Nghiên cứu “Đánh giá các yếu tố tác động đến kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất làm cơ sở cho quy hoạch sử dụng đất trong điều kiện biến đổi khí hậu – Trường hợp nghiên cứu tại thành
PHẦN MỞ ĐẦU
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và tác động của biến đổi khí hậu; làm cơ sở cho việc đề xuất các phương pháp và giải pháp hiệu quả cho kỳ quy hoạch sử dụng đất tiếp theo, tăng
3 cường tính khả thi của công tác quy hoạch sử dụng tài nguyên đất, góp phần vào việc quản lý tài nguyên, phục vụ cho phát triển bền vững thành phố Cần Thơ
1.2.2 Mục tiêu cụ thể Đề tài thực hiện 03 mục tiêu cụ thể sau:
- Mục tiêu 1: Xác định các nhóm yếu tố có ảnh hưởng đến việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006-2015 của thành phố Cần Thơ
- Mục tiêu 2: Phân tích các tác động tích hợp của các nhóm yếu tố: kinh tế - xã hội, chính sách đất đai, quy trình kỹ thuật và nhóm yếu tố biến đổi khí hậu đến việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006-2015 của thành phố Cần Thơ
- Mục tiêu 3: Đề xuất các giải pháp tổng hợp tăng cường hiệu quả của quy hoạch sử dụng đất và sử dụng đất cho thành phố Cần Thơ trên cơ sở các nhóm yếu tố ảnh hưởng chính.
Nội dung nghiên cứu
Đề tài thực hiện 03 nội dung cụ thể sau:
Bản phân tích tổng hợp kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất từ năm 2006-2015 được trình bày, đồng thời tiến hành điều tra ý kiến của người dân và chính quyền địa phương tại các vùng quy hoạch đã thực hiện và chưa thực hiện kế hoạch sử dụng đất Nghiên cứu xác định các nhóm yếu tố ảnh hưởng gồm kinh tế - xã hội, chính sách đất đai và quy trình kỹ thuật; từ đó đánh giá mức độ tác động của từng yếu tố bằng phương pháp đánh giá đa tiêu chuẩn MCA kết hợp với kỹ thuật AHP-GDM để xác định yếu tố chủ đạo và đề xuất các giải pháp điều chỉnh phù hợp với mục tiêu sử dụng đất.
Nghiên cứu xác định các yếu tố của biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006-2015 và rút ra các yếu tố ảnh hưởng chính; đồng thời xác định nhóm yếu tố con người tác động đến kế hoạch sử dụng đất qua dữ liệu điều tra, tham khảo ý kiến chuyên gia trong lĩnh vực quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, áp dụng phương pháp đánh giá đa tiêu chuẩn (MCA) với kỹ thuật AHP-GDM để xác định mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố; sau đó so sánh và xác định vai trò của con người gồm: Nhà Lãnh đạo, Người thực hiện (Người dân), Nhà đầu tư, Nhà lập kế hoạch sử dụng đất, tác động đến kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu từ các kịch bản biến đổi khí hậu.
- Nội dung 3: (1) đề xuất các giải pháp hiệu quả nâng cao vai trò của Con người và các giải pháp hạn chế ảnh hưởng của biến đổi khí hậu cho việc lập
4 quy hoạch kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2021 – 2030 (2) đề xuất phương án lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2021 - 2030.
Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung phân tích các nhóm yếu tố tác động đến việc thực hiện quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất tại TPCT giai đoạn 2006-2015, trong đó gồm bốn nhóm chính: nhóm yếu tố kinh tế - xã hội, nhóm chính sách đất đai, nhóm quy trình kỹ thuật và nhóm yếu tố biến đổi khí hậu; các yếu tố biến đổi khí hậu được làm rõ qua các tác động như sự gia tăng nhiệt độ, sự thay đổi lượng mưa, xâm nhập mặn và nguy cơ ngập lụt, từ đó làm rõ ảnh hưởng của chúng đến quá trình lập và thực hiện quy hoạch sử dụng đất ở TPCT.
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn quận Cái Răng, huyện Phong Điền và huyện Vĩnh Thạnh thuộc thành phố Cần Thơ, ba đơn vị hành chính đại diện cho vùng quy hoạch có đất bị thay đổi mục đích sử dụng đất và cho thấy sự chuyển đổi rõ rệt từ xu hướng sử dụng sang cách thức sử dụng đất Quy hoạch sử dụng đất ở các địa bàn này có sự thay đổi rất lớn so với thực tế sử dụng đất Do đó, ba địa bàn trên được chọn nghiên cứu vì có tính đại diện phù hợp và đủ cho thành phố về quy mô mẫu và mục tiêu nghiên cứu.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
- Nghiên cứu là cơ sở khoa học về mặt lý thuyết và thực tiễn cho công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
- Nghiên cứu là tài liệu bổ sung vào công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học chuyên ngành quản lý đất đai;
- Nghiên cứu là tài liệu bổ sung lý thuyết quy hoạch và quy hoạch sử dụng bền vững tài nguyên đất;
Nghiên cứu đã tích hợp đầy đủ các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội và biến đổi khí hậu cùng với các công cụ hỗ trợ quy hoạch nhằm xây dựng một quy hoạch đô thị có tính khoa học, thực tiễn và phù hợp với điều kiện phát triển của thành phố Cần Thơ, hướng tới phát triển bền vững và đáp ứng các mục tiêu của địa phương.
- Nghiên cứu góp phần hoàn thiện công tác quy hoạch sử dụng đất, phục vụ cho phát triển bền vững của thành phố Cần Thơ
- Nghiên cứu là cơ sở quan trọng cho đánh giá và lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất Định hướng lập phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2021-2030 đạt hiệu quả;
- Nguồn tài liệu cần thiết để các cơ quan quản lý nhà nước nghiên cứu lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất;
Nghiên cứu này trang bị cho các nhà quản lý và quy hoạch khu vực những phương pháp và công cụ quy hoạch hiện đại nhằm thích ứng với biến động của điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội cũng như biến đổi khí hậu, từ đó đáp ứng nhu cầu phát triển lâu dài Việc áp dụng các phương pháp dự báo, công cụ mô phỏng và khung chiến lược giúp nâng cao khả năng thích ứng, giảm thiểu rủi ro và thúc đẩy quy hoạch khu vực bền vững, an toàn và linh hoạt trước các biến động môi trường và kinh tế.
- Nâng cao tính khả thi và hiệu quả của công tác quy hoạch và giảm thiểu sai số của quy hoạch;
- Tăng cường sử dụng hợp lý tài nguyên đất của thành phố Cần Thơ.
