1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cơ Sở Tâm Lý Học Thần Kinh A.R.Luria (411 trang)

411 359 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ Sở Tâm Lý Học Thần Kinh
Tác giả A.R. Luria
Người hướng dẫn Võ Thị Minh Chí, Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thủy
Trường học Nhà xuất bản Giáo dục
Chuyên ngành Tâm lý học thần kinh
Thể loại sách
Năm xuất bản 2002
Thành phố Việt Nam
Định dạng
Số trang 411
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

và ở con người là 500; Sự tăng các con số tế bào thần kinh tươngtự trên mỗi sợi dây thần kinh cũng quan sát thấy trong lĩnh vực thínhgiác ở khỉ - loại động vật ưu thế về thị giác - thì s

Trang 2

CƠ SỞ TÂM LÝ HỌC THẦN KINH

CƠ SỞ TÂM LÝ HỌC THẦN KINH

Tác giả: A.R LURIA Người dịch: VÕ THỊ MINH CHÍ – PHẠM MINH HẠC – TRẦN TRỌNG THỦY

LỜI GIỚI THIỆU

Với 50 năm hoạt động khoa học đầy hiệu quả, là tác giả của 30cuốn sách chuyên khảo và hơn 300 bài báo khoa học, A.R Luria đã

có những đóng góp vô cùng lớn lao cho nhiều lĩnh vực khác nhaucủa khoa học tâm lý hiện đại

Như mọi nhà khoa học tài năng khác, A.R Luria đã đi trướcthời đại của mình khá nhiều, và trong một mức độ đáng kể, các côngtrình của ông đã xác định sự phát triển của tâm lý học hiện đại

Ông đã hoạt động trong nhiều lĩnh vực của tâm lý học, nhưngtâm lý học thần kinh chiếm ý nghĩa ưu thế trong hoạt động sáng tạocủa ông

A.R Luria là người sáng lập Tâm lý học thần kinh ở Liên Xô, làngười cầm đầu trường phái Xô Viết của các nhà tâm lý học thầnkinh, được biết đến một cách rộng rãi ở cả trong nước và ở cả nướcngoài

Tâm lý học thần kinh được A.R Luria tạo ra như một "phụtrương" gắn các tư tưởng tâm lý học đại cương vào việc phân tích

sự rối loạn của các chức năng tâm lý cao cấp, do các tổn thươngcục bộ của não gây nên Thông qua Tâm lý học thần kinh, ông đã

Trang 3

nghiên cứu các quy luật bình thường của các quá trình tâm lý, màtrước hết là các quy luật cấu tạo có cấu trúc của các chức năng tâm

Tầm lý học thần kinh đã là sự nghiệp chính của cuộc đời A.R.Luria và việc làm cho nó trở thành một bộ môn độc lập, cũng nhưviệc phân hóa bản thân các nghiên cứu Tâm lý học thần kinh thànhcác hướng khác nhau là kết quả hoạt động lâu dài và có hiệu quảcủa ông và các học trò của ông

Các nghiên cứu tâm lý học thần kinh của A.R Luria một mặt,dành cho việc tìm hiểu các hội chứng tâm lý học thần kinh xuất hiệnkhi có những tổn thương ở các miền não bộ khác nhau ("Hội chứnghọc tâm lý thần ki0nh"), mặt khác, cho việc tìm hiểu các dạng rốiloạn khác nhau của quá trình tâm lý này hay quá trình tâm lý kia tuỳthuộc vào khu trú của tổn thương ("Tâm lý học thần kinh về các quátrình nhận thức") Hai hướng này của Tâm lý học thần kinh (lâmsàng và thực nghiệm) đã được A.R Luria tiến hành song song.Chính ông đã soạn thảo phương pháp Tâm lý học thần kinh riêng đểchẩn đoán các tổn thương cục bộ của não và phương pháp phục hồi

Trang 4

các rối loạn chức năng tâm lý, chúng đã làm ông trở nên nổi tiếngkhông kém gì so với các hoạt động lý thuyết trong lĩnh vực tâm lýhọc thần kinh, ông là nhà tâm lý học Xô Viết duy nhất có trắc nghiệmtâm lý học thần kinh được xuất bản và sử dụng rộng rãi ở Mỹ và các

Neuropsychological Battery) mà ngày nay giá trị chẩn đoán của nó

đã dược khẳng định về mặt thống kê toán học (Golden c., Purisch A.Hammecke T., 1979)

Các hoạt động của A.R Luria đã có ý nghĩa quyết định đối với

sự phát triển của tâm lý học thần kinh hiện đại Bộ máy khái niệm lýluận do ông xây dựng có một giá trị sáng tạo lo lớn, nó là một sựbảo đảm cho những thành công tiếp theo của Tâm lý học thần kinh,cho sự thâm nhập của Tâm lý học thần kinh vào những lĩnh vực trithức mới

Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông (1902 - 2002),NXB Giáo dục trân trọng giới thiệu với bạn đọc Việt Nam một trongnhững tác phẩm cuối đời của ông — cuốn Cơ Sở Tâm lý học thầnkinh, do những người đã từng được học ông hoặc mến mộ ông dịchsang tiếng Việt

Cuốn sách này trình bày những vấn đề cơ bản nhất cùa Tâm lýhọc thần kinh, gồm ba phần lớn:

* Phần một: Tổ chức chức năng của não và hoạt động tâm lý(do TS Võ Thị Minh Chí dịch)

* Phần hai: Các hệ thống định khu trong não và phân tích chứcnăng của chúng (do GS VS Phạm Minh Hạc dịch)

* Phần ba: Các quá trình tâm lý và tổ chức não của chúng (doPGS Trần Trọng Thuỷ dịch)

Trang 5

Các chữ phiên âm sang tiếng Việt được các dịch giả viết liền,không đặt dấu nối giữa các âm Để tiện cho việc tra cứu của độc giả,các tài liệu tham khảo được giới thiệu như trong nguyên bản, khôngdịch sang tiếng Việt.

Nhà xuất bản Giáo dục trân trọng giới thiệu bản dịch tiếng Việtcủa tác phẩm nổi tiếng này với độc giả

Tâm lý học thần kinh là một ngành khoa học còn non trẻ; và tấtnhiên các lĩnh vực chuyên ngành còn chưa được biên soạn nhưnhau; Điều này sẽ giải thích tại sao trong cuốn sách này còn thiếumột số phần mà tác giả chưa có đầy đủ tài liệu về chính nó nênkhông đưa vào bàn luận ở đây Đó là những vấn đề liên quan đếnvai trò của các cấu trúc sâu (trong đó có phần đồi thị và dưới đồi)trong điều khiển các qúa trình tâm lý, là các cơ chế não của giấc ngủ

và trạng thái thức tỉnh, là cơ sỏ não bộ của đời sống xúc cảm cũngnhư ý nghĩa của bán cầu não kém ưu thế (bán cầu não phải) đối vớihoạt động tâm lý của con người

Trang 6

Ngày nay, tất cả các vấn đề này đang được nghiên cứu nhiều,tác giả cũng không hy vọng quay lại với chúng trong lần tái bản tiếptheo của cuốn sách này.

Trong quá trình chuẩn bị cho cuốn sách này ra mắt bạn đọc,tác giả đã nhận được sự giúp đỡ to lớn của tập thể Viện Phẫu thuậtthần kinh N.N Burđencô thuộc Viện Hàn lâm Y học Liên Xô và cáccộng sự thuộc Bộ môn Tâm lý học thần kinh và Tâm lý bệnh học -Khoa Tâm lỷ học Trường Đại học Tổng hợp quốc gia Mátxcơva Xinchân thành cám ơn tất cả và đặc biệt cảm ơn sự cộng tác lâu nămcủa Tiến sĩ Tâm lý học E.Đ Khômxkaia - người đã đưa ra những lờikhuyên quý báu và lãnh trách nhiệm biên tập lại bản thảo viết taycủa cuốn sách này

I.R LURIA

Trang 7

Phần 1 TỔ CHỨC CHỨC NĂNG CỦA NÃO VÀ HOẠT

Não người là một bộ máy hoàn thiện, cho phép được thực thicác hình thức phản ánh hiện thực khách quan phức tạp nhất được

tổ chức như thế nào? và tổ chức chức năng của não ra sao? Những

bộ phận nào của não đảm bảo sự nảy sinh các nhu cầu và ý địnhchuyên biệt của người khác với ở động vật? Các quá trình thần kinhliên quan đến sự tiếp nhận, cải biến và bảo tồn thông tin từ thế giớibên ngoài nhập vào đã được tổ chức như thế nào? Việc lập chươngtrình, điều hành và kiểm soát những hình thức hoạt động có ý thứcphức tạp nhất nhằm đạt được mục đích, thực thi các ý định và hiệnthực hoá kế hoạch đề ra được đảm bảo bởi các thành phần nào?

