ hội này có ý nghĩa là một cuộchành hương về cội nguồn không chỉ đối với người dân địa phương mà đối vớingười dân cả nước Với tâm nguyện bảo tồn, phát huy những giá trị lịch sử vàvăn hóa tâm linh tốt đẹp, giáo dục các tầng lớp nhân dân yêu nước, từ năm

Trang 23

2010, Lễ hội phát lương đền Trần Thương được tổ chức vào giờ Tý ngày rằmtháng Giêng Đây là một trong những lễ hội lớn và độc đáo của tỉnh Hà Nam.

Lễ hội được tổ chức ngay tại ngôi đền chính là nơi Hưng Đạo ĐạiVương Trần Quốc Tuấn chọn làm kho lương, cung cấp lương thảo cho quânđội trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông thế kỷthứ XIII Nghi trình lễ phát lương được thực hiện bài bản theo ba phần: Lễrước lương thảo từ kho lương vào trong đền làm lễ do bảy cô gái thanh tânmặc áo dài màu đỏ, đội khăn đỏ, đội bảy mâm đựng những túi lương nhỏ,chín chàng trai tân mặc quần áo màu đỏ, đầu đội nón lá cũng màu đỏ, thắtlưng khăn vàng, ống chân quấn xà cạp viền xanh, chân đi giày vải màu vàng

có trách nhiệm khiêng kiệu, trên kiệu đặt ba túi lương lớn (bên trong chứahàng nghìn túi lương nhỏ)

Đi đầu đoàn rước là đội sư tử dàn trống, chiêng, cờ ngũ sắc, bảy mâm lươngthảo, đội tế nam, đội tế nữ của xã, đoàn đại biểu, nhân dân và du khách thậpphương

Phần thứ hai là lễ châm đuốc và dâng hương của các đại biểu Phần thứ

ba là bảy cô gái, chín chàng trai rước lương thảo vào hậu cung làm mật lễ.Người dân địa phương cho biết, hai chữ in trên túi lương là chữ Hán mangnghĩa “Trần Thương” Túi được làm bằng vải điều, màu đỏ tượng trưng choHỏa Màu vàng của chữ tượng trưng cho Thổ Bên trong túi gồm các loại ngũcốc là sản vật của vùng quê Nhân Đạo, đó là nếp cái hoa vàng, đậu tương, ngôđỏ

1.2.2.2 Những giá trị của khu di tích đền Trần Thương

Đền Trần Thương (hay Đền Trần, Đền thờ Đức Thánh Trần) là một

Trang 24

2 (1285) Trong đền có giếng Ngọc, là nơi táng tro cốt của Trần Hưng Đạo khiông qua đời Đền Trần Thương nằm bên bờ sông Hồng, tọa lạc tại thôn TrầnThương, xã Trần Hưng Đạo, huyện Lý Nhân.

Đền Trần Thương được xây dựng vào thời Hậu Lê, tương truyền nằmngay trên nền kho lương của nhà Trần Đền có kiến trúc độc đáo mang phongcách nghệ thuật cổ đại của dân tộc Việt Nam; được trang trí bằng những họatiết được chạm khắc công phu kết hợp nhiều kỹ thuật của người cổ đại như kỹthuật chạm (kênh bong, chạm chìm, chạm nổi), kỹ thuật bào trơn, đóng bén,tạo các loại mộng và kỹ thuật xử lý vật liệu gỗ, vật liệu truyền thống (vôi, cát,gạnh, ) có giá trị khảo cứu cao Khu vực xung quanh đền mang đậm dấu ấnvăn hóa vật chất thời Trần; qua khai quật, các nhà khảo cổ học đã phát hiệnnhiều vũ khí cùng mảnh gốm sứ mang phong cách nghệ thuật gốm sứ thờiTrần (bát đĩa gốm men nâu, vàng ngà, )

Kiến trúc Đền Trần Thương được xây dựng trên một khu đất rộng, nằmbiệt lập Giới hạn không gian của đền là hệ thống tường xây bằng gạch đặctrát vữa kết hợp với các đoạn kênh, ao hồ Tổng thể ngôi đền quay về hướngNam, gồm các hạng mục: Nghi môn ngoại, Đường chính đạo, Nghi môn nội,Sân và bình phong, Đền chính, Nhà mẫu, Giếng nước

Di vật Đền Trần Thương hiện còn lưu giữ 202 di vật, cổ vật, đồ thờ tựđẹp, có giá trị nghệ thuật cao, phong phú về thể loại, đa dạng về chất liệu như:tượng thờ, khám thờ, ngai thờ, ấn thờ, kiệu, hệ thống bát biểu, câu đối, đại tự

Đồ gốm sứ có lục bình, bát hương, bát đĩa, chén, nậm rượu Đồ đá như rùa,nghê, voi, đỉnh hương, nhang án Đồ giấy có 38 đạo sắc phong Các chất liệukhác bằng bạc, bằng đồng như kiếm bạc vỏ đồi mồi, vòng bạc, chén bạc, lọđồng,… tất cả góp phần làm nên giá trị của di tích

Trang 25

Đền Trần Thương là di tích tiêu biểu của tỉnh Hà Nam và cả nước, hội

tụ nhiều giá trị đặc sắc về lịch sử, quân sự, kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ, tâm

linh, du lịch Nét đẹp kiến trúc nghệ thuật ngôi đền thiêng, Hưng Đạo Đại

vương Trần Quốc Tuấn, thiên tài quân sự, anh hùng dân tộc kiệt xuất, văn võtoàn tài, được vua Trần phong Quốc công Tiết chế, thống lĩnh ba quân, đánhtan giặc Nguyên - Mông, bảo vệ giang sơn Đại Việt