Những đóng góp mới của luận án
(1) Xác định được mức độ quan trọng của các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến quy hoạch kế hoạch sử dụng đất trong điều kiện đặt trưng của thành phố Cần Thơ, ngoài nhóm yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội thường xuyên thay đổi và nhất là quy hoạch phát triển tổng thể của chính quyền thành phố Cần Thơ, luận án đã xác định được nhóm yếu tố con người là yếu tố quan trọng liên quan đến sử dụng đất nhưng chưa được các nghiên cứu trước đây quan tâm phân tích đúng tầm Luận án là một đóng góp bổ sung kỹ thuật quy hoạch sử dụng đất, đóng góp cho việc hoàn thiện lý thuyết quy hoạch sử dụng đất và khả năng áp dụng trong thực tiễn;
(2) Tích hợp được tác động của nhóm yếu tố biến đổi khí hậu với các nhóm yếu tố tự nhiên, kinh tế và xã hội lên từng loại đất khác nhau, đánh giá được yếu tố tăng nhiệt độ, lượng mưa, xâm nhập mặn chưa tác động lên quy hoạch sử dụng đất, ngoại trừ yếu tố ngập lụt có ảnh hưởng đến quy hoạch sử dụng đất;
(3) Khắc phục hạn chế của công tác quy hoạch truyền thống, tăng cường tính khả thi và hiệu quả của công tác quy hoạch sử dụng tài nguyên đất, phục vụ cho phát triển của thành phố Cần Thơ, giúp cho các nhà quản lý đưa ra các biện pháp quy hoạch và thực hiện quy hoạch chiến lược khai thác hợp lý tài nguyên đất, tăng cường lợi ích kinh tế cho nông dân và lợi ích sinh thái cho người dân Thành phố
(4) Kiện toàn hệ thống pháp luật và chính sách nhà nước là một trong những giải pháp mang tính chất quyết định để nâng cao vai trò của nhóm yếu tố Con người trong thực hiện quy hoạch kế hoạch sử dụng đất và xây dựng được 5 bước thực hiện phương án quy hoạch kế hoạch sử dụng đất dưới tác động của biến đổi khí hậu
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tổng quan về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên thế giới
Ở Đức, có cách tiếp cận theo giai đoạn Chính phủ liên bang cùng với sự tham gia của các bang đưa ra hướng dẫn quy hoạch theo vùng Các hướng dẫn này được sử dụng làm điểm xuất phát để trao đổi ở cấp bang, sau đó được xây dựng thành đồ án tác nghiệp ở cấp vùng (Nguyễn Thảo, 2013) Ở Hàn Quốc (Hình 2.1) việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có tổ chức lấy ý kiến nhân dân Sau khi quy hoạch được phê duyệt sẽ được công khai và phổ biến đến nhân dân Chính quyền các cấp có trách nhiệm tiếp thu, giải trình ý kiến nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch đó Nhà nước có chính sách bảo đảm tính khả thi của quy hoạch, ví dụ: hỗ trợ đối với các khu vực bảo tồn, các khu vực cần bảo vệ như miễn thuế, không phải thực hiện nghĩa vụ quân sự, được hỗ trợ đời sống (Nguyễn Thảo, 2013)
Nam Phi đã thiết lập đồ án quy hoạch mặt bằng ở cấp quốc gia do Chính phủ thiết kế, có sự tham gia của Chính quyền các tỉnh Đồ án quy hoạch cấp quốc gia được coi là căn cứ để chính quyền cấp tỉnh soạn thảo các đồ án chi tiết hơn, phối hợp với các đơn vị chính quyền cấp thấp Các đồ án quy hoạch tiếp theo ở cấp quận, huyện được xây dựng với sự tham gia của các chủ sử dụng đất nhằm đảm bảo tính phù hợp và khả thi của quy hoạch tại địa phương (Nguyễn Hữu Ngữ, 2010).
Ở Đài Loan, quy hoạch sử dụng đất đai được lập theo nhiều cấp độ và vùng miền, tùy thuộc tính chất và yêu cầu của từng giai đoạn, gồm quy hoạch phát triển tổng hợp khu vực, quy hoạch sử dụng đất theo vùng, quy hoạch của huyện và thành phố, quy hoạch đô thị và quy hoạch sử dụng đất phi đô thị; ở Liên Xô cũ có bốn cấp quy hoạch là tổng sơ đồ sử dụng đất toàn liên bang, tổng sơ đồ sử dụng đất các tỉnh và nước cộng hòa, quy hoạch sử dụng đất các vùng và huyện, và quy hoạch sử dụng đất liên xí nghiệp và xí nghiệp; ở Áo, vai trò của Chính phủ bị hạn chế trong việc lập và thực hiện quy hoạch khi các cấp quy hoạch tiến hành đồng thời thông qua hội nghị quy hoạch quốc gia, hội nghị này tập hợp các quan điểm và mục tiêu cho cả nước rồi được chuyển lên cấp trung ương và xuống cấp vùng địa phương.
Hình 2.2 Thủ đô Vienna của nước Áo (Nguồn: Alamy, 2016) Ở Trung Quốc (hình 2.3), Chính phủ phê duyệt quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các thành phố thuộc tỉnh nhưng có trên 1 triệu dân (như: Nam Ninh, Quảng Châu), các đặc khu kinh tế (như: Thâm Quyến, Chu Hải) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch sử dụng đất của các đơn vị hành chính cấp huyện và quy hoạch sử dụng đất của cấp xã (Nguyễn Thảo, 2013)
Hình 2.3 Quang cảnh cổ kính của Thành phố Vũ Hán, Trung Quốc (Nguồn:
Vũ Vũ, 2014) Ở Philipine, tồn tại ba cấp quy hoạch: (1) Cấp quốc gia: hình thành những hướng dẫn chỉ đạo chung, (2) Cấp vùng: triển khai một khung chung cho quy hoạch cấp vùng, (3) Cấp quận, huyện: chịu trách nhiệm triển khai các đồ án tác nghiệp Chính phủ có vai trò quan trọng trong việc thống nhất giữa các ngành và các quan hệ giữa các cấp lập quy hoạch khác nhau, đồng thời cũng tạo điều kiện để các chủ sử dụng đất tham gia Ở Philipine nhấn mạnh vai trò luật pháp cả ở cấp quốc gia và cấp vùng (Nguyễn Hữu Ngữ, 2010) Ở Thụy Điển (Hình 2.4), quá trình lập quy hoạch quốc gia bao gồm hai bước Bước đầu tiên là tiến hành nghiên cứu về nhu cầu sử dụng đất từ các Bộ, ngành, khu vực, chính quyền địa phương và chính quyền Trung ương; đồng thời, tham vấn về nhu cầu sử dụng đất ưu tiên đối với mỗi lĩnh vực sử dụng đất (nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, giao thông vận tải, sản xuất điện, bảo vệ môi trường và văn hóa) Bước thứ hai là tham vấn các thành phố về ưu tiên của họ cho các nhu cầu cạnh tranh về sử dụng đất Chính quyền quận sẽ biên soạn các kết quả này và gửi cho Chính phủ và Quốc hội để quyết định trong các trường hợp có xung đột giữa lợi ích quốc gia với lợi ích khu vực hoặc địa phương (Nguyễn Thảo, 2013)
Ở Hà Lan, quyền quyết định quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia thuộc về Nghị viện và Chính phủ, được hỗ trợ bởi Ủy ban Quy hoạch không gian nhà nước, Cơ quan Quy hoạch không gian nhà nước và Hội đồng tư vấn quy hoạch không gian Tại cấp tỉnh, Ủy ban Quy hoạch không gian tỉnh và Cơ quan quy hoạch không gian tỉnh là các cơ quan chuyên môn giúp việc cho Hội đồng tỉnh và Ban chấp hành Hội đồng tỉnh về đất đai Địa phương có Phòng Quy hoạch cấp huyện, Hội đồng huyện và Ban chấp hành Hội đồng huyện; tuy nhiên chỉ các huyện lớn mới có Phòng Quy hoạch cấp huyện, còn các huyện khác thuê các chuyên gia tư vấn tư nhân thực hiện các công việc quy hoạch như khảo sát, tư vấn và lập kế hoạch Huyện có hai loại sơ đồ dùng cho chính sách quy hoạch là Sơ đồ bố trí tổ chức và Sơ đồ quy hoạch sử dụng đất Sau khi Hội đồng huyện thông qua sơ đồ, sẽ báo cáo lên Ban chấp hành Hội đồng tỉnh và cơ quan Quy hoạch không gian nhà nước.
