1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và một số biện pháp kỹ thuật trong nhân giống chè shan tại thị xã

88 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 2,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LIÊN NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRONG NHÂN GIỐNG CHÈ SHAN TẠI THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG TH

Trang 1

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LIÊN

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC

VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRONG NHÂN GIỐNG CHÈ SHAN TẠI THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 2

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LIÊN

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC

VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRONG NHÂN GIỐNG CHÈ SHAN TẠI THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ

Ngành: Khoa học cây trồng

Mã số ngành: 8.62.01.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Người hướng dẫn khoa học: TS Dương Trung Dũng

TS Trần Xuân Hoàng

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này

là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Phương Liên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của các thầy cô giáo giảng dạy, thầy cô giáo hướng dẫn khoa học, được sự giúp đỡ của cơ quan, các đồng nghiệp và gia đình Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết

ơn sâu sắc và kính trọng đến:

Thầy giáo TS Dương Trung Dũng - Bộ môn Cây trồng - Khoa Nông Học

- Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

TS Trần Xuân Hoàng - Trưởng Bộ môn kỹ thuật canh tác Chè - Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chè - Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc

Ban giám hiệu, Khoa sau đại học, tập thể giáo viên của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

Tập thể lãnh đạo Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc và tập thể lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chè

Để có kết quả này, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban chỉ đạo dự án: “Nghiên cứu khai thác sử dụng nguồn tài nguyên chè Shan ở Việt Nam”, mã số NĐT.26.CHN/17, đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi tham gia thực hiện các nghiên cứu trong luận văn và là một phần kết quả nghiên cứu trong thực hiện nhiệm vụ trên

Lòng biết ơn sâu sắc xin được dành cho những người thân tronggia đình, bạn bè và các bạn đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học

tập, thực hiện đề tài./

Phú Thọ, ngày tháng năm 2020

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Phương Liên

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

3.1 Ý nghĩa khoa học 3

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 4

1.1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 5

1.2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu về đặc điểm nông sinh học, nhân giống cây chè ở ngoài nước 6

1.2.1 Kết quả nghiên cứu về đặc điểm nông sinh học của cây chè 6

1.2.2 Kết quả nghiên cứu về khả năng nhân giống cây chè 11

1.3 Tổng quan tài liệu nghiên cứu về đặc điểm nông sinh học, nhân giống cây chè ở trong nước 12

1.3.1 Kết quả nghiên cứu về đặc điểm nông sinh học của cây chè 12

1.3.2 Nghiên cứu về giâm cành chè của Việt nam 16

CHƯƠNG 2.NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 21

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21

2.1.2.Các vật tư khác 21

2.1.3 Phạm vi nghiên cứu 21

2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 21

2.3 Nội dung nghiên cứu 22

2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của cây chè Shan

vùng núi phía Bắc 22

Trang 6

2.3.2 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trong nhân giống chè Shan tại

thị xã Phú Thọ tỉnh Phú Thọ 22

2.4 Phương pháp nghiên cứu 22

2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm và các chỉ tiêu theo dõi 22

2.4.2 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 25

2.5 Phương pháp xử lý số liệu: 27

CHƯƠNG 3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28

3.1 Điều kiện tự nhiên và hiện trạng phân bố chè Shan 28

3.1.1 Điều kiện tự nhiên của các vùng chè Shan 28

3.1.2 Đặc điểm nông sinh học của các dòng chè Shan 29

3.2 Kết quả nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trong nhân giống chè Shan tại thị xã Phú Thọ tỉnh Phú Thọ 57

3.2.1 Ảnh hưởng của diện tích lá mẹ đến khả năng giâm cành của dòng chè Shan Tủa Chùa 57

3.2.2 Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của cây chè trong vườn ươm 68

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72

1 Kết luận 72

1.1 Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của chè Shan núi cao ở vùng núi phía Bắc 72

1.2 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trong nhân giống chè Shan 72

2 Kiến nghị 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu địa hình và hóa tính đất các điều tra thu thập mẫu

chè Shan núi cao 28

Bảng 3.2: Đặc điểm hình thái lá chè Shan Suối Giàng, Yên Bái 30

Bảng 3.3: Đặc điểm hình thái lá chè Shan Tủa Chùa, Điện Biên 31

Bảng 3.4: Đặc điểm hình thái lá chè Shan Cao Bồ - Hà Giang 33

Bảng 3.5: Đặc điểm hình thái búp chè Shan Suối Giàng 35

Bảng 3.6: Đặc điểm hình thái búp chè Shan Tủa Chùa, Điện Biên 36

Bảng 3.7: Đặc điểm hình thái búp chè Shan Cao Bồ - Hà Giang 38

Bảng 3.8: Đặc điểm hình thái cấu tạo hoa chè Shan Suối Giàng - Yên Bái 39

Bảng 3.9: Đặc điểm hình thái cấu tạo hoa chè Shan Tủa Chùa - Điện Biên 41

Bảng 3.10: Đặc điểm hình thái cấu tạo hoa chè Shan Cao Bồ - Hà Giang 43

Bảng 3.11: Đặc điểm hình thái quả, hạt chè Shan Suối Giàng - Yên Bái 44

Bảng 3.12: Đặc điểm hình thái quả, hạt chè Shan Tủa Chùa - Điện Biên 46

Bảng 3.13: Đặc điểm hình thái quả, hạt chè Shan Cao Bồ - Hà Giang 47

Bảng 3.14: Bảng phân loại chè theo chỉ tiêu hình thái cây chè Shan núi cao ở Việt Nam 49

Bảng 3.15: Một số chỉ tiêu năng suât các cây chè Shan tại các điểm điều tra 52 Bảng 3.16: Kết quả phân tích thành phần sinh hóa của giống chè Shan 53

ở các địa điểm vụ xuân 2019 53

Bảng 3.17 : Các cây chè Shan núi cao đầu dòng tiêu biểu 55

Bảng 3.18: Ảnh hưởng của diện tích lá mẹ đến tỷ lệ ra mô sẹo của giống chè58 Bảng 3.19: Ảnh hưởng của diện tích lá mẹ đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm .61

Bảng 3.22: Ảnh hưởng của diện tích lá mẹ đến tỷ lệ cây xuất vườn .67

Bảng 3.23: Ảnh hưởng của phân bón đến khả năng sinh trưởng 69

của cây chè trong vườn ươm 69

Bảng 3.24 Ảnh hưởng của phân bón đến khối lượng thân, 70

khối lượng rễ và tỷ lệ xuất vườn 70

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Lá chè Shan tại Tủa Chùa – Điện Biên 32

Hình 3.2 Hoa chè Suối Giàng – Yên Bái 41

Hình 3.3: Hoa chè Shan Cao Bồ - Hà Giang 43

Hình 3.4: Quả, hạt chè Shan núi cao ở Suối Giàng - Yên Bái 45

Hình 3.5: Chè Shan Tủa Chùa – Điện56 Biên 56

Hình 3.6: Chè Shan Cao Bồ - HG 56

Hình 3.7: Chè Shan Suối Giàng – YB 56

Hình 3.8: Ảnh hưởng của điều chỉnh độ dài lá mẹ đến tỷ lệ ra mô sẹo

của hom chè 59

Hình 3.9: Ảnh hưởng của diện tích lá mẹ đến tỷ lệ ra rễ của hom giâm 61

Trang 10

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Chè (Camellia Sinensis (L) O Kuntze) là cây công nghiệp lâu năm có

nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nóng ẩm Hiện nay, trên thế giới có 63 quốc gia trồng chè, nhưng tập trung chủ yếu ở Châu Á và Châu Phi Sản phẩm của cây chè được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới dưới nhiều dạng khác nhau nhưng phổ biến nhất vẫn là đồ uống Người ta uống chè không chỉ để thưởng thức hương vị của nó mà còn do uống chè có lợi cho sức khỏe Các nhà khoa học Nhật Bản khi nghiên cứu các loại thực phẩm kỹ thuật cao đã xác nhận uống chè

có tác dụng bổ dưỡng cho cơ thể, chống phóng xạ, ngăn ngừa và chống các bệnh tim mạch, viêm nhiễm v.v Do chè có những tác dụng tốt lại là thức uống phù hợp với mọi đối tượng nên số người uống chè ngày càng tăng

Cây chè có vai trò quan trọng trong cơ cấu cây trồng vùng trung du và miền núi phía Bắc, khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có (đất đai, khí hậu,…) Theo số liệu của Tổng Cục thống kê tính đến tháng 12 năm

2019, Việt Nam có 123.000 ha chè, tương đương năm 2018, sản lượng chè búp đạt 1.019,9 nghìn tấn, tăng 2,6% và giải quyết công việc cho trên 400.000 hộ sản xuất chè của 35 tỉnh trong cả nước Trong đó diện tích chè Shan có trên 25.410 ha, trong đó có trên 8.850 ha chè Shan cổ thụ, sản xuất chè Shan tập trung ở vùng cao (khí hậu, độ ẩm cao), sản lượng khoảng 600 tấn búp tươi/năm giá dao động từ 12 – 40 nghìn đồng/kg búp tươi

Chè Shan là một trong bốn biến chủng chè trồng phổ biến trong sản xuất hiện nay, phân bố chủ yếu vùng núi cao Trung Quốc, Việt Nam, Myanma Về sinh trưởng của chè Shan rất mạnh, thân cây to, tán rộng, năng suất cao, chất lượng tốt Về chất lượng nguyên liệu của chè Shan phản ánh thông qua phẩm chất của các sản phẩm chè xanh, chè đen, chè vàng, chè Phổ Nhĩ đang được đánh giá cao trên thị trường chè hiện nay (Nguyễn Hữu La, 2011) [10]

