Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa là một văn kiện quan trọng được Lênin soạn thảo vào tháng 6 7 năm 1920. Văn kiện này được đăng lần đầu trên Tạp chí Quốc tế cộng sản, số 2, ngày 1471920, sau đó các báo đăng lại. Nguyễn Ái Quốc tiếp cận văn kiện này trên báo Nhân đạo (L`Humanite) – cơ quan ngôn luận của Đảng Xã hội Pháp ngày 16, 17 tháng 7 năm 1920. Lênin trình bày Văn kiện này tại Đại hội II Quốc tế cộng sản diến ra từ ngày 237 – 781920. Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa mang tính chất cương lĩnh hành động của Quốc tế cộng sản, có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với những người cộng sản và yêu nước chân chính. Nó thúc đẩy sự phân hoá mạnh mẽ giữa cách mạng và cơ hội chủ nghĩa trong hàng ngũ các đảng công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa.
Trang 11 Mở đầu
Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa là một văn kiện quan trọng được Lênin soạn thảo vào tháng 6 - 7 năm 1920 Văn kiện này được đăng
lần đầu trên Tạp chí Quốc tế cộng sản, số 2, ngày 14/7/1920, sau đó các báo đăng lại Nguyễn Ái Quốc tiếp cận văn kiện này trên báo Nhân đạo
(L`Humanite) – cơ quan ngôn luận của Đảng Xã hội Pháp ngày 16, 17 tháng 7 năm 1920 Lênin trình bày Văn kiện này tại Đại hội II Quốc tế cộng sản diến ra
từ ngày 23/7 – 7/8/1920
Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa mang tính chất cương lĩnh hành động của Quốc tế cộng sản, có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối
với những người cộng sản và yêu nước chân chính Nó thúc đẩy sự phân hoá mạnh mẽ giữa cách mạng và cơ hội chủ nghĩa trong hàng ngũ các đảng công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa
Quan điểm, tư tưởng của Luận cương có tác động quyết định đến con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc, theo đó, có tác động quyết định đến con đường cách mạng Việt Nam.
2 Nội dung kết cấu: 3 phần
I Hoàn cảnh ra đời tác phẩm
II Nội dung cơ bản của tác phẩm
III Ý nghĩa của tác phẩm
3 Phương pháp
4 Thời gian:
5 Tài liệu nghiên cứu
a Tài liệu bắt buộc
1 V.I Lênin, Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr.197-256.
2 GS Trần Văn Giàu, Sự hình thành về cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh,
Nxb CTQG, HN, 1997
3 V.I.Lênin, Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về các vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, Nxb Sự thật, HN, 1978.
b Tài liệu tham khảo
Trang 2- Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (sơ thảo), tập 1 (1920-1954), Nxb Sự
thật, HN, 1981, tr.49 - 58
- Trần Văn Giàu, Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỉ XIX đến cách mạng tháng Tám, tập 3, Nxb thành phố Hồ Chí Minh, 1977, tr 30-47.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh - người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận giải phóng dân tộc, Nxb KHXH, Hà Nội, 1985, tr 96, 124,190.
Giới thiệu tác phẩm:
SƠ THẢO LẦN THỨ NHẤT NHỮNG LUẬN CƯƠNG VỀ VẤN ĐỀ
DÂN TỘC VÀ VẤN ĐỀ THUỘC ĐỊA
I Hoàn cảnh ra đời tác phẩm: 3
1 CTTG lần thứ I và sự xuất hiện của chủ nghĩa Wilsơn (Mỹ): 5
- CTTG I (1914 - 1918) là ch.tranh giữa các nước ĐQ, giữa 1 bên là Anh, Pháp với bên kia Đức - Áo - Thổ Nhĩ Kỳ
- Năm 1917, Mỹ bắt đầu th.gia trực tiếp vào ch.tranh, đứng về phe đồng minh Anh, Pháp.
Năm 1917, chiến tranh thế giới lần thứ nhất bước vào giai đoạn cuối thì
Mỹ nhảy vào trực tiếp tham gia, đứng về phe Đồng Minh Anh, Pháp chống lại liên minh phát động chiến tranh là Đức - Áo - Thổ Nhĩ Kỳ
- Tổng thống Mỹ đề ra “Chương trình 14 điểm”, còn gọi là học thuyết Wilsơn.