Hình 2.5 Mô hình Quy hoạch khu Đô thị nổi thích ứng với ngập lụt ở TP
Amsterdam, Hà Lan (Nguồn: Nguyễn Hồng Thục, 2016) Ở Canada (Hình 2.6), công tác quy hoạch sử dụng đất được điều chỉnh bởi các quy định pháp luật của cơ quan lập pháp của tỉnh (bang) với một đạo luật đặc biệt cho thành phố thủ đô và một Luật quy hoạch cho 200 thành phố còn lại Theo Luật quy hoạch chính quyền tỉnh, mỗi thành phố lập kế hoạch phát triển và bản quy hoạch vùng (bao gồm kế hoạch chi tiết, các quy định về sử dụng đất và các tiêu chuẩn phát triển) Kế hoạch phát triển phải tuân thủ các quy định, chính sách của tỉnh; các cơ quan khác phải được tham vấn trong quá trình chuẩn bị kế hoạch Nếu họ không đồng ý với một kế hoạch phát triển được đề xuất, họ có thể khiếu nại đến một hội đồng đặc biệt và thường kế hoạch sẽ không được phê duyệt nếu có phản đối này Việc giải quyết xung đột thường được thực hiện thông qua thương lượng, thỏa thuận giữa các bên (Nguyễn Thảo, 2013)
Hình 2.6 Thành phố Toronto của Canada
(Nguồn: https://www.timeout.com, 2010) Ở An-giê-ri, quy hoạch sử dụng đất đai được xây dựng trên nguyên tắc nhất thể hóa, liên hợp hóa và kỷ luật đa phía Trong toàn bộ quá trình quy hoạch có sự tham gia đầy đủ của các địa phương liên quan, các tổ chức ở cấp chính phủ, tổ chức nhà nước, các cộng đồng và tổ chức nông gia Ở nước này, Chính phủ có trách nhiệm ngay từ đầu đối với những quan hệ ở tầm vĩ mô, còn công chúng - người có liên quan tới các hành vi lập quy hoạch giữ một vị trí quan trọng (Nguyễn Hữu Ngữ, 2010)
Kỳ quy hoạch sử dụng đất cũng khác nhau giữa các nước tùy theo điều kiện thực tế và chính sách quản lý Cụ thể, ở Hàn Quốc, kỳ quy hoạch đối với cấp quốc gia, cấp tỉnh là 20 năm, quy hoạch sử dụng đất vùng đô thị cơ bản và kế hoạch sử dụng đất là 10 năm Sau 5 năm sẽ tiến hành rà soát để điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu phát triển và thị trường Ở Trung Quốc, theo quy định của Luật đất đai năm 1999 thì kỳ quy hoạch sử dụng đất của các cấp là 10 năm Ở Canada, trước năm 2005 kỳ quy hoạch là 05 năm nhưng thực tế chứng minh là không hợp lý, nên hiện nay, Luật quy hoạch của Canada không quy định khoảng thời gian này Do đó, kỳ quy hoạch có thể rất linh hoạt, có thể thay đổi nhưng phải thực hiện các thủ tục phê duyệt theo quy định của Luật (Nguyễn Thảo, 2013).
Tổng quan về quy hoạch sử dụng đất theo pháp luật Việt Nam
Sau đại hội Đảng lần thứ VII năm 1992, nước ta triển khai công tác nghiên cứu chiến lược phát triển và quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội ở hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các vùng kinh tế và ở nhiều địa bàn trên toàn quốc.
12 bộ, ngành Các công trình nghiên cứu trong giai đoạn này đều tính đến năm
Vào giai đoạn 2010, việc nghiên cứu và triển khai quy hoạch sử dụng đất trên phạm vi cả nước nhận được sự hưởng ứng của các ngành, cấp và mọi thành viên xã hội, đánh dấu bước chuyển quản lý đất đai vào nề nếp sau thời kỳ miền Bắc tuyệt đối hóa công hữu đất đai và miền Nam buông lỏng công tác này dẫn tới tồn tại nhiều diện tích đất không có chủ sử dụng Đặc biệt từ năm 1995, Chính phủ chỉ đạo quy hoạch sử dụng đất đai một cách chặt chẽ và cụ thể hơn Trong giai đoạn này, Tổng cục Địa chính (cũ) đã xây dựng báo cáo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của cả nước đến năm 2010 để Chính phủ trình ra Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 10.
11 Tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội đã thông qua kế hoạch sử dụng đất đai cả nước giai đoạn 1996-2000 Đây là lần đầu tiên, có một báo cáo về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tương đối đầy đủ các khía cạnh về chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và môi trường đối với việc khai thác sử dụng đất đai cho một thời gian tương đối dài được soạn thảo theo phương pháp tiếp cận từ trên xuống dưới và có điều tra thống kê để tổng hợp từ dưới lên
Cùng với báo cáo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cả nước, tới nay đã có nhiều tỉnh soạn thảo và triển khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Còn ở cấp huyện và xã cũng đang được tổ chức triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường Các phương án quy hoạch này ngày càng được đảm bảo tốt hơn các yêu cầu về nội dung khoa học và pháp lý nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn đặt ra
Tóm lại, cùng với sự phát triển của nền kinh tế-xã hội, sự thay đổi của Luật đất đai, công tác quy hoạch sử dụng đất đai ở nước ta đã không ngừng được hoàn thiện và đã đem lại được nhiều thành tựu đáng kể, góp phần quan trọng vào quá trình quản lý và sử dụng đất hiệu quả, bền vững đồng thời thúc đẩy sự phát triển một cách tích cực của nền sản xuất xã hội
Cụ thể hóa Hiến pháp 1992, đồng thời kế thừa Luật Đất đai 1993, Luật Đất đai 2003 hiện hành đã xây dựng một hành lang pháp lý về quy hoạch sử dụng đất Chế định pháp luật về quy hoạch sử dụng đất kế thừa những quy định của pháp luật trước đó và bổ sung những quy định mới để ngày càng hoàn thiện hơn, hợp lý hơn, khoa học hơn Các quy định trong Luật Đất đai
2003 về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được hướng dẫn tại Chương 3 Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 29/10/2004 và những văn bản của Bộ chuyên ngành Cụ thể như sau:
- Quy định của pháp luật về nguyên tắc, căn cứ, thời hạn, chi phí lập quy hoạch sử dụng đất
Nguyên tắc lập quy hoạch sử dụng đất lần đầu được quy định tại Điều 21 Luật đất đai 2003, xác định các nguyên tắc cơ bản cho hoạt động quy hoạch sử dụng đất Các nguyên tắc này tiếp tục được cụ thể hóa tại Nghị định 181/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật đất đai 2003 và thông qua các Quyết định, Thông tư của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất tại điều Điều 22 Luật đất đai năm
2003 theo đó, căn cứ lập quy hoạch được quy định chung cho tất cả các cấp
Về thời hạn lập quy hoạch: Lần đầu tiên Luật đất đai 2003 quy định về thời gian cho một quy hoạch sử dụng đất với tên gọi kỳ quy hoạch sử dụng đất là 10 năm
Chi phí lập quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam trước đây chưa được quy định bởi Luật Đất đai năm 1987 và Luật Đất đai năm 1993; khi Luật Đất đai 2003 có hiệu lực, đã bổ sung thông tư hướng dẫn xây dựng dự toán kinh phí cho việc lập và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, tạo nền tảng minh bạch và khả thi cho công khai tài chính trong quản lý quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất.
- Quy định của pháp luật về mối quan hệ giữa các cấp quy hoạch sử dụng đất
Hình 2.7 Sơ đồ về mối quan hệ giữa các cấp quy hoạch sử dụng đất ở Việt
Theo Luật Đất đai 2003 và các văn bản hướng dẫn liên quan, hệ thống quy hoạch sử dụng đất ở nước ta hiện nay được tổ chức theo bốn cấp: cấp quốc gia (toàn quốc), cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã, cấp xã được gọi là quy hoạch sử dụng đất chi tiết.
- Quy định của pháp luật về trình tự, thẩm quyền xây dựng, tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất
Quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất cơ bản được thực hiện thông qua 6 bước cơ bản, trong đó các bước Lập, Thông qua và Xét duyệt đóng vai trò nòng cốt Quy trình này yêu cầu sự phối hợp chặt chẽ giữa các khâu từ khâu lập kế hoạch đến trình duyệt hồ sơ, nhằm đảm bảo tính hợp pháp, tính khả thi và sự phù hợp với mục tiêu phát triển địa phương Việc tuân thủ đầy đủ các bước quy hoạch sử dụng đất không chỉ tăng tính minh bạch mà còn nâng cao hiệu quả thực thi quy hoạch tại địa phương.