Trang 11

Các công trình nghiên cứu về chè Shan ở miền núi phía Bắc Việt Nam cho biết chỉ có 30% chè Shan, còn 70% cá thể lai và đã xác định chè Shan Việt Nam có đặc điểm hình thái, hoa quả, hàm lượng các hợp chất như catechin, anthocyanin rất có giá trị trong phân loại thực vật về chè Shan và chế biến các sản phẩm có chứa các hợp chất catechin, anthocyanin; do hạn chế về phương pháp công nghệ và thiết bị cho nên hiện nay chưa khai thác hết tiềm năng cây chè Shan núi cao

Để nâng cao năng suất và chất lượng chè ở Việt Nam, đa dạng hóa sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường thế giới, đòi hỏi phải tiến hành đồng

bộ các biện pháp từ chọn tạo giống, nhân giống đến thâm canh, chăm sóc, chế biến, và thị trường Trong công tác nhân giống chè tạo ra cây giống tốt góp phần làm tăng tỷ lệ sống luôn được quan tâm hàng đầu Trong những năm gần đây Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã tiến hành đồng bộ các phương pháp chọn tạo và nhân giống, từ công tác nhập nội giống chất lượng cao, chọn lọc cá thể, lai tạo, đột biến, thu thập bảo quản nguồn gen

Với mục tiêu đánh giá được đặc điểm nông sinh học của quần thể chè Shan ở vùng miền núi phía Bắc Việt Nam và nâng cao khả năng nhân giống phục vụ công tác bảo tồn và phát triển những cây chè Shan ưu tú tại các vùng

chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học

và một số biện pháp kỹ thuật trong nhân giống chè Shan tại thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ”

2 Mục tiêu của đề tài

- Xác định được đặc điểm nông sinh học của quần thể chè Shan ở vùng miền núi phía Bắc

- Xác định một số biện pháp kỹ thuật giâm cành thích hợp để nâng cao tỷ

lệ xuất vườn và tăng chất lượng cây giống khi giâm cành với giống chè Shan

Trang 12

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài sẽ góp phần trong quá trình nghiên cứu chọn tạo ra những giống chè mới để bảo tồn và phát triển giống chè Shan và nâng cao hiệu quả kinh tế góp phần xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài

1.1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Chè là loại cây giao phấn, tỷ lệ tạp giao lên đến 95% nên nếu trồng bằng hạt thì tỷ lệ đồng đều của cây con rất thấp, cây con không giống cây mẹ về các đặc điểm hình thái, các tính trạng về năng suất và chất lượng Đây là đặc điểm

có ý nghĩa lớn về tính đa dạng sinh học, là nguồn vật liệu khởi đầu trong công tác chọn tạo giống, đồng thời là điều chúng ta cần lưu ý trong sản xuất đặc biệt

là trong việc nhân giống Cây chè từ khi tuyển chọn đến lúc tạo thành giống mới, đưa ra sản xuất cần có thời gian dài Do đó các nghiên cứu chè là sự kế thừa và phát triển, từ lựa chọn các cá thể tốt đến đánh giá khảo nghiệm về năng suất chất lượng và qui trình trồng trọt, chế biến không thể tách rời mà phải liên tục Để chọn lọc các giống chè mới, các nước áp dụng nhiều phương pháp khác nhau như: Chọn lọc cá thể, chọn lọc cây đầu dòng, lai hữu tính, nhập nội giống, gây đột biến, v.v Trong đó phương pháp lai hữu tính và chọn lọc cá thể được chú ý

và có nhiều thành công nhất (Vũ Thị Thư và cs, 2001) [20]

Cây chè cũng như hầu hết các loại cây trồng khác có thể nhân giống bằng

2 phương pháp: nhân giống hữu tính và nhân giống vô tính Mỗi phương pháp đều có những ưu nhược điểm nhất định Nhân giống vô tính sẽ tạo ra được sự đồng đều về hình thái, giữ được đặc trưng đặc tính của cây mẹ, tạo ra nương chè đồng đều, năng suất chất lượng cao Nhiều phương pháp nhân giống vô tính như giâm hom, chiết ghép, nuôi cấy mô đã được sử dụng, nhưng hiện nay phương pháp giâm hom vẫn là phổ biến nhất Hơn nữa, trồng chè bằng cành giâm sẽ rút ngắn được thời kỳ kiến thiết cơ bản của nương chè, cho thu hoạch sớm, hệ số nhân giống cao, cứ 1 ha giống hom có thể trồng được 75 - 80 ha chè (Đặng Văn Thư, 2010) [22]

Trang 14

Nhìn chung, thực vật đều có khả năng tái sinh vô tính tạo ra cơ thể mới, đối với cây chè cũng vậy, từ cơ quan sinh dưỡng như một đoạn cành dài 3 - 4

cm với một lá mẹ và chồi nách gọi là hom chè, được cắt ra khỏi cây mẹ khi giâm xuống giá thể thích hợp sẽ hình thành mô sẹo ở mặt cắt của đầu hom phía dưới, sau đó hình thành rễ và thúc đẩy phát triển mầm từ chồi nách tạo nên một cơ thể mới đầy đủ rễ, thân, lá để hình thành cây con hoàn chỉnh Khả năng này cho kết quả tốt nhất khi giâm hom bánh tẻ, có lá và chồi nách khỏe, không bị sâu bệnh

để tạo thành cây con

Do đó, đối với mỗi giống chè cần có những biện pháp kỹ thuật thích hợp, tác động điều chỉnh, chăm sóc để hom chè trong vườn ươm sinh trưởng và phát triển tốt hơn

1.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

Chè Shan núi cao, được trồng ở vùng cao không sử dụng phân bón thuốc hoá học sản phẩm chè đáp ứng các tiêu chuẩn chè hữu cơ có giá trị kinh tế lớn, các sản phẩm chè Shan hiện nay chủ yếu phục vụ nội tiêu như: chè xanh Suối Giàng (Yên Bái); Phìn Hồ (Hà Giang); Than Uyên (Lai Châu), chè đen xuất khẩu như Mộc Châu (Sơn La); chè vàng, chè Phổ Nhĩ xuất khẩu (Cao Bồ -

Hà Giang) các sản phẩm có giá bán cao gấp 2 - 4 lần so với sản phẩm cùng loại được chế biến từ giống chè khác ở vùng thấp

Ở các vùng chè Shan hiện nay do được trồng từ hạt nên quần thể không đồng đều Có những cá thể sinh trưởng rất tốt, năng suất và chất lượng cao nhưng cũng có những cá thể sinh trưởng kém Vì vậy vấn đề đánh giá một số chỉ tiêu sinh trưởng để chọn ra những cá thể ưu tú là cần thiết trong vấn đề bảo tồn và phát triển chè Shan ở các vùng hiện nay Đó là lý do cần thiết phải đánh giá đặc điểm nông sinh học của cây chè Shan ở các vùng

Hiện nay việc trồng mới chè Shan khi trồng bằng cây giâm cành vấn đề đặt ra là tỷ lệ suất vườn khi giâm thấp, chất lượng cây giống chưa đảm bảo, giá thành cây giống cao nhưng khi trồng tỷ lệ sống thường không cao Vì vậy cần

Trang 15

có những nghiên cứu về giâm cành để tạo cây giống chất lượng, khỏe mạnh và giá thành sản xuất cây thấp khi trồng mới tỷ lệ sống được nâng cao

1.2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu về đặc điểm nông sinh học, nhân giống cây chè ở ngoài nước

1.2.1 Kết quả nghiên cứu về đặc điểm nông sinh học của cây chè

1.2.1.1 Nghiên cứu về đặc điểm hình thái

Theo tác giả Luo và cs (2015) [43], cây chè là một loại cây bụi thường xanh lá rộng, thích nghi với khí hậu cận nhiệt đới đến nhiệt đới, với nhiệt độ phát triển tối ưu

từ 18 - 30 oC trong mùa sinh trưởng và khả năng chịu nhiệt độ từ 16 - 40oC Chúng phát triển mạnh ở vùng khí hậu ấm, ẩm với lượng mưa hàng năm từ 1.250 đến 6.000

mm, độ ẩm thích hợp từ 80 - 90% và độ cao lên đến 2.000 m so với mực nước biển Sản xuất cây chè thành công cần đất sâu, nhiều ánh sáng, thoát nước tốt và chua với

độ pH dao động từ 4,5 đến 5,5

Theo Wang và cs (2016) [46], chè là cây thân gỗ lâu năm với năng suất thương mại hàng chục năm Khi cây chè có tốc độ sinh trưởng cao và tán chè bao phủ 90% diện tích nương chè thì việc kiểm soát cỏ dại trở nên ít quan tâm hơn

Các nghiên cứu trước đây ở các nước sản xuất chè truyền thống tập trung vào các cây chè có lợi nhuận trên 4 năm và đến 100 năm tuổi [38], [27] Đặc điểm hình thái của cây chè (thân, lá, búp), đặc tính sinh trưởng của cây chè, thời gian sinh trưởng (bắt đầu, kết thúc sinh trưởng búp, v.v.), số đợt sinh trưởng búp/năm, v.v có quan hệ chặt chẽ với khả năng cho năng suất và chất lượng chè nguyên liệu Do vậy, nghiên cứu đặc tính sinh vật học cây chè nhằm tuyển chọn giống chè tốt luôn được các nhà chọn giống trên thế giới quan tâm

a Nghiên cứu về lá chè

Nghiên cứu của Li và cs (2016) [40], đặc điểm lá tươi bao gồm kích thước, diện tích và trọng lượng lá tươi thường được đánh giá trong các chương trình nhân giống về tiềm năng năng suất Chất lượng cuối cùng của sản phẩm chè có liên quan nhiều đến thành phần sinh hóa của lá bao gồm polyphenol, chất rắn hòa tan, carbohydrate, axit amin (AA), theanine và catechin