Tương truyền rằng, trên đường đánh quân Nguyên - Mông, bằng nhãnquan của nhà quân sự, nhà chính trị lỗi lạc, Trần Quốc Tuấn chọn đất TrầnThương lập sáu kho lương (khu vực đền Trần Thương là kho lương chính) đểphục vụ cho cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ hai (năm1285) Địa thế nơi đây rất thuận tiện cho việc vận chuyển, tích trữ lương thảocủa triều đình Khi chiến thắng trở về, Trần Quốc Tuấn đã mở kho lương tổchức khao quân và nhân dân mừng chiến thắng

Sau khi Hưng Đạo Đại Vương qua đời, để tưởng nhớ công ơn của ngài,vào thời hậu Lê năm 1783, nhân dân làng Miễu đã lập đền trên đất kho lương

ấy để thờ phụng Đền Trần Thương trở thành tôn miếu linh thiêng của đấtnước Nhân dân tôn vinh Hưng Đạo Đại Vương là Đức Thánh, là “Cửu Thiên

Vũ Đế” từ trên trời hiển ứng xuống giúp dân, giúp nước, diệt trừ ma quỷ, giặcgiã

Cùng với các giá trị về lịch sử, quân sự, Đền Trần Thương còn có giá trị

về kiến trúc nghệ thuật mang đậm nét phong cách nghệ thuật cổ truyền củadân tộc Đền có kiến trúc độc đáo theo tư duy phong thủy Không gian tổngquan của đền Trần Thương có sự kết hợp hài hòa giữa phong thủy hữu tình,trời mây, sông nước

Trang 26

trúc cảnh quan ngôi đền gồm nghi môn ngoại, nghi môn nội, năm tòa, 15 gian,chia thành ba cung: Đệ nhất, Đệ nhị, Đệ tam và hai giải vũ, năm giếng… tạonên những điểm độc đáo riêng có của ngôi đền Đền có cửa chính cao haitầng, tầng dưới uốn thành hình vòm trang trí hoa văn chung quanh Tầng trên

là gác chuông tám mái, treo một quả chuông lớn dùng để truyền tín hiệu chovùng xung quanh

Con đường chạy vòng quanh là hai tay ngai, bên Đông, bên Tây còn cóhai giếng nước được gọi là hai “tai” Nền trước cung Đệ tam có một giếngtròn mà dân gian gọi là “hố”, “khẩu” Tất cả cấu trúc của đường, giếng tạo nênthế đất thiêng “hình nhân bái tướng”, “ngũ mã thất tinh” Theo thứ tự từ ngoàiđền vào trong, cung đầu tiên là cung Đệ tam, là nơi thờ Ban Công đồng vàquan Ngũ Hổ, đồng thời cũng là nhà khách Cung Đệ tam được xây dựng theolối chồng rường, hai đầu xây bít đốc dật cấp, mái lợp ngói nam, mặt trước làdãy cửa bức bàn Phía trên gian giữa có treo bức đại tự “Văn đức võ công” Tiếp đến là cung Đệ nhị, ban giữa thờ bá quan văn võ Trần Triều và gia tộccủa Đức Thánh Trần, hai bên tả và hữu thờ quan Bắc Đẩu và quan Nam Tào.Cung Đệ nhị gồm năm gian, được xây cao hơn cung Đệ tam, lợp ngói ốngcung đình đời Nguyễn, bờ nóc hai đầu hồi đắp hai con rồng lớn, phần giữamái trên và mái dưới là các ô có đắp chữ Hán Cung cuối cùng là cung Đệnhất (hay còn gọi là Cung cấm) Ban giữa cung Đệ nhất thờ Đức Thánh Trần,hai bên trái và phải thờ bái vọng Đức Vương Phụ và Đức Vương Mẫu củaNgài Cung này được lợp ngói ống, bộ cửa bức bàn gồm ba cửa được sơn sonthếp vàng lộng lẫy

Giá trị đền Trần Thương còn được thể hiện ở phần trang trí kiến trúcvới các đề tài, họa tiết được chạm khắc công phu như: lưỡng long chầunguyệt, rồng bay, phượng múa, sóng nước, mây trời… tạo nên một bức tranh

Trang 27

thiên nhiên vừa sống động, vừa cổ kính trang nghiêm hàm chứa triết lý dângian.

Cùng với vẻ đẹp về công trình kiến trúc độc đáo, linh thiêng, đền TrầnThương còn lưu giữ một số hiện vật, đồ thờ có giá trị nghệ thuật cao như:hoành phi, câu đối, đại tự, ngai thờ, khám thờ, lục bình, bát hương, nghê đá,rùa đá…và chiếc kiếm bạc có vỏ làm bằng đồi mồi rất quý, chỉ được đưa rathờ vào những ngày lễ hội