Vài chục năm trước đây, những vấn đề này chưa được đặt ramột cách cấp bách Khoa học lúc đó hoàn toàn thoả mãn việc sosánh não với một bộ máy điều khiển bị giới hạn trước đó trong nhậnthức bởi các sơ đồ đơn giản: liên kết các kích thích đi từ ngoài vào

và được quyết định bởi các tác động, đáp ứng từ quá khứ với cáckích thích

Ngày nay, tình hình đã bị thay đổi tận gốc Hành vi của conngười mang tính tích cực đã trở nên hoàn toàn rõ ràng và nó đượcquyết định không chỉ bởi những tác động của quá khứ mà của cả kế

Trang 8

hoạch và các ý địch; không chỉ xây dựng mô hình tương ứng tươnglai, mà hành vi cũng phải tuân thủ theo mô hình đó Cũng trở nênthật rõ ràng rằng, các ý tưởng và ý định của con người các sơ đồcủa tương lai và các chương trình điều hành không thể nằm ngoàicác tri thức khoa học và các cơ chế được xây dựng trên cơ sở đóphải là đối tượng của sự phân tích có tính quyết định luận và củacác lý giải khoa học cũng như các hiện tượng và các mối quan hệkhác của thế giới khách quan.

Xu hướng nghiên cứu các cơ chế ảnh hưởng của tương laiđến hành vi thực tế đã khơi dậy trong cuộc sống một loạt các quanđiểm sinh lý quan trọng, ví dụ như quan điểm "hưng phấn vượt trội"của P.K Anôkhin hay như quan điểm "nhiệm vụ vận động và việcthực thi nó" của N.A Bécstêin, đó chính là những dấu hiệu cộinguồn gây hứng thú trong nghiên cứu sinh lý học và nhiệm vụ cơbản giờ đây là xây dựng ngành "Sinh lý của tính tích cực"

Song hành với nó, những tư tưởng lý luận cơ bản về não cũngthay đổi Nếu như trước đây, lý thuyết về não cơ bản dựa trên cáckhái niệm siêu hình (các mô hình), cho phép giải thích hoạt độngcủa não xuất phát từ các nguyên tắc giống như xây dựng các trạmđiện thoại hay các trung tâm điều khiển, thì nay, não người đượcxem xét như là một hệ thống phức tạp nhất, có cấu trúc, chức năngđặc thù, hoạt động theo các nguyên tắc chuyên biệt, mà tri thức củachúng có thể giúp các nhà nghiên cứu thiết kế nên các sơ đồ toánhọc mới giống như các sơ đồ đang vận hành trong thực tiễn và chophép tiếp cận để tạo dựng các tương đồng cơ học của cơ quanhoàn thiện này

Điều này lý giải tại sao việc nghiên cứu các quy luật bên trongcủa hoạt động não rất khó khăn, không như việc nhận thức chúng

Trang 9

và đã dẫn đến sự xuất hiện của nhiều chuyên ngành khoa học hoàntoàn mới Một trong số đó là Khoa Thiết bị sinh học trực tiếp đề nghịnghiên cứu não như là nguồn gốc nhận thức các nguyên lý mới, gâyảnh hưởng đến sự phát triển sáng tạo của toán học và kỹ thuật.

Việc nghiên cứu các quy luật làm việc của não như là cơ quanhoạt động tâm lý là nhiệm vụ vô cùng phức tạp Vì thế, hiển nhiênrằng; nhiệm vụ này không thể giải quyết bằng con đường cấu trúc lạitheo kiểu suy luận Chính vì thế, một loạt các cuốn sách đề cập đếncác mô hình của não hay não như là một bộ máy vi tính đều không

có tác dụng mà ngược lại, gây cản trở cho việc phát triển các trithức khoa học chân chính về não với tư cách là cơ quan của tâm lý

ở người

Cán bộ thực sự trong lĩnh vực quan trọng này cần phải dựatrên, không chỉ các sơ đồ lôgíc, mà phải trên các dữ liệu, các thànhtựu có trong thực tế và các kết quả quan sát cần mẫn liên quan đếncác lĩnh vực khoa học khác nhau: Hình thái học và Sinh lý học, Tâm

lý học và Thần kinh học

Tất nhiên rằng, quá trình tiến bộ này đòi hỏi phải có thời gian

và sự đi tìm tri thức những cái còn chưa rõ - là quá trình lâu dài; Mỗigiai đoạn riêng lẻ, trong đó, đều có đóng góp nhất định với việc giảiquyết đến cùng nhiệm vụ đặt ra

Gần một phần tư thế kỷ trước đã xuất hiện cuốn Não sống nổitiếng của Grây Oanterơ trong đó, đã gây chú ý bằng các số liệu điệnsinh lý để lý giải các cơ chế làm việc bản năng của não người vàđưa ra giả thuyết (một phần tác giả đã khẳng định, một phần vẫncòn tồn tại dưới dạng giả định) về các hình thức sống của não vàcác nguyên lý thực thi chức năng của chúng

Trang 10

Vài năm sau đó, đã xuất hiện chuyên khảo Bộ não thực tínhcủa nhà giải phẫu và sinh lý học nổi tiếng G Megun Đây là chuyênkhảo xem não trên cơ sở những số liệu giải phẫu và sinh lý thầnkinh hiện đại một cách có hệ thống, khả năng tự đảm bảo trạng tháihoạt hoá, thức tỉnh của nó - điều kiện cần thiết của hành vi của mọi

tổ chức sống

Ý nghĩa cuốn sách của Megun đã khái quát các thành tựunghiên cứu của một nhóm các nhà nghiên cứu nổi tiếng - Megun,Đờgiátxperơ, Penphinđơ và v.v… không cần phải đánh giá lại Cùngvới sự xuất hiện của cuốn sách, não người và động vật đã khôngcòn bị coi là một bộ máy điều hành thụ động, mà đây là một bước điđầu tiên trong nhận thức về não như là một hệ thống tự điều khiển

Tuy nhiên, khi mô tả cơ chế thức tỉnh, Megun còn chưa phântích các hình thức cơ bản của hoạt động tâm lý cụ thể ở người, các

cơ chế của hoạt động nhận thức (tri giác và tư duy) ngôn ngữ vàgiao tiếp, việc hình thành kế hoạch, và chương trình hành vi, điềuhành và kiểm tra Những vấn đề như vậy đều nằm ngoài nội dungcuốn sách Các dữ kiện cho phép tiếp cận để giải quyết các vấn đềnêu trên và để xây dựng cơ sở học thuyết về não - cơ quan củahoạt động tâm lý cụ thể đã dần được tích luỹ bởi các lĩnh vực khoahọc khác nhau

Việc tiếp cận để phân tích các dữ liệu này được xây dựng dựavào các thành tựu của tâm lý học hiện đại như mô tả cấu trúc hoạtđộng của con người và việc tiếp cận phân tích cấu trúc chức năngcủa tri giác và trí nhớ, tư duy và ngôn ngữ, vận động và hành động,

và các quá trình hình thành chúng dưới gốc độ cá thể phát sinh

Trang 11

Một số lượng lớn các dữ kiện cũng đã được tích luỹ trong lâmsàng nội khoa và ngoại khoa thần kinh hiện đại các lĩnh vực chuyênnghiên cứu tỉ mỉ các hình thức phức tạp nhất của hành vi đã bị rốiloạn như thế nào khi có tổn thương khu trú não.