Trang 16

Theo Forrester và cs (2017) [29], hình thái lá cũng thể hiện sự phù hợp của các giống chè để tạo ra một số loại chè nhất định Ví dụ, hầu hết trà đen được làm từ các loại lá lớn Khi cây già đi, hình thái lá của các giống cây trồng thử nghiệm có thể thay đổi

Lu và cộng sự (2017) [44] báo cáo rằng các giống chè thay đổi ở nhiệt độ lạnh tới hạn của chúng, làm cho đó sự phá hủy tế bào tăng lên nhanh chóng trong

lá chè

Nghiên cứu của Karthigeyan và cộng sự (2008) [37] về hình thái lá chè cho rằng: Hình thái lá, bao gồm cả kích thước và trọng lượng, có tương quan với nhau với năng suất chè Hình thái lá cũng ảnh hưởng đến sự phù hợp của giống chè để chế biến các loại trà Ví dụ, hầu hết trà đen được làm từ các giống chè lá lớn

b Nghiên cứu về búp chè

Bakhơtadze К.Е (1971) khi nghiên cứu về sự sinh trưởng của búp chè cho rằng: Sự sinh trưởng của búp chè phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, ở những vùng có mùa Đông rõ rệt, búp chè sẽ ngừng sinh trưởng vào mùa Đông và cây chè sẽ được phục hồi vào thời kỳ có nhiệt độ không khí ấm lên, ngược lại ở những nước nhiệt đới (quần đảo Java) Srilanka hay Nam Ấn Độ do có điều kiện thời tiết thuận lợi đặc biệt là nhiệt độ ôn hoà, búp chè sinh trưởng liên tục, chè cho thu hoạch quanh năm vì vậy người ta coi đây là lợi thế của vùng đất này (Nguyễn Thị Minh Phương, 2012) [18]

Mỗi giai đoạn cây chè sinh trưởng khác nhau vì vậy sự hình thành và phát triển của búp chè cũng như các lứa búp chè cũng khác nhau tuy nhiên ở một hướng khác cho thấy yếu tố nhiệt độ có vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành các lứa chè Tác giả Carr và Stephen (1992), khi nghiên cứu về vấn

đề này [26] cho biết, chu kỳ thay thế búp chè (đợt sinh trưởng) có thể căn cứ vào nhiệt độ không khí tối thiểu và nhiệt độ tối đa để dự đoán một lứa búp mới sinh trưởng, phát triển

Trang 17

Khi nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm không khí với sinh trưởng búp chè Hadfied (1968) [32] cho biết: Độ ẩm không khí có liên quan mật thiết với sinh trưởng của búp chè Nếu độ ẩm không khí thấp trong thời gian dài, hàm lượng nước trong búp chè giảm, búp chè sinh trưởng chậm Khi nhiệt độ không khí cao, độ ẩm không khí thấp, tốc độ sinh trưởng búp và quang hợp giảm, cây sẽ bị thiếu nước và lúc đó cây chè có xu hướng sinh trưởng chậm lại

Theo tác giả Carr and Stephen (1992) [26] hầu hết các vùng chè có lượng mưa trung bình 150 mm/tháng sẽ cho sản phẩm liên tục Tổng lượng mưa cả năm là 1.800 mm cây chè sẽ sinh trưởng phát triển tốt, nếu lượng mưa trong năm dưới 1.500 mm mà không được tưới nước cây chè sẽ phát triển kém, năng suất thấp

c Nghiên cứu về rễ chè

Nghiên cứu về sự khác nhau của bộ rễ ở các giống chè, Табагари Л.Г (1973)

đã kết luận: Các giống chè khác nhau có bộ rễ sinh trưởng phát triển khác nhau trong đó các giống chọn lọc thường có bộ rễ sinh trưởng mạnh hơn các giống chè địa phương (Nguyễn Thị Minh Phương, 2012) [18]

Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa lá chè, thế lá và bộ rễ và khả năng chống chịu của các giống chè, Hadfied (1968) [32] chỉ ra rằng: Những giống chè Trung Quốc lá nhỏ, có thế lá đứng, với bộ rễ phân bố sâu dưới mặt đất có khả năng chống hạn tốt hơn những giống chè khác

1.2.1.2 Nghiên cứu đặc tính chất lượng nguyên liệu búp chè

Búp chè là nguyên liệu để chế biến chè, nó gồm 2 đặc tính: Đặc tính bên ngoài là thành phần cơ giới búp và đặc tính bên trong là nội chất được phản ánh bằng các chỉ tiêu hóa học chủ yếu như: chất hòa tan, tanin, đường, axít amin và một số chất khác

Thành phần cơ giới búp phụ thuộc vào mùa vụ, giống, kỹ thuật hái

Để đánh giá chất lượng nguyên liệu tươi nhiều nước sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ

lá già và lá bánh tẻ Nếu tỷ lệ lá già và lá bánh tẻ càng cao thì chất lượng nguyên liệu chè càng giảm

Trang 18

Tác giả Lorenzo và cs (2016) [42] khi nghiên cứu về các hợp chất trong chè đã chỉ ra rằng chè giàu một số hợp chất có lợi cho sức khỏe bao gồm catechin, axit amin và các polyphenol khác Polyphenol trong trà là chất chống oxy hóa được cho là làm chậm quá trình lão hóa, ngăn ngừa một số loại ung thư

và giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch

Tác giả Alemu và cs (2015) [25] khi nghiên cứu định lượng polyphenol tổng số, catechin tổng số, caffeine, L- Theanine, xác định hoạt tính chống oxy hóa và tác dụng đối với các thuốc chống ung thư chiết suất từ lá chè Ethiopian cho rằng chè xanh Wushwush có hàm lượng polyphenol cao nhất (19,98 ± 1,15

mg axit gallic tương đương/100g khối lượng lá khô), catechin (37,06 mg/g) và L-theanine (48,54 mg/g nhưng hàm lượng caffeine thấp nhất) Nó thể hiện hoạt động chống oxy hóa cao nhất Tác dụng chống oxy hóa cao nhất của chè xanh Wushwush có thể được quy cho hàm lượng polyphenol cao nhất Chè đen Đông Phi có hàm lượng L-theanine thấp nhất (20,72 mg/g) và hoạt tính chống oxy hóa nhưng hàm lượng caffeine cao nhất (16,60 mg/g)

Khi nghiên cứu vè các tác động cơ bản đến chất lượng chè xanh tác giả Han và cs (2017) [33] cho rằng tỷ lệ TP/AA là một thông số được sử dụng rộng rãi để đánh giá mức độ phù hợp của lá chè để làm một số loại chè, tỷ lệ TP/AA tăng khi nhiệt độ tăng

Tác giả Jayawardhane và cs (2016) [34] khi xác định các đặc tính chất lượng trong các sản phẩm trà xanh khác nhau có sẵn trong các siêu thị Sri Lanka kết quả cho thấy hàm lượng polyphenol tổng số đạt 12,7 – 21,4%, hàm lượng chất hòa tan đạt 34,8 – 49,7%, hàm lượng tro tổng số các sản phẩm được áp dụng theo tiêu chuẩn ISO có giá trị từ 5,0 – 6,6%; hàm lượng độ ẩm biến động

tù 4,4 – 11,1%

Tác giả Liu và cs (2015) [39] khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa biểu hiện gen và sự tích tụ catechin trong mùa xuân và mùa thu đã chỉ ra rằng chè xanh thu hoạch vào mùa xuân được coi là phổ biến nhất với chất lượng tối ưu

Trang 19

về hương và vị, chè thu hoạch từ mùa thu có thể chứa các hợp chất có lợi cho sức khỏe cao hơn khi xem xét hàm lượng polyphenol và L- theanine cao nhất trong số ba mùa trong các giống cây trồng thử nghiệm

Tác giả Jyotismita Khasnabis và cs (2015) [35] khi nghiên cứu hàm lượng tanin của một số loại chè (chè đen, chè Ô long, chè xanh) cho thấy chè đen được sản xuất bằng quá trình oxy hóa hoàn toàn (lên men), trong khi đó chè Ô long được sản xuất bằng quá trình lên men bán phần và chè xanh bỏ qua bước oxy hóa Tanin là chất chống oxy hóa nhưng ở nồng độ cao có thể hoạt động như chất chống dinh dưỡng Các mẫu sản phẩm chè khi phân tích hàm lượng tanin thì sản phẩm chè đen có hàm lượng tanin cao nhất và chè xanh có chứa hàm lượng tanin thấp nhất

1.2.1.3 Nghiên cứu các tính trạng có liên quan đến chất lượng

Tác giả GUO Jichun (2005) [38] khi nghiên cứu trên 50 giống chè Ô long

An Khê và Vũ Di (TQ) đã kết luận hầu hết chúng là cây thân bụi, lá trung bình, bật búp trung bình và muộn Cây có lá màu xanh tía và búp non có màu đỏ tía Khi tiến hành quan sát trên 55 giống chè làm Ô long ở Phúc Kiến, kết quả cho thấy 78% là cây thân bụi, 93% là giống có lá cỡ trung bình, 44% là giống bật búp trung bình và 31% là giống bật búp muộn (25% là giống bật búp sớm, trong đó chủ yếu là các cây mới trồng) Các giống có cành non (lá và búp non) mầu xanh vàng, xanh tía, đỏ tía là 84%; cành non có lông tuyết rải rác là 95% Cành non có màu xanh vàng, xanh tía, đỏ tía và có lông tuyết là những đặc điểm nông học chính của giống chè Ô long

Các mẫu chè có hương thơm mạnh có liên quan nhiều đến chất lượng búp non và màu sắc của lá tươi Những giống Ô long có hương đậm luôn có đặc điểm là cành non màu đỏ tía hoặc xanh tía, vàng xanh, điều này có thể có liên quan đến hàm lượng một số chất trong chè Vì vậy một số nhà chọn giống