Mục đích tham gia chiến tranh của Mỹ nhằm giành ngọn cờ “chính nghĩa” Bản Tuyên bố 14 điểm do Mỹ đưa ra còn được gọi là “Học thuyết Uynxơn” hứa hẹn trao trả quyền tự do, độc lập cho các dân tộc (ý đồ của Mỹ chỉ
là đối với các nước thuộc địa, phụ thuộc trong biên cương Áo – Hung, Thổ Nhĩ Kỳ) Mục đích là nhằm làm cho phe liên minh Áo, Hung, Thổ Nhĩ Kỳ bị nổ tung
từ bên trong, tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tiến công từ bên ngoài chứ hoàn toàn không nhằm chống chủ nghĩa thực dân nói chung, không làm rạn nứt, đổ vỡ các hệ thống thuộc địa trên thế giới
Trang 3- Thực chất, chủ nghĩa Wilsơn là một chương trình nhằm chia lại bản đồ
TG sau khi Đức, Áo, Hung, Thổ bị đánh bại.
- Lời hứa của Mỹ và Phương Tây đã gây ảo vọng cho nhiều dân tộc đang khát khao độc lập Bộ máy tuyên truyền Phương Tây tuyên truyền, cổ vũ rầm rộ
cho Học thuyết này và được bọn cơ hội trong Quốc tế II đồng loã, ủng hộ Điểm
5 trong Bản Tuyên bố 14 điểm hứa: Giải quyết rộng rãi tự do và hoàn toàn vô tư tất cả các yêu sách về (vấn đề) thuộc địa
Thực tế từ năm 1914, Anh, Pháp cũng đã buộc phải hứa hẹn với các dân tộc thuộc địa của chúng về tự do, dân chủ, nhằm giữ ổn định tình hình thuộc địa
để vơ vét, bắt lính phục vụ chiến tranh
2 Yêu sách 8 điểm của Nguyễn Ái Quốc và sự khẳng định CN Wilsơn là một trò bịp: 3
- Tháng 6 năm 1919, các nước đế quốc thắng trận họp Hội nghị VécXây (Pháp) bàn việc chia phần
Tháng 6 năm 1919, các nước đế quốc thắng trận họp Hội nghị VécXây (Pháp) bàn việc chia phần Đông đảo đại biểu của các dân tộc thuộc địa như Ái
Nhĩ Lan, Trung Quốc, Ấn Độ, Ja Va, Ả Rập, người châu Phi da đen, Việt Nam…
đã kéo đến Hội nghị bày tỏ nguyện vọng về tự do, độc lập, quyền tự quyết chính
đáng của dân tộc mình theo tinh thần như Bản Tuyên bố 14 điểm đã hứa
- Nguyễn Ái Quốc đã thay mặt nhóm người VN yêu nước ở Paris gửi
HN Bản yêu sách 8 điểm
Thay mặt “Hội những người Việt Nam yêu nước” đồng chí Nguyễn Ái Quốc gửi tới Hội nghị Bản yêu sách 8 điểm nhưng không được chấp nhận
- Người kết luận: “chủ nghĩa Wilsơn là một trò bịp”.
Người rút ra kết luận: “Chủ nghĩa UynXơn chỉ là một trò bịp bợm lớn”1 Muốn được giải phóng các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình
Sau này, Hồ Chí Minh viết lại: “Cuộc đại chiến kết thúc Dân tộc Việt Nam cũng như các dân tộc khác đã bị mê hoặc theo những lời tuyên bố rộng rãi
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002, tr 416.