Với những giá trị về lịch sử, văn hóa đặc sắc, năm 1989 đền TrầnThương đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Dulịch) xếp hạng là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia Ngày 23/12/2015, Thủtướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2367/QĐ-TTg xếp hạng Di tích lịch sử

và kiến trúc nghệ thuật đền Trần Thương là Di tích Quốc gia đặc biệt

Ý nghĩa về giá trị tinh thần của lễ phát lương được thể hiện qua từng túilương, theo quan niệm của người dân là cầu cho một năm mưa thuận, gió hòa,đón linh khí trời đất, cầu cho một năm sung túc, nhà nhà no đủ, hạnh phúc.Đặc biệt, Lễ phát lương Đức Thánh Trần được tổ chức vào giờ Tý ngày rằmtháng Giêng hằng năm, tái hiện lại cảnh “Khao quân” của quân đội nhà Trầnvới những nghi thức truyền thống, chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu sắc Túi lương

là lộc ban - cũng là lời nguyện của Đức Thánh Trần phù hộ cho một nămQuốc thái dân an, nhân khang vật thịnh, mưa thuận, gió hòa, mùa màng bộithu, nhà nhà no ấm Lễ hội đền Trần Thương và Lễ phát lương Đức ThánhTrần đã trở thành nét văn hóa đẹp, thể hiện niềm tin yêu tôn kính bậc Thánhnhân cứu quốc; đồng thời thể hiện khát vọng chân chính, thiêng liêng mãi mãiđược lưu truyền từ đời này sang đời khác

Trang 28

di sản văn hóa ấy vẫn vô cùng phong phú và đa dạng, có ý nghĩa to lớn trongviệc hình thành nhân cách con người Việt Nam trong hiện tại và tương lai với

tư cách là nguồn nhân lực quan trọng góp phần trực tiếp vào sự nghiệp bảo vệ

và xây dựng tổ quốc

Quản lý di tích và lễ hội là một hoạt động quan trọng của cơ quan quản

lý văn hóa để hoạt động này có hiệu quả cao cần làm rõ một số vấn đề cơ bảnnhư: khái niệm di tích, di tích LSVH, quản lý di tích LSVH, nội dung quản lýnhà nước về DSVH nói chung và di tích LSVH nói riêng Hệ thống lại cơ sở

lý luận và cơ sở pháp lý về quản lý di tích lịch sử là nền tảng để các nhà quản

lý triển khai và thực hiện có hiệu quả công tác quản lý các DTLSVH cũng nhưquản lý di tích và lễ hội đền Trần Thương, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam

Khái quát về di tích và lễ hội đền Trần Thương, huyện Lý Nhân, tỉnh

Hà Nam như lịch sử hình thành, vị trí địa lý, điều kiện môi trường tự nhiên,những nét đặc trưng về di tích và lệ hội đền Trần Thương, phong tục tập quán,sinh hoạt dân gian của người dân… Thông qua di tích và lễ hội đền TrầnThương, hình tượng người anh hùng Trần Quốc Tuấn - vị tướng có công vớiđất nước, người tài năng, đức độ được tái hiện lại một cách sống động Các

Trang 29

nghi thức tế lễ, các lễ vật dâng cúng và các trò chơi dân gian hấp dẫn trongngày hội mang lại niềm tin, niềm vui, hy vọng cho cộng đồng, mang ý nghĩalịch sử, văn hóa sâu sắc.

Trang 30

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI TÍCH VÀ LỄ HỘI ĐỀN TRẦN THƯƠNG - HUYỆN LÝ NHÂN - TỈNH HÀ NAM 2.1 Cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của các cơ quan quản lý di tích và lễ hội đền Trần Thương

2.1.1 Uỷ ban nhân dân các cấp

Theo Luật di sản văn hóa 2009, Ủy ban Nhân dân tỉnh chịu trách nhiệmquản lý nhà nước về di sản văn hóa ở địa phương theo phân cấp của Chínhphủ về quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa và danh lamthắng cảnh trên địa bàn tỉnh Hà nam ban hành năm 2016 đã quy định tráchnhiệm của Ủy ban Nhân dân là tiến hành chỉ đạo các hoạt động về quản lý disản văn hóa, lễ hội như: xây dựng quy hoạch; lập kế hoạch bảo vệ và phát huygiá trị di tích; kiểm kê, nghiên cứu đối với di tích và toàn bộ cổ vật của di tích;chỉ đạo và cấp phép cho các hoạt động bảo vệ, phát huy giá trị di tích, tiếnhành thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo,khen thưởng và xử lý vi phạm pháp luật về di tích

Ủy ban Nhân dân cấp huyện chịu trách nhiệm quản lý, xây dựng và tổchức thực hiện bảo tồn và phát huy giá trị di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốcgia trong địa bàn quản lý; Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ, đột xuất với Ủyban Nhân dân tỉnh về tình hình quản lý di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc giatrong phạm vi địa giới hành chính quản lý; Tổ chức các hoạt động thanh tra,kiểm tra, khen thưởng, xử lý vi phạm về di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốcgia theo thẩm quyền

Ủy ban Nhân dân cấp xã có trách nhiệm thành lập ban quản lý di tíchcấp xã để quản lý, bảo vệ, phát huy giá trị di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốcgia tại địa phương; Thu nhận và bảo vệ di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia được

Trang 31

phát hiện trên địa bàn; phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời mọi hành vi vi phạmlàm ảnh hưởng đến di tích, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; Kiến nghị việc xếphạng di tích; Thanh tra, kiểm tra, khen thưởng, xử lý vi phạm theo thẩmquyền

Ban Quản lý di tích cơ sở:

Đây là chủ thể quản lý trực tiếp các di tích lịch sử - văn hóa ở huyện LýNhân hiện nay