đã để xuất rằng có thể coi màu sắc của cành non như một chỉ tiêu để tuyển chọn giống chè Ô long

Trang 20

1.2.2 Kết quả nghiên cứu về khả năng nhân giống cây chè

Hiện nay giâm cành chè là biện pháp phổ biến trong nhân giống vô tính chè trên thế giới Khi người ta cắt cành chè cắm vào đất thấy có ra rễ và bật mầm, từ đó xuất hiện phương pháp giâm cành

Về kích thước túi bầu để giâm hom, Denis Bonheure (1990)[28] kết luận: kích thước túi bầu có đường kính 8 - 10 cm, chiều cao 25 - 28 cm; túi dày 60 -

100 mm cho kết quả tốt, đặc biệt túi có đường kính 12 - 15 cm cây sinh trưởng tốt hơn, nhưng chi phí đắt hơn

Chế độ chiếu sáng không chỉ ảnh hưởng đến sinh trưởng của cành giâm,

mà nhiều công trình nghiên cứu đã khẳng định vai trò của cường độ ánh sáng,

độ dài ngày và chất lượng ánh sáng đối với kết quả giâm cành Tỷ lệ ra rễ bật mầm trong nhân giống bằng giâm cành, các giá thể giâm có chức năng:

- Giữ cho cành giâm luôn ở tư thế ổn định

- Là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cành giâm

- Cho phép không khí xâm nhập vào cành giâm

Một giá thể cho là lý tưởng, nếu giá thể đó đủ xốp, thoáng khí, giữ và thoát nước tốt, sạch sâu bệnh và cỏ dại

Khi nghiên cứu sự khác biệt của bộ rễ trong các giá thể khác nhau Long

J C (1933) [41] thấy rằng, nguyên nhân chủ yếu gây ra hiện tượng khô trên lá

do có sự khác biệt về khả năng giữ ẩm và độ thoáng khí của giá thể

Tuổi của cây mẹ cũng có ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng của cành giâm Trong giâm hom tuổi của cây mẹ là quan trọng ảnh hưởng đến kết quả giâm Các nghiên cứu trên một số cây ăn quả của các nhà khoa học đã chỉ ra rằng: Cành giâm sẽ hình thành rễ rất nhanh khi được lấy từ cây mẹ còn trẻ Theo Gironard R M (1967) [30] khả năng hình thành rễ của cành giâm phụ thuộc rất nhiều vào hàm lượng phenol tích lũy trong cành giâm, nói chung ở những cành già sẽ ra rễ kém hơn cành non và bánh tẻ

Nghiên cứu các biện pháp nhân giống vô tính đối với cây chè được nhiều tác giả quan tâm, các biện pháp nhân giống đã được nghiên cứu như giâm hom,

Trang 21

chiết, ghép, nuôi cấy mô Sau khi tách khỏi cây mẹ và được giâm trong môi trường thuận lợi, cành giâm sẽ hình thành rễ và mầm phát triển để tạo thành một hoặc vài cây con hoàn chỉnh Quá trình này trước hết phụ thuộc vào đặc tính di truyền của từng loại cây trồng từng loại vật liệu giâm

Theo Denis Bonheure (1990) [28] một số loại hợp chất thuộc nhóm Cytokynin và Kinetin,v.v sẽ có tác dụng kích thích giâm cành bật mầm sớm Tuy nhiên hiệu quả còn phụ thuộc vào rất nhiều nồng độ, loại cây trồng vì vậy tiến hành các thí nghiệm cụ thể để xác định Nhiều tác giả cho rằng, trong quá trình giâm cành cần bổ sung một số chất dinh dưỡng, hoặc vi lượng để làm tăng thêm sinh trưởng cây chè

Để thúc đẩy sự phát triển của cành giâm người ta tiến hành bón bổ sung phân đạm và thu được kết quả rất khả quan Đối với một số loại cây trồng như chè, đậu tương thì yếu tố bo có tác dụng kích thích phát triển của rễ tốt hơn Việc bón phân cho hom giâm ở vuờn ươm, theo nhiều tác giả nghiên cứu về giâm cành chè ở Ấn Độ, Gruzia, Srilanka cho rằng, việc bón phân cho hom cành giâm, chỉ nên bắt đầu khi các hom giâm đã có rễ, và kết thúc khi giai đoạn luyện cây con, một số tác giả cho rằng bón phân NPK theo tỷ lệ 15-10-10 bón với lượng 1,5 g hỗn hợp này cho một bầu chè sẽ cho kết quả tốt hơn

1.3 Tổng quan tài liệu nghiên cứu về đặc điểm nông sinh học, nhân giống cây chè ở trong nước

1.3.1 Kết quả nghiên cứu về đặc điểm nông sinh học của cây chè

1.3.1.1 Kết quả nghiên cứu về đặc điểm hình thái

a Nghiên cứu về búp chè

Nghiên cứu về khả năng sinh trưởng của các giống chè nhập nội tại Thái Nguyên, Lê Tất Khương (2006) [6] cho biết: Trong điều kiện không đốn hái, 7 giống có số đợt sinh trưởng cao hơn đối chứng (Trung du) từ 0,1 - 0,4 đợt (cao nhất là giống PT95 là 4,2 đợt), 2 giống có số đợt sinh trưởng thấp hơn đối chứng (giống Trung du), thấp nhất là giống Hoa Nhật Kim: 3,6 đợt

Trang 22

Nghiên cứu về mối tương quan giữa năng suất chè với một số chỉ tiêu sinh học, Nguyễn Thị Ngọc Bình (2002) [1] kết luận: Năng suất của các giống chè tương quan thuận, chặt với số lượng búp (r = 0,8901) và hệ số diện tích lá (r = 0,7128), tương quan thuận nhưng không chặt với khối lượng búp (r =0,1022) và diện tích lá (r = 0,1009)

Khi nghiên cứu tốc độ tăng trưởng búp của các giống chè tác giả Đặng Văn Thư (2010) [22] kết luận tốc độ tăng trưởng búp của các giống đều tuân theo quy luật tăng từ đợt 1 đến đợt 2 và đạt cực đại vào đợt 3 sau đó giảm ở các đợt 4 và 5

Tác giả Trần Xuân Hoàng và cs (2015) [5], khi nghiên cứu kỹ thuật hái giống chè PH10 để sản xuất nguyên liệu chế biến chè Ô long tại Phú Thọ cho rằng hái búp gồm 1 tôm 3 lá khi cành chè có 1 tôm 6 lá đạt năng suất 5,61 tấn/ha bằng 136,17% so với hái nguyên liệu búp 1 tôm 2 lá khi cành chè có 1 tôm 6 lá (đối chứng); Hái nguyên liệu búp gồm lá thứ nhất và lá thứ hái sau tôm, khi cành chè có 1 tôm 6 lá, bấm bỏ tôm chè 5 – 6 ngày trước khi hái, có hàm lượng chất hòa tan, đường khử, hàm lượng axit amin, chỉ số chất thơm chênh lệch nhau thấp Thử nếm cảm quan thì hái búp gồm 1 tôm 3 lá khi cành chè có 1 tôm 6 lá

có chất lượng chè Ô long tốt nhất và điểm thử nếm đạt cao nhất (16,4 điểm) so với các công thức còn lại và có hiệu quả kinh tế cao nhất và tăng 40,77 % so với đối chứng

Tác giả Đặng Văn Thư và cs (2018) [23], khi nghiên cứu kỹ thuật hái đối với giống chè Kim Tuyên để sản xuất nguyên liệu chế biến chè xanh dạng Sencha tại Phú Thọ cho thấy: Hái búp 1 tôm 3 lá năng suất đạt 10,23 tấn/ha tăng 29,99% và hái búp 1 tôm 4 lá năng suất đạt 11,11 tấn/ha tăng 41,17% so với công thức hái búp 1 tôm 2 lá Các công thức hái 1 tôm 2 lá, hái 1 tôm 3 lá, và hái 1 tôm 4 lá có hàm lượng tanin, chất hòa tan, axit amin, đường khử có sự chênh lệch không rõ Hái 1 tôm 2 lá có chất lượng chè xanh dạng Sencha tốt nhất và điểm thử nếm cảm quan đạt cao nhất (16,97 điểm) so với hái 1 tôm 3 lá

và 1 tôm 4 lá

Trang 23

c Nghiên cứu về thân, cành chè

Mỗi giống chè có những đặc điểm và khả năng phân cành khác nhau, có giống phân cành thấp (thân bụi, nửa bụi) có giống phân cành cao, cành thưa hơn (thân gỗ, bán gỗ) Khả năng phân cành của mỗi giống có ảnh hưởng đến sinh trưởng chiều cao, độ rộng tán, mật độ cành, mật độ búp của tán chè và qua đó

có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng chè

Vũ Công Quỳ (1982) [19] khi nghiên cứu tương quan hình thái, năng suất

ở một số thứ chè kết luận: Đặc điểm hình thái của những giống chè năng suất cao: Lá có khối lượng lớn, mỏng, nhiều búp, góc độ phân cành cấp 1 lớn, mô dậu kém phát triển, tán rộng

Nghiên cứu về quan hệ giữa bộ rễ và tán cây chè Nguyễn Đình Vinh (2002) [24] cho rằng: Vào cuối tháng 3 đầu tháng 4 rễ bắt đầu sinh trưởng, và chỉ sau khi hình thành nên một đợt sinh trưởng rễ nhất định, thì bộ phận trên mặt đất mới bắt đầu sinh trưởng Về mùa thu sau khi kết thúc đợt sinh trưởng của phần trên mặt đất, bộ rễ chè mới bắt đầu sinh trưởng Sinh trưởng của bộ rễ mạnh hay yếu ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng búp chè vụ xuân năm sau

d Nghiên cứu về lá chè

Nghiên cứu kích thước lá của các giống chè khác nhau, Lê Tất Khương (2006) [6] đều cho rằng: Các giống chè khác nhau có kích thước lá khác nhau,

do vậy các giống khác nhau cũng có khả năng cho năng suất khác nhau

Nghiên cứu hệ số diện tích lá và quan hệ giữa hệ số diện tích lá với năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất, Đỗ Văn Ngọc (2006) [14] cho biết: Hệ

số diện tích lá có tương quan thuận với tổng số búp/tán chè (r = 0,69 - 0,57) Khi nghiên cứu hệ số diện tích lá của các giống chè các tác giả chỉ rõ những giống chè có năng suất cao thường có hệ số diện tích lá từ 4 - 6

