BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN NGÂN HÀNG Bài tiểu luận Đề tài: Phân tích tác động của một số chính sách kinh tế của Chính phủ đối với ba chỉ tiêu kinh tế cơ bản: Lạm phát, Tăng trưởng,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
Bài tiểu luận
Đề tài: Phân tích tác động của một số chính sách kinh tế của Chính phủ đối với ba chỉ tiêu kinh tế cơ bản: Lạm phát, Tăng trưởng, Thất nghiệp
của Việt Nam trong giai đoạn 1998 - 2018.
Giảng viên: Nguyễn Thị Hương Giang
Môn: Kinh tế vĩ mô
Nhóm thực hiện:
1 Đặng Minh Quốc
2 Trần Thái Học
3 Nguyễn Ngọc Toản
4 Nguyễn Quang Vũ
5 Nguyễn Duy Hưng
6 Lê Quý Long
7 Nguyễn Huyền Trang
8 Nguyễn Quỳnh Chi
Lớp K21KDQTD
Trang 2MỤC LỤC
I Khái quát 1
1 Tài nguyên thiên nhiên, ưu đãi của tự nhiên 1
2 Nguồn nhân lực 2
3 Nguồn lực về vốn 2
4 Nguồn vốn trong nước 2
5 Nguồn vốn nước ngoài 3
6 Nguồn lực công nghệ 4
II Tình hình nền kinh tế Việt Nam hiện nay 5
III Một số chính sách của Chính phủ 6
1 Chính sách tài khóa 6
2 Chính sách tiền tệ 8
3 Chính sách thu nhập 13
4 Chính sách kinh tế đối ngoại 13
IV Ứng dụng các mô hình kinh tế vĩ mô học 13
V Tham khảo 17
Trang 3I Khái quát
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một dải hình chữ S, nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, ở phía đông Bán đảo Đông Dương, phía bắc giáp Trung Quốc, phía Tây giáp Lào, Campuchia, Phía Đông và Nam trông ra biển Đông và Thái Bình Dương
Bờ biển Việt Nam trải dài 3.260 km, biên giới đất liền dài 3.730 km Trên đất liền,
từ điểm cực Bắc đến điểm cực Nam (theo đường chim bay) dài 1.650 km, từ điểm cực Đông sang điểm cực Tây nơi rộng nhất 600 km (Bắc bộ), 400 km (Nam bộ), nơi hẹp nhất
50 km (Quảng Bình)
Việt Nam - một đất nước thanh bình, tươi đẹp Nằm trong khí hậu nhiệt đới gió mùa
ẩm, quanh năm chan hòa ánh nắng, bốn mùa (xuân, hạ, thu, đông) nên tạo ra một thảm thực vật xanh tươi phong phú với vô vàn các loài hoa tươi đẹp cùng với dải kiến trúc độc đáo mang tính vùng miền trải dài khắp đất nước hình chữ S Theo thống kê năm 2018 dân
số Việt Nam khoảng 94,660,000 triệu người đứng thứ 15 thế giới
1 Tài nguyên thiên nhiên, ưu đãi của tự nhiên
Tài nguyên thiên nhiên là những của cải có sẵn trong tự nhiên Con người khai thác,
sử dụng chúng cho lợi ích của bản thân và cộng đồng Tuy nhiên nguồn tài nguyên thiên nhiên trong tự nhiên không phải là vô tận Do vạy con người cần khai thác và sử dụng một cách hợp lí và hiệu quả Việt Nam được quốc tế công nhận là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất thế giới với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sông suối, rặng san hỗ tạo nên môi trường sống cho khoảng 10% tổng số loài chim và thú hoang
dã trên thế giới Việt Nam còn lã một trong tám trung tâm giống gốc của nhiều loại cây trồng, vật nuôi trong đó có hàng chục giống gia cầm gia súc.Tuy nhiên tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam hiện nay đang bị đe dọa một cách nghiêm trọng Hằng năm diện tích đất canh tác bị thu hẹp do hoang mạc hóa hay xâm nhập mặn khiến kinh tế nông nhiệp trở nên khó khăn hơn nhất là Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp là nền kinh tế chủ đạo Tài nguyên nước của Việt Nam hiện nay đang có chiều hướng suy kiệt do nhiều nguyên nhân tuy nhiên vấn đề đáng lưu ý hiện nay là tình trạng ô nhiễm nguồn nước Oo nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều hướng xấu