Thực tế cho thấy ngoài ban QLDT của tỉnh thì các di tích trên địa bànhuyện Lý Nhân đã thành lập những tiểu ban QLDT, tùy theo loại hình, quy

mô di tích của mỗi địa phương UBND xã trực tiếp quản lý những di tích nằmtrên địa bàn xã, thường sẽ có người trông coi di tích hoặc thủ nhang

Ở huyện Lý Nhân tiểu ban quản lý sẽ có từ 6 đến 8 người Khảo sátthực tế cho thấy các xã như Bắc Lý, Chân Lý, Chính Lý, Công Lý, Đạo

Lý, Đức Lý,Hòa Hậu, Hợp Lý… đã thành lập tiểu ban quản lý di tích và thựchiện rất tốt các hoạt động quản lý di tích

Đặc biệt có ban quản lý di tích và lễ hội đền Trần Thương gồm 15người Trong đó có 1 trưởng ban, 3 phó ban và 11 thành viên do Chủ tịch Ủyban Nhân huyện làm trưởng ban

Nhiệm vụ, quyền hạn của Ban quản lý di tích cơ sở

1 Tổ chức các hoạt động bảo vệ và khai thác phát huy giá trị văn hóacủa các di tích được giao quản lý theo quy định của Nhà nước

2 Tổ chức việc kiểm kê, bảo quản, tu bổ, tôn tạo di tích được giao; huyđộng các nguồn lực, xã hội hóa hoạt động bảo vệ, tôn tạo di tích theo quy địnhcủa Nhà nước

Trang 32

3 Chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân xã có di tích và các cơ quanliên quan tổ chức lễ hội truyền thống, hoạt động văn hóa, văn nghệ, du lịch tạicác di tích được giao theo quy định của Nhà nước.

4 Phối hợp với các ngành chức năng lập dự án quy hoạch, bảo quản, tu

bổ, phục hồi các di tích Tổ chức hoặc phối hợp tổ chức hội thảo, tọa đàm,nghiên cứu, sưu tầm, tuyên truyền phát huy giá trị tinh thần của các di tíchđược giao quản lý

5 Gắn bia, biển, nội quy, sơ đồ bảo vệ, giới thiệu tại di tích Hướng dẫn

và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thăm quan và tổ chức các hoạt độngtín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật

6 Tham gia lập hồ sơ đất đai của di tích đang quản lý, sử dụng gửi cơquan chức năng xem xét, thẩm định và trình Ủy ban nhân dân cấp có thẩmquyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; thực hiện quản lý sử dụng hiệuquả diện tích đất được giao đúng với mục đích, khoanh vùng bảo vệ di tích

7 Tổ chức các hoạt động dịch vụ tại di tích được giao quản lý phù hợpvới quy định hiện hành và triển khai thực hiện tốt công tác vệ sinh môi trườngtại các di tích thuộc thẩm quyền quản lý

8 Quản lý viên chức, lao động; thực hiện chế độ quản lý, sử dụng tàisản, kinh phí theo phân cấp và quy định của Nhà nước

9 Tổ chức kiểm tra và phối hợp với các cơ quan chức năng kiểm tra đểgiữ gìn và phát huy giá trị di tích Lập biên bản kiến nghị cấp có thẩm quyền

xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong khu vực được giao quản lý

10 Thực hiện báo cáo định kỳ tháng, quý, 6 tháng, hàng năm và báocáo đột xuất với Phòng Văn hóa và Thông tin, Ủy ban nhân dân cùng cấp; SởVăn hóa, Thể thao và Du lịch và cơ quan có liên quan theo quy định;

11 Thực hiện các nhiệm vụ khác do cấp có thẩm quyền giao

Trang 33

Chức năng của Ban quản lý di tích cơ sở

Ban Quản lý di tích cơ sở trực thuộc Ủy ban nhân dân xã nơi có di tíchlịch sử, văn hóa cần quản lý, có chức năng giúp Ủy ban nhân dân xã quản lý,bảo vệ, khai thác và phát huy giá trị di tích ở trên địa bàn Ban Quản lý di tíchchịu sự chỉ đạo quản lý trực tiếp, toàn diện của Ủy ban nhân dân xã và chịu sựchỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ của Phòng Văn hóa vàThông tin và của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch

2.1.2 Ban quản lý di tích

Ban quản lý di tích và lễ hội đền Trần Thương được thành lập theoQuyết định số 1210/QĐ-UBND của Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Nam ngày11/8/2016

Ban quản lý di tích và lễ hội đền Trần Thương là tổ chức thường xuyêntrực tiếp bên di tích có trách nhiệm trông nom, bảo vệ, giữ gìn di tíchtheo đúng quy định của Luật Di sản văn hóa, thực hiện hướng dẫn tham quan,công đức, đóng góp tu sửa, đèn nhang trong di tích theo đúng quy định cácvăn bản quy chế đã ban hành Kiểm tra kịp thời những mất mát, hư hỏng lêncấp trên, phôi hợp với các cơ quan ngăn ngừa các hành vi phá hoại, mục đích

cá nhân hành nghề sai trái ở di tích và trái với quy định của pháp luật Nhànước, như đánh bạc, hút sách, hoạt động mê tín dị đoan trong mùa lễ hội

Thường xuyên tham mưu với UBND xã, huyện sử dụng đúng tiền côngđức, đúng mục đích của nhà nước Với những giá trị về lịch sử, văn hóa đặcsắc, năm 1989 đền Trần Thương đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là BộVăn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốcgia Ngày 23-12-2015, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2367/QĐ-

Trang 34

người thường là người trong làng, ông từ thay nhau trông giữ hương khói vàđón khách thập phương Kể từ khi di tích và lễ hội đền Trần Thương chínhthức được xếp hạng đội ngũ cán bộ cơ hữu và người lao động phục vụ di tíchvào mùa cao điểm của lễ hội lên tới 45 người.