1.3.1.2 Nghiên cứu đặc tính chất lượng nguyên liệu búp chè

Sản phẩm chè xanh, chè Ô long là những mặt hàng đòi hỏi nguyên liệu chế biến ra nó có những đặc tính riêng biệt Như chè xanh yêu cầu nguyên liệu búp

Trang 24

non, trọng lượng búp nhỏ, tỷ lệ cuống thấp, có hàm lượng tanin vừa phải dưới 30% chất khô, khi chế biến sẽ cho sản phẩm chè xanh có chất lượng cao

Đối với chè Ô long tính chất nguyên liệu lại càng đòi hỏi khắt khe hơn, búp chè có tính chất lý hóa khác nhau: lá phải dai, dày có độ chín trưởng thành, thành phần hóa học cũng giống như nguyên liệu để chế biến chè xanh, có nghĩa là hàm lượng tanin vừa phải, hàm lượng đường, axit amin cao, đặc biệt là có hương thơm

và bền hương Nguyên liệu khi chế biến sẽ cho sản phẩm chè Ô long có chất lượng cao, hương thơm đặc trưng, khi pha chè chẳng những thể hiện hương trong bã mà

có hương thơm bền trong nước pha

Ở Việt Nam để chế biến chè xanh việc thu hái chè chủ yếu bằng tay, tuy năng suất thấp, nhưng chất lượng nguyên liệu khá hơn so với hái chè bằng máy Khi hái chè bằng tay tỷ lệ búp chè loại A + B chiếm 50 - 60% trong tổng khối lượng nguyên liệu Hiện nay do điều kiện đáp ứng nhu cầu lao động, việc hái bằng máy đã ngày càng được áp dụng rộng rãi ở các cơ sở sản xuất chè Hái máy năng suất lao động cao nhưng chất lượng nguyên liệu thấp và cách hái máy thường áp dụng cho người sản xuất chè đen

Các công trình nghiên cứu thành phần hoá học của búp chè do ảnh hưởng của giống chè từ những năm 1974 - 1992 (Hoàng Cự, Nguyễn Văn Tạo, 2004) [3], (Ngô Xuân Cường, 2011) [4], chỉ ra: các giống chè có hàm lượng tanin cao (như PH1) thích hợp cho việc chế biến chè đen Các giống chè có hàm lượng tanin thấp (như Đại Bạch trà) thích hợp chế biến chè xanh

Tác giả Giang Trung Khoa và cs (2017) [7], khi nghiên cứu thành phần polyphenol và hoạt tính kháng oxy hóa của giống chè Shan cho rằng trong các hợp chất catechin, hàm lượng EGCG > EGC > ECG > EC > C Tồn tại mối tương quan chặt giữa hàm lượng polyphenol, catechin tổng số với hoạt tính kháng oxy hóa của dịch chiết chè Hoạt tính này của búp chè 1 tôm 2 lá > nguyên liệu loại B > nguyên liệu loại C > lá già

Tác giả Trịnh Văn Loan (2008) [13] cho rằng, đường có vai trò lớn đối với chất lượng chè xanh, ngược lại catechin lại có vai trò quan trọng đối với chất

Trang 25

lượng chè đen Đường khử tham gia vào chất lượng chè với vai trò tạo hương và điều hoà vị chè, hàm lượng đường khử trong búp chè phụ thuộc vào giống chè, điều kiện canh tác và mùa vụ

1.3.2 Nghiên cứu về giâm cành chè của Việt nam

1.3.2.1 Nghiên cứu về giâm cành chè

Nhân giống chè bằng phương pháp giâm cành đang được áp dụng phổ biến ở các nước trồng chè trên thế giới Ở nước ta giống chè được nhân giống bằng giâm cành cũng đang dần thay thế các nương đồi chè trồng bằng hạt năng suất thấp Ưu điểm của trồng bằng cành giâm đã được khẳng định Tuy nhiên để trồng chè bằng cành giâm thành công cần phải lưu ý một số vấn đề là: tùy theo giống và chất lượng hom giống mà có kỹ thuật tác động phù hợp Nhằm nâng cao hiệu quả nhân giống giảm giá thành, nâng cao chất lượng cây giống

Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc điểm hình thái giải phẫu mỗi loại hom với khả năng giâm cành tại Phú Hộ 1996 – 1998 của Nguyễn Thị Ngọc Bình (2002) [1] cho thấy: Đặc điểm hình thái của mỗi loại hom của từng giống khác nhau đã ảnh hưởng tới tỷ lệ ra mô sẹo, ra rễ, bật mầm và tỷ lệ xuất vườn của các loại hom Các giống khác nhau, tỷ lệ ra rễ khác nhau Khả năng ra rễ của hom bánh tẻ cao nhất, thấp nhất là hom nâu Tỷ lệ sống của các giống và các loại hom chênh lệch không cao Các loại hom khác nhau có tỷ lệ xuất vườn khác nhau Các giống khác nhau, tỷ lệ xuất vườn cũng khác nhau Như vậy, khả năng giâm cành của cây chè phụ thuộc rất lớn vào chất lượng hom và giống đem giâm

Guinard (1950-1954) đã triển khai một chương trình chọn lọc dòng, lấy vật liệu khởi đầu là thứ chè Shan, nhân giống bằng cành giâm tại Trung tâm Nghiên cứu chè Bảo Lộc với các bước sau:

- Lấy giống chè Shan làm vật liệu khởi đầu

- Chọn lọc cá thể để tìm ra cây ưu tú làm cây đầu dòng

- Nhân giống cây đầu dòng bằng cành giâm để đưa ra sản xuất đại trà Những năm sau này từ năm 1960 Trạm Nghiên cứu chè Bảo Lộc tỉnh Lâm

Trang 26

Đồng nghiên cứu chọn lọc cá thể từ những cây chè Shan Trấn Ninh (Lào) nhân giống bằng giâm cành ở Bảo Lộc, tạo nên các giống chè TB11, TB14, LĐ97 đáp ứng được phát triển chè ở Lâm Đồng và Tây Nguyên [17]

Các nhà khoa học của Trại thí Nghiệm chè Phú Hộ, Viện Nghiên cứu Chè

và ngày nay là Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Chè, thuộc Viện khoa học

kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, đã có nhiều công trình nghiên cứu

về chất lượng và nhân giống chè Shan vùng cao [8], [9], [10], [11], [12] Đã chọn được nhiều giống có năng suất búp cao chất lượng tốt như Shan Chất Tiền (2008) [8], PH14 được Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, công nhận giống sản xuất thử, cho phép mở rộng diện tích trồng ở những vùng có độ cao khoảng

600 m so với mực nước biển (2009) [16]

Tác giả Hoàng Văn Chung và cs (2012) [2] đã tuyển chọn được 18 cây chè Shan đầu dòng ở Bắc Kạn, đưa vào nhân giống bằng giâm cành để trồng ra sản xuất Đã xây dựng những vườn ươm với quy mô từ 10.000 - 15.000 bầu/vườn ươm Kết quả cho thấy, tỷ lệ sống trung bình đạt 87,6% và tỷ lệ xuất vườn đạt 71,4% Sản xuất được 271.000 cây chè con, trồng được 108 ha chè Shan theo phương thức trồng xen cây rừng

Việc nghiên cứu kỹ thuật giâm cành chè đã làm tăng tỷ lệ xuất vườn của cành giâm từ đó hạ giá thành sản xuất cây giống và tăng sức sinh trưởng của cây chè khi trồng mới là một yêu cầu cấp bách và cũng là quá trình hoàn thiện việc nghiên cứu cho giống chè Shan cũng như một số giống chè triển vọng khác

Tác giả Đỗ Văn Ngọc và cs (2006) [15] đã chọn được 13 cây chè Shan đầu dòng vùng cao có năng suất cao chất lượng tốt, đưa nhân giống bằng giâm cành phục vụ sản xuất chè vùng cao

Kết quả nghiên cứu về giâm cành của 13 cây chè Shan chọn lọc kết quả cho thấy: tỷ lệ xuất vườn của các giống chè Shan cao nhất là các giống TU16 và TĐ5 (71,67 - 73,33%) thứ đến là giống TU32, MC2 (61,67 - 63,33%), dòng LS1 mức thứ ba (48,33%) và dòng có tỷ lệ xuất vườn thấp nhất là YB1 và TC4 (21,67

Trang 27

- 23,33%) [16]

Diện tích lá của hom chè cũng ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ ra rễ cành giâm, theo Đặng Văn Thư và cs (2009) [21] khi nghiên cứu về diện tích lá của hom chè các giống khác nhau đưa ra kết luận rằng khi giâm cành những giống có diện tích lá lớn như 1A, Shan Chất Tiền và một số giống chè khác việc giảm bớt một phần diện tích lá mẹ là điều cần thiết Đây là biện pháp hữu hiệu để cho cành giâm sinh trưởng tốt và tỷ lệ xuất vườn cao Đối với giống chè có diện tích lá lớn có thể cắt 1/3 - 1/2 diện tích lá mẹ làm cho cành giâm phát triển tốt, tỷ lệ xuất vườn cao