Việc giải quyết các vấn đề nêu trên gần như đã xây dựng mộtngành mới của khoa học - Tâm lý học thần kinh, chuyên ngành đầutiên có mục đích nghiên cứu khoa học là tìm hiểu vai trò từng hệthống riêng lẻ của não trong thực thi hoạt động tâm lý

Tất cả những điều nêu trên đã tạo ra khả năng (và sự cầnthiết) để chuẩn bị nội dung cuốn sách, mà ở đó tác giả đã cố gắngkhái quát những khái niệm hiện đại về các cơ sở não của hoạt độngtâm lý phức tạp ở người và mô tả những hệ thống não tham gia vàođiều hành tri giác và hành động, ngôn ngữ và tư duy, vận động vàhoạt động có chủ đích, có ý thức

Nội dung của cuốn sách còn là các tư liệu mà tác giả đã thuthập trong thời gian (trên 40 năm) hoạt động nghiên cứu tâm lý bệnhnhân có tổn thương định khu não Phần lớn trong cuốn sách này đềcập đến việc phân tích những biến đổi trong hành vi dược quan sátthấy ở những bệnh nhân này

Tâm lý học thần kinh, vào những thập niên cuối này, đã trởthành một lĩnh vực thực hành quan trọng của y học, cho phép sửdụng các nghiệm pháp mới để chẩn đoán sớm và có thể chẩn đoánđịnh khu chính xác hơn các tổn thương định khu não, đưa ra cơ sởkhoa học để phục hồi các chức năng này

Đồng thời, tâm lý học thần kinh còn là tác nhân quan trọng đểxem xét lại các khái niệm cơ bản về cấu trúc bên trong của các quá

Trang 12

trình tâm lý, là phương tiện quan trọng để xây dựng các học thuyết

về cơ sở não của hoạt động tâm lý người

Việc khái quát hoá các số liệu, tương ứng với giai đoạn hiện tạicủa việc hình thành Tâm lý học thần kinh là nhiệm vụ cơ bản củacuốn sách này

Trang 13

Chương 1 BA NGUỒN TRI THỨC VỀ TỔ CHỨC CHỨC NĂNG CỦA NÃO

Tri thức của chúng ta về tổ chức chức năng của não người vàđộng vật là kết quả của việc sử dụng ba nghiệm pháp sau: thứ nhất,

là quan sát giải phẫu - so sánh; thứ hai, là phương pháp sinh lý kíchthích từng phần não riêng lẻ; thứ ba, là phương pháp phá huỷ từngphần thực thể não; Còn khi nghiên cứu tổ chức chức năng não củangười - là các quan sát lâm sàng về biến đổi hành vi của bệnh nhân

có tổn thương định khu não

1 CÁC SỐ LIỆU GIẢI PHẪU SO SÁNH

Việc nghiên cứu cấu tạo của hệ thần kinh - bộ máy cơ bản củamối quan hệ giữa động vật với thế giới bên ngoài và là bộ máy điềukhiển hành vi của chúng - đã đem lại nhiều tài liệu vô giá để phântích, cái gì là nền tảng của hoạt động tâm lý ở từng giai đoạn pháttriển, việc điều khiển hành vi được tiến hành như thế nào ở từng bậcthang tiến hoá, hệ thần kinh của động vật sống ở các điều kiện môitrường khác nhau, được đặc trưng bởi các dạng hành vi khác nhauthì khác nhau ở chỗ nào?

Mối quan hệ giữa cấu tạo của bộ máy thần kinh với mức độ tổchức hành vi và các đặc điểm môi trường sống của con vật chophép sử dụng rộng rãi việc phân tích giải phẫu - so sánh để nghiêncứu phương thực sống, đặc điểm hành vi và các nguyên lý cơ bản

về tổ chức hoạt động của chúng

Chúng ta sẽ điểm qua nhưng vấn đề cơ bản ở dạng ngắn gọnnhất mà bằng phương pháp giải phẫu - so sánh có thể giải quyếtvấn đề não như là cơ quan của cái tâm lý

Trang 14

a) Các nguyên lý cơ bản của sự tiến hoá và cấu tạo của não như là cơ quan tâm lý

Khi xem xét cấu tạo của hệ thần kinh ở các giai đoạn kế tiếpnhau của sự tiến hoá thuộc thế giới động vật, có thể đưa ra cácnguyên lý cơ bản của sự tiến hoá này

Nguyên lý cơ bản và chung nhất là ở các giai đoạn khác nhaucủa sự tiến hoá, các quan hệ của cơ thể động vật với môi trường vàhành vi của chúng được điều hành bởi các bộ phận khác nhau của

hệ thần kinh, và suy ra, não người là sản phẩm của sự tiến hoá lâudài của lịch sử

Rõ ràng là, ở mức độ phát triển đơn giản nhất của thế giớiđộng vật (ví dụ như ở thuỷ tức) việc tiếp nhận thông tin và tổ chứccác cử động được thực hiện bởi hệ thống lan toả hay là hệ thần kinhlưới Ở giai đoạn này của sự tiến hoá, không có trung tâm duy nhất

để cải biến thông tin và điều khiển hành vi của con vật và dòng hưngphấn được xác định nhờ vào các ổ ưu thế theo thời gian, nằm ở mộtchỗ nào đó trong hệ thần kinh của con vật Chính vì vậy, ở cấp độnày có thể nói đến các vị trí ưu thế theo thời gian hay các bộ phậncủa cơ thể tương ứng với các phần được hưng phấn trong mộtkhoảng thời gian (Bete, 1931 và những người khác) Cùng với sựtiến hoá, hệ thần kinh lưới lan tỏa tuy vẫn còn được bảo tồn trong

cơ thể con vật đã nhường chỗ cho một cấu trúc mới Ở phần nãotrước của con vật, các bộ máy nhận cảm phức tạp được hội tụ vàcác tín hiệu mà chúng tiếp nhận đã được truyền đến các hạch trước,những thông tin đó được cải biến và chuyển sang các đường ly tâm

đi đến các cơ quan vận động

Trang 15

Ở bậc thang tiến hoá sơ khai (ví dụ ở con giun), hạch trước cócấu tạo chức năng tương đối giản đơn Nhưng ở các bậc sau này(ví dụ như ở động vật chân đốt), cùng với sự phân hoá, hệ thống thụcảm thể hạch trước có tổ chức chức năng phức tạp hơn: ở đây cócác nơ-ron riêng để điều khiển các chức năng như khứu giác, thịgiác, xúc giác, các tế bào trung gian liên hợp và các tế bào điềukhiển vận động Hạch trước của loài chân đốt (ví dụ như ong) trởthành một cơ quan lý tưởng để thực thi các hành vi bản năng (bẩmsinh), có thể vận hành do tác động của những tác nhân giản đơnnhưng lại có chương trình hành động độc đáo mang tính chất phứctạp Đây là cơ chế có tên gọi IRM (innate releasing mechanisms) đãđược các nhà nghiên cứu phong tục dày công quan sát (Lorenxơ,1950; Torp, 1956; Tinberơghen, 1957) Chúng tôi không có ý địnhdừng lại chi tiết ở những nghiên cứu này.

Các bộ máy thần kinh của hạch trước rất dễ thích nghi để thựchiện các chương trình bẩm sinh của hành vi, tuy vậy, chúng khôngđảm bảo cho việc thích nghi với những biến đổi thường xuyên củađiều kiện sống Trong những trường hợp như vậy, việc bảo toàngiống nòi chỉ có thể diễn ra hoặc nhờ sự sinh sản thừa các cá thểcủa loài, mà chỉ có một số ít con vật trong đó được sống sót nhờhình thành được các hành vi biến dị loài

Sự phát triển của động vật có xương sống diễn ra theo hướngthứ hai Nếu ở những động vật có xương sống bậc thấp, các nguyên

lý về giống và loài được bảo tồn, giúp cho con vật dễ dàng sống ởmôi trường dưới nước, thì khi chuyển sang sống trên cạn nhất thiếtphải có các bộ máy thần kinh khác với hạch trước, nhằm đảm bảo

sự biến đổi tối đa hành vi của loài, tương ứng với nhưng biến đổilớn của cuộc sống trên mặt đất

Trang 16

Như vậy, não bộ là cơ quan đảm trách những nhiệm vụ sinhhọc này ở các bậc thang tiến hoá thấp của động vật có xương sống,(ví dụ: ở cá, ở loài lưỡng thê), não bộ chỉ đảm trách được một số rất

ít những biến dị trong hành vi Các dạng hành vi ưu thế được triểnkhai ở chúng nhờ các bộ máy giản đơn của "khứu” não và não giữa(ở cá các tổ chức này là một, do vậy nó là tổ chức thần kinh chủđạo) Với sự phát triển tiếp theo, sự liên kết của các tổ chức trên với

bộ máy thần kinh cho phép con vật thực hiện các hình thức phức tạphơn để phân tích và thích nghi với các điều kiện môi trường Ởchim, các bộ phận của não giữa giữ vị trí chủ đạo (đồi thị, các hạchvận động dưới vỏ) hình thành nên hệ thống đồi thị - thể khía, đảmtrách các hành vi ở mức cao hơn, được N.A Bécstêin (1947) gọi là

"mức độ hợp lực"

Ở động vật có vú, hệ thống đồi thị - thể khía nhường vị trí chủchốt cho nhiều bộ máy thần kinh phức tạp hơn; vỏ não là cơ sở củacác hình thức hành vi đa dạng biến dị - loài

Các bộ phận của vỏ não hoàn toàn có khả năng tiếp nhận vàphân tích các thông tin đến từ môi trường bên ngoài, cải biến chúng,hình thành các mối quan hệ mới và bảo tồn dấu vết các quan hệ đó.Các bộ phận của vỏ não còn có thể thay thế các chương trình hành

vi bẩm sinh bằng các hành vi biến dị - loài phức tạp, trên cơ sởkhông chỉ thiết lập các phản xạ có điều kiện mà còn hình thành cácchương trình hành vi phức tạp của loài

Cùng với sự tiến hoá của động vật có xương sống cấp cao: ýnghĩa của các bộ phận nêu trên ngày càng tăng, và đến người, khi

mà ngoài các điều kiện tự nhiên còn được bổ sung thêm các điềukiện xã hội - lịch sử và khi tiếng nói - hệ thống mã hoá độc nhất vônhị chỉ cố xuất hiện ở người, các bộ máy thần kinh để điều khiển

Trang 17

hành vi đã đến đạt mức, mà về tính chất phức tạp, không thể cóđược trong thế giới động vật.