Ban quản lý di tích và lễ hội đền Trần Thương là một tổ chức sự nghiệp

xã hội, bao gồm các thành viên là cán bộ, công chức, viên chức thuộc phòngchức năng của huyện và cán bộ xã Trong mùa lễ hội bộ phận túc trực quản lýđiều hành, bảo vệ, hướng dẫn, trưng bày hiện vật, an ninh bảo vệ, giám sátphiếu ghi công đức khách thập phương

Chức năng nhiệm vụ của BQL di tích:

Xây dựng bảo vệ, giám sát các hòm công đức ở di tích, giám sát chi tàichính đúng mục đích, tổ kiểm kê tiền công đức phải đảm bảo 3 người có biênbản đúng quy định Ban quản lý di tích và lễ hội đền Trần Thương phối hợpvới các phòng chức năng huyện, tỉnh và chính quyền địa phương, thực hiệnbảo vệ tài sản, hiện vật, cổ vật, các đồ tế khí thờ tự trong di tích Hàng năm cónhiệm vụ kiểm tra và kiểm kê lại toàn bộ các hiện vật, cổ vật, đồ thờ tự trêntheo đúng quy chế

BQL di tích còn có bộ phận chức năng chuyên đón tiếp các đoàn kháchthăm quan trong và ngoài huyện, khách nước ngoài, đến thăm quan chiêm bái,nghiên cứu, hành lễ và dự lễ hội, hướng dẫn, nhắc nhở mọi người thực hiệntheo đúng quy định, nội quy và thương mại trong mùa lễ hội Thực hiện côngtác ngăn chặn chống luận điệu có tạc nội dung phản động của các thế lực, tổchức lợi dụng lễ hội để thực hiện hành vi xấu, kiên quyết bài trừ các hoạt động

mê tín dị đoan, thương mại trong di tích và thương mại trong mùa lễ hội BQLthường xuyên có báo cáo tham mưu vơi UBND huyện, xây dựng kế hoạch tổchức lễ hội hàng năm, kết hợp chặt chẽ với BQL di tích lịch sử văn hóa và

Trang 35

danh lam thắng cảnh huyện, công an huyện Lý Nhân, các phòng chức năngcủa huyện cùng phối hợp bảo vệ di tích đặc biệt quản lý lễ hội có quy mô tổchức lớn, nhằm mục đích giữ vững an ninh trật tự, sắp xếp bãi gửi xe, theođúng tinh thần quy chế của UBND huyện.

Ban quản lý di tích và lễ hội đền Trần Thương cử nhóm phối hợp với anninh xã, tổ thủ nhang tại di tích phân công người ghi công đức, có giấy chứngnhận công đức cho khách thập phương, hướng dẫn khách thập phương

tự tay bỏ tiền vào hòm công đức đảm bảo tính dân chủ, văn minh, công khai.Vào dịp tổ chức lễ hội Ban quản lý di tích và lễ hội đền Trần Thương chủ trì,phối hợp với UBND xã Trần Hưng Đạo, Văn hóa thông tin xã, dưới sự hướngdẫn của thành phố, phòng Văn hóa Thông tin quận duy trì tổ chức các phần

“hội”, lễ hội đã thu hút số lượng người dân tham gia khá đông

Về phần tài chính, Ban quản lý di tích và lễ hội đền Trần Thương phảichủ trì, phối hợp với phòng Tài chính Kế hoạch huyện, UBND xã Trần HưngĐạo, tổ thủ nhang quản lý các nguồn công đức thu chi tại đền Thường trực cửngười giám sát nguồn tiền của khách thập phương Thường xuyên giao ban,hàng quý, tháng để công khai thu chi, đánh giá rút kinh nghiệm những mặthạn chế còn tồn đọng, đưa ra định hướng thực hiện trong thời gian tới Banquản lý di tích và lễ hội đền Trần Thương chịu sự quản lý trực tiếp của UBNDhuyện Lý Nhân, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ có BQL di tích lịch sử vănhóa và danh lam thắng cảnh huyện , kết hợp với phòng Văn hóa Thông tinhuyện, Ban quản lý di tích và lễ hội đền Trần Thương được phép mở tài khoảntại Kho bạc nhà nước để tiện cho việc nộp các nguồn thu, các nguồn chi đảmbảo tính pháp lý

Trang 36

ban thủ nhang có tất cả 5 người họ đều trong tiểu ban Ban quản lý di tích và lễhội xã Trần hưng Đạo.