Các nghiên cứu đều khẳng định ngoài những yếu tố kỹ thuật trong quá trình giâm cành thì có 2 yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng quyết định đến chất lượng và hiệu quả giâm cành đó là

- Đặc điểm của giống (đặc điểm hình thái, khả năng ra hom và chất lượng hom giống)

- Chế độ bón phân để cho chất lượng cây giống tốt

Đây cũng những vấn đề cần thiết đặt ra nghiên cứu nhằm xác định cơ sở khoa học và hoàn thiện quy trình giâm cành một số giống chè Shan mới (PH12, PH14) mở rộng vùng sản xuất chè, có thể chế biến được chè đen chất lượng tốt góp phần nâng cao chất lượng chè đen xuất khẩu của Việt Nam

1.3.2.2 Quy trình bón phân cho vườn ươm

Cây chè từ nhỏ đến lớn cần được bón phân với lượng tương ứng của các giai đoạn Tổng số phân NPK/m2 bầu là 140g gồm đạm sun phát 60g (nếu là đạm Urê thì chỉ tiêu tính bằng 1/2 lượng đạm sun phát) Supe lân 30g, kali sun phát 50g, trong thời gian từ lúc cắm đến 2 tháng đầu không được bón bất kỳ loại phân gì, lượng bón tăng dần theo tháng tuổi, lượng bón cho các giai đoạn vườn ươm được quy định như sau:

Trang 28

Lượng bón phân cho vườn ươm ( g/m 2 )

Thời gian cắm

hom

Đạm sun phat Supelân Kali sun phat hoặc

kali clorua Sau 2 tháng

Cách bón: Hoà tan NPK trong ô doa tuới rải đều trên mặt luống (nồng độ 1%) sau đó tưới rửa lại bằng nước lã Khi mầm chè mọc cao, có 2-3 lá có thể phun urê 2%, 1 lít dung dịch phun cho 5 m2 bầu kết hợp với phun thuốc trừ sâu, phun vào thời gian giữa 2 lần bón phân

Hiện nay để nâng cao hiệu quả nhân giống có thể tăng lượng phân bón lên 1.5 lần nhưng phải tăng số lần bón lên 6-8 lần trong thời gian từ sau cắm 2 tháng đến 8 tháng tuổi (tổng số 6 tháng) sẽ làm tăng chiều cao cây, tăng tỷ lệ cây xuất

vườn

Những nhận định rút ra từ tổng quan:

Cây chè cũng như các loại cây trồng khác điều kiện sinh thái đã quyết định đến khả năng sinh trưởng phát triển và từ đó ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng

Cây chè Shan núi cao ở Việt Nam được coi là cây trồng đa mục tiêu , có giá trị về kinh tế thông qua sản phẩm của nó và là cây che phủ cho rừng đầu nguồn

Chè Shan ở vùng núi chủ yếu được trồng bằng hạt nên quần thể không đồng đều ở mỗi vùng, các cá thể sinh trưởng phát triển rất khác nhau Có những cá thể sinh trưởng phát triển tốt và đây được coi là nguồn vật liệu khởi đầu cho công tác chọn lọc giống Vì vậy cần có những đánh giá một số đặc điểm nông sinh học của những cá thể để có những tư liệu cơ bản phục vụ cho công tác chọn giống sau này Các nghiên cứu về chè Shan núi cao đã đạt được những kết quả

Trang 29

nhất định tuy nhiên việc đánh giá đặc điểm nông sinh học và khả năng nhân giống của các cây chè Shan chưa được bài bản

Cây chè cũng như các loại cây trồng khác có thể nhân giống bằng các hình thức khác nhau Hiện nay nhân giống bằng giâm hom là biện pháp hữu hiệu nhất với những ưu điểm của nó Tuy nhiên mỗi giống khác nhau có khả năng nhân giống khác nhau Điều kiện hay sinh trưởng của cây mẹ ảnh hưởng tới chất lượng hom giống và từ đó cũng ảnh hưởng đến khả năng giâm hom của chúng Để đánh giá khả năng giâm hom của các giống cũng như các kỹ thuật cần áp dụng đề tài tiến hành nhân giống bằng giâm hom tại xã Phú Hộ, thị xã Phú Thọ

Khi giâm cành với một hom chè theo tiêu chuẩn trong kỹ thuật giâm cành chè sẽ gồm một đoạn cành dài 4 - 5 cm và một lá nguyên Tuy nhiên qua điều tra cho thấy các dòng chè Shan cổ thụ có diện tích lá rất lớn vì vậy khi giâm cành đây sẽ là một hạn chế ảnh hưởng đến sự phát triển của cây chè trong vườn ươn vì vậy để có thể tăng tỷ lệ xuất vườn đề tài bố trí thí nghiệm cắt bớt diện tích lá mẹ Khi giâm cành những giống chè sinh trưởng mạnh như chè shan nếu bón lượng phân bón theo quy trình cây chè sinh trưởng chậm tỷ lệ xuất vườn thấp, để cho cây sinh trưởng phát triển tốt cần phải bổ sung lượng phân nhất định Với mục đích đó đề tài tiến hành thí nghiệm về phân bón thích hợp cho vườn ươm

Trang 30

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Nguồn gen chè Shan cổ thụ tại các điểm:

- Tại Điện Biên: xã Tả Sìn Thàng, huyện Tủa Chùa

- Tại Hà Giang: xã Cao Bồ, huyện Vị Xuyên

- Tại Yên Bái: xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn

Đây là các cây chè Shan đầu dòng tiêu biểu

2.1.2.Các vật tư khác

Dụng cụ thí nghiệm: Kính hiển vi, kéo cắt cành, thước dây loại 5m, cân

đồng hồ, các loại cọc tiêu biểu thể hiện đánh dấu ô thí nghiệm v.v

Vật tư: Phân đạm Urê Hà Bắc (46% N), phân lân Lâm Thao (Supelân

16% P2O5), phân Kali sulphat Trung Quốc (60% K2O),

Túi PE: Túi PE để đóng bầu có các kích thước: chu vi từ 18 - 24cm, chiều

cao túi 12-17cm, túi được hàn đáy và đục 6 lỗ

2.1.3 Phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của cây chè Shan vùng núi phía Bắc: đã tiến hành điều tra tại 3 điểm: Suối Giàng (Yên Bái), Cao Bồ (Hà Giang), Tủa Chùa (Điện Biên)

- Nghiên cứu về kỹ thuật giâm cành chè chỉ tiến hành giâm hom những cây đầu dòng lấy từ cây chè Shan Tủa Chùa – Điện Biên

2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: từ tháng 1/2019 - đến tháng 1/2020

Địa điểm nghiên cứu:

Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học: Các điểm điều tra tại Suối Giàng – Yên Bái, Cao Bồ - Hà Giang và Tủa Chùa – Điện Biên

Trang 31

Các thí nghiệm giâm cành: Tiến hành tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chè, Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc - xã Phú

Hộ - thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của cây chè Shan vùng núi phía Bắc

- Điều tra thu thập điều kiện tự nhiên và hiện trạng phân bố chè Shan núi cao

- Đánh giá đặc điểm nông sinh học của cây chè Shan núi cao tại các điểm: Suối Giàng (Yên Bái), Cao Bồ (Hà Giang), Tủa Chùa (Điện Biên)

2.3.2 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trong nhân giống chè Shan tại thị xã Phú Thọ tỉnh Phú Thọ

Để nâng cao tỷ lệ xuất vườn và tăng chất lượng cây giống đề tài tiến hành hai thí nghiệm sau:

Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của diện tích lá mẹ đến khả năng giâm cành

của cây chè shan

Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của cây chè

giống trong vườn ươm

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm và các chỉ tiêu theo dõi

Nội dung 1: Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của cây chè Shan núi cao

Điều tra thu thập điều kiện tự nhiên và hiện trạng phân bố chè Shan núi cao:

- Điều tra, bổ sung theo phương pháp thống kê, đo đếm theo phương pháp nghiên cứu của Viện nghiên cứu chè (nay là Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc)

- Điều tra theo phương pháp phỏng vấn

- Kế thừa các kết quả nghiên cứu về nguồn gen chè Shan núi cao vùng miền núi phía Bắc của Viện nghiên cứu chè trước đây (nay là Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc)

Trang 32

Các chỉ tiêu về đặc điểm nông sinh học của các cây đầu dòng đã được đánh dấu tại các điểm điều tra

Các chỉ tiêu theo dõi:

- Đánh giá đặc điểm hình thái lá

- Đánh giá đặc điểm cấu tạo hoa

- Đánh giá đặc điểm hình thái búp

- Đánh giá các chỉ tiêu năng suất chất lượng của các cây

Nội dung 2: Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trong nhân giống chè Shan tại thị xã Phú Thọ tỉnh Phú Thọ

Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của diện tích lá mẹ đến khả năng giâm cành

m2 Lá của hom chè được cắt vát theo chiều dọc của lá

Trang 33

+ Thí nghiệm gồm các công thức thí nghiệm:

Công thức Lượng phân bón bón cho 1m 2 vườn ươm

CT1(Đ/c) Quy trình

CT2 Quy trình + 10g URê CT3 Quy trình + 12g Ure + 10g Supe lân+ 8g Kali sulphat CT4 Quy trình + 10g URê + 10g Supelân + 10g Kali sulphat

- Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn chỉnh và hom giống được lấy từ giống chè Shan ở Tủa Chùa Điện Biên Gồm 4 công thức, 3 lần nhắc lại, diện tích mỗi ô 1 m2 (200 bầu) Tổng diện tích thí nghiệm là 12 m2

Quy trình bón phân 70 g đạm sun phát + 36 g super lân + 59 g kali sunphat

hoặc kaliclorua (Quy trình kỹ thuật nhân giống chè Shan Chất Tiền và một số giống chè nhập nội chất lượng cao, QĐ số 231/TT-CCN, ngày 12 tháng 7 năm