Các nhà nghiên cứu đã không ít lần chỉ ra sự phát triển củanão bộ theo trật tự các bậc thang tiến hoá dựa trên so sánh tươngquan giữa trọng lượng não với trọng lượng cơ thể Sự tăng trưởngthấy rõ nhất đã đưa Khau (1958) mô tả:

K = E / (p 0,56)E: trọng lượng não

p: trọng lượng cơ thể

0 56: chỉ số đo lường tìm được

Một số tác giả khác lại sử dụng chỉ số của Ia.Ia Rôghinxki:

K = E2 / pE: trọng lượng não

p: trọng lượng cơ thể

Ở bảng I, là những số liệu thu được dựa theo các công thứctrên và cho thấy não đã thay đổi như thế nào trên các bậc thang tiếnhoá

Chính những con số này đã chỉ ra vị trí to lớn của não ngườitrong hệ thống cơ thể, và suy ra trong tổ chức hành vi của họ

Sự tăng dần bán cầu não và vỏ não theo trật tự các bậc thangdưới góc độ chủng loài phát sinh được thấy rõ ở hình 1 cũng như ởhình 2 Sự tăng trưởng này lại được khẳng định một cách rõ ràngbằng các con số ở bảng 2 của Viện Não Mátxcơva đưa ra Các con

số cho thấy rằng, nếu như ở chuột, mỗi một sợi dây thần kinh thịgiác có 10 tế bào thần kinh ở vỏ, thì ở vượn con số này tăng lên 145

Trang 18

và ở con người là 500; Sự tăng các con số tế bào thần kinh tương

tự trên mỗi sợi dây thần kinh cũng quan sát thấy trong lĩnh vực thínhgiác (ở khỉ - loại động vật ưu thế về thị giác - thì sự tăng trưởng nàykhông thật rõ rệt); Nguyên lý này cũng được bảo tồn trong quan hệvới các vùng dưới vỏ não

Bảng 1 Sự tăng tương đối trọng lượng của não trên các bậc thang kế tiếp nhau của chủng loài phát sinh

Theo số liệu của Khau Theo số liệu của ta.In Rôghinxi

Như vậy, ở bảng 2 có thể thấy rằng, trong quá trình tiến hoá,trọng lượng tịnh của não, so với các vùng nằm phía dưới vỏ, tăngtrưởng liên tục Tất nhiên, như vậy bán cầu đại não và vỏ của chúng

sẽ là bộ máy quan trọng để điều khiển hành vi ở người Điều cơ bản

là sự tăng nhiều về khối lượng và trọng lượng não không liên quanđến sự tăng trưởng của các vùng não cũ hay các vùng thân não, màtrước hết, liên quan đến sự phát triển bán cầu đại não và phần quantrọng nhất của nó - vỏ não (hình 3)

Trang 19

Bảng 2 - Tương quan các số lượng nơ-ron thần kinh với một sợi dây thần kinh trong từng tổ chức não riêng lẻ trên các bậc thang tiến hoá (%)

Dạng

Vỏ Các tổ chức dưới vỏ Thị giác Thính giác Thị giác Thính giác

tổ chức hai lớp của vỏ não cũ thuộc hệ thống "vỏ khứu”) và gian não(là các tổ chức mang tính chất trung chuyển giữa 2 tổ chức nêutrên), ở người chỉ là một phần nhỏ của vỏ não, trong khi đó, ngượclại, ở những động vật có vú cấp thấp lại chiếm vị trí ưu thế

Hình 3 - Tương quan giữa các tổ chức vỏ não mới và cũ theotrật tự của các bậc thang tiến hoá (theo Spats)

Trang 20

Bảng 3 - Sự thay đổi tương đối các tổ chức khác nhau của

vỏ não ở các giai đoạn tiến hoá theo chủng loài phát sinh (theo I.N Philimônốp, 1949) (%)

Dạng Vỏ não

mới Vỏ não cũ Vỏ não

Vỏ khứu (Tối cổ)

Ở bảng 4, chúng tôi dẫn ra những số liệu của các nhà nghiêncứu Xô Viết thuộc Viện Não Mátxcơva

Bảng 4 - Sự thay đổi tương quan bề mặt các vùng của vỏ não với toàn bộ vỏ não ở động vật có vú cấp cao và ở người

(theo X.M Blincốp, 1955; LA Xtankevích, 1955; I.N.Phillmônốp, 1949; E.P Cônônôva, 1962 và cộng sự) (%)

Trang 21

Vùng vỏ não

/ Dạng

Vùng limbíc

Vùng trán trước trung tâm

Vùng chẩm

Vùng Thái dương

Vùng đỉnh dưới

Vùng trán

* Những số liệu về kích cỡ vùng trán được tính trên linh trưởng.

Những số liệu này chỉ ra một cách thuyết phục sự thay đổi cótính nguyên tắc về tương quan các phần của vỏ não khi chuyển từđộng vật cấp thấp (khỉ cấp thấp) lên đến động vật cấp cao và sau đó

là đến người: Các số liệu này cho phép nhận ra rằng, kích cỡ củavùng limbíc có tổ chức tương đối đơn giản thì giảm đi từ khỉ đếnngười; kích cỡ của vỏ trước trung tâm (vận động) thì không thay đổi;kích cỡ của vùng tiên phát (phóng chiếu) vỏ chẩm ở người thì lạigiảm so với ở khỉ, con vật mà trong cuộc sống của nó tri giác thị giácchiếm một vị trí đặc biệt lớn Ngược lại, kích cỡ ở vỏ thái dương ởngười lại tăng một cách đáng kể, còn kích cỡ vùng não cấp III của

vỏ não - vùng đỉnh dưới và vùng trán - tăng lên gấp nhiều lần

Như vậy, chúng ta sẽ thấy vị trí rất quan trọng của các bộ máy

có liên quan đến tiếp nhận, cải biến (mã hoá) và tổng hợp thông tinthu được từ các hệ cơ quan phân tích khác nhau cũng như của các

bộ phận tham gia vào quá trình cải biến và bảo tồn các chương trìnhhành vi phức tạp và kiểm tra các hoạt động tâm lý

Trang 22

Dưới đây, chúng tôi sẽ phân tích một cách tỉ mỉ vai trò củanhững bộ máy này trong các quá trình tâm lý.

Sẽ không chính xác nếu nghĩ rằng, vỏ não ở người có vai tròchủ đạo nên tất cả các tổ chức thần kinh đã có ở các giai đoạn tiếnhoá thấp đảm bảo việc tổ chức hành vi thì bây giờ hoàn toàn không

có vai trò gì trong hoạt động tâm lý

Nguyên tắc hoạt động quan trọng nhất của não là các bộ máythần kinh trước đó vẫn được bảo tồn nhưng được bảo tồn, mà theoHêghen, thì ở dạng mờ nhạt Nói cách khác, chúng được bảo tồnnhưng phải nhường vị trí chủ đạo cho các tổ chức mới và giữ vai tròkhác so với trước đây Những tổ chức này ngày càng trở thành các

bộ máy đảm bảo phông của hoạt động, tham gia tích cực vào điềukhiển trạng thái của cơ thể, trên cơ sở đó thực hiện chức năng tiếpnhận, cải biến và bảo tồn thông tin cũng như các chức năng xâydựng chương trình mới của hành vi là điều hành kiểm tra hoạt động

có ý thức do các bộ phận cấp cao của vỏ não thực hiện (hình 5)

Hình 5 - Tương quan các mức độ khác nhau của hệ thống thần kinh

1 Đồi thị; 2 Tổ hợp các cấu trúc phát triển sớm của vỏ não; 3.Phần phát triển sớm của hạch dưới vỏ bán cầu não; 4 Phần pháttriển muộn của hạch dưới vỏ bán cầu não; 5 Vùng xuất hiện muộn

ở động vật có xương sống ở võ não mới; 6 Vỏ tiểu não; 7 Đườngthác để dẫn truyền đến các trung tâm phản xạ của cơ chế phối hợpđược hình thành trên vỏ não; 8 Đường ngoại thác để dẫn truyềnnhững ảnh hưởng của vỏ não lên tiểu não Những trung tâm phản

xạ bậc thấp của tủy sống và thân não của bán cầu não được biểu thịbởi các vòng tròn và tam giác đậm;

Trang 23

I - Ứng với cơ chế phối hợp

II - Ứng với cơ chế phối hợp giữa các hệ cơ quan phân tíchIII- IV - Ứng với hai mức độ phức tạp hoá của các cơ chế cấpcao thuộc các hệ cơ quan phân tích, (theo sơ đồ đã có chút ít biếntướng của N.A Bécstêin)

Sẽ là sai lầm lớn nếu như quên nói đến và xem xét các bộ máycủa vỏ não một cách tách biệt với các tổ chức phía dưới của nó.Đến nay, chúng ta hiểu rằng, các hình thức hành vi phức tạp khácnhau, thậm chí ở người chỉ có thể được thực hiện với sự trợ giúpcủa các bộ phận khác nhau của hệ thần kinh

Mỗi một nhà sinh lý học và nhà thần kinh học đều hiểu rằng,các yếu tố hành vi đơn giản nhất (ví dụ như phản xạ đầu gối, cácphản xạ tự vệ giản đơn) đều được thực hiện bởi cơ chế của não tuỷ;còn ở bệnh nhân, nếu vết thương cắt rời hoàn toàn bộ phận tủysống với những cấu trúc cao hơn, thì những phản xạ này vẫn dượcbảo tồn hoặc thậm chí lại được tăng cường, mặc dù bệnh nhânkhông ý thức được điều đó

Các nhà sinh lý học cũng biết rất rõ rằng, các hình thức hành vibẩm sinh phức tạp như điều hành trao đổi chất (tạo cân bằng cơthể) do hô hấp, tiêu hoá và điều hoà thân nhiệt chỉ được thực hiệngián tiếp bởi các cơ chế nằm ở phần trên của thân não (hành não,vùng dưới đồi thị); khi những vùng này bị tổn thương, các quá trìnhtương ứng bị rối loạn; sự tổn thương sâu các cơ chế này có thể dẫnđến suy chức năng hô hấp và bị chết

Ngoài ra, các nhà sinh lý học và thần kinh, học cũng biết rằng,các hình thức hành vi tương đối phức tạp đòi hỏi phải có sự đảmbảo của trương lực, sự đồng vận và sự phối hợp, liên quan chặt chẽ

Trang 24

với hoạt động của gian não và các hạch vận động dưới vỏ (hệ thốngđồi thị - tuỷ sống); Sự tổn thương của những vùng này không gây rarối loạn các quá trình nhận thức phức tạp, mà làm rối loạn các hành

vi có tính chất “phông nền” Một sự thú vị đặc biệt liên quan đến vấn

đề này là kết quả quan sát trên bệnh nhân bị mắc “Parkinson” đượctích luỹ trong 10 năm gần đây khi nghiên cứa dịch tễ viêm não và

mổ nội soi

Cuối cùng, rõ ràng là các hình thức hoạt động phức tạp nhất không thể xảy ra nếu như thiếu sự tham gia của vỏ não - cơ quancủa các hình thức hành vi cấp cao nhất ở động vật và ở người

-Như vậy, các quá trình phản xạ và các hình thức hành vi phứctạp có thể được thực hiện bởi các mức độ khác nhau của hệ thốngthần kinh, mỗi mức độ trong đó sẽ có đóng góp nhất định vào việc tổchức chức năng hành vi

Mười năm gần đây đã cho phép chính xác hoá rất nhiều cácđiểm nêu trên, đã chứng minh được rằng: các phần phía dưới của

hệ thần kinh tham gia vào các tổ chức hoạt động của vỏ não thôngqua việc điều khiển và đảm bảo trương lực của nó

Vai trò của các phần dưới thân não và các tổ chức gian nãotrong đảm bảo và điều khiển trương lực vỏ não đã được xác nhậncách đây không lâu trong các công trình đề cập đến cái gọi là

“đường hoạt hoá đi lên” của thể lưới của Megun và Môrútsi (1949 vàv.v…)

Sẽ mắc phải một lỗi rất quan trọng nếu như quên nói đến sựtham gia của các tổ chức phía dưới của não bộ vào các hình thứchành vi phức tạp nhất và loại bỏ yếu tố đảm bảo trạng thái cần thiếtcủa vỏ não của chúng với tư cách là một bộ phận điều hoà phông

Trang 25

chung của hoạt động tâm lý Dưới đây (phần I, chương 3) chúng tôi

sẽ nói về vấn đề này cụ thể hơn

Các bộ máy thân não không làm việc tách biệt hoàn toàn vớinão, và bản thân chúng cũng gây ảnh hưởng đến điều chỉnh hoạtđộng của vỏ

Các công trình của Mắc Kenlốc và cộng sự (1946); Phrench vàcộng sự (1955), Linđơxli (1955, 1956, 1961), Giuve và cộng sự(1956, 1961), Ếcnanđétxơ Pêôn (1966, 1969) và rất nhiều công trìnhnghiên cứu khác mà chúng tôi sẽ phân tích dưới đây, đã chỉ ra vaitrò to lớn của thể lưới hoạt hoá đi xuống, chuyển các xung từ vỏ nãođến các tổ chức phía dưới, đến các bộ máy điều hành trương lựctương ứng với thông tin mà chủ thể thu nhận và với nhiệm vụ đãđược đặt ra trước chủ thể

Các số liệu thu được trong các nghiên cứu giải phẫu sinh lýhiện đại đã cho phép phát biểu về nguyên lý tổ chức dọc của các hệthống chức năng não; Nói cách khác, nguyên lý, mà theo đó mỗi mộthình thức hành vi được đảm bảo bởi sự cùng hoạt động của cácmức độ thần kinh khác nhau, liên quan với nhau bởi các mối quan

hệ đi “lên” và đi “xuống” biến não thành hệ thống tự điều khiển

Nguyên lý đã đi vào khoa học này còn khẳng định rằng, vỏ nãoluôn ở trong sự tác động qua lại với các phần dưới vỏ và không phải

là bộ máy não duy nhất để điều khiển hoạt động tâm lý

Nguyên tắc nêu trên đã giải thích được một số dữ kiện mànhiều nhà nghiên cứu trước đấy đã bị rơi vào bế tắc Thực tế chothấy sự phân lập ra các vùng não riêng lẻ bằng cách ức chế tạmthời chúng, có thể không dẫn đến những rối loạn hành vi của convật: Trong khi đó, một vết cắt ở vỏ não để cô lập nó với các tổ chức

Trang 26

dưới vỏ, lập tức sẽ dẫn đến các rối loạn nặng nề chức năng điềuchỉnh (Chou (1954), Xperi (1959, Pribram, Bleirt, Spinhenli (1966).Tất cả điều đó nói lên rằng, các phán riêng lẻ của vỏ não liên kết vớinhau không chỉ bởi các mối quan hệ theo chiều ngang, mà cònthông qua các tổ chức nằm phía dưới, nói cách khác, gián tiếp qua

hệ thống của các mối liên hệ dọc

Sau khi nói về sự tiến hoá của các bộ máy cũng như về cácmức độ cơ bản của hệ thống thần kinh và sự tương tác giữa chúng,chúng tôi sẽ chuyển sang xem xét những số liệu mà việc giải phẫu -

so sánh vỏ não đã đưa ra

b) Tổ chức cấu trúc và chức năng của vỏ não

Các quan sát ở đầu thế kỷ trước đã chỉ ra rằng, não nói chung

và vỏ não nói riêng có chức năng không đồng nhất

Ph Gan, nhà giải phẫu nổi tiếng đi vào lịch sử khoa học như làmột nhà sáng lập viễn tưởng (quan điểm về tổ chức, chức năng củanão xuất phát từ khái niệm về định khu các “năng lực” tâm lý phứctạp trong những vùng hạn hẹp của vỏ não) là người đầu tiên phânlập được chất xám cấu tạo nên vỏ não và các tổ chức chất xámdưới: với các chất trắng cấu tạo nên đường dẫn truyền, kết nối vớicác vùng khác của vỏ não và liên kết vỏ não với các vùng ngoại vi,phát kiến của nhà sáng lập hình thái não Gan suốt một thời gian dàikhông được đánh giá thoả đáng và kiến thức ngày nay về chứcnăng của vỏ não, đường dẫn truyền và chất xám của nó nằm phíatrong của bán cầu não, chỉ được tìm ra sau đó vài thế hệ

Hình 6 - Hai dạng cấu trúc của vỏ não

a - Vỏ phía trước (vận động);

Trang 27

b - Vỏ phía sau (cảm giác) (theo Brốtman).

Bước tiến quan trọng được dánh dấu vào năm 1863 khi nhàgiải phẫu người Kiép V.A Bes nghiên cứu được các thành phần của

tế bào não bằng kính hiển vi Kết quả mà Bes phát hiện ra được coinhư điểm khởi đầu một thiên niên đại của các nghiên cứu vĩ đại

Khi mô tả cấu trúc các phần khác nhau của vỏ não, Bes đãphát hiện ra rằng, cấu trúc hình thái của chúng rất không đồng nhất:nếu như ở vỏ não phần rãnh trung tâm của vỏ não có cấu tạo chủyếu từ những tế bào thần kinh lớn, hình tháp (những tế bào mà saunày được gọi là những tế bào tháp khổng lồ của Bes, thì phần phíasau của rãnh trung tâm có cấu tạo là những hình sao nhỏ, hoàn toànkhông có tế bào tháp (hình 6))

Hình 7 - Cấu trúc của vỏ vận động

a – Của gấu Úc;

b - Của dơi chó (theo Brốtman)

Tiếp theo, cũng đã xác định được rằng, sự khác nhau của haivùng vỏ não đó không chỉ về hình thái mà cả về chức năng Các tếbào tháp khổng lồ Bes (cấu tạo nên lớp thứ năm của vỏ não), lànguồn gốc của các xung vận động đi từ vỏ não đến các cơ bắpngoại vi, còn phần phía trước của rãnh trung tâm, nơi tập trung tếbào này được gọi là vùng vận động của vỏ não Các diện của vỏnão có cấu trúc hình sao nhỏ phát triển mạnh ở lớp thứ tư của các

tế bào thần kinh (trong đó bao gồm các tổ chức của phần sâu rãnhtrung tâm) là các bộ máy, nơi đi đến của các sợi cảm giác từ các cơquan cảm giác ngoại vi (thụ cảm thể); còn các vùng não tương ứng -các tổ chức cảm giác tiên phát của vỏ não

Trang 28

Hình 8 - Diện tích của vỏ khứu

a, b - Bán cầu đại não của nhím mặt bên và mặt giữa

c, d - Bán cầu não người Võ não mới là những phần không cógạch Ở nhím vỏ não chiếm ¼ bán cầu não còn ở người là 11/12toàn bộ bề mặt não (theo Êcônômô)

Cùng với sự tách biệt được vùng cảm giác và vùng vận động(hay là những trung tâm vận động và cảm giác tiên phát) là bướctiến đầu tiên để xây dựng bản đồ chức năng của vỏ não và khốilượng chất xám phủ một lớp mỏng lên đó và cũng mang tính chấtphân hoá

Các quan sát giải phẫu - so sánh tiếp theo đã khẳng định tínhhiệu quả của cách tiếp cận trên Việc nghiên cứu tỉ mỉ những vùng

“tiên phát” của vỏ não cho phép đưa ra những kết luận chính xác vềmột số đặc điểm hành vi của con vật Những ví dụ sau đây sẽ minhchứng quan điểm này

Trên hình 7, chúng tôi dẫn ra lát cắt từ vùng vận động của vỏnão gấu Úc (hình 7a) và của dơi chó (hình 7b) Dễ dàng nhận rarằng, ở lát cắt đầu tiên, không thấy có nhiều tế bào tháp khổng lổ,trong khi đó, ở vết cắt thứ hai, số lượng các tế bào này tăng hơnnhưng kích cỡ thì nhỏ hơn rất nhiều Phải chăng hiện tượng này đãcho chúng ta thấy những vận động tương đối mạnh mẽ và thô kệchthì có ở con vật thứ nhất còn những cử động tinh tế và đa dạng thì

có ở con vật thứ hai?

Để đi đến những kết luận tương tự cần phải có những phântích giải phẫu - so sánh cấu trúc các phần cảm giác của vỏ não

Trang 29

Hình 8 đã cho thấy vị trí của các tổ chức khứu giác trên báncầu não của con nhím (hình 8a, 8b) và ở người (hình 8c, 8d).

Các hình vẽ đã chỉ ra vai trò chủ đạo của cơ quan phân tíchkhứu giác ở động vật có vú cấp thấp và vị trí không quan trọng của

cơ quan này ở người. 

Hình 10 - Các dạng cấu trúc vỏ não người

a - Dạng của vùng vận động;

b - Dạng phía trước;

c - Dạng đỉnh;

d - Dạng phân cực;

đ - Vỏ của tế bào sao nhỏ;

I - V - Các lớp của vỏ não (theo Êcônômô)

Trang 30

Các nghiên cứu giải phẫu - so sánh vỏ não được bắt đầu từviệc tách ra các vùng “tiên phát” hay còn gọi là “phóng chiếu” cũngchỉ mới xuất hiện vào 10 năm gần đây;

Những thành tựu quyết định thu được vào những năm đầu củathế kỷ XX, khi mà các công trình của Kembel (1905) và Brốtman –(1909), Ramôn và Kakhan (1909 - 1911) và Bontơn (1933) cho phépxây dựng bản đồ cấu trúc tế bào của vỏ não; Bản đồ này đã đượcchính xác hoá bởi X.O Phóct (1919 - 1920) và các công trình củaViện Não Mátxcơva, đã cho phép tiếp cận để mô tả các nguyên tắccấu trúc của vỏ não động vật và vỏ não người, và đã đóng góp vôgiá cho tri thức của chúng ta về não như là một cơ quan tâm lý

Các nghiên cứu đó đã chỉ ra rằng, vỏ não mới có cấu trúc từ 6lớp tế bào (hình 10) Những lớp phía dưới là các bộ máy liên kếttrực tiếp vỏ não với ngoại vi: các cơ quan nhận cảm (IV - lớp hướngtâm) và cơ (V - lớp ly tâm) Đi đến lớp IV của vỏ não là sợi dẫntruyền các xung nảy sinh ở các thụ cảm thể ngoại vi; Lớp tế bào saonhỏ này đặc biệt phát triển mạnh ở các vùng cảm giác “tiên phát”của vỏ não đã nhắc đến ở trên Lớp V bao gồm các tế bào thápkhổng lồ truyền các xung đi đến các phần cơ; cơ thể và là điểm khởiđầu của đường dẫn truyền vận động có được cấu trúc từ các sợithần kinh; Ưu thế tuyệt đối của lớp tế bào này thuộc về rãnh trướctrung tâm hay còn gọi là vùng vận động của vỏ não

Hình 11 – Đường hướng tâm và các vùng cảm giác của vỏ não

Các đường đậm là các hệ thống cơ quan phân tích cùng với sự bắt chéo của chúng ở dưới vỏ.

1 Cơ quan phân tích thị giác;

Trang 31

2 Cơ quan phân tích thính giác;

3 Cơ quan phân tích da - bộ khung;

12 Thể gối ngoài (theo G.I Pôliacốp)

Trên hình 11, chúng tôi đưa ra sơ đồ cho phép quan sát đườngdẫn truyền của các sợi đi từ các cơ quan nhận cảm ngoại vi vào cácvùng “phóng chiếu” tương ứng của vỏ não Sơ đồ cho thấy, các sợiđược bắt đầu từ các cơ quan nhận cảm của da và cơ, bắt chéo ởcác tổ chức dưới vỏ, rồi đi đến rãnh trung tâm phía sau của vỏ (vùngcảm giác chung), còn các sợi đi từ võng mạc mắt và từ tai trongcũng bắt chéo ở các cơ quan dưới vỏ và kết thúc ở các vùng vỏ thị,

vỏ thính tiên phát tương ứng

Như vậy, trên vỏ não người có các vùng tiên phát: cảm giácchung (đỉnh), thị giác (chẩm) và thính giác (thái dương)

Tuơng tự như vậy, cũng có thể quan sát các sợi được bắt đầ

từ các phần phía trước của rãnh trung tâm đi đến sừng trước củatủy sống dẫn truyền xung vận động đi đến các cơ Những sợi này làcấu tạo đường dẫn truyền vận động hay là đường tháp của vỏ não

Trang 32

Các nghiên cứu về hình thái cũng đã chỉ ra rằng, trên mỗi vùng

"tiên phát” của vỏ não (với sự phát triển ưu thế của lớp IV - lớphướng tâm hay lớp tế bào thứ V - lớp ly tâm) là hệ thống các vùng

"thứ phát”, mà trong đó vị trí ưu thế là những lớp tế bào II và III cócấu trúc phức tạp hơn Những lớp này được cấu tạo từ các tế bào

có trục ngắn, phần lớn trong số đó, hoặc không có mối quan hệ trựctiếp với ngoại vi hoặc tiếp nhận các xung nằm ở phía sâu, phầndưới vỏ não, đã qua sơ biến Cấu trúc của những lớp này không chophép xếp chúng vào các vùng tiên phát đơn giản mà phải vào các

bộ máy phức tạp hơn - các bộ máy “liên hợp” hay “tích hợp” của vỏnão

Trọng lượng tịnh của các lớp vỏ não liên tục phát triển trongquá trình tiến hoá của loài là vấn đề cơ bản nhất để hiểu được chứcnăng của những lớp tế bào não này (hình 12) Điều này chỉ ra rằng,quá trình phức tạp hóa của hoạt động tâm lý, sự chuyển từ nhữnghình thức hành vi tương đối đơn giản, bẩm sinh ở động vật đến cáchình thức mã hoá thông tin phức tạp mang tính ý thức các hình thứclập chương trình hành động thu được ở người, có liên quan đến sựphát triển của các lớp phía trên của vỏ não Một đặc điểm chứcnăng không kém phần quan trọng của cấu trúc vỏ não là sự tươngquan giữa khối lượng thân và các chất của tế bào

Những nghiên cứu trong thời gian gần đây đã chỉ ra rằng, đểthực thi các quá trình thần kinh phức tạp, giữ vai trò quyết địnhkhông chỉ là các thân của tế bào thần kinh mà cả số lượng rất lớncác tua và cuối cùng là các tế bào glia bao bọc xung quanh nó(Khiđen, 1962,1964; Roitbắc,1965; và những người khác)

Sự tăng trưởng của “chỉ số glia” trên mỗi bậc thang tiến hoámới, đã chỉ ra sự tăng cường về tính điều khiển chức năng của các

Trang 33

vùng não riêng lẻ Tuy nhiên, chỉ những nghiên cứu giải phẫu - sosánh trong tương lai mới có thể giải thích ý nghĩa chức năng của nó.

Vì thế, có thể đưa ra điểm đặc trưng là, cùng với sự tiến hoá,đại lượng tương quan của các mô “glia” với khối lượng các tế bàothần kinh ngày càng tăng; và ở người tương quan này lớn hơn rấtnhiều lần so với ở động vật có vú nằm ở các bậc thang tiến hoá thấphơn (xem bảng 5)

Xu hướng tương tự, dễ dàng quan sát thấy ở quá trình chínmuồi vỏ não của người, ở bào thai 6 tháng tuổi, các lớp tế bào nãophía trên manh nha xuất hiện, ở trẻ sơ sinh - chúng phát triển tươngđối yếu ớt, còn ở người lớn, trưởng thành - chiếm một diện tích rấtlớn (hình 13) Trong trường hợp thiểu năng trí tuệ bẩm sinh, các lớp

tế bào này không phát triển, còn ở những bệnh nhân mất trí thực thể

và do phù não thì chúng bị thu hẹp rất nhiều

Hình 12 – Bề dày so sánh của những lớp trên vỏ não ở góc

độ chủng loài phát sinh

a - Mặt cắt; b - Sơ đồ (theo Viện Não Mátxcơva).

Hình 13 – Bề dày tương đối của các lớp phía trên vỏ não dưới góc độ cá thể phát sinh (theo E.P Cônôcôva và cộng sự)

Tất cả điều đã chỉ ra rằng, các lớp “liên hợp” phía trên của vỏnão giữ vai trò quan trọng trong việc thực thi những hình thức tâm lýphức tạp nhất; sự hoàn thiện của chúng diễn ra ở các giai đoạnmuộn trong quá trình chủng loài phát sinh và ở những giai đoạn saunày trong sự phát triển của con người

Không kém phần quan trọng là dữ kiện về giải phẫu cho phépchúng ta hiểu được những nguyên lý cơ bản của vỏ não là sự phân

Trang 34

bố không đồng đều các lớp của vỏ riêng lẻ trong các vùng định khukhác nhau.

Nhiều dữ kiện đã cho thấy rằng, trên mỗi vùng tiên phát của vỏnão, những lớp phía dưới (hướng tâm và ly tâm) là các vùng thứphát với chủ yếu là các tế bào phía trên (phóng chiếu, liên hợp) cóvai trò quan trọng như sẽ thấy dưới đây trong việc tổ chức các chứcnăng hoạt động của cơ quan phân tích riêng lẻ

Cấu trúc thứ bậc của vỏ não dễ dàng nhận ra khi xem xét bản

đồ định khu não mô tả trong hình 14 Ở đây có thể nhận thấy rằng,phía trên các vùng tiên phát (phóng chiếu) của vỏ cảm giác chung(rãnh trung tâm phía sau) ở người là các vỏ cảm giác thứ phát, trong

đó các lớp vỏ phía trên (phóng chiếu, liên hợp) chiếm ưu thế; Trên

vỏ tiên phát thị giác nằm ở ụ chẩm là vùng thị giác thứ phát, nơi tậptrung chủ yếu các lớp trên của tế bào (lớp phóng chiếu, liên hợp).Trên các vỏ thính giác tiên phát, nằm ở các thuỳ trên của vỏ tháidương là các vùng thứ phát với cấu trúc như đã nêu; Cuối cùng,trên vỏ tiên phát vận động nằm ở rãnh trung tâm phía trước là cácphần thứ phát của nó nằm ở vùng trước vận động của vỏ não

Bảng 5: Quan hệ giữa khối lượng chất xám của vỏ não (tế bào thần kinh) với khối lượng tế bào glia (chỉ số glia) trên các bậc thang tiến hoá (theo Phritđơ, 1954)

Trang 35

Quan hệ giữa khối lượng chất xám của vỏ não (tế bào thần kinh) với khối lượng các tế bào “glia” trên các bậc thang tiến hoá trong khuôn khổ vùng vận động của vỏ não (theo Bônhin, 1951)

Dạng

Đại lượng

tế bào Bes (μ)

Số tế bào tháp trong

1 μm3chất xám

Quan hệ của đại lượng chất xám với đại lượng

tế bào Bes (đơn vị tượng trưng)

Hình 14 - Sơ đồ định khu của vỏ não

a - Bề mặt phía trên; b - Bề mặt bên trong

Vùng hạt nhân của vỏ não được biểu thị bằng các đường tròn(là vùng thị giác), bởi các hình vuông (vùng thính giác), bởi các hìnhthoi (cảm giác chung, bởi các hình tam giác (vùng vận động); Cácdiện trung tâm được biểu thị bởi các dấu hiệu đậm Vùng mở củacác cơ quan phân tích ở phần phía sau bán cầu (đỉnh - thái dương -chẩm và các phần đỉnh dưới) được biểu thị bởi các ký hiệu hỗn hợp

Ở phần trước bán cầu (vùng trán) là những hình tam giác được biếntướng; Vùng limbic và vùng sâu cũng như các vùng hình thành sớmtrên vỏ não là các chấm dời (theo G.L Pôliacốp)

Trang 36

Cũng từ bản đồ này có thể nhận thấy rằng, trên vỏ não người

có thể tách ra những vùng nằm ở ranh giới giữa các vùng nhận cảmcủa vỏ não được gọi là vùng não cấp III của vỏ não (hay còn gọi làvùng mở của các đại diện trên vỏ não, thuộc các cơ quan phân tíchriêng lẻ) Vùng này của vỏ não hoàn toàn được cấu tạo từ các lớptrên của tế bào (liên hợp) và không có quan hệ trực tiếp với ngoại vi

Có đầy đủ cơ sở để nói rằng, các vùng não cấp III của vỏ não đảmbảo hoạt động đồng thời các khâu của từng cơ quan phân tích riêng

lẻ, thực thi những chức năng tích hợp phức tạp nhất của vỏ não

Như các nghiên cứu giải phẫu chi tiết đã chỉ ra, trên vỏ não cóhai nhóm vùng não cấp III Một trong số đó - vùng não cấp III phíasau - nằm ở ranh giới của các vùng thị giác (chẩm), cảm giác chung(đỉnh) và thính giác (thái dương) Hoàn toàn có cơ sở để coi vùngnão cấp III này là vùng mở của các phần vỏ não của liên cơ quanphân tích Vùng não cấp III thứ hai - vùng phía trước - nằm ở chỗtiếp giáp với vùng vận động của vỏ Vùng này có liên quan với tất cảvùng còn lại của vỏ não và giữ vai trò rất cơ bản trong cấu trúc cácchương trình các hành vi phức tạp nhất ở con người

Các nghiên cứu tỉ mỉ đường dẫn truyền từ các cơ quan nhậncảm đến vỏ não cho phép khẳng định nguyên tắc cấu trúc thứ bậccủa các phần vỏ não Hình 14 và hình 15 đã chỉ ra một cách thuyếtphục rằng, hệ thống chức năng của não đều có cùng cấu trúc (thứbậc) và các số liệu giải phẫu cho phép tìm ra trong não các vùng tiênphát, thứ phát và vùng não cấp III

Hình 15 - Hệ thống các liên hệ của các vùng não cấp I, cấp

II và cấp III trên vỏ não

Trang 37

Các đường dẫn: I - Hệ thống các đường liên hệ phóng chiếucủa võ não (vỏ - dưới vỏ); II - Hệ thống các đường liên hệ phóngchiếu, liên hợp của vỏ não - Hệ thống các dường liên hợp của vỏnão.

1 Cơ quan nhạy cảm; 2 Cơ quan đáp ứng; 3 Tế bào của cáchạch cảm giác: 4 Tế bào vận động; 5,6 Nơ-ron chuyển tiếp cùa tủysống và thân não 7 - 10 Các nơ-ron chuyển tiếp của các tổ chứcdưới vỏ; 11 - 14 Các sợi hướng tâm đi từ dưới vỏ; 13 Tế bào kháccủa lớp V; 16 Tế bào tháp của lớp III3; 18 Tế bào tháp của lớp III2

và III1; 12,15,17 Tế bào sao của vỏ não (theo G.I Pôliacốp)

Thật không đúng nếu nghĩ rằng, ba cấp độ của vỏ não đã mô

tả trên đều xuất hiện trên tất cả các bậc thang tiến hoá của động vật

có xương sống Những yếu tố phủ định suy nghĩ trên đã chỉ ra rằng,cấu trúc thứ bậc của vỏ não mà chúng tôi đã mô tả ở trên là sảnphẩm của sự phát triển lịch sử lâu dài

Các số liệu giải phẫu - so sánh được mô tả một cách hình ảnhtrên hình 4 cho thấy, ở vỏ não nhím và chuột đã có những manh nhacủa sự phân hoá các vùng não cấp I và cấp II, nhưng hoàn toànchưa có vùng não cấp III Một cấu trúc tương tự có thể thấy ở vỏnão chó; Chỉ ở khỉ mới quan sát thấy đầy đủ và rõ ràng vùng nãocấp II và cấp III của vỏ Ở người, cấu trúc thứ bậc của vỏ não biểuhiện hoàn toàn rõ; Sơ đồ ở hình 14 cho thấy rằng, vùng não cấp Icủa vỏ não chiếm một vị trí hoàn toàn không lớn, nhường chỗ chocác vùng não thứ phát vốn được phát triển hơn và vùng não cấp IIIchẩm - thái dương - đỉnh và vỏ trán là những hệ thống phát triểnnhất và chiếm phần lớn diện tích vỏ não của hai bán cầu

Trang 38

Hình 16 - Sự phát triển các bậc thang tiến hoá của Nhân chủng học (dựa vào các di khảo về não)

1.Pitêcantrốp; 2 Xnantrốp; 3 4 5 Néanđectan; 6 Người hiệnđại (theo Tinnhây và Điubua). 

Hình 17 - Sự phát triển các vùng não riêng lẻ trên các bậc thang tiến hoá của Nhân chủng học.

a - Mặt cắt thẳng qua các vùng đỉnh dưới; b - tương tự (rãnhbên); c - tương tự (vùng thái dương); d - tương tự (vùng trán sau); đ– Mặt cắt ngang (Theo V.I Côtruốtcôva). 

Trong thời gian gần đây đã thu được rất nhiều các dữ kiện, chophép lấp những chỗ trống cơ bản trong tri thức của chúng ta về tiền

sử của não người

Chúng tôi vừa dẫn ra những số liệu liên quan đến nhữnghướng cơ bản về sự tiến triển của vùng não cấp II, vùng não cấp IIItrên các bậc thang tiến hoá của thế giới động vật Một vấn đề cònlại, còn chưa rõ ràng, là có thể quan sát các hướng đó ở các giaiđoạn của di truyền nhân chủng học hay không? Sự tiến hóa từ loàilinh trưởng đến vượn hình nhân và sự chuyển giai đoạn tiếp theo từcác hình thức cổ của người tiền sử đến những hình thức hoàn thiệntương ứng với sự tăng trưởng trọng lượng tĩnh của các vùng nãocấp II và cấp III, có phải là sự phản ánh của việc phức tạp hoá cácđiều kiện sống và là sự quá độ từ tiến hoá của loài vật đến lịch sử xãhội của loài người hay không?

Đến bây giờ chúng ta mới chỉ biết rằng, khối lượng não từ khỉcao cấp đến người có tăng dần và đến lịch sử con người thì mứctăng trưởng này dừng lại Theo tính toán của Bônhin (1934) dungtích hộp sọ của Crômanhôn bằng 1570cm3; Dung tích hộp sọ cũng

Trang 39

tương tự như vậy ở các đại diện của người tiền sử (1525 - 1533

cm3), thuộc thời kỳ đồ sắt (1544 cm3) và của các giai đoạn lịch sửkhác nhau thuộc Hy Lạp cổ (1395 - 1490 cm3)

Điều này phải chăng trong toàn bộ quá trình tiến hoá nhânchủng học, tương quan giữa các tổ chức riêng lẻ của vỏ não làkhông thay đổi?

Cách đây không lâu chưa thể có cơ sở để trả lời cho câu hỏitrên Chỉ những năm gần đây, mới thu được những thành tựu đầutiên để giải quyết vấn đề này Những thành tựu đó có liên quan đếnviệc sử dụng một phương pháp độc đáo là nghiên cứu các khuôntiêu biểu ở bề mặt phía trong vỏ não người tiền sử (nghiên cứu bêntrong hộp sọ) Cùng với các nhà khoa học ở các nước khác, nhànhân chủng học Xô Viết V.I Côtruốtcôva (1966 và v.v…) đã thựchiện thành công nhiều công trình to lớn theo hướng này Khi xâydựng các khuôn mẫu não với bề mặt bên trong hộp sọ đã tìm thấy ởngười và sử dụng một số những mẫu chủ yếu (những dấu vết củarãnh Sinviép và các rãnh trước trung tâm, cũng như dấu vết cácmạch máu để lại trên mặt trong của hộp sọ), đã cho phép thực hiệnviệc tái cấu trúc tương đương để xác định tương quan giữa cácphần riêng lẻ của não trên các bậc thang thứ tự của người tiền sử(hình 16) Sự tính toán các số liệu thu được bằng toán học cho phépCôtruốtcôva đưa ra một số kết luận có liên quan trực tiếp đến việctrả lời câu hỏi mà chúng ta quan tâm Chúng ta sẽ dừng lại ở vấn đềnày một cách ngắn gọn

Trong lịch sử sơ khai của loài người có thể chia ra làm 4 giaiđoạn lớn ứng với đại diện sau: vượn người hoá thạch (Ôxtralôpitex)sống vào 1-4 triệu năm trước; người vượn- (Pitécantrốp, Xinantrốp)

đã sống 200.000 năm đến 1 triệu năm trước, người cổ (Néanđectan

Trang 40

- những người đã tìm được ở hang Néanđe sau đó tìm thấy ở khắpchâu Âu, Á và châu Phi) đã sống 200 - 400 nghìn năm trước vàngười mới (Crômanhôn) 10 - 40.000 năm trước.

Ở vượn người hóa thạch chỉ còn lại những dấu vết riêng lẻ củatiền văn hoá; Vượn người và người cổ đã có những dấu hiệu rõ củanền văn minh săn bắt, dùng lửa và chế tạo các công cụ thô sơ bằng

đá, xương Sau người cổ đã tìm thấy những dấu vết phong phú củangười hiện đại Cuộc sống săn bắt đòi hỏi định hướng chính xáctrong không gian và đời sống ẩm thực, rồi sau đó là sản xuất nhữngcông cụ đơn giản đã đánh dấu giai đoạn đầu tiên của sự hình thànhcon người; ở giai đoạn tiếp theo, cùng với những biểu hiện trên đãdẫn đến nảy sinh tiếng nói, chính hai dấu hiệu cơ bản này đã đánhdấu bước ngoặt, tách sự tiến hoá tự nhiên của động vật với lịch sử

xã hội của con người

Các nghiên cứu so sánh của V.I Côtruốtcôva đã cho thấy rằng,tương quan các phần của não của các đại diện ở bốn giai đoạn tiếnhoá nêu trên là khác về bản chất Các kết quả thu được của nghiêncứu này sẽ được trích dẫn ở phía dưới

Trên hình 17, chúng tôi đã dẫn ra phần so sánh trong cả haitrường hợp, lớp cắt thẳng và sơ đồ lớp cắt ngang của mô hình não

ở tinh tinh, loại này mà kế tiếp theo có thể so sánh với mô hình nãocủa vượn người, người cổ và người hiện đại

Không khó khăn có thể nhận thấy mô hình não của loài vượnngười có hình thể là hình cầu; những phần riêng lẻ của nó khôngđược thể hiện rõ cả ở mặt cắt thẳng cũng như mặt cắt ngang

Chúng ta sẽ thấy trên hoá thạch, mô hình não của vượn hìnhnhân hoàn toàn khác

Ngày đăng: 20/08/2021, 13:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w