Ban Thủ nhang của đền đình là những người được lựa chọn rất kỹ, làngười có tâm, có đức, được nhân dân trong làng kính trọng, dựa trên cơ sở đóĐảng ủy, Hội đồng nhân dân xã Trần Hưng Đạo, Hội người cao tuổi, Hộicựu chiến binh, Mặt trận tổ quốc tiến cử, giao trách nhiệm kết hợp quản lý ditích cùng với Ban quản lý di tích và lễ hội đền Trần Thương Thủ nhangthường trực làm tổ trưởng có trách nhiệm phân công công việc cho các thànhviên trong Ban thủ từ, cắt cử thay phiên thường trực trong di tích đảm bảocông việc hương nhang đèn nến, sắp xếp lễ nghi, làm lễ, đón tiếp khách thậpphương chu đáo, theo đúng quy định

Kết hợp với Ban Thủ từ còn có Ban bảo vệ an ninh di tích Ban Thủ từ

và Tổ bảo vệ là lực lượng nòng cốt của di tích và lễ hội đền Trần Thương, là

tổ chức xã hội tự nguyện, được nhân dân trong làng bầu ra, là thành viên trongBQL di tích, thực hiện chức năng nhiệm vụ theo quy chế của UBND huyện đề

ra, kết hợp với chính quyền UBND xã Trần Hưng Đạo đảm bảo việc giữ gìnbảo vệ duy trì hương khói, đèn nhang cho di tích, thường xuyên vệ sinh sạch

sẽ các đồ tế tự, nhang án, tài sản ở di tích, bảo quản các sắc phong nghiên mật,

vệ sinh khuôn viên xanh, sạch Nếu có sự thay đổi hay muốn cơi nới xây dựngcác hạng mục nhỏ cũng phải đề xuất báo cáo được BQL di tích, UBND xãTrần Hưng Đạo, UBND huyện Lý Nhân phê duyệt đồng ý Bên cạnh đó BanThủ từ và tổ bảo vệ có nhiệm vụ thường trực 24/24 coi giữ tài sản của di tích,tiền bạc các hiện vật, đồ cổ, các hòm công đức

Kế hoạch chi tiêu: Khi lấy trích tiền công đức của Ban thủ từ, Tổ bảo

vệ và BQL di tích vào việc công, phải đảm bảo có 3 người đại diện cho cácban ngành khác nhau và người làm chứng Khi thực hiện mở hòm công đức,

Trang 37

có biên bản ghi ngày giờ và số lượng tiền, người làm chứng để đảm bảo tínhnghiêm minh, dân chủ, công khai, đồng thời Ban Thủ từ và Tổ bảo vệ chịu sựgiám sát của BQL di tích, UBND xã Trần Hưng Đạo

Qua nghiên cứu thực tế tại di tích và lễ hội đền Trần Thương và quátrình khảo sát thực trạng cán bộ làm công tác quản lý di tích còn nhữngđiểm hạn chế, đội ngũ làm công tác chuyên môn khá mỏng Vì vậy công táctham mưu cho cấp trên còn hạn chế Trên thực tế số cán bộ trực tiếp làm côngtác quản lý lại rất ít, và thiếu cả chuyên môn và kinh nghiệm, một di tích tầmquốc gia như vậy, có khá nhiều di vật, nằm trong tiềm năng phát triển du lịch.Người trực tiếp trông coi và quản lý là tiểu ban quản lý di tích là những người

đã về hưu và gần như trong số họ không có nghiệp vụ chuyên môn

Số lượng biên chế của phòng văn hóa thông tin còn rất ít, lại đảm nhậnmột khối lượng công việc nhiều nên chỉ có 01 cán bộ phụ trách về mảng di sảnvăn hóa Như vậy UBND huyện Lý Nhân cần bổ sung thêm cán bộ chuyêntrách về mảng di sản văn hóa, như vậy mới nâng cao được hiệu quả trong côngtác quản lý di tích

Tóm lại, mô hình tổ chức nhân sự tham gia quản lý di tích và lễ hội đềnTrần Thương chủ yếu đóng vai trò quan trọng là Ban Thủ nhang và Tổ bảo vệ,

cơ cấu nhân sự này thường xuyên túc trực tại di tích làm nòng cốt cho Banquản lý di tích Tuy nhiên số nhân sự này là các bậc cao niên có tuổi, một sốcán bộ hưu trí tâm huyết tham gia nhiệt tình, nguồn nhân lực này có sẵn tại địaphương Nhưng mặt hạn chế ở đây là tính pháp lý không cao, thiếu sự rằngbuộc, trách nhiệm không cụ thể

2.2 Cơ chế phối hợp quản lý của di tích và lễ hội đền Trần Thương

Trang 38

môn nghiệp vụ của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Cục Di sản văn hóa) Cơchế quản lý di tích như sau:

Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nam thực hiện chức năng quản lý nhànước, chỉ đạo công tác hướng dẫn chuyên môn về di sản văn hóa nói chung và

di tích lịch sử văn hóa nói riêng Trong quá trình thực hiện chức năng quản lýnhà nước về di tích lịch sử văn hóa, Sở Văn hóa và Thể thao giao cho các đơn

vị, phòng chức năng thuộc Sở thực hiện một số nhiệm vụ chuyên ngành

Đối với Phòng Văn hóa và Thông tin, Sở Văn hóa và Thể thao chỉ đạo, hướng dẫn công tác chuyên môn về quản lý di tích lịch sử văn hóa chophòng Văn hóa và Thông tin và các tổ chức, đơn vị trên địa bàn thực hiệnthông tin tuyên truyền về bảo vệ di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắngcảnh nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Phòng Văn hóa - Thôngtin huyện thực hiện công tác kiểm kê, sưu tầm hiện vật, di vật và tham gia xâydựng hồ sơ di tích