QHSDĐ các vùng kinh tế
(quyết định), công bố, thực hiện và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất Các bước đó đều được Luật đất đai 2003 quy định cụ thể chi tiết về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, nhằm bảo đảm tính công khai minh bạch và trên hết là đảm bảo tính hiệu quả về kinh tế, xã hội, môi trường của một đề án quy hoạch sử dụng đất
Hình 2.8 Trình tự, thẩm quyền xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất ở cấp tỉnh theo luật đất đai 2003 (Nguồn: Luật đất đai 2003)
Về công bố quy hoạch sử dụng đất: Công bố quy hoạch sử dụng đất là một trong những nội dung tiến bộ, khoa học của pháp luật đất đai nhằm đảm bảo tính công khai, dân chủ, minh bạch Điều 28 Luật Đất đai năm 2003 quy định về công bố quy hoạch sử dụng đất là trong thời hạn không quá ba mươi ngày làm việc, kể từ ngày được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định hoặc xét duyệt, quy hoạch sử dụng đất phải được công bố công khai Đánh giá chung về thực trạng điều chỉnh của pháp luật quy hoạch sử dụng đất dựa trên các nguyên tắc, yêu cầu của pháp luật quy hoạch sử dụng đất Trước năm 2003, quy hoạch sử dụng đất đã được pháp luật điều chỉnh từ
- Gửi hồ sơ lấy ý kiến
- Trình Chính phủ Đóng góp ý kiến
Tờ trình UBND gửi CP
Báo cáo thuyết minh tổng QHSDĐ
Tờ trình UBND gửi CP
Tờ trình UBND gửi CP
Sở, ban ngành của tỉnh, UBND các huyện
Gửi đề xuất nhu cầu sử dụng đất
- Thẩm tra nhu cầu sử dụng đất
- Lập dự thảo QHKH SDĐ
- Tổng hợp ý kiến, hoàn chỉnh Hồ sơ
- Tổng hợp ý kiến, hoàn chỉnh Hồ sơ
- Gửi hồ sơ đến Bộ TNMT
Trong giai đoạn từ Luật đất đai năm 1987 đến Luật đất đai năm 1993, các quy định của pháp luật mang tính hình thức, chưa phát huy đầy đủ vai trò của pháp luật và công tác quy hoạch sử dụng đất còn tồn tại nhiều bất cập Từ khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành, công tác quản lý đất đai đã có nhiều tiến bộ; việc tổ chức thi hành pháp luật đất đai được các cấp, các ngành quan tâm hơn và ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân đã có chuyển biến tích cực.
- Khái niệm về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Tổng quan về thực trạng quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam
Sau khi công bố Luật Đất đai năm 1987, công tác quy hoạch sử dụng đất bắt đầu được vận hành một cách chính thức và đến nay qua hơn 30 năm áp dụng, nhìn lại một cách tổng quát có thể đi đến những nhận xét chủ yếu sau:
Việt Nam có nhiều kinh nghiệm lập quy hoạch cho các ngành kinh tế Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện một số nghiên cứu ứng phó với những khó khăn trong quy hoạch và thu thập dữ liệu ngành (quy hoạch nông nghiệp, xây dựng, nuôi trồng thủy sản và tài nguyên nước) Tính chất liên ngành của các vấn đề và lợi ích của các bên liên quan khác nhau đã gây khó khăn cho việc trao đổi thông tin, phù hợp với lợi ích của ngành Do đó, quy hoạch không gian tổng hợp thực sự vẫn còn khó khăn Không chỉ nhiều Bộ, cơ quan, ban ngành, mà còn có nhiều cấp chính quyền (trung ương, tỉnh, huyện, thành phố và Uỷ ban nhân dân địa phương) có liên quan đến quy hoạch Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020 cho ĐBSCL đóng vai trò rất quan
19 trọng và là nền tảng cho các quy hoạch ngành khác Quy hoạch không gian lại được quyết định chủ yếu từ quy hoạch kinh tế - xã hội
Tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; góp phần quan trọng cho công tác quản lý, sử dụng đất đai ngày càng đi vào trật tự, ổn định, tạo những thuận lợi cơ bản để dung hòa mối quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước và đối tượng sử dụng đất đai Góp phần đổi mới, nâng cao tính liên kết, đồng bộ giữa quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với quy hoạch xây dựng, quy hoạch ngành, lĩnh vực khác có sử dụng đất theo hướng phải tổng hợp, cân đối, phân bổ hợp lý, sử dụng hiệu quả đất đai
Bên cạnh những nổ lực xây dựng và hoàn thiện chế định pháp luật về quy hoạch sử dụng đất, khẳng định được vai trò của pháp luật quy hoạch đất trong việc thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, từ thực trạng pháp luật quy hoạch sử dụng đất như vừa phân tích, đối chiếu với những nội dung lý luận về pháp luật quy hoạch, chúng tôi thấy pháp luật quy hoạch sử dụng đất hiện nay về cơ bản chưa đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh đối với hoạt động quy hoạch, không đảm bảo được các nguyên tắc của pháp luật quy hoạch sử dụng đất, đặt ra cho pháp luật quy hoạch sử dụng đất một số vấn đề:
- Thứ nhất, pháp luật về quy hoạch sử dụng đất chưa có tính đồng bộ thống nhất
- Thứ hai, pháp luật về quy hoạch sử dụng đất hiện hành thiếu tính khả thi
- Thứ ba, pháp luật về quy hoạch sử dụng đất chưa thể hiện tính dự báo và ổn định
- Thứ tư, pháp luật quy hoạch sử dụng đất hiện nay không đảm bảo được tính công khai, minh bạch và dân chủ (Lê Thị Phúc, 2014)
Những điểm bất cập trong quy hoạch sử dụng đất hiện nay
Việc phê duyệt kế hoạch sử dụng đất cấp huyện hàng năm ở nhiều địa phương chậm so với quy định, khiến việc giao đất, cho thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất không thực hiện đúng tiến độ Quá trình này kéo dài thời gian giải quyết hồ sơ và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người dân.
- Công tác lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch kéo dài thời gian, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch kinh tế - xã hội, quy hoạch xây dựng, quy hoạch hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội không đồng nhất về thời gian, điều này dẫn đến phải điều chỉnh cho phù hợp
- Chất lượng của nhiều quy hoạch còn thấp, thiếu đồng bộ trong sử dụng đất cũng như chưa đầy đủ căn cứ pháp lý thể hiện ở việc các quy hoạch phải điều chỉnh, bổ sung nhiều lần; thiếu tính khả thi, không đảm bảo nguồn lực đất đai để thực hiện Việc không đồng nhất các chỉ tiêu thống kê các loại đất dẫn đến việc đánh giá các chỉ tiêu thực hiện quy hoạch không đầy đủ, chính xác
- Chỉ tiêu phê duyệt chưa đảm bảo diện tích đất tối thiểu so với quy chuẩn xây dựng về giao thông, y tế, giáo dục Nhiều địa phương còn gặp khó khăn, bị động khi giải quyết đối với trường hợp biến động các chỉ tiêu sử dụng đất trong quá trình thực hiện so với các chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch được duyệt, phát sinh các dự án, công trình chưa có trong kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện Hay, một số hạng mục công trình đã có trong chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất hàng năm nhưng cơ quan chủ đầu tư chưa lập xong dự án và hồ sơ đất đai, phải lùi tiến độ thực hiện
- Quy hoạch, kiến trúc đô thị thiếu đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, chưa thực sự chú ý tới yếu tố bảo vệ môi trường, phát triển bền vững Công tác quản lý thực hiện quy hoạch còn nhiều hạn chế, bất cập về cơ chế, nhiều nơi bị buông lỏng, thiếu sự phân cấp, phân công hợp lý về chức năng đối với các sở chuyên ngành như xây dựng, quy hoạch – kiến trúc và ủy ban nhân dân các quận, huyện trong quản lý, theo dõi việc lập, thẩm định, trình duyệt và thực hiện quy hoạch Lực lượng cán bộ chuyên trách cho công tác này còn nhiều hạn chế về năng lực
- Công tác quản lý, kiểm tra, giám sát chưa chặt chẽ, thường xuyên dẫn tới tình trạng vi phạm quy hoạch diễn ra phổ biến nhưng chưa được phát hiện và xử lý kịp thời và gây thiệt hại không nhỏ về kinh tế
- Công tác lấy ý kiến của nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai chưa thực sự được chú trọng Tình trạng quy hoạch “treo” còn phổ biến Trên cả nước vẫn còn hàng ngàn dự án “treo” chưa được thu hồi Việc xử lý các dự án sau khi thu hồi cũng đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc Sau khi chấm dứt pháp lý dự án, trả lại quyền lợi hợp pháp cho người dân nhưng trên thực tế, do chủ đầu tư đền bù, giải phóng mặt bằng không liền thửa, liền khoảnh nên cả người dân lẫn doanh nghiệp đều khó để sử dụng phần đất của mình, chính quyền cũng khó điều chỉnh quy hoạch Bên cạnh đó, dù là hủy bỏ dự án nhưng quy hoạch không thay đổi nên người dân không dám xây dựng kiên cố hay đầu tư sản xuất lâu dài vì lo nhà nước thực hiện quy hoạch sẽ không được bồi thường do không có các chính sách đối với người dân sau khi thu hồi dự án “treo” hoặc các quy hoạch chậm thực hiện
Nhận thức về quy hoạch sử dụng đất chưa đồng đều và mức đồng thuận còn thấp, có ý kiến cho rằng không có khái niệm quy hoạch sử dụng đất mà chỉ có quy hoạch kiến trúc, quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị và quy hoạch nông thôn Do đó, sự phối hợp giữa các cấp, ngành và đơn vị còn hạn chế, thiếu đồng bộ và có thể ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng quy hoạch ở mức hình thức, tập trung vào thủ tục hành chính và thống kê số lượng thay vì tính toán hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường Vì vậy, tính khả thi của các phương án quy hoạch không cao; các giải pháp tổ chức thực hiện thiếu đồng bộ và không kịp thời, đồng thời công tác kiểm tra, giám sát và đôn đốc việc thực hiện quy hoạch chưa được coi trọng đúng mức.