Trang 4của Uynxsơn về quyền dân tộc tự quyết”2, “nhưng sau một thời gian, chúng tôi nhận thấy rằng chủ nghĩa Uynxơn là một trò bịp”2
3 Thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga và sự ra đời của Quốc tế Cộng sản (tháng 3 năm 1919) đã lôi cuốn, thúc đẩy phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và phong trào giải phóng dân tộc sang một thời kỳ phát triển mới: 2
- CMT 10 Nga thắng lợi, nhà nước công -nông đầu tiên trên thế giới ra đời có tác động thúc đẩy phong trào CMTG to lớn GP cho các thuộc địa của Nga Hoàng
Thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga (1917) mở ra con đường đi tới thời đại mới, thời đại quá độ của chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, thời đại thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản Sau cách mạng tháng Mười Nga, phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc thuộc địa phát triển trên quy mô rộng lớn, tiến công dồn dập vào dinh luỹ chủ nghĩa đế quốc Các nước trên thế giới đã tìm ra con đường cách mạng đúng đắn
- QT III (Quốc tế Cộng sản) ra đời nhằm khắc phục tư tưởng cơ hội của
QT II về vấn đề quyền tự quyết của các dân tộc thuộc địa: 5+
+ QT I (28/02/1864 – 1874): Do các đ.biểu CN Anh, Đức, Pháp, Nga họp
tại Luân Đôn lập ra
Quốc tế I (28/2/1864 – 1874) do các đại biểu công nhân Anh, Đức, Pháp, Nga họp tại Luân Đôn lập ra Sau công xã Pari thất bại, năm 1874 tự giải tán
+ QT II lập năm 1889 do đ.biểu các Công Đảng lập ra ở Paris Đến trước
CTTG II đã tiến hành 9 lần ĐH
Quốc tế II lập năm 1889 do đại biểu các Công Đảng lập ra ở Pari Đến trước chiến tranh thế giới thứ I đã tiến hành được 9 lần hội nghị Sau khi Ăngghen mất (1895), quốc tế II bị những phần tử cải lương lũng đoạn, làm mất
đi tính cách mạng triệt để của nó Trong đó, xuất hiện những quan điểm tư tưởng trái với quan điểm của Mác – Ăngghen Khi đề cập đến vấn đề dân tộc tự quyết,
1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002, tr 415.
2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002, tr 416.
Trang 5Quốc tế II chỉ nói đến quyền tự quyết của các dân tộc da trắng, còn đối với các dân tộc thuộc địa thì họ lờ đi; hoặc chỉ nói đến quyền “tự trị văn hoá”…Thể hiện
sự không quan tâm đến quyền lợi của các dân tộc thuộc địa, không quan tâm đến phong trào đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa Tức là không thấy rõ
sứ mệnh thế giới của giai cấp vô sản và cách mạng vô sản Bọn chủ nghĩa cơ hội
đã lũng đoạn tổ chức quốc tế của giai cấp công nhân, hướng giai cấp công nhân vào con đường thoả hiệp, đầu hàng, khuất phục và cam chịu trước bạo lực của chủ nghĩa đế quốc Trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Quốc tế II ra sức tán đồng, ủng hộ và tuyên truyền không công cho chủ nghĩa UynXơn, theo đó, Quốc
tế II đã lộ rõ mặt phản động
+ Sau khi Ăngghen mất, QT II bị những phần tử cải lương lũng đoạn làm mất đi tính CM triệt để của nó Cụ thể:
Hướng giai cấp công nhân vào con đường thoả hiệp, đầu hàng, khuất phục CNĐQ
Ủng hộ và tuyên truyền không công cho chủ nghĩa Wilsơn
Chỉ thừa nhận quyền tự quyết của các dân tộc da trắng, còn đối với các dân tộc thuộc địa thì họ lờ đi; hoặc chỉ nói đến quyền “tự trị văn hoá”…
+ Để khắc phục tình trạng trên, Lênin và những người cộng sản đã sáng lập ra Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản) ngày 6/3/1919, ra tuyên bố kiên quyết ủng
hộ phong trào giải phóng dân tộc Đại Hội II của Quốc tế Cộng sản (diễn ra từ ngày 23/7 đến 7/8 1920),
+ Lênin đã chuẩn bị một loạt văn kiện quan trọng như: Sơ thảo lần thứ
nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và về vấn đề thuộc địa; Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề ruộng đất; Luận cương về những nhiệm vụ của
Đại Hội II – Quốc tế Cộng sản…để báo cáo trong Đại hội II này.
“Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” đã được Lênin viết gửi cho Stalin (lúc đó đang ở mặt trận Tây Nam)
và một số lãnh tụ cộng sản khác để xin ý kiến tham gia, đóng góp sửa chữa (vào nửa đầu tháng 6/1920) “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” được đăng lần đầu trên Tạp chí Quốc tế Cộng sản, số 2, ngày 14/7/1920 Ngay sau đó được báo chí các đảng xã hội, đảng cộng sản các
Trang 6nước đăng lại Báo “Nhân Đạo” – Pari (tờ báo của cánh tả Đảng Xã hội Pháp) đã đăng trên hai số 16, 17 - tháng 7/1920 Nguyễn Ái Quốc được tiếp cận với chủ nghĩa Lênin qua việc đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” đăng trên hai số báo này nhờ tích cực hoạt động trong Đảng Xã hội Pháp
Phong trào công nhân thế giới đứng trước sự lựa chọn giữa hai con đường: tiếp tục theo Quốc tế II hay theo Quốc tế III Cuộc đấu tranh đó diễn ra quyết liệt trong các đảng công nhân Theo đó, nội bộ Đảng Xã hội Pháp đã đấu tranh gay gắt giữa hai con đường trong những năm 1919-1920 Tháng 5-1919, những người phái tả trong Đảng Xã hội Pháp lập Uỷ ban Quốc tế thứ III để cổ vũ cho việc tham gia Quốc tế III (Quốc tế cộng sản)
Tháng 12-1920, Đại hội đặc biệt của Đảng Xã hội Pháp ra Nghị quyết rút khỏi Quốc tế II nhưng chưa tham gia Quốc tế III mà cử đoàn đại biểi do Macxen Caxanh dẫn đầu nghiên cứu những điều kiện ra nhập Quốc tế III, đồng thời dự Đại hội II của Quốc tế III Trong Đại hội, các đảng bộ địa phương Đảng Xã hội Pháp có xu hướng theo Quốc tế III chiếm ưu thế Nhiều đảng công nhân ở các nước tư bản phát triển cũng diễn ra tương tự như Đảng Xã hội Pháp
II NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA TÁC PHẨM.
1 Tư tưởng chủ đạo của tác phẩm: 3
Tác phẩm được báo cáo tại cuộc họp của Tiểu ban Dân tộc và thuộc địa trong Đại Hội II của Quốc tế Cộng sản Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin có ba tư tưởng chủ đạo đó là:
* Thứ nhất: Phân biệt rạch ròi giữa các dân tộc đi áp bức và các dân tộc
bị áp bức:
3 Giai cấp tư sản đã giải quyết một cách trìu tượng và hình thức vấn đề dân tộc và quyền bình đẳng giữa các dân tộc
Đó là một sự dối trá, thủ tiêu đấu tranh giai cấp nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản
Thực chất chủ nghĩa dân tộc của giai cấp tư sản là vị kỷ, hẹp hòi, cá lớn nuốt cá bé
Trang 7Nó tạo ra những quốc gia độc lập về phương diện chính trị, nhưng hoàn toàn phụ thuộc vào chủ nghĩa tư bản về phương diện kinh tế, tài chính và quân
sự (các điểm 1, 9, 10, 11)
Nấp dưới hình thức quyền bình đẳng của cá nhân nói chung, chế độ dân chủ tư sản tuyên bố quyền bình đẳng hình thức hoặc quyền bình đẳng trên pháp
luật giữa kẻ hữu sản và người vô sản, giữa kẻ bóc lột và người bị bóc lột, “do đó
đã làm cho những giai cấp áp bức bị lừa dối một cách ghê gớm” 1
Ý niệm “bình đẳng” đã được giai cấp tư sản biến thành vũ khí đấu tranh để chống lại việc thủ tiêu giai cấp, dưới chiêu bài “quyền bình đẳng tuyệt đối của cá nhân”
Lênin đã chỉ ra bản chất đích thực về quyền bình đẳng đó là: “Ý nghĩa thực sự của việc đòi quyền bình đẳng chung quy chỉ là đòi thủ tiêu giai cấp”2
V.I.Lênin đã đặt ra một loạt các vấn đề có tính nguyên lý và những phương hướng giải quyết các vấn đề dân tộc của chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng
Ở đó, các dân tộc đều có quyền bình đẳng và quyền tự quyết về vận mệnh của dân tộc mình trên tinh thần hợp tác và xích lại gần nhau giữa các dân tộc
=> Đây là sự phát triển, hoàn thiện lý luận chủ nghĩa Mác về vấn đề dân tộc của Lênin (các điểm 2, 3, 4, 7, 8, 10, 11, 12).