Trang 34

2.4.2 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu

2.4.2.1 Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của cây chè Shan núi cao

- Phương pháp lấy mẫu: Lấy mẫu các cây chè Shan đầu dòng tại Suối Giàng - Yên Bái, Cao Bồ - Hà Giang, Tủa Chùa - Điện Biên, gồm lá chè, búp chè, hoa, quả chè sau đó phân tích xác định các chỉ tiêu hình thái để phân loại thực vật truyền thống (lá, búp, hoa, quả ) Mỗi cây chè Shan núi cao đầu dòng lấy 20 mẫu

- Chiều rộng lá (cm): Chiều rộng đo vị trí rộng nhất theo chiều ngang của lá

- Diện tích lá (cm2/lá ): Chiều dài x chiều rộng x kệ số K

(K là hệ số điều chỉnh, theo các kết quả nghiên cứu trước đây, các giống chè có dạng lá bầu, hệ số K là 0,70 Các giống chè có dạng lá thuôn dài, hệ số

K là 0,68)

- Hình thái lá: Màu sắc lá, hình dạng lá, hình dạng chóp lá, đặc điểm răng cưa, thế lá: Quan sát trên lá để đánh giá

* Đặc điểm hình thái búp

- Màu sắc búp: xanh vàng, xanh vàng sáng, xanh tối (đậm)…

- Mức độ lông tuyết: Quan sát trên búp chè xem mức độ lông tuyết ít, trung bình hay nhiều

- Chiều dài búp (cm): Chọn các búp phát triển bình thường, đo từ vết hái (sát nách lá) đến đỉnh sinh trưởng của búp 1 tôm + 3 lá Mỗi điểm đo 20 búp

- Số đợt sinh trưởng (số đợt/năm): Là số lần sinh trưởng trên một cành chè trong điều kiện có tác động kỹ thuật đốn và hái chè

* Đặc điểm cấu tạo hoa

- Đặc điểm của hoa chè theo quy trình khảo nghiệm DUS 10TCN744

Trang 35

- Kích thước hoa chè

- Đài hoa: Kí hiệu là P

- Cánh hoa: Kí hiệu là K

- Nhị hoa: Kí hiệu là C

- Nhuỵ hoa: Kí hiệu là G

- Mầu sắc, kích thước, số lượng, lông tuyết của cánh hoa, nhị và nhuỵ

* Đánh giá các chỉ tiêu chất lượng :

- Phân tích thành phần sinh hoá cuả búp chè 1 tôm 2 lá:

+ Hàm lượng tanin theo phương pháp Lewelthal với K= 0,0582

+ Hàm lượng chất hoà tan theo phương pháp Voronxop (1964)

+ Hàm lượng đường khử theo phương pháp Betrand

+ Hàm lượng axit amin theo phương pháp V.R.Papova (1966)

+ Hàm lượng hợp chất thơm trong búp chè tươi

Lấy mẫu phân tích trong 3 vụ: vụ xuân (tháng 3- 4); vụ hè (tháng 7 - 8); vụ thu (tháng 9 - 10);

2.4.2.2 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trong nhân giống chè Shan tại thị

xã Phú Thọ tỉnh Phú Thọ

Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của diện tích lá mẹ đến khả năng giâm cành

Các chỉ tiêu theo dõi:

- Tỷ lệ ra mô sẹo, tỷ lệ ra rễ, bật mầm của cành giâm sau khi giâm 20

ngày, 30 ngày,40 ngày, 50 ngày, 60 ngày

- Chiều cao cây, đường kính thân, số lá trên cây, khối lượng thân, lá, rễ (tươi), tỷ lệ xuất vườn

Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của cây chè giống trong vườn ươm

Các chỉ tiêu theo dõi:

- Chiều cao cây, đường kính thân, khối lượng thân, lá, rễ (tươi), tỷ lệ xuất vườn

Trang 36

Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu:

- Tính tỷ lệ ra mô sẹo, tỷ lệ ra rễ, tỷ lệ bật mầm của hom giâm: theo phương pháp đường chéo 5 điểm mỗi điểm chọn 10 hom theo dõi và tính tỷ lệ %

- Chiều cao cây chè giống: Đo từ vết cắt của hom giâm đến đỉnh sinh trưởng của cây

- Đường kính thân: Đo cách vết cắt hom 1cm, bằng thước kẹp palme

- Số lá trên cây (lá/cây): Đếm thực tế trên cây

- Trọng lượng thân, lá, rễ (tươi): Lấy toàn bộ rễ (ngâm toàn bộ bầu trong nước rồi rửa xạnh phơi trong bóng giâm), thân và lá của cây chè tiến hành cân bằng cân kỹ thuật tổng số cây 50 cây

+ Tính tỷ lệ xuất vườn:

Tổng số cây đủ tiêu chuẩn

Tỷ lệ xuất vườn (%) = x 100%

Tổng số cây theo dõi

+ Tiêu chuẩn cây xuất vườn :

- Thời gian trong vườn ươm từ 8 - 12 tháng

- Chiều cao cây : > 20cm

Trang 37

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Điều kiện tự nhiên và hiện trạng phân bố chè Shan

3.1.1 Điều kiện tự nhiên của các vùng chè Shan

Cây chè cũng như các loại cây trồng khác điều kiện tự nhiên ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển của cây nhất là đối với cây chè Sản phẩm thu hoạch là búp và lá non nên điều kiện tự nhiên có ý nghĩa rất lớn đối với sinh trưởng phát triển các cá thể chè Shan

* Điều kiện đất đai

Qua điều tra lấy mẫu và phân tích các mẫu đất tại các điểm kết quả thu được ở bảng 3.1

Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu địa hình và hóa tính đất các điều tra thu thập

mẫu chè Shan núi cao

Vùng

trồng

Độ cao

so mặt biển

(m)

Tầng đất

số

(%)

Lân dễ tiêu

(mg/

100gđ)

Kali tổng

Hà Giang 850

0-20 3,12 3,8 0,21 0,32 1,8 0,25 5,00 20-40 2,15 4,0 0,22 0,36 2,1 0,29 4,00 Suối Giàng

- Yên Bái 600

0-20 2,34 4,2 0,20 0,25 2,4 0,38 5,82 20-40 1,60 4,1 0,17 0,19 2,0 0,32 4,46

(Kết quả đánh giá của Phòng phân tích đất và chất lượng nông sản của Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc)

Số liệu bảng 3.1 cho thấy các chỉ tiêu dinh dưỡng đất ở các vùng trồng chè Shan núi cao khá tốt thể hiện hàm lượng mùn tầng đất mặt từ 0 - 20 cm đạt 2,33 - 3,12%, tuy độ pH của đất dao động từ 3,8 - 4,2 là biểu hiện đất chua nhưng

Trang 38

vẫn đảm bảo yêu cầu pH cho phát triển của cây chè Các thành phần dinh dưỡng khác như đạm, lân và kali đều xếp ở mức trên trung bình đến giàu theo thang đánh giá đất đồi núi Hàm lượng đạm và lân cao nhất ở Cao Bồ và thấp nhất ở Tủa chùa Hàm lượng Kali cao nhất tại Suối Giàng và thấp nhất Tại Cao Bồ

Giữa các vùng thì vùng Cao Bồ, Suối Giàng có các chỉ tiêu dinh dưỡng tốt hơn vùng Tủa Chùa

Như vậy ở các vùng theo dõi đều các chỉ số về đất đã thể hiện rất rõ đây

là những điều kiện thích hợp cho cây chè sinh trưởng phát triển Hàm lượng đạm tổng số cao, lân và kali tổng số và dễ tiêu cao là những yếu tố giúp cho cây chè sinh trưởng phát triển mạnh nên năng suất cao và chất lượng tốt

* Hiện trạng phân bố chè Shan núi cao

Theo các tài liệu nghiên cứu của các tác giả người Pháp nghiên cứu tại Đông Dương cho thấy cây chè Shan núi cao được trồng theo kiểu cây rừng do người dân tộc ít người trồng và khai thác Sau đó bằng các biện pháp trồng mở rộng hoặc hạt của cây rụng và tự mọc đã tạo nên những vùng chè khác Cho đến nay diện tích chè Shan vùng cao Hà Giang lên tới 4.000 - 5.000 ha Tiếp đến là chè Shan ở Yên Bái tập trung ở xã Suối Giàng huyện Văn Chấn, Suối Bu,… ở tỉnh Lào Cai có Phố Lu, Bắc Hà; ở Sơn La chè Shan có ở Mộc Châu, Thuận Châu, Bắc Yên - Tà Xùa Ở Lạng Sơn, chè Shan ở vùng Mẫu Sơn, ở Lai Châu chè Shan phân bố ở xã Phong Thổ huyện Sìn Hồ; ở Điện Biên chè Shan có ở Tủa Chùa, Mường Lay Tại Phú Thọ, chè Shan có ở huyện Yên Lập và Thanh Sơn, tại Vĩnh Phúc chè Shan có ở dãy núi Tam Đảo

Cũng theo tài liệu điều tra cây chè ở Đông Dương thì chè rừng còn tìm thấy ở Bắc Lào, tại Trấn Ninh (vùng cánh Đồng Chum) và Viên Chăn

Nhìn chung, cây chè Shan phân bố ở độ cao, vùng lạnh và khí hậu lạnh,

lượng mưa lớn, biên độ nhiệt độ trong ngày đêm lớn, mây mù nhiều, số giờ nắng

ít và điều kiện kinh tế xã hội lại rất khó khăn

3.1.2 Đặc điểm nông sinh học của các dòng chè Shan

3.1.2.1 Đặc điểm hình thái lá cây chè Shan núi cao

Trang 39

Cây chè có lá mọc cách trên cành chè, người ta chia lá chè ra làm 3 loại lá: Lá vẩy ốc, lá cá và lá thật Các giống chè có hình thái lá, màu sắc lá khác nhau Lá chè là chỉ tiêu quan trọng để phân biệt giống Đặc điểm lá chè có liên quan đến khả năng sinh trưởng, khả năng cho năng suất chất lượng của giống chè Thông thường những giống chè có lá to, bóng, có độ gồ ghề cao thường có khả năng cho năng suất cao