Quy hoạch sử dụng đất chưa thực sự được coi là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất và chuyển mục đích sử dụng đất Nhiều địa phương do buông lỏng quản lý đã để tự phát chuyển mục đích sử dụng đất tạo ra tình hình rối loạn trong sử dụng đất và tác động xấu đến môi trường Một số nơi nôn nóng trong phát triển công nghiệp, muốn tranh thủ các nhà đầu tư nên đã cho phép thu hồi, san lấp mặt bằng một lượng lớn đất nông nghiệp để lập khu công nghiệp, sau đó do thiếu vốn nên các dự án thực hiện cầm chừng, đất đai lại bị bỏ hoang trở thành “dự án treo”, người bị thu hồi đất mất việc làm dẫn đến lãng phí nguồn lao động và tài nguyên đất đai Việc chấp hành các chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các địa phương chưa nghiêm, vẫn còn tình trạng giao đất, cho thuê đất, chuyển quyền sử dụng đất không đúng với quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt Quy hoạch sử dụng đất chưa trở thành “Bản hiến pháp của đời sống”, tính phổ cập chưa cao, quy trình điều chỉnh quy hoạch chưa thật hợp lý để đảm bảo tính kịp thời, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn (Nguyễn Đình Bồng, 2007)
2.4 Tổng quan về kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất thành phố Cần Thơ trong thời gian qua
Xây dựng kế hoạch sử dụng đất hàng năm trình cấp có thẩm quyền phê duyệt là nội dung quan trọng trong quản lý đất đai tại mỗi địa phương Kế hoạch này phải được nghiên cứu, phân tích và đánh giá một cách khoa học, phù hợp với đặc điểm và tình hình của từng địa phương đồng thời gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội địa phương Người dân được tham gia vào quá trình xây dựng quy hoạch và được giám sát việc thực hiện thông qua công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn.
2013 Các vấn đề bức xúc của người dân cần phải được nghiên cứu, đề ra biện
22 phương pháp giải quyết trong quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch nhằm tránh tình trạng sau khi kế hoạch sử dụng đất được duyệt lại nảy sinh bức xúc, khiếu kiện của nhân dân Làm thế nào để kế hoạch sử dụng đất vừa đáp ứng công tác quản lý, sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai, vừa đáp ứng nhu cầu sử dụng đất cho phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng, trong khi nhu cầu đất của địa phương luôn có sự biến động từng ngày Đó là trách nhiệm của những người tham gia xây dựng và quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
2.4.1 Các bất cập của việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất
Hiện nay việc lập, thực hiện kế hoạch sử dụng đất hàng năm vướng phải hai vấn đề lớn như sau:
Các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến quy hoạch sử dụng đất TPCT
Quy hoạch sử dụng đất bao gồm nhiều người, nhiều ngành khác nhau cùng làm việc để đạt được những mục tiêu chung Ba nhóm người chính cùng hoạt động trong đó là: Người sử dụng đất, Nhà lãnh đạo, Đội quy hoạch và một nhân tố quan trọng đó là Nhà đầu tư Tuy nhiên, qua số liệu điều tra trên địa bàn quận Cái Răng, huyện Phong Điền và huyện Vĩnh Thạnh thuộc thành phố Cần Thơ Đây là 03 quận, huyện của thành phố Cần Thơ có tính đại diện của mẫu được chọn, kết quả xác định được nhóm yếu tố ảnh hưởng đến quy hoạch sử dụng đất gồm: nhóm yếu tố kinh tế xã hội, nhóm yếu tố chính sách đất đai, nhóm yếu tố quy trình kỹ thuật, nhóm yếu tố con người và nhóm yếu tố biến đổi khí hậu:
2.5.1 Nhóm yếu tố kinh tế xã hội
Đánh giá và phát triển bền vững đòi hỏi xem xét đầy đủ các yếu tố: giá thị trường, khả năng huy động nguồn vốn đầu tư, thị trường xuất khẩu và tiềm năng mở rộng, cơ sở hạ tầng gồm kỹ thuật và xã hội phục vụ sản xuất, sự đồng bộ giữa các cấp và ngành liên quan để tăng hiệu quả, dân số lao động và trình độ lao động, tập quán canh tác và mức độ áp dụng công nghệ mới, cùng sự tham gia của người dân từ khâu sản xuất đến tiêu thụ.
2.5.2 Nhóm yếu tố chính sách đất đai
Gồm các yếu tố: bồi thường hỗ trợ và tái định cư, thu hút đầu tư, đào tạo nghề việc làm, hỗ trợ vốn
2.5.3 Nhóm yếu tố quy trình kỹ thuật
Gồm các yếu tố:số liệu thu thập đo đạc, trình độ kinh nghiêm người làm công tác quy hoạch, quản lý kiểm tra giám sát việc thực hiện,
2.5.4 Nhóm yếu tố con người:
Gồm các yếu tố: Người sử dụng đất, Nhà lãnh đạo, Nhà thực hiện kế hoạch (Đội quy hoạch), Nhà đầu tư a) Người sử dụng đất Đây là những người dân sống trong vùng quy hoạch và đời sống của họ lệ thuộc hoàn toàn hay từng phần vào vùng đất này Không phải chỉ bao gồm nông dân, người làm nông nghiệp nói chung hay những người khác trong vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp của sử dụng đất mà còn bao gồm luôn cả những người sử dụng các sản phẩm của họ, thí dụ như các nhà máy chế biến thịt, sản phẩm cây trồng, nhà máy xay xát, nhà máy cưa hay các xưởng đóng đồ gỗ Điều cần thiết là phải bao gồm tất cả các thành phần này trong quy hoạch sử dụng đất.Do đó, họ phải đặt toàn bộ kế hoạch cho có hiệu quả trong sử dụng đất và sử dụng sản phẩm của đất để cho thấy mọi người đều sẽ thừa hưởng các phần lợi nhuận cũng như phúc lợi xã hội sẽ có được trong tiến trình thực hiện đề án quy hoạch sử dụng đất Kinh nghiệm trong việc xác định các đề án cho thấy người dân địa phương khi sử dụng nguồn tài nguyên thường bỏ quên việc ảnh hưởng đến môi trường cũng như các nguồn tài nguyên quan trọng khác cần được bảo vệ Trong trường hợp người dân nắm lấy cơ hội phát triển và tự
25 nguyện cùng tham gia quy hoạch sử dụng đất thì chương trình quy hoạch sẽ hoàn thiện nhanh hơn là trong trường hợp ép buộc người dân vào trong quy hoạch đó Đồng thời, cho thấy nếu không có sự hỗ trợ, giúp đỡ của các lãnh đạo địa phương thì đề án quy hoạch cũng khó có thể thành công Để có sự tham gia vào tiến trình quy hoạch của toàn cộng đồng xã hội thì vẫn còn là vấn đề thách đố cho các nhà quy hoạch Nhà quy hoạch phải đầu tư nhiều thời gian và nguồn tài nguyên để hỗ trợ và nâng cao trình độ kiến thức cho các đối tượng tham gia thông qua các phương tiện truyền thanh, báo chí, hội thảo chuyên môn và khuyến nông Thông thường cho thấy những cố gắng thành công nhất là biết kết hợp giữa các nghiên cứu kỹ thuật với mong ước của người địa phương đang sống giúp cho quy hoạch được tốt hơn b) Nhà lãnh đạo
Trách nhiệm của Nhà lãnh đạo là làm sao để đề án có hiệu quả Ở cấp độ quốc gia và Tỉnh, đó là Thủ tướng, Bộ trưởng hay Chủ tịch tỉnh, cấp địa phương những người lãnh đạo này nằm trong hội đồng của chính quyền bao gồm Chủ tịch huyện, xã đến các lãnh đạo ban, ngành có liên quan Nhóm quy hoạch sẽ cung cấp những thông tin và cố vấn chuyên môn, các Nhà lãnh đạo thường đưa ra các chiến lược và mục đích phát triển, đồng thời cũng chỉ cho thấy khả năng thực hiện đề án nếu như có sự chọn lựa các kiểu quy hoạch đã được đề ra Mặc dù, Lãnh đạo nhóm quy hoạch hiện diện liên tục trong quá trình hoạt động quy hoạch nhưng các Nhà lãnh đạo cũng phải nằm trong nhóm quy hoạch này theo từng thời gian cố định để thảo luận và phân tích từng khả năng có được trong quá trình xây dựng quy hoạch
Các Nhà lãnh đạo giữ vai trò then chốt trong việc hỗ trợ cho sự tham gia chung của cộng đồng xã hội trong vùng quy hoạch thông qua việc đáp ứng những mong ước cụ thể của người dân cũng như chỉ rõ cho người dân thấy con đường đi đến sự tốt đẹp của toàn cộng đồng xã hội trong tương lai c) Nhà thực hiện kế hoạch (Đội quy hoạch)
Trong quy hoạch sử dụng đất, xử lý đất đai và nhìn nhận đất đai như một tổng thể là một trong những đặc tính thiết yếu Quá trình này đòi hỏi kiểm soát chéo giữa các chuyên ngành như tài nguyên môi trường, xây dựng, giao thông vận tải, nông nghiệp và phát triển nông thôn, do đó mọi hoạt động đều cần có một đội quy hoạch đa ngành Đội ngũ này phải có các chuyên gia có kiến thức sâu và chuyên môn như nhà khảo sát đất, nhà đánh giá đất đai, nhà nông học, chuyên gia lâm nghiệp, các chuyên gia chăn nuôi thú y, kỹ sư xây dựng, kỹ sư nông nghiệp, nhà kinh tế và nhà xã hội học.
Những chuyên gia chuyên môn này thì có thể có ích giá trị cho quy hoạch cấp độ quốc gia Ở cấp độ địa phương thì đội quy hoạch mang tính chuyên biệt hơn, bao gồm nhà quy hoạch sử dụng đất đai với một hoặc hai trợ lý Mỗi người phải tự khắc phục những khó khăn trong khoảng quá rộng về các lĩnh vực chuyên môn của công việc và sẽ cần thêm sự hỗ trợ của các nhà chuyên môn sâu khi cần Những cơ quan Nhà nước hay Trường Đại học là những nơi có sự giúp đỡ về nguồn tài liệu và nhân lực rất tốt trong quy hoạch d) Nhà đầu tư
Là người thực hiện các công trình, dự án để phát triển kinh tế xã hội, cơ sở hạ tầng của thành phố, góp phần làm thay đổi diện mạo của thành phố Nhà đầu tư là một thành phần không thể thiếu được trong việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất
2.5.5 Nhóm yếu tố biến đổi khí hậu
Gồm các yếu tố: sự gia tăng nhiệt độ, sự thay đổi của lượng mưa, sự xâm nhập mặn và yếu tố ngập lụt
Theo Công ước khí hậu của Liên Hợp Quốc thì “Biến đổi khí hậu” nghĩa là biến đổi của khí hậu được qui cho trực tiếp hoặc gián tiếp do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và sự thay đổi này được cộng thêm vào khả năng biến động tự nhiên của khí hậu quan sát được trong những thời kỳ có thể so sánh được
Theo IPCC (2007), biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, được nhận biết qua sự thay đổi về mức trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, kéo dài đủ lâu, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn Nói cách khác, nếu coi trạng thái cân bằng của hệ thống khí hậu là điều kiện thời tiết trung bình và các biến động của nó trong khoảng vài thập kỷ hoặc dài hơn, thì biến đổi khí hậu là sự chuyển từ một trạng thái cân bằng này sang một trạng thái cân bằng khác của hệ thống khí hậu.
Tác động của biến đổi khí hậu đến Đồng bằng sông Cửu Long
Dasgupta và các cộng sự (2007) công bố một nghiên cứu chính sách do Ngân hàng Thế giới (WB) xuất bản, xếp Việt Nam vào nhóm năm quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu Tại Việt Nam, Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) chịu tác động lớn nhất, rủi ro ở ĐBSCL, gồm hạn hán và lũ lụt, sẽ gia tăng trong bối cảnh mưa có cường độ cao và các đợt hạn kéo dài (Peter và Greet, 2008) Hạnh và cộng sự (2007) dựa trên các ghi nhận tại các trạm đo thuỷ triều ở Việt Nam đã có những bằng chứng về sự dâng lên của mực nước biển, với mức tăng trung bình hàng năm từ khoảng 1,75 đến 2,56 mm/năm.
Năm 2009, Trung tâm START vùng Đông Nam Á (Đại học Chulalongkorn, Thái Lan) và Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu - Đại học Cần Thơ đã phối hợp chạy mô hình khí hậu vùng PRECIS với kịch bản A2 và B2, dựa vào chuỗi số liệu khí hậu giai đoạn 1980-2000 để phỏng đoán giai đoạn 2030-2040 Kết quả mô hình cho thấy nhiều khu vực của ĐBSCL sẽ bị tác động sau (Tuan and Supparkorn, 2009; Huỳnh Thị Thu Hương, 2017):
• Nhiệt độ cao nhất trung bình trong mùa khô sẽ gia tăng từ 33-35°C lên 35- 37°C (Hình 2.9)
• Lượng mưa đầu vụ Hè Thu (15/4 - 15/5) sẽ giảm chừng 10-20%
• Sự phân bố mưa tháng sẽ có khuynh hướng giảm vào đầu và giữa vụ Hè Thu nhưng gia tăng một ít vào cuối mùa mưa (Hình 2.10)
• Tổng lượng mưa năm tại An Giang, Cần Thơ và Sóc Trăng sẽ giảm chừng 20%, đồng thời thời kỳ bắt đầu mùa mưa sẽ trễ hơn khoảng 2 tuần lễ
• Diện tích ngập ở ĐBSCL do lũ sẽ gia tăng (Hình 2.11)
Hình 2.9 Sự thay đổi nhiệt độ lớn nhất trung bình thập niên 2030 so với thập niên 1980 (Lê Anh Tuấn, 2009)
Hình 2.10 Sự thay đổi lượng mưa tháng ở ĐBSCL thập niên 2030 so với thập niên 1980 (Lê Anh Tuấn, 2009)
Dự báo đến năm 2060, biến đổi khí hậu toàn cầu sẽ làm môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội ĐBSCL thay đổi lớn Nước biển sẽ dâng cao trên dưới 1m, làm ngập lụt phần lớn ĐBSCL vốn đã bị ngập lụt hàng năm, dẫn đến mất nhiều đất nông nghiệp Sẽ có từ 15.000 – 20.000 km 2 đất thấp ven biển bị ngập hoàn toàn Lưu lượng nước sông Mê Kông giảm từ 2 – 24% trong mùa khô, tăng từ 7- 15% vào mùa lũ Hạn hán sẽ xuất hiện nhiều hơn, nước lũ sẽ cao hơn và thời gian ngập lũ cũng kéo dài hơn hiện nay Việc tiêu thoát nước mùa mưa lũ cũng khó khăn (Huỳnh Thị Thu Hương, 2017)
Hình 2.11 Phỏng đoán sự thay đổi diện tích ngập vào thập niên 2030 so với thập niên 1980 (Lê Anh Tuấn, 2009)
Kịch bản khác về BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam của Bộ Tài nguyên môi trường Việt Nam: Kịch bản nước biển dâng cho Việt Nam năm
2016 của Bộ Tài nguyên môi trường được xây dựng theo phương pháp của IPCC, các kết quả nghiên cứu mới nhất của thế giới; các kịch bản nước biển dâng quy mô quốc gia của Úc, Hà Lan và Singapore Kịch bản nước biển dâng chỉ xét đến sự thay đổi mực nước biển trung bình do biến đổi khí hậu, mà không xét đến ảnh hưởng của các yếu tố khác gây nên sự dâng cao mực nước biển như: nước dâng do bão, nước dâng do gió mùa, thủy triều, quá trình nâng/hạ địa chất và các quá trình khác
Giới thiệu địa bàn nghiên cứu thành phố Cần Thơ
Cần Thơ là một thành phố trẻ, nhưng lịch sử hình thành và phát triển của nó đã trên 130 năm Trải qua nhiều biến cố thăng trầm, hiện nay thành phố đã được công nhận là đô thị loại I – một trong năm thành phố trực thuộc trung ương Đây là nơi hiện đại và phát triển nhất ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, được mệnh danh là Tây Đô và là thủ phủ kinh tế, chính trị, giáo dục và y tế của khu vực.