Đọc: Nếu “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” 1848 với các Lời tựa của nó
do Ăngghen viết cho các lần tái bản năm 1892 và 1893 khẳng định: giải phóng dân tộc là điều kiện để đoàn kết quốc tế chống chủ nghĩa tư bản, đó là sứ mệnh
lịch sử của giai cấp công nhân Thì Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đã chỉ ra những nguyên tắc liên
quan trực tiếp đến cách mạng ở những dân tộc thuộc địa và lệ thuộc cũng như sự đối lập về lợi ích giữa giai cấp đi áp bức, bóc lột với các giai cấp bị áp bức, bóc lột Những nguyên tắc đó là:
1 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1977, tr.198.
2 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1977, tr 198.
Trang 8- Phải phân biệt rõ lợi ích của các giai cấp bị áp bức, bóc lột với lợi ích của giai cấp thống trị Phân biệt rõ quyền lợi của dân tộc bị áp bức với quyền lợi của các lực lượng đi áp bức.
V.I.Lênin cho rằng, không thể dựa trên những nguyên tắc trìu tượng và hình thức mà cần đặt lên hàng đầu những vấn đề sau đây khi nhận diện để phân biệt kẻ đi áp bức với người bị áp bức:
+ Phải đánh giá chính xác tình hình lịch sử cụ thể mà trước hết là vấn đề kinh tế của các giai cấp;
+ Phải vạch ra bản chất của “khái niệm chung về lợi ích của nhân dân” mà giai cấp tư sản đưa ra chỉ là sự che giấu, lừa bịp;
+ “Phân biệt rõ rệt những dân tộc bị áp bức, phụ thuộc, không được hưởng quyền bình đẳng, với những dân tộc đi áp bức, bóc lột, được hưởng đầy đủ mọi quyền lợi”1
Nhờ giác ngộ được nguyên tắc này mà Hồ Chí Minh đã khác với tất cả các lãnh tụ yêu nước khác của Việt Nam, Người phân tích một cách sâu sắc các giai cấp, tầng lớp xã hội ở Việt Nam; phân tích mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp ở Việt Nam mà tìm ra phương pháp đúng nhằm giáo dục, tập hợp, tổ chức và lãnh đạo khối đại đoàn kết toàn dân tộc Qua đây, đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc của Hồ Chí Minh và Đảng ta là tinh thần yêu nước và ý thức dân tộc sâu sắc Đây là một nguyên tắc chiến lược, có giá trị to lớn đối với sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc của cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng
- Gắn kết phong trào công nhân với phong trào giải phóng dân tộc là vấn đề sống còn, là điều kiện tiên quyết trong sự nghiệp đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản.
+ Theo Lênin, lợi ích của cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản trong một nước phải phục tùng cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản trong phạm vi toàn thế giới
1 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1977, tr 198-199.
Trang 9+ Mặt khác, giai cấp vô sản, các đảng công nhân của một nước đang thống trị một dân tộc khác có nhiệm vị trước tiên và nhất thiết ủng hộ tích cực nhất phong trào giải phóng của các dân tộc ấy (các điểm 10, 11)2
+ Nhận thức được nguyên tắc này, năm 1924, trong bài “Lênin và các dân tộc phương Đông” Hồ Chí Minh đã viết: “Lênin là người đầu tiên đã hiểu và
đánh giá hết tầm quan trọng lớn lao của việc lôi cuốn nhân dân các nước thuộc địa vào phong trào cách mạng Lênin là người đầu tiên chỉ rõ rằng, nếu không có
sự tham gia của các dân tộc thuộc địa, thì cách mạng xã hội không thể có được”2
Tuy nhiên, do hạn chế về điều kiện lịch sử, mà dù thấy được vai trò quan trọng của của cách mạng giải phóng dân tộc, nhưng Lênin vẫn khẳng định sự thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc bị lệ thuộc vào sự thắng lợi của cách mạng vô sản ở chính quốc: “Nếu không có chiến thắng đó thì không thể thủ tiêu được ách áp bức dân tộc và tình trạng bất bình đẳng”3
Trong điều kiện lịch sử mới, Hồ Chí Minh đã phân tích sâu sắc tình hình thuộc địa, nhất là tình hình cách mạng Việt Nam Người khẳng định và thực hiện: cách mạng giải phóng dân tộc nếu được tiến hành một cách chủ động, sáng tạo thì có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc Trong
“Đường kách mệnh” xuất bản năm 1927, Người viết: “An Nam dân tộc cách
mệnh thành công thì tư sản Pháp yếu, tư sản Pháp yếu thì công nông Pháp làm giai cấp cách mệnh cũng dễ”4
Quan điểm của Lênin và Quốc tế III về quyền bình đẳng đã tập trung đề cập quyền bình đẳng giữa các dân tộc đi áp bức và các dân tộc bị áp bức Ý nghĩa thực sự của nó là đòi thủ tiêu giai cấp Lênin viết: Đặc điểm của thời đại
đế quốc chủ nghĩa là: một số lớn nước bao gồm tuyệt đại đa số nhân dân trên trái đất bị một thiểu số những nước tư bản chủ nghĩa tiên tiến rất mực giàu có nô dịch về mặt thuộc địa và tài chính
Năm 1880, có trên 250 triệu dân thuộc địa thì đến nay (sau chiến tranh thế giới thứ nhất – 1918) người ta tính có 1tỷ 250 triệu/ 1 tỷ 750 triệu, tức bằng gần
2 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1977, tr 202-205.