đi các tính chất vật lí, hóa học và điều kiện vi sinh của nước làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và sinh vật Việt Nam còn có nguồn tài nguyên biển rất là đa dạng và dồi dào với 3260 km bờ biển cùng 4000 đảo và quần đảo, Việt Nam có rạn san hô phân bố trải dài từ biển Móng Cái đến mũi Cà Mau ước tính khoảng 400km2 Tuy nhiên tài nguyên biển đang có nguy cơ bị suy giảm trầm trọng đến môi trưởng sống của hầy hết các sinh vật biển, hoạt động du lịch cũng gây tác động lớn đến môi trưởng biển Hàng năm ở Việt Nam thải ra hàng chục nghìn tấn rác thải cùng hàng triệu m3 nước thải chảy ra biển làm cho ô nhiễm biển ra tăng Khai thác khoáng sản ven biển như than, vật liệu xây dựng, sa khoáng đã làm biến dạng cảnh quan, gây ô nhiễm môi trường và làm tăng xói lở bờ biển Năng lượng được coi là nền tảng cho
sự văn minh và phát triển của xã hội, Việt Nam hiện nay ngoài nhu cầu sử dụng năng
Trang 4xây dựng ngày càng đòi hỏi mọt nhiều Theo đánh giá của các chuyên gia trong ngành Việt Nam hiện đang sử dụng nguồn điện năng với hiệu quả thấp chi phí sản xuất cao, gây lãng phí
2 Nguồn nhân lực
Như chúng ta đã biết để phát triển đất nước cần phải có các nguồn lực như: nguồn lực về tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực về vốn và nguồn lực về con người Con người chính là nguyên nhân và mục đích của mọi sự phát triển mọi sự đổi mới tất cả đều vì con người do con người Do đó Việt Nam cần có những cơ chế thích hợp để phát triển con người nói chung hay phát triển nguồn nhân lực nói riêng Việt Nam có quy mô dân số lớn, tốc độ tăng trưởng cao (tỷ lệ tăng dân số cơ học của Việt Nam mỗi năm tương đương một tỉnh), cơ cấu dân số thuận lợi (hơn 60% trong độ tuổi lao động) để hình thành nguồn nhân lực phát triển kinh tế – xã hội Lao động Việt Nam có truyền thống cần cù, chịu khó, chi phí nhân công vẫn ở mức hợp lý so với các nước trong khu vực (Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Singapore…) Đội ngũ cán bộ khoa học – công nghệ ngày càng được tăng cường về số lượng, bước đầu đã tiếp cận được nhiều tiến bộ khoa học – công nghệ hiện đại
3 Nguồn lực về vốn
Kinh nghiệm các nước phát triển trên thế giới cho thấy rằng vốn là một nhu cầu vô cùng cần thiết đối với sự phát triển kinh tế Nguồn vốn đầu tư là một yếu tố đầu vào của sản xuất Muốn đạt được tốc độ tăng trưởng GNP theo dự tính thì cần phải giải quyết mối quan hệ cung, cầu về vốn và các yếu tố khác Ở hầu hết các nước đang phát triển thường theo quy luật chung là lượng cầu về vốn lớn hơn nhiều so với lượng cung về vốn, tức là nền kinh tế luôn trong tình trạng thiếu vốn để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh
và các nhu cầu khác Để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế thì muốn khai thác tốt nhất các nhân tố cung về vốn để nhằm thoả mãn nhu cầu vốn trong toàn bộ nền kinh tế, mỗi nước đều có một chiến lược riêng song đều phải đi vào khai thác 2 luồng vốn chủ yếu Việt Nam cũng không phải ngoại lệ
4 Nguồn vốn trong nước
Bao gồm các nguồn thu được từ ngân sách nhà nước các tổ chức tài chính trung gian, thị trường vốn , thị trường chứng khoán, và nguồn vốn từ các hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả… Ngân sách nhà nướcLà nguồn mà nhà nước có thể trực tiếp kế hoạch hoá và điều hành, cũng là nguồn có tác dụng tạo ra các công trình trọng điểm của đất nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đầu tư vào những lĩnh vực, những địa bàn mà các thành phần kinh tế khác không làm được hoặc không muốn làm ; có tác dụng là nguồn vốn để thu hút các nguồn vốn khác Nguồn vốn ngân sách nhà nước bao gồm nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước tập trung và nguồn vốn ODA Nguồn vốn ngân sách tập trung chỉ chiếm dưới 10% tổng số vốn đầu tư xã hội và phụ thuộc vào cân đối thu chi ngân sách Ngoài ra các tổ chức tài chính trung gian thực hiện chức năng dẫn vốn từ người có vốn tới những người cần vốn, nhưng khác với tài chính trực tiếp trong thị trường tài chính , các trung gian tài chính thực hiện quá trình dẫn vốn thông qua một chiếc cầu nối,
có nghĩa là để người cần vốn đến được người có vốn phải thông qua người thứ ba Một
Trang 5trung gian tài chính đứng giữa người cho vay và người vay và giúp chuyển vốn từ người này sang người kia được gọi là tài chính gián tiếp Thị trường vốn, thị trường chứng khoán đóng vai trò thu hút, huy động các nguồn tài chính nhàn rỗi để đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Thông qua thị trường vốn, thị trường chứng khoán với cơ chế hoạt động nó thu hút và chuyển giao các khoản tiền nhàn rỗi phân tán thành nguồn vốn lớn để trở thành vốn sản xuất tài trợ kịp thời cho sự phát triển kinh tế xã hội, là chiếc cầu trực tiếp giữa dự trữ và đầu tư Sự tài trợ của thị trường vốn hay thị trường chứng khoán có thể trực tiếp hay gián tiếp Các tác nhân thừa vốn hay thiếu vốn không tài trợ trực tiếp cho các tác nhân thiếu vốn là người chi tiêu cuối cùng mà thông qua các tổ chức tài chính, ngân hàng đóng vai trò trung gian Các trung gian tài chính phát hành các chứng khoán của mình để thu gom vốn và sau đó tài trợ cho những tác nhân thiếu vốn Thị trường vốn đóng vai trò thúc đẩy, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giúp cho việc luân chuyển vốn từ khu vực kém hiệu quả sang khu vực kinh doanh có hiệu quả Mở ra khả năng cho người có tiền nhàn rỗi tự do lựa chọn hình thức và lĩnh vực để thu lợi nhuận cao
và vốn sẽ luân chuyển linh hoạt trong nền kinh tế Việc hình thành và phát triển thị trường vốn của một nước nằm trong xu thế quốc tế hoá nền kinh tế, tạo diều kiện cho nền kinh tế hoà nhập với nền kinh tế thế giới Hoạt động của thị trường tài chính tạo điều kiện cho cácnhà đầu tư nước ngoài có thể mua trái phiếu trực tiếp trên thị trường vốn Thị trường vốn tạo điều kiện thu hút vốnnước ngoài Thị trường vốn, thị trường chứng khoán nhà nước thực hiện tốt chính sách tài chính, tiền tệ trong việcđiều hoà các nguồn vốn cho các hoạt động kinh tế, xã hội Đồng thời thị trường vốn và thị trường chứng khoán còn đóng vai trò huy động vốn rất mạnh mẽ cho đầu tư phát triển kinh tế và sự hình thành thị trường này là một quy luật của tất cả các nước có nền kinh tế thị trường ở một mức độ phát triển nào đó
5 Nguồn vốn nước ngoài
Bao gồm:
Nguồn vốn viện trợ phát triển (ODA)
ODA (oficial development asistance) là nguồn hỗ trợ của các nước phát triển, các tổ chức tài chính, các tổ chức phi chính phủ, dành cho các nước đang và chậm phát triển nhằm giúp các nước này tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững Trong một số trường hợp, ODA giúp các nước vượt qua khủng hoảng kinh tế hoặc tái xây dựng đất nước do chiến tranh…
- Tầm quan trọng của ODA với kinh tế Việt Nam:
Đối với Việt Nam, ODA có tầm quan trọng đặc biệt, giúp chúng ta giải quyết tình trạng cơ sở hạ tầng lạc hậu, và phân bố không đồng đều, xoá bớt sự cách biệt về phát triển kinh tế giữa các vùng lãnh thổ trong cả nước, giữa thành thị và nông thôn góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Nghị quyết đại hội VII của Đảng đã khẳng định : ” Tranh thủ thu hút nguồn tài trợ chính thức (ODA) đa phương và song phương, tậo trung chủ yếu cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, nâng cao trình độ khoa học, công nghệ và quản lý, đồng thời dành một phần tín dụng đầu tư
Trang 6cho các ngành nông, lâm, ngư nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng Ưu tiên dành viện trợ không hoàn lại cho những vùng chậm phát triển…”
Thời gian qua, số các dự án ODA trong nông nghiệp , nông thôn còn ít chưa được quan tâm khai thác và sử dụng cá hiệu quả Vì vậy, việc đẩy mạnh thu hút và sử dụng có hiệu quả ODA vào phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam đang là đòi hỏi hết sức cấp bách
Nguồn vốn từ thu hút trực tiếp nước ngoài (FDI)
Ngay khi thực hiện đường lối đổi mới, mở cửa nền kinh tế Nhà nước đã ban hành luật đầu tư trực tiếp nước ngoài và được áp dụng từ cuối năm 1987 Với vai trò là một nguồn vốn bổ sung quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Việc thu hút nguồn vốn FDI đã trở thành một bộ phận quan trọng, mũi nhọn trong hoạt động kinh tế đối ngoại ở Việt Nam, là tiền đề cần thiết để phát triển kinh tế xã hội, đẩy lùi nguy cơ tụt hậu Trong thực tế, khu vực có vốn FDI đã ngày càng trở thành một bộ phận cấu thành hữu cơ của toàn bộ nền kinh tế nước ta Sự thành bại của khu vực này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế Cụ thể FDI là nguồn bổ sung cho nguồn vốn đầu tư phát triển trong nước ; nâng cao trình độ công nghệ của đất nước thông qua việc chuyển giao công nghệ ; tiếp nhận kinh nghiệm, trình độ quản lý tiên tiến của nước ngoài ; tạo công ăn việc làm, nâng cao trình độ kỹ năng lao động và thu nhập cho người lao động; phát triển thị trường trong nước, tạo điều kiện mạnh mẽ để thâm nhập thị trường thế giới góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và thâm hụt ngân sách nhà nước
6 Nguồn lực công nghệ
Toàn cầu hóa giúp khoa học và công nghệ Việt Nam từng bước hội nhập, giao lưu với nền khoa học công nghệ của thế giới, tạo thuận lợi cho Việt Nam học tập kinh
nghiệm, tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ thế giới phục vụ cho sự phát triển của kinh tế- xã hội của đất nước Việc chuyển giao các dây chuyền công nghệ, khoa học tiên tiến của thế giới vào từng ngành nghề, lĩnh vực cụ thể ở Việt Nam như: Công nghệ sản xuất ô tô (Nhà máy ô tô Trường Hải tiếp nhận dây chuyền chuyển giao của Hyundai
về sản xuất ô tô), công nghệ sản xuất thiết bị di động cầm tay, chip và các sản phẩm viễn thông (Samsung Việt Nam), các công nghệ ứng dụng trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao (Công nghệ tưới nhỏ giọt theo tiêu chuẩn Israel), công nghệ xây dựng cầu đường và đặc biệt công nghệ thông tin trong các ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng đã góp phần đưa các ngành này từng bước tiếp cận và đạt đến trình độ của thế giới Toàn cầu hóa tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực khoa học và công nghệ, đặc biệt là sự đầu tư của các nước tiên tiến có nền khoa học và công nghệ phát triển cao như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapo Sự tham gia liên doanh, liên kết trong hoạt động khoa học và công nghệ với các đối tác nước ngoài giúp cho các nhà khoa học và công nghệ Việt Nam có cơ hội tiếp cận với khoa học và công nghệ cao mà qua đó từng bước thu hẹp khoảng cách về kiến thức, kỹ năng nghiên cứu phát triển cũng như nâng cao năng lực sáng tạo khoa học-công nghệ của cá nhân và nền khoa học và công nghệ trong nước Các chương trình hợp tác đào tạo nhân lực khoa học công nghệ trình độ cao, có khả năng
Trang 7tiếp nhận, chuyển giao và ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến của thế giới sẽ góp phần nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ những người làm khoa học hiện có và phát triển đội ngũ các nhà khoa học công nghệ trẻ kế tục sự nghiệp phát triển nền khoa học và công nghệ quốc gia ngày càng hiện đại hơn
II Tình hình nền kinh tế Việt Nam hiện nay
Trong hành trình gần 70 năm, kể từ khi nước nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời vào ngày 02 tháng 9 năm 1945, thì Việt Nam đã có hơn 30 năm trải qua chiến tranh
vệ quốc vô cùng khốc liệt Ngày nay, cả thế giới biết đến công cuộc đổi mới ở Việt Nam như một bằng chứng về sự thành công chuyển đổi kinh tế trong lịch sử đương đại Tuy vẫn là một nước nghèo, nhưng qua 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử
Kinh tế tăng trưởng khá nhanh; sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế đang đẩy mạnh Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường Chính trị - xã hội ổn định Quốc phòng và an ninh được giữ vững Vị thế Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng nâng cao Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp
Bất chấp những khó khăn từ rào cản thương mại, sự gia tăng bảo hộ của các nước hay căng thẳng thương mại Mỹ - Trung, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn chinh phục “đỉnh cao” mới Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đạt tốc độ cao nhất trong vòng
10 năm và có khả năng tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao trên 7% vào năm 2019 Trình bày báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2018 trước Quốc hội, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng khẳng định: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam đã đạt chỉ tiêu Quốc hội giao, trong đó không ít chỉ tiêu đạt mức kỷ lục từ trước đến nay
Năm 2018 cũng là năm thứ 3 liên tiếp lạm phát được kiểm soát dưới 4% Dự trữ ngoại hối Nhà nước đạt kỷ lục trên 60 tỷ USD Môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện thông qua việc cắt giảm, đơn giản hóa 61% điều kiện kinh doanh và 60% thủ tục kiểm tra chuyên ngành hàng hóa xuất nhập khẩu Nhờ kinh tế - xã hội phát triển
Trang 8ổn định, quy mô nền kinh tế tăng mạnh, năm 2018 ước đạt trên 5,5 triệu tỷ đồng GDP bình quân đầu người ước đạt 2.540USD, tăng 440USD so với năm 2015
III Một số chính sách của Chính phủ
1 Chính sách tài khóa
Giai đoạn 2007 – 2008:
Trong tháng 8/2008 đã có hai lần điều chỉnh giảm giá bán xăng và dầu hỏa, bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người sử dụng; tăng cường công tác thu ngân sách để bảo đảm nhiệm vụ được giao, kết hợp với việc rà soát nợ đọng thuế, chống thất thu; tiếp tục rà soát lại chi ngân sách, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cắt giảm, đình hoãn các dự án đầu tư chưa thực sự cấp bách và dự án đầu tư không có hiệu quả; không tăng chi ngoài dự toán, dành nguồn kinh phí cho bảo đảm an sinh xã hội; xem xét điều chỉnh giảm mức thuế xuất khẩu, nhập khẩu nhằm bình ổn thị trường, hạn chế nhập siêu
Nhờ những chính sách tài khóa quyết liệt trên của Chính phủ mà kinh tế Việt Nam
đã có kết quả tích cực Những biện pháp điều hành của Chính phủ đã phát huy hiệu quả bước đầu Tuy nhiên, nền kinh tế còn đối mặt với nhiều thách thức đòi hỏi Chính phủ phải có những điều hành quyết liệt hơn nữa bảo đảm ngăn chặn đà suy giảm, ổn định kinh tế vĩ mô, hướng tới mức tăng trưởng cao hơn
Cùng với xu hướng chung của thế giới, Chính phủ đã thực hiện các biện pháp điều hành quyết liệt nhằm chặn đà suy giảm kinh tế, ổn định vĩ mô và hướng tới tăng trưởng bền vững Một trong những giải pháp chủ yếu là Chính sách tài khóa mở rộng, gồm các gói kích cầu Gói kích cầu thứ nhất đã được triển khai nhằm hỗ trợ lãi suất khoảng 17.000
tỉ đồng, gói kích cầu thứ hai, với tổng nguồn vốn khoảng 8 tỉ USD, hỗ trợ lãi suất trong trung và dài hạn nhằm kích cầu đầu tư, phát triển sản xuất Ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô
và tạo việc làm, đây là hai điều quan trọng nhất thể hiện khá rõ vai trò của Nhà nước thông qua các gói kích cầu Việc thực hiện một cách linh hoạt và đồng bộ các chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác đã giúp nền kinh tế Việt Nam vượt qua khủng hoảng và tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2009 đạt 5,3%, tỷ lệ lạm phát đã giảm còn
Trang 96,88% (từ 23% năm 2008), thị trường chứng khoán và các hoạt động dịch vụ tài chính, ngân hàng được phục hồi từng bước
Năm 2010, kinh tế nước ta đã khắc phục được đà suy thoái nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố gây bất ổn vĩ mô Yếu tố bất ổn dễ nhận thấy nhất là nguy cơ lạm phát cao quay trở lại do độ trễ của lượng cung tiền khá lớn được Nhà nước bơm vào thị trường trong các năm 2008 - 2009 để thực hiện các giải pháp phục hồi tăng trưởng kinh tế Tiếp đến là nguy cơ thâm hụt cán cân thanh toán, mà một trong những nguyên nhân chủ yếu là do tình trạng nhập siêu Trong năm 2008, quy mô nhập siêu của nước ta lên tới 17,5 tỉ USD,
và năm 2009 nhập siêu khoảng 12 tỉ USD Cùng với nguy cơ tái lạm phát cao, nếu tỷ lệ nhập siêu tiếp tục tăng cao trong năm nay sẽ dẫn đến tình trạng lạm phát kép, tức là vừa lạm phát trong nước, vừa nhập khẩu lạm phát Một rủi ro tiềm ẩn khác trong chính sách tiền tệ là tính thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại thời điểm này đang được cho là có vấn đề, do các ngân hàng thương mại có thể chạy đua nâng cao lãi suất để huy động vốn
Vì vậy, trong thời gian tới, Chính phủ thực hiện 6 nhóm giải pháp đồng bộ cùng với gói kích cầu thứ hai để nâng cao hiệu quả đầu tư, trong đó, tập trung vốn đầu tư cho phát triển các dự án, công trình có hiệu quả, có khả năng hoàn thành đưa vào sử dụng sớm trong năm 2010 - 2011, thay vì mở rộng đầu tư trong bối cảnh khan hiếm vốn, tỷ lệ vốn đầu tư trên GDP cao và hệ số ICOR cao Để thực hiện tốt các mục tiêu này, cần chọn lọc hơn khi triển khai gói kích thích kinh tế bổ sung, chỉ ưu tiên hỗ trợ những ngành, lĩnh vực trực tiếp sản xuất tiêu thụ trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu Ngoài ra, gói kích thích kinh tế bổ sung đặt trọng tâm vào chính sách tài khóa (chính sách thuế, tài chính, ngân sách ) và cải cách hành chính nhằm làm cho chính sách dễ đi vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Đánh giá tác động của chính sách tài khóa đối với nền kinh tế nước ta:
Một trong các phương pháp để đánh giá trạng thái tài khóa hiện được nhiều nhà kinh tế và Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF) sử dụng là đo lường xung lực tài khóa đối với sản lượng/GDP trong một khoảng thời gian nhất định Một sự đo lường dương (hay âm) của xung lực tài khóa sẽ hàm ý trạng thái tài khóa mở rộng (thu hẹp) hơn so với năm trước Kết quả đo lường cho thấy, từ năm 1994 đến nay, trạng thái tài khóa Việt Nam liên tục được mở rộng, đặc biệt kể từ sau năm 2000 Nếu như giai đoạn 1994 - 2000, xung lực
Trang 10tài khóa ở mức bình quân 3%, thì từ năm 2001 đến nay xung lực tài khóa bình quân là 5%
Tuy nhiên, tình trạng tài khóa phản ứng không phù hợp với trạng thái chu kỳ kinh
tế Nền kinh tế có dấu hiệu suy thoái vào cuối năm 1997, nhưng tài khóa lại thắt chặt Cụ thể, năm 1999 tăng trưởng ở mức dưới tiềm năng, thì trạng thái tài khóa chỉ thay đổi ở mức 1% GDP Đến những năm 2000 - 2002, nền kinh tế chỉ mới đang trên đà phục hồi (vẫn còn ở mức thấp hơn tiềm năng), thì trạng thái tài khóa liên tục kiềm chế ở mức 3% GDP Bắt đầu từ năm 2005, nền kinh tế tăng trưởng nhanh (trên mức tiềm năng), thì trạng thái tài khóa lại liên tục mở rộng ở mức rất cao từ 4% đến 6% GDP Kết quả, trong 3 năm
từ năm 2005 đến năm 2007, lượng tiền trong lưu thông tăng tới 135%, trong khi tăng trưởng GDP của Việt Nam chỉ ở mức 27% Điều này có nghĩa, Nhà nước đã phát hành thêm một lượng tiền lớn hơn gấp nhiều lần trị giá của cải mà xã hội làm ra được trong 3 năm trên
2 Chính sách tiền tệ
Mục tiêu:
Chính sách tiền tệ là tổng hoà các phương thức mà Ngân hàng Trung ương (NHTW) thông qua các hoat động của mình tác động đến khối lượng tiền tệ trong lưu thông nhằm phục vụ cho mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước trong một thời kì nhất định Trong từng hoàn cảnh cụ thể, đồi với từng quốc gia thì việc đề ra chính sách tiền tệ cũng
có những điểm khác biệt Xét về mặt tổng thể chính sách tiền tệ của các quốc gia trên thế giới hướng vào các mục tiêu chủ yếu là:
Công ăn việc làm cao.Việc làm cao là một mục tiêu có giá trị bởi 2 lý do chính:-Trường hợp ngược lại, thất nghiệp cao gây ra gánh nặng tài chính cho gia đình và toàn thể XH.-Khi thất nghiệp cao, nền KT không những có nhiều lao động ngồi không mà còn
có những nguồn tài nguyên để không,gây lãng phí& không làm tăng được sản lượng tiềm năng của quóc gia.Mục tiêu của việc làm cao do đó không phai là một con số không thất nghiệp mà là một mức trên số không phù hợp với việc làm đầyđủ mà tại đó cầu lao động bằng với cung lao động.Người ta gọi đó là tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên Việc làm nhiều hay
ít, tăng hay giảm phụ thuộc chủ yếu vào tình hình tăng trưởng KT.Tuỳ theo tình hình đó
mà NHTW phảivận dụng các công cụ của mình góp phần tăng cường mở rộng đằut sản xuất kinh doanh,đồng thời tha, gia tích cựcvào sự tăng trưởng liên tục và ổn định,khống chế tỷ lệ thất nghiệp không tăng quá mức tự nhiên
Tăng trưởng KT là mục tiêu hàng đầu và quan trọng nhất của chính sách tiền tệ Với tư cách là trung tâm tiền tệ tín dụng& thanh toán trong nền kinh tế quốc dân, NHTW có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu này NHNN Việt Nam cần bằng mọi phương thức để có thể huy dộng được hầu hết các nguồn vốn nhàn rỗi