Ban Văn hóa - Thông tin xã chịu sự giám sát chỉ đạo của Phòng Vănhóa và Thông tin về quản lý, bảo vệ di tích Trực tiếp quản lý và thành lập BanQuản lý di tích lịch đã xếp hạng và chưa được xếp hạng tại địa phương

Cơ chế quản lý di tích lịch sử văn hóa ở tỉnh Hà Nam ngoài các cấpquản lý và cơ quan quản lý chuyên ngành về di tích lịch sử văn hóa là Sở Vănhóa và Thể thao, UBND các huyện (Phòng Văn hóa và Thông tin), UBND xã(Ban Văn hóa - Thông tin) thì tất cả các địa phương có di tích đều áp dụng môhình quản lý: Thành lập Ban Quản lý di tích do UBND huyện ra quyết địnhthành lập Thành phần gồm Trưởng phòng hoặc Phó Trưởng phòng PhòngVăn hóa và Thông tin làm Trưởng ban Quản lý di tích, thành viên Ban Quản

lý là cán bộ Phòng Văn hóa và Thông tin

Trang 39

Các Ban Quản lý di tích quận hay xã đóng vai trò quan trọng, trực tiếpquản lý các di tích lịch sử văn hóa Cơ cấu nhân sự hiện nay của các Ban này

do cán bộ Phòng Văn hóa và Thông tin, Ban Văn hóa - Thông tin đảm nhiệm,lực lượng này mỏng, kiêm nhiệm nhiều mảng công việc cùng lúc nên hoạtđộng kém hiệu quả

Như vậy, mô hình quản lý di tích ở Hà Nam như sau: Di tích lịch sử vănhóa về cơ bản đã được sự quản lý thống nhất từ tỉnh đến cơ sở theo 3 cấp:Tỉnh; Huyện; Xã; cùng tồn tại các cấp quản lý tương đương và mối quan hệcủa các đơn vị trong hoạt động quản lý, bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của

di tích theo phân cấp Sở Văn hóa và Thể thao chịu sự chỉ đạo trực tiếp từUBND tỉnh về hoạt động quản lý di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh; phối hợpvới UBND huyện, đồng thời chỉ đạo cho các đơn vị sự nghiệp, Phòng Văn hóa

và Thông tin huyện thực hiện các hoạt động quản lý và phát huy giá trị di tíchtrên địa bàn Mô hình quản lý nêu trên đã phân cấp rõ ràng trách nhiệm củamỗi cấp và mỗi đơn vị trực thuộc thực hiện các hoạt động quản lý, bảo tồn,tôn tạo và phát huy giá trị di tích

2.3 Công tác quản lý của di tích và lễ hội đền Trần Thương

2.3.1 Quy trình quản lý

Đối với tỉnh, tỉnh Hà Nam phân công nhiệm vụ cho Sở Văn hóa và thểthao chịu trách nhiệm quản lý các lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và giađình

Đối với cấp huyện, UBND huyện Lý Nhân phân công nhiệm vụ choPhòng Văn hóa và Thông tin chịu trách nhiệm quản lý các lĩnh vực văn hóa xãhội, trong đó có nội dung quản lý di tích

Trang 40

văn hóa - xã hội là trưởng ban, đồng chí công chức văn hóa - xã hội I làphó ban thường trực Ban quản lý di tích xã được thành lập có trách nhiệmchỉ đạo hoạt động quản lý tại di tích và lễ hội đền Trần Thương nói chung và

di tích đã được xếp hạng tại xã Trần Hưng Đạo nói riêng, đồng thời hướngdẫn Ban khánh tiết của các di tích thực hiện các hoạt động quản lý tại nơi ditích

2.3.2 Phương pháp quản lý

Phương pháp quản lý di tích và lễ hội đền Trần Thương là cách thứcthực hiện quyền lực nhà nước trong quản lý lĩnh vực văn hóa Khác với các tổchức chính trị, chính trị xã hội khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mìnhcác chủ thể quản lý di tích và lễ hội đền Trần Thương đại diện nhà nước,mang quyền lực nhà nước Nên phương pháp quản lý di tích và lễ hội đềnTrần Thương chủ yếu là thuyết phục, mà còn được thực hiện bằng các mệnhlệnh hành chính, bằng sự cưỡng bức thực hiện thông qua các biện pháp cưỡngchế do pháp luật quy định

UBND các cấp và các cơ quan chức năng ban hành các văn bản quản lý

di tích và lễ hội đền Trần Thương như: Văn bản thành lập Ban quản lý di tíchquốc gia đặc biệt đền Trần Thương số 343/SVHTTDL-NVVH&GĐ ngày01/7/2016; Thông báo Phân công nhiệm vụ các thành viên Ban quản lý di tíchquốc gia đặc biệt đền Trần Thương số 103/TB-BQL ngày 25/10/2016…

Ngoài ra, phương pháp quản lý di tích và lễ hội đền Trần Thương đượctiến hành trong khuôn khổ của pháp luật, nhất là những phương pháp có tínhchất hạn chế quyền của đối tượng quản lý Các phương pháp này được phápluật quy định chặt chẽ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng

2.3.3 Nội dung quản lý

2.3.3.1 Hoạt động về chuyên môn nghiệp vụ

Ngày đăng: 20/08/2021, 16:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1994), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1994
2. Hoàng Tuấn Anh (2009), “Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa – cơ hội mới thách thức mới”, Tạp chí Di sản văn hóa số 3, Tr.3 – 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa – cơ hộimới thách thức mới”, "Tạp chí Di sản văn hóa số 3
Tác giả: Hoàng Tuấn Anh
Năm: 2009
3. Đặng Văn Bài (2001), Công tác quản lý di sản văn hóa ở Việt Nam. Tài liệu lưu trữ tại khoa Di sản văn hóa trường Đại học Văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác quản lý di sản văn hóa ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Văn Bài
Năm: 2001
4. Đặng Văn Bài (2005), Tu bổ và tôn tạo các di tích lịch sử và văn hóa là hoạt dộng di tích đặc thù chuyên ngành, Hội thảo khoa học và thực tiễn xây dựng các dự án bảo tồn di tích Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tu bổ và tôn tạo các di tích lịch sử và văn hóa làhoạt dộng di tích đặc thù chuyên ngành
Tác giả: Đặng Văn Bài
Năm: 2005
5. Đặng Văn Bài (2006), “Tu bổ và tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa là hoạt động có tính đặc thù chuyên ngành”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 2, Tr. 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tu bổ và tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa là hoạtđộng có tính đặc thù chuyên ngành”, "Tạp chí Di sản văn hóa
Tác giả: Đặng Văn Bài
Năm: 2006
6. Ban quản lý di tích danh thắng Hà Nội (2000), Di tích lịch sử văn hóa Hà Nội, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích lịch sử văn hóa HàNội
Tác giả: Ban quản lý di tích danh thắng Hà Nội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
7. Ban quản lý di tích và danh thắng tỉnh Nam Định (2008), Di tích lịch sử văn hóa tỉnh Nam Định, Nxb Văn hóa Dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích lịch sửvăn hóa tỉnh Nam Định
Tác giả: Ban quản lý di tích và danh thắng tỉnh Nam Định
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
Năm: 2008
8. Đinh Ngọc Bảo (2002), Một số di tích lịch sử văn hóa ở Việt Nam, Nxb Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số di tích lịch sử văn hóa ở Việt Nam
Tác giả: Đinh Ngọc Bảo
Nhà XB: Nxb Đạihọc sư phạm
Năm: 2002
10. Trần Lâm Biền (chủ biên) (2012), Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt vùng Châu thổ sông Hồng, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn biến kiến trúc truyền thống Việtvùng Châu thổ sông Hồng
Tác giả: Trần Lâm Biền (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2012
16. Cục Bảo tồn bảo tàng (2001), Các công ước quốc tế về di sản văn hóa và quy chế bảo tàng, Tài liệu nghiệp vụ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các công ước quốc tế về di sản văn hóa vàquy chế bảo tàng
Tác giả: Cục Bảo tồn bảo tàng
Năm: 2001
17. Đoàn Bá Cử (2005), “Để giữ gìn tính toàn vẹn của di tích trong tu bổ, tôn tạo”, Tạp chí Di sản văn hóa, Số 4, Tr. 92 - 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để giữ gìn tính toàn vẹn của di tích trong tu bổ, tôntạo”, "Tạp chí Di sản văn hóa
Tác giả: Đoàn Bá Cử
Năm: 2005
18. Đoàn Bá Cử (2009), “Làm gì để nâng cao chất lượng tu bổ bảo tồn tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 3, Tr. 37 - 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm gì để nâng cao chất lượng tu bổ bảo tồn tôn tạodi tích lịch sử - văn hóa”, "Tạp chí Di sản văn hóa
Tác giả: Đoàn Bá Cử
Năm: 2009
20. Nguyễn Bá Duy (11/2/1995), Bảo tồn di sản kiến trúc, Đề tài nghiên cứu khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di sản kiến trúc
21. Trịnh Minh Đức – Phạm Thu Hương(2007), Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di tích lịch sử vănhóa
Tác giả: Trịnh Minh Đức – Phạm Thu Hương
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
22. Phan Hồng Giang – Bùi Hoài Sơn (2012), Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý văn hóa Việt Namtrong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế
Tác giả: Phan Hồng Giang – Bùi Hoài Sơn
Nhà XB: nhà xuất bản Chính trịQuốc gia
Năm: 2012
23. Phạm Thị Thu Hà (2015), Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, Luận văn thạc sĩ Quản lý văn hóa trường đại học Văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở huyện TrựcNinh, tỉnh Nam Định
Tác giả: Phạm Thị Thu Hà
Năm: 2015
24. Hiến chương Venice 1964, Hiến chương quốc tế về bảo tồn và trùng tu di tích và di chỉ, Đại hội quốc tế lần thứ 2 các kiến trúc sư và kỹ thuật gia về di tích lịch sử, Venice Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến chương quốc tế về bảo tồn và trùng tu ditích và di chỉ
25. Học viện Chính trị Quốc gia (2004), Quản lý hành chính nhà nước, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý hành chính nhà nước
Tác giả: Học viện Chính trị Quốc gia
Nhà XB: NxbChính trị Quốc gia
Năm: 2004
27. Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam (2005). Từ điển bách khoa Việt Nam, Nxb Từ điển bách khoa, tập 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển bách khoa Việt Nam
Tác giả: Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Từ điển bách khoa
Năm: 2005
28. Nguyễn Quốc Hùng (2005), Tu bổ tôn tạo di tích, lý luận và thực tiễn, Một con đường tiếp cận di sản văn hóa, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mộtcon đường tiếp cận di sản văn hóa
Tác giả: Nguyễn Quốc Hùng
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w