2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002, tr 136.
3 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ, Matxcova, 1977, tr 199.
4 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002, tr 266.
Trang 1070% số dân trên trái đất là bị áp bức, hoặc ở dưới chế độ thuộc địa trực tiếp, hoặc
ở dưới chế độ nửa thuộc địa, hoặc bị quân đội các cường quốc đế quốc lớn đánh bại, tức ở vào tình trạng lệ thuộc Theo Lênin, “hiện nay chỉ còn lại có hai cường quốc độc lập ở trên thế giới: Anh và Mỹ Nhưng về phương diện tài chính thì chỉ
có Mỹ là tuyệt đối độc lập Trước chiến tranh Mỹ là kẻ mắc nợ, ngày nay nó hoàn toàn là chủ nợ Tất cả các cường quốc khác trên thế giới đều mắc nợ”1
V.I.Lênin nhấn mạnh và được Đại hội II Quốc tế Cộng sản thông qua, cần thiết phải “xây dựng lên một sự thống nhất và một kỷ luật trước kia chưa bao giờ thấy của các đảng cộng sản trên toàn thế giới, khiến cho đội tiên phong của cuộc cách mạng công nhân có thể tiến những bước khổng lồ để đi tới mục đích vĩ đại của mình là lật đổ ách áp bức của tư bản”2 Tư tưởng cơ bản này khác về bản chất của bọn cơ hội trong Quốc tế II và bọn dân chủ tư sản
Luận cương của Quốc tế Cộng sản xác định, phải bắt đầu bằng sự phân chia các dân tộc thành dân tộc đi áp bức và dân tộc bị áp bức Trong thời đại đế
quốc chủ nghĩa thì điểm đặc biệt quan trọng là phải nhận ra những hiện tượng kinh tế cụ thể để phân chia các dân tộc đi áp bức và bị áp bức Khi giải quyết tất
cả các vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa phải xuất phát từ những hiện tượng kinh tế cụ thể của thế giới sau năm 1917, chứ không phải từ những khái niệm trìu tượng Luận điểm này có ý nghĩa lớn đối với Quốc tế Cộng sản và phong trào cách mạng thế giới
* Thứ hai, Trong tình hình thế giới hiện nay đã đặt vấn đề chuyên chính vô sản thành vấn đề trước mắt.
- Sau chiến tranh đế quốc (1918), quan hệ giữa các dân tộc và hệ thống chính trị thế giới đều bị quy định bởi cuộc đấu tranh của một số nhỏ các nước đế quốc chống phong trào Xôviết,
Hiện nay, sau chiến tranh đế quốc (1918), quan hệ giữa các dân tộc và hệ thống chính trị thế giới đều bị quy định bởi cuộc đấu tranh của một số nhỏ các nước đế quốc chống phong trào Xôviết, chống các nước Xôviết mà nước Nga là nước đứng đầu
1 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1977, Đại hội II Quốc tế cộng sản, tr 264.
2 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1977, Đại hội II Quốc tế cộng sản, tr 327.