Cần Thơ nằm ở vị trí trung tâm của đồng bằng sông Cửu Long, thuộc vùng hạ lưu sông Mê Kông Phía bắc giáp tỉnh An Giang; phía đông giáp tỉnh Đồng Tháp, Vĩnh Long Phía tây giáp tỉnh Kiên Giang; còn phía nam giáp tỉnh Hậu Giang Cách Thành phố Hồ Chí Minh 169 km, cách Rạch Giá, cách thành phố Cà Mau hơn 150 km Từ đây có thể ra biển theo đường nam sông Hậu (quốc lộ 91C) khoảng 80 km
Về tọa độ địa lý, Cần Thơ nằm trong giới hạn từ 105°13’38” đến 105°50’35” kinh độ Đông Từ 9°55’08” đến 10°19’38” vĩ độ Bắc
Lãnh thổ thành phố trải dài hơn 60 km dọc bờ tây sông Hậu Tổng diện tích tự nhiên là 1.439,0 km², chiếm 3,49% diện tích của cả vùng Trong đó, diện tích nội thành là 53 km²
Hình 2.13 Vị trí của thành phố Cần Thơ trên bản đồ
Cần Thơ có khí hậu nhiệt đới gió mùa đặc trưng với hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, còn mùa khô bắt đầu từ tháng 12 và kết thúc vào tháng 4 năm sau.
Nhiệt độ trong năm khá cao, trung bình từ 25°C đến 28°C Lượng mưa từ 1.500 mm đến 1.800 mm trên năm Tổng số giờ nắng là 2.300 – 2.500 giờ Độ ẩm trung bình là 83%
Chế độ gió: gió mùa đông bắc và gió mùa tây nam
Cần Thơ nằm ở khu vực bồi tụ phù sa của sông Mê Kông, trong đó Sông Hậu là con sông lớn với chiều dài chảy qua thành phố là 65 km phía đông Tổng lượng phù sa của sông Hậu là 35 triệu m³/năm Sông Cái Lớn dài 20 km có khả năng tiêu thoát nước tốt Sông Cần Thơ dài 16 km đổ ra sông Hậu, nước ngọt quanh năm, có tác dụng tưới nước trong mùa nước kém vừa tiêu úng trong mùa nước đổ; đồng thời do có hệ thống kênh rạch dày đặc nên thuận lợi cho phục vụ sản xuất nông nghiệp và giao lưu hàng hóa
Hình 2.14 Chợ nổi Cái Răng
Cần Thơ thuộc vùng đồng lũ nửa mở, bao gồm 3 dạng địa mạo: đê tự nhiên sông Hậu, đồng lũ nửa mở thuộc vùng tứ giác Long Xuyên và đồng bằng châu thổ Cao trình phổ biến từ 0,8 – 1,0 m và thấp dần từ đông bắc sang tây nam Địa bàn được hình thành chủ yếu qua quá trình bồi lắng trầm tích biển và phù sa của sông Cửu Long
Về thổ nhưỡng, có hai nhóm đất chính là nhóm đất phù sa chiếm 84% diện tích tự nhiên và 16% nhóm đất phèn
Tài nguyên đất: Như đã nhắc đến ở trên, có hai loại nhóm đát chính là đất phù sa và đất phèn Trong đó:
Đất phù sa chiếm 84% diện tích tự nhiên, phân bố dọc theo sông Hậu, cách sông từ 8 km đến 12 km Gồm 5 loại: đất phù sa bồi ven sông (chiếm khoảng 1,9%), đất phù sa đốm dĩ có gley (chiếm khoảng 58%), đất phù sa đốm dĩ (chiếm khoảng 15,3%), đất phù sa loang lổ (chiếm khoảng 4,9%), đất phù sa gley (chiếm khoảng 4,1%) Đây là loại đất tốt, rất cần thiết cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp
Đất phèn: chiếm 16% diện tích tự nhiên, gồm: đất phèn hoạt động nông (chiếm khoảng 2,5%), đất phèn hoạt động sâu (chiếm khoảng 7,0%) và đất phèn hoạt động rất sâu (chiếm khoảng 6,4%)
Tài nguyên nước: Nguồn nước mặt của thành phố Cần Thơ có thể nói là khá dồi dào Nhờ có hệ thống sông ngòi và kênh rạch chằng chịt
Hình 2.15 Hệ thống sông ngòi chằng chịt là điều kiện phát triển giao thông
Ngoài ra thì Cần Thơ còn có nguồn nước ngầm được phân bố khá rộng Chủ yếu ở các tầng chứa nước Pleitoxen, Pliocen, Miocen ở độ sâu 100 – 300m, nhưng có nơi 20 – 50m đã có nước ngầm, chất lượng khá tốt
Tài nguyên khoáng sản: Tài nguyên khoáng sản trên lãnh thổ thành phố
Cần Thơ không nhiều Chủ yếu là khoáng sản phục vụ công nghiệp nhẹ, trong lĩnh vực xây dựng như: đất sét, cát, than bùn,…
Than bùn: Ở độ sâu 0,5 – 1,0m, trữ lượng khoảng 30.000 – 50.000 tấn, tập trung ở quận Ô Môn, Thốt Nốt, hiện chưa khai thác
Đất sét: 3 điểm trữ lượng đất sét tốt khoảng 16,8 triệu m3 để làm gạch ngói, phổ biến là tầng đất sét màu xám vàng có bề mặt dày 1 – 2m, phân bố rải rác ở khắp nơi Riêng ở sông Ô Môn và sông Cần Thơ đất sét có màu vàng nhạt, xám xanh loang lổ khi khô thì cứng, chiều dày khoảng 2m, trữ lượng hàng triệu tấn
Cát san lấp: Tập trung ở khu vực sông Hậu và đoạn từ quận Thốt Nốt đến Phụng Hiệp, có trữ lượng khoảng 30 triệu m³
Tài nguyên sinh vật: Về tài nguyên sinh vật là đặc trưng cho vùng phù sa ngọt nhưng hiện nay cạn nguồn do tận dụng đánh bắt khai thác
Theo số liệu thống kê năm 2020, dân số Cần Thơ là 1.500.000 người Trong đó:
Mật độ dân số là 1008 người/km², là mức cao Quận Ninh Kiều có mật độ dân cư đông nhất 8.407 người/km² và mật độ dân cư thấp nhất là huyện Vĩnh Thạnh 274 người/km² Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,1% (năm 2005)
Người Kinh chiếm phần lớn trong dân số của thành phố Cần Thơ (96,95%) Số còn lại là người Hoa, Khmer và một số ít các dân tộc khác
Cần Thơ cũng là nơi đào tạo nguồn lực lao động cho cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long với nhiều trường Đại học, viện nghiên cứu, các trung tâm dạy nghề,…
Cần Thơ có 9 đơn vị hành chính bao gồm 5 quận (Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn, Thốt Nốt) và 4 huyện (Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ, Thới Lai, Phong Điền) với 85 xã phường thị trấn
Quận Ninh Kiều là trung tâm của thành phố, các quận Bình Thủy, Ô Môn, Thốt Nốt và Cái Răng giữ vai trò nội thành (Có 610/630 ấp, khu vực văn hóa)
Định hướng quy hoạch kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2021- 2030
Tiếp tục phấn đấu xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ sớm trở thành thành phố sinh thái, văn minh, hiện đại mang đậm bản sắc sông nước Vùng đồng bằng sông Cửu Long; là trung tâm của Vùng về dịch vụ thương mại, du lịch, logistics; công nghiệp chế biến và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; giáo dục và đào tạo, y tế chuyên sâu, khoa học và công nghệ, văn hóa và thể thao; là đô thị hạt nhân Vùng ĐBSCL, nơi có đời sống vật chất và tinh thần của người dân đạt mức cao trước năm 2030 Chăm lo phát triển văn hóa, tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội, bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống; đảm bảo trật tự an toàn xã hội, quốc phòng, an ninh được giữ vững
Tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng phát triển theo chiều sâu trên cơ sở ứng dụng công nghệ hiện đại, công nghệ mới, tiên tiến, tăng năng suất, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, có khả năng cạnh tranh, hội nhập sâu rộng, bền vững hơn đối với những biến động bên ngoài, với nền kinh tế khu vực và toàn cầu
38 Đẩy mạnh chuyển đổi số, phương thức sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp công nghiệp, dịch vụ; tăng khả năng kết nối, tiếp cận thông tin, dữ liệu, tăng cơ hội kinh doanh mới
Đẩy mạnh liên kết và hợp tác với các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành khác trên cả nước nhằm phát huy vai trò trung tâm vùng của thành phố và khai thác tối đa tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương Chủ động đề xuất các phương án và lĩnh vực hợp tác phù hợp theo nguyên tắc tự nguyện, tôn trọng lẫn nhau và đôi bên cùng có lợi, nhằm tạo động lực cho liên kết vùng Đồng thời xây dựng trung tâm thu thập và xử lý thông tin hiện đại, ứng dụng công nghệ mới cho vùng đồng bằng sông Cửu Long, phục vụ mục tiêu phát triển và quản lý vùng hiệu quả.
Mục tiêu là tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác giữa các trường đại học, các tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ, các nhà khoa học trong và ngoài nước với doanh nghiệp, Hiệp hội nghề nghiệp, cơ sở giáo dục - đào tạo, cơ quan nghiên cứu khoa học và HTX, và các tổ sản xuất trong nông nghiệp Mục tiêu này nhằm kết nối nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ với thực tiễn sản xuất và đời sống, đồng thời thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ Nhờ đó, kinh tế - xã hội của thành phố và vùng sẽ được phát triển mạnh mẽ và bền vững.
Hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng khung, bao gồm hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, đồng thời kêu gọi đầu tư phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch chung thành phố và kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2021-2025 Tiếp tục đẩy nhanh quá trình đô thị hóa, tập trung quản lý và phân bổ dân cư, đồng thời phát triển đồng bộ giữa các quận, huyện Xây dựng và quản lý kiến trúc đô thị theo quy hoạch, thực hiện chương trình phát triển nhà được duyệt.
Tiếp tục triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới theo hướng gắn với đô thị hóa, nâng chất nông thôn mới theo chuẩn nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu Đẩy mạnh thực hiện Chương trình “mỗi xã một sản phẩm” gắn với xây dựng thương hiệu và phát triển du lịch đặc trưng của địa phương Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở một số lĩnh vực ưu tiên Mở rộng mạng lưới, phát triển giáo dục các bậc học theo hướng đa dạng hóa loại hình, đạt chuẩn; tăng cường kêu gọi các nhà đầu tư, các tổ chức, cá nhân mở trường đạt chuẩn quốc tế, trường chất lượng cao; đầu tư xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật trường học, đáp ứng nhu cầu học tập của người dân
2.7.2 Quan điểm sử dụng đất Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước Việc sử dụng đất phải đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả, bền vững; tăng giá trị kinh tế, tài chính đất đai đem lại hiệu quả sử dụng đất cao nhất vừa đáp ứng mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài cho phát triển kinh tế
- xã hội; đảm bảo quốc phòng, an ninh
Nội dung quy hoạch sử dụng đất phải phù hợp và trên cơ sở quy hoạch tổng thể của thành phố; gắn với các nội dung quy hoạch ngành, lĩnh vực trong quy hoạch tổng thể thành phố, nhằm tạo tính liên kết, khai thác thế mạnh, tiềm năng đất đai của từng tiểu vùng, là cơ sở để thực hiện chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lao động đáp ứng yêu cầu công nghiệp, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
Bảo vệ nghiêm ngặt diện tích đất trồng lúa, đất di tích danh thắng nhằm đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, bảo đảm hài hòa các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; bảo vệ cảnh quan môi trường sinh thái và đa dạng sinh học; bảo vệ nguồn nước, thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng
Phát triển quỹ đất theo hướng khai hoang phục hóa; xây dựng công trình ngầm trong lòng đất tại khu vực có đủ điều kiện; đầu tư xây dựng hạ tầng, phát triển công nghiệp, dịch vụ, du lịch để khai thác, sử dụng hiệu quả tiềm năng đất đai Cho phép chuyển đổi những diện tích đất trồng lúa tại những khu vực bị hạn hán, ngập lụt để chuyển sang các mục đích khác và di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm ra khỏi trung tâm thành phố nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất và giảm thiểu ô nhiễm môi trường Ưu tiên bố trí đủ quỹ đất để xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, tập trung phát triển các hạ tầng then chốt, có sức lan tỏa lớn; đáp ứng quỹ đất cho phát triển đô thị, công nghiệp, dịch vụ trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng nông thôn mới
Tiếp thu và ứng dụng những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại trong quản lý và sử dụng đất; kế thừa những thành tựu đã có để nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính khả thi, đáp ứng yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa
2.7.3 Định hướng sử dụng đất theo khu chức năng
2.7.3.1 Khu sản xuất nông nghiệp Đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp; dần hình thành các vùng chuyên canh tập trung, sản xuất quy mô lớn nhằm tạo thuận lợi cho quá trình đầu tư cơ sở hạ tầng sản xuất, tăng cường ứng dụng cơ giới hóa, tự động hóa trong sản xuất nông nghiệp Khuyến khích, tạo điều kiện ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc biệt là khâu giống và chế biến nhằm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, góp phần từng bước cải thiện đời sống, tăng thu nhập cho người nông dân Định hướng đến năm 2030, diện tích khu vực sản xuất nông nghiệp của thành phố có diện tích khoảng 80.000 - 85.000 ha, phân bố tại 04 huyện ngoại thành (Phong Điền, Cờ Đỏ, Thới Lai và Vĩnh Thạnh) Trong đó, sẽ bố trí những dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao quy mô lớn như: Khu Nông Nghiệp Công Nghệ Cao 1 quy mô 20 ha, Khu Nông Nghiệp ứng dụng công nghệ cao 2 quy mô 245 ha, Khu Nông Nghiệp Công Nghệ Cao 3 quy mô
2.7.3.2 Khu phát triển công nghiệp
Phát triển công nghiệp theo hướng ưu tiên các ngành có lợi thế so sánh, tiềm năng phát triển và phù hợp với quy hoạch phát triển công nghiệp của cả nước; đồng thời tập trung đẩy nhanh phát triển các ngành và sản phẩm chủ lực mà địa phương có lợi thế, như công nghiệp cơ khí chế tạo, công nghiệp chế biến nông - lâm - hải sản, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và công nghiệp phụ trợ.
Tăng cường đầu tư và kêu gọi đầu tư phát triển các khu, cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn nhằm đáp ứng nhu cầu về mặt bằng sản xuất cho các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Xây dựng các khu, cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp có hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, hoàn chỉnh, kết nối với hệ thống cơ sở hạ tầng của thành phố và của khu vực, có khả năng hỗ trợ lẫn nhau theo quan điểm phát triển bền vững Từng bước thực hiện di dời các cơ sở sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp gây ô nhiễm môi trường và không phù hợp quy hoạch ra khỏi các khu đô thị, khu dân cư tập trung Định hướng đến năm 2030, khu vực phát triển công nghiệp của thành phố có diện tích khoảng 4.000 - 4.500 ha, cụ thể như sau:
- Vùng công nghiệp tập trung ven sông Hậu: tập trung dọc theo sông Hậu thuộc địa bàn các quận Cái Răng, Bình Thủy, Ô Môn, Thốt Nốt với quy