Kết quả nghiên cứu về đặc điểm hình thái lá chè Shan núi cao, số liệu được trình bày ở bảng 3.2; bảng 3.3 và bảng 3.4

Bảng 3.2: Đặc điểm hình thái lá chè Shan Suối Giàng, Yên Bái

Bề mặt

Các giống chè khác nhau khác nhau có hình dạng và màu sắc lá khác nhau Kết quả theo dõi đánh giá ở bảng 3.2 cho thấy:

Trang 40

Về kích thước lá chè: Do vụ hè cây chè Shan sinh trưởng, phát triển tốt nên tất cả các mẫu của cây chè Shan đều có kích thước lá lớn Chiều dài lá biến động từ 12,94 - 18,77 cm Chiều rộng lá biến động từ 5,41 - 7,75 cm, trung bình đạt 6,40 cm Diện tích lá biến động từ 49,43 - 97,97 cm2, cao nhất là cây SG-YB12 đạt 97,973 cm2 và thấp nhất là cây SG-YB12 đạt 49,43 cm2

Về bề mặt phiến lá và răng cưa của lá chè: Số cây có bề mặt phiến lá nhăn vừa chiếm trên 50%, đây là một trong những biểu hiện của những cây chè có khả năng cho năng suất cao Các cây chè Shan đều có răng cưa thưa và nông đều

Về màu sắc lá: Gần như tất cả các cây chè Shan núi cao ở Suối Giàng - Yên Bái được mô tả đều có mà lá xanh đậm và dạng lá thuôn dài

Bảng 3.3: Đặc điểm hình thái lá chè Shan Tủa Chùa, Điện Biên

Bề mặt

Ngày đăng: 20/08/2021, 08:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Nguyễn Hữu La (2011), Báo cáo tổng hợp kết quả khoa học công nghệ đề tài: “Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất và chế biến chè Shan tạo sản phẩm an toàn phục vụ nội tiêu và xuất khẩu”, Mã số KC06.20/06-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu quy trình công nghệ sản xuất và chế biến chè Shan tạo sản phẩm an toàn phục vụ nội tiêu và xuất khẩu”
Tác giả: Nguyễn Hữu La
Năm: 2011
11. Nguyễn Thị Hồng Lam, Nguyễn Hữu La, Đỗ Văn Ngọc, Nguyễn Văn Toàn, “Nghiên cứu chọn tạo giống chè Shan mới”, Tạp chí Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, tháng 12/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu chọn tạo giống chè Shan mới”
12. Nguyễn Thị Hồng Lam (2012), Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển chủ yếu của cây chè Shan và tuyển chọn một số giống có năng suất, chất lượng cao đáp ứng yêu cầu nội tiêu và xuất khẩu, Luận án tiến sỹ nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển chủ yếu của cây chè Shan và tuyển chọn một số giống có năng suất, chất lượng cao đáp ứng yêu cầu nội tiêu và xuất khẩu
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Lam
Năm: 2012
13. Trịnh Văn Loan (2008), Các biến đổi sinh hoá trong quá trình chế biến và bảo quản chè, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ác biến đổi sinh hoá trong quá trình chế biến và bảo quản chè
Tác giả: Trịnh Văn Loan
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2008
14. Đỗ Văn Ngọc (2006). Nghiên cứu chọn tạo và nhân giống chè, trong sách: Kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ giai đoạn 2001- 2005, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr.30-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chọn tạo và nhân giống chè, trong sách: "Kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ giai đoạn 2001-2005
Tác giả: Đỗ Văn Ngọc
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2006
16. Đỗ Văn Ngọc, Nguyễn Hữu La và CTV, Kết quả nghiên cứu khai thác chè Shan vùng cao, Kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ giai đoạn (2006-2009), NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu khai thác chè Shan vùng cao, Kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ giai đoạn (2006-2009)
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
17. Đỗ Văn Ngọc (2013), 95 năm nghiên cứu khoa học và đào tạo cán bộ, phục vụ phát triển chè, tài liệu hội thảo, Hội khoa học công nghệ chè Việt Nam, Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: 95 năm nghiên cứu khoa học và đào tạo cán bộ, phục vụ phát triển chè
Tác giả: Đỗ Văn Ngọc
Năm: 2013
18. Nguyễn Thị Minh Phương, (2012), Đánh giá các giống bố mẹ và con lai phục vụ công tác chọn tạo giống chè chất lượng cao ở Việt Nam , Luận án tiến sỹ khoa học nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá các giống bố mẹ và con lai phục vụ công tác chọn tạo giống chè chất lượng cao ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Phương
Năm: 2012
19. Vũ Công Quỳ (1982). Tương quan hình thái năng xuất ở một số vùng chè, Báo cáo tại Trại chè Phú Hộ, 75tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tương quan hình thái năng xuất ở một số vùng chè
Tác giả: Vũ Công Quỳ
Năm: 1982
20. Vũ Thị Thư, TS, Đoàn Hùng Tiến và CTV (2001), Các hợp chất hoá học có trong chè và một số phương pháp phân tích thông dụng trong sản xuất chè ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hợp chất hoá học có trong chè và một số phương pháp phân tích thông dụng trong sản xuất chè ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Thị Thư, TS, Đoàn Hùng Tiến và CTV
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2001
21. Đặng Văn Thư và cộng sự (2009), Ảnh hưởng của diện tích lá mẹ đến khả năng giâm cành của các giống chè. Kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ giai đoạn 2006-2009, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của diện tích lá mẹ đến khả năng giâm cành của các giống chè. Kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ giai đoạn 2006-2009
Tác giả: Đặng Văn Thư và cộng sự
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2009
22. Đặng Văn Thư (2010), Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và biện pháp kỹ thuật để mở rộng diện tích một số giống chè có triển vọng ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và biện pháp kỹ thuật để mở rộng diện tích một số giống chè có triển vọng ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Văn Thư
Năm: 2010
23. Đặng Văn Thư, Nguyễn Thị Phúc, Nguyễn Mạnh Hà, Nguyễn Ngọc Bình, Trần Xuân Hoàng (2018), Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật thu hái để sản xuất nguyên liệu chế biến chè xanh dạng Sencha từ giống chè Kim Tuyên tại Phú Thọ, Tạp chí Nông nghiệp và PTNT, kỳ 1, tháng 6: 56 – 59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nông nghiệp và PTNT
Tác giả: Đặng Văn Thư, Nguyễn Thị Phúc, Nguyễn Mạnh Hà, Nguyễn Ngọc Bình, Trần Xuân Hoàng
Năm: 2018
24. Nguyễn Đình Vinh (2002). Nghiên cứu đặc điểm phân bố của bộ rễ cây chè ở miền Bắc Việt Nam, Luận án Tiến sỹ khoa học Nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội, 152tr.II. Tài liệu tham khảo ngoài nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm phân bố của bộ rễ cây chè ở miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình Vinh
Năm: 2002
27. Chan, H. C., Chen, Y. S., Lliu, B. L., Chen, C. S., and Chang, Y. N. (2009). Effects of bacterial strains on sensory quality of pu-erh tea in an improved pile-fermentation process. J. Sens. Stud. 24, 534–553. doi: 10.1111/j.1745- 459x.2009. 00225.x Sách, tạp chí
Tiêu đề: J. Sens. Stud
Tác giả: Chan, H. C., Chen, Y. S., Lliu, B. L., Chen, C. S., and Chang, Y. N
Năm: 2009
29. Forrester, D. I., Tachauer, I. H. H., Annighoefer, P., Barbeito, I., Pretzsch, H., Ruiz-peinado, R., et al. (2017). Forest ecology and management generalized biomass and leaf area allometric equations for European tree species incorporating stand structure, tree age and climate. For. Ecol.Manage. 396, 160–175. doi: 10.1016/j. foreco.2017.04.011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: For. Ecol. "Manage
Tác giả: Forrester, D. I., Tachauer, I. H. H., Annighoefer, P., Barbeito, I., Pretzsch, H., Ruiz-peinado, R., et al
Năm: 2017
30. Gironard R.M. (1967), Initiation and development adventitious roots in Stem cutting of hederahalix, Can Jour. Bot. 45 p1883-1886 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Initiation and development adventitious roots in Stem cutting of hederahalix
Tác giả: Gironard R.M
Năm: 1967
31. GUO Jichun (2005), Varietal characters and genetic variations of oolong tea germplasms, 2005 International symposium on innovation in tea science and sustainable development in tea industry, Proceeding, November 11-15 Hangzhou China, Page 381-388 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Varietal characters and genetic variations of oolong tea germplasms
Tác giả: GUO Jichun
Năm: 2005
34. Jayawardhane, Madushanka, Mewan, S.K. Jayasinghe, Karunajeewa, Edirisinghe (2016), Determination of quality characteristics in different green tea products available in Srilanka supermarkets , Conference Paper, 57- 68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determination of quality characteristics in different green tea products available in Srilanka supermarkets
Tác giả: Jayawardhane, Madushanka, Mewan, S.K. Jayasinghe, Karunajeewa, Edirisinghe
Năm: 2016
36. Kamau, D. M., Spiertz, J. H. J., and Oenema, O. (2008). Carbon and nutrient stocks of tea plantations differing in age, genotype and plant population density. Plant Soil 307, 29–39. doi: 10.1007/s11104-008-9576-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Plant Soil
Tác giả: Kamau, D. M., Spiertz, J. H. J., and Oenema, O
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm