Để đầu tư đạt được kết quả mong muốn và thật sự góp phần không ngừng thúc đẩy nền kinh tế của đất nước phát triển thì song song với việc kêu gọi vốn đầu tư là phải làm sao tăng cường đượ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
K -
TRẦN MÃN HÀ
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các dữ liệu, kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ
Trần Mãn Hà
Trang 3MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng số liệu
Mở đầu
Trang
Chương 1: Lý luận chung về đầu tư công, vốn đầu tư xây dựng cơ bản, hiệu
quả sử dụng vốn đầu tư cơ bản từ Ngân sách Nhà nước 1
1.1 Đầu tư công 1
1.1.1 Khái niệm đầu tư công 1
1.1.2 Đặc điểm đầu tư công 1
1.1.3 Nội dung đầu tư công 2
1.2 Vai trò của đầu tư công đối với phát triển kinh tế - xã hội 4
1.2.1 Chi đầu tư công từ NSNN là khoản chi tích luỹ 4
1.2.2 Chi đầu tư công là khoản chi lớn nhưng không ổn định, gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ 5
1.2.3 Chi đầu tư phải gắn chặt chi thường xuyên nhằm nâng cao hiệu quả đồng vốn đầu tư xây dựng cơ bản 5
1.3 Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN 6
1.3.1 Khái niệm vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN 6
1.3.2 Vai trò vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN 9
1.4 Khái niệm, ý nghĩa hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN 10
1.4.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN 10
1.4.2 Ý nghĩa hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN 11
1.4.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN 12
Trang 41.4.3.1 Hệ số huy động TSCĐ 12
1.4.3.2 Suất đầu tư cần thiết để làm tăng thêm một đơn vị tổng sản phẩm quốc nội 13
1.4.3.3 Tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện xây dựng cơ bản từ NSNN 14
1.4.3.4 Vốn đầu tư thực hiện của một đơn vị TSCĐ huy động trong kỳ 14
1.4.3.5 Mức vốn đầu tư thực hiện chưa được huy động ở cuối kỳ so với toàn bộ vốn đầu tư thực hiện 14
1.4.3.6 Mức tăng của tổng sản phẩm quốc nội so với giá trị tài sản cố định huy động trong kỳ nghiên cứu 15
1.4.3.7 Mức huy động TSCĐ so với vốn thực hiện còn tồn đọng cuối kỳ 15
1.5 Kinh nghiệm và bài học về sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ các nước khác 15
1.5.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 16
1.5.2 Kinh nghiệm của Indonesia 19
1.5.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc 19
Kết luận chương 1 21
Chương 2: Thực trạng sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2009 22
2.1 Giới thiệu tổng quan về tỉnh Đồng Nai 22
2.2 Thực trạng sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2005 – 2009 25
2.2.1 Tình hình đầu tư vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN 25
2.2.2 Cơ cấu phân bổ vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN 27
2.2.2.1 Cơ cấu phân bổ vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN theo ngành 27
2.2.2.2 Cơ cấu phân bổ vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN theo khoản mục chi phí 31
2.2.3 Thực trạng sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN trong các khâu thực hiện đầu tư DA 32
Trang 52.2.3.1 Trong công tác lập dự án đầu tư xây dựng 32
2.2.3.2 Trong công tác lựa chọn nhà thầu 35
2.2.3.3 Trong công tác giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản 37
2.2.3.4 Trong công tác quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành 39
2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN 42
2.3.1 Kết quả đầu tư từ ngân sách 42
2.3.2 Đầu tư XDCB phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội 44
2.3.2.1 Giao thông vận tải 44
2.3.2.2 Thuỷ lợi-cấp nước 45
2.3.2.3 Giáo dục-đào tạo 45
2.3.2.4 Hạ tầng y tế 46
2.3.2.5 Văn hoá, thông tin liên lạc, thể dục thể thao 46
2.3.2.6 Khoa học công nghệ và môi trường 46
2.3.3 Phát huy hiệu quả kinh tế-xã hội 47
2.3.4 Về hiệu quả quản lý dự án 49
2.3.5 Tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện xây dựng cơ bản từ NSNN 51
2.3.6 Tình hình bố trí vốn đầu tư XDCB từ NSNN tỉnh Đồng Nai 52
2.3.7 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN 53
2.4 Nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn ĐTXDCB từ NSNN 56
2.4.1 Tình trạng đầu tư phân tán, dàn trải chưa khắc phục có hiệu quả 56
2.4.2 Lãng phí, thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản 58
2.4.3 Tiến độ giải ngân vốn chậm 60
2.4.4 Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao 61
Kết luận chương 2 62
Chương 3: Những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 63
3.1 Định hướng phát triển đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới 63
Trang 63.2 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản
từ NSNN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 65
3.2.1 Đổi mới công tác quy hoạch 65
3.2.2 Công tác lập dự án đầu tư xây dựng 66
3.2.3 Thực hiện tốt công tác bồi thường giải phóng mặt bằng 67
3.2.4 Công tác đấu thầu 68
3.2.5 Đối với tổ chức tư vấn DAĐTXDCB 70
3.2.6 Cải tiến công tác giám sát công trình 71
3.2.7 Áp dụng hệ thống công văn điện tử 72
3.2.8 Phát triển chất lượng nguồn nhân lực 73
3.2.9 Chấn chỉnh và tăng cường kỷ luật quyết toán 74
3.2.10 Kiến nghị các cơ quan Nhà nước 75
3.3 Những điều kiện cần thiết để thực hiện các giải pháp 79
3.3.1 Uỷ ban nhân dân Tỉnh nên ban hành quyết định tập hợp các quy định về Luật, Nghị định, Thông tư liên quan 79
3.3.2 Phải tuân thủ nguyên tắc quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình 79
3.3.3 Phải tuân thủ nguyên tắc kiểm soát thanh toán vốn đầu tư XDCB 80
Kết luận chương 3 80
Kết luận 81 Tài liệu tham khảo
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATTT : An toàn thông tin
DA : Dự án DAĐTXDCB : Dự án đầu tư xây dựng cơ bản CNH - HĐH : Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá ĐTXD : Đầu tư xây dựng
ĐTXDCB : Đầu tư xây dựng cơ bản TSCĐ : Tài sản cố định
TTDN : Trung tâm dạy nghề KCN : Khu công nghiệp NMXLNT : Nhà máy xử lý nước thải NSNN : Ngân sách Nhà nước XDCB : Xây dựng cơ bản QLDA : Quản lý dự án KBNN : Kho bạc Nhà nước VCP : Vốn cấp phát TMĐT : Tổng mức đầu tư TDTT : Thể dục thể thao KTTĐPN : Kinh tế trọng điểm phía Nam
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.1: Tỷ trọng các nguồn vốn trong việc huy động vốn đầu tư phát triển (giá
hiện hành) 27
Bảng 2.2: Cơ cấu phân bổ vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN theo ngành 28
Bảng 2.3: Vốn Ngân sách Nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản phân theo khoản mục chi phí 31
Bảng 2.4: Tổng hợp số dự án phải điều chỉnh qua các năm 2005-2009 33
Bảng 2.5: Kết quả thực hiện công tác đấu thầu giai đoạn 2005-2009 36
Bảng 2.6: Cấp phát vốn kho bạc thực hiện trong các tháng cuối năm 37
Bảng 2.7: Hệ số huy động TSCĐ qua các năm 2005-2009 39
Bảng 2.8: Vốn đầu tư phát triển tỉnh Đồng Nai 43
Bảng 2.9: Suất đầu tư cần thiết để làm tăng thêm một đơn vị tổng sản phẩm quốc nội 44
Bảng 2.10: Tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện xây dựng cơ bản từ NSNN 51
Bảng 2.11: Vốn bố trí / dự án qua các năm 2005-2009 53
Bảng 2.12: Vốn đầu tư thực hiện của một đơn vị tài sản cố định huy động trong kỳ qua các năm 2005-2009 54
Bảng 2.13: Mức vốn đầu tư thực hiện chưa được huy động ở cuối kỳ so với toàn bộ vốn đầu tư thực hiện 54
Bảng 2.14: Mức tăng của tổng sản phẩm quốc nội so với giá trị tài sản cố định huy động trong kỳ nghiên cứu 55
Bảng 2.15: Mức huy động tài sản cố định so với vốn đầu tư thực hiện còn tồn đọng cuối kỳ 56
Mẫu giấy rút vốn đầu tư 82
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Các nước liên minh Châu Âu đang đối diện khủng hoảng nợ công đã gióng lên hồi chuông báo động cho tất cả các nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng trong đó có tỉnh Đồng Nai, phải xem lại việc sử dụng vốn Ngân sách Nhà nước, đặc biệt vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước, qua đó góp phần vào công cuộc đổi mới nền tài chính của đất nước ngày một hoàn thiện hơn
Để đầu tư đạt được kết quả mong muốn và thật sự góp phần không ngừng thúc đẩy nền kinh tế của đất nước phát triển thì song song với việc kêu gọi vốn đầu tư là phải làm sao tăng cường được hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước Cơ sở hạ tầng không đáp ứng đủ nhu cầu tăng trưởng kinh tế, sức ép cạnh tranh của các nước khi mở cửa nền kinh tế, trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn thấp Muốn vượt qua được những thách thức đó trong thời kỳ hậu khủng hoảng, Tỉnh cần phải mạnh mẽ cải cách hơn nửa chất lượng quản lý nhà nước cũng như hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản Chúng ta cần phải tiết kiệm và nâng cao hiệu quả chi ngân sách đầu tư xây dựng cơ bản là yêu cầu cấp bách hiện nay Một đồng vốn của ngân sách chi ra đều phải đảm bảo tiết kiệm và hiệu quả
Do vậy, Tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Đồng Nai” bảo vệ học vị Thạc sĩ kinh tế nhằm đưa ra các giải pháp mang tính khả thi để sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản có hiệu quả là cần thiết và là trách nhiệm của những nhà làm kinh tế, đặc biệt là những người làm công tác quản lý vốn đầu tư
xây dựng cơ bản
2 Mục đích của đề tài
Dựa vào việc đánh giá những mặt làm được, những mặt còn hạn chế trong việc thực hiện sử dụng hiệu quả vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước trên địa bàn Tỉnh giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2009, từ đó rút ra những
Trang 10nguyên nhân và đề xuất những giải pháp cải cách nhằm từng bước hoàn thiện cơ chế quản lý hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản, áp dụng vào trong kế hoạch điều hành kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn sắp tới, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Tỉnh cao và ổn định trong dài hạn, là một việc làm
có ý nghĩa quan trọng trong quản lý đầu tư xây dựng cơ bản tại địa phương
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Câu hỏi nghiên cứu:
- Các vấn đề còn tồn tại trong công tác sử dụng hiệu quả vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Đồng Nai từ năm 2005 đến năm 2009 như thế nào?
- Những giải pháp cần thực hiện để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu
tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong giai
đoạn tới là gì?
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận khoa học về đầu tư công trong đó có vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản, đối chiếu với hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai để đề xuất một số giải pháp thích hợp góp phần hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Các phương pháp nghiên cứu cơ bản vận dụng để thực hiện luận văn:
- Phương pháp tiếp cận hệ thống
- Phương pháp tư duy logic, tư duy trừu tượng
Trang 11- Phương pháp so sánh đối chứng
- Phương pháp quy nạp và diễn dịch
- Phương pháp khảo sát hiện trạng tại địa bàn tỉnh Đồng Nai để phân tích, đánh giá tình hình và có giải pháp phù hợp
- Phương pháp thống kê tổng hợp số liệu, sử dụng các phần mềm vi tính như windows đánh văn bản, excel để xử lý số liệu, vẽ biểu bảng
- Phương pháp nghiên cứu định tính mô tả quá trình thay đổi chính sách, cơ chế kiểm soát thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản, giá thành công trình, quản
lý dự án, chất lượng công trình
5 Hạn chế của đề tài
Lĩnh vực hoạt động đầu tư công rất rộng và phong phú mà luận văn chưa có điều kiện đi sâu phân tích để xây dựng thành một đề tài toàn diện Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu chủ yếu thực tiễn về hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2005 - 2009
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về mặt khoa học, theo lý thuyết kinh tế công, Chính phủ thực hiện đầu tư công là nhằm đạt được tăng trưởng kinh tế và phát triển các mặt xã hội, môi trường, con người Tuy nhiên không phải cứ đầu tư thật nhiều sẽ đạt được kết quả cao Một số nhà kinh tế còn cho rằng tăng đầu tư công quá mức sẽ gây tác động lấn
át đến đầu tư của khu vực tư, trong khi hiệu quả đầu tư của khu vực tư thường cao hơn, khi đó sẽ làm chậm tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Vì vậy, đánh giá hiệu quả quản lý đầu tư công, xác định các vấn đề còn tồn tại sẽ làm cơ sở cho việc tổng kết áp dụng những giải pháp vào quản lý đầu tư công
* Nêu được những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản, những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong quản lý chi ngân sách (đầu tư công) của Tỉnh, giúp Tỉnh vượt qua giai đoạn hậu khủng hoảng hiện nay và phát triển nhanh hơn trong thời gian tiếp theo
7 Đóng góp mới của luận văn
Một là, hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về đầu tư công nói chung,
Trang 12vốn đầu tư xây dựng cơ bản, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cơ bản từ Ngân sách Nhà nước nói riêng và kinh nghiệm về sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ các nước khác
Hai là, bằng các số liệu chứng minh, luận văn phân tích và đánh giá thực
trạng tình hình đầu tư xây dựng cơ bản, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước những năm vừa qua trên địa bàn tỉnh Đồng Nai; qua đó rút ra nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà
nước trên địa bàn Tỉnh trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội
Ba là, vạch ra những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây
dựng cơ bản nhằm khắc phục những hạn chế trong hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản khi nền kinh tế chuyển đổi theo cơ chế thị trường và hội nhập là việc làm có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn
8 Bố cục
Nội dung luận văn gồm có 3 phần chính, được kết cấu theo 3 chương sau:
Chương 1: Lý luận chung về đầu tư công, vốn đầu tư xây dựng cơ bản, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cơ bản từ Ngân sách Nhà nước
Chương 2: Thực trạng sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản và hiệu quả
sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2009
Chương 3: Những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh
Đồng Nai.
Trang 13
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ CÔNG, VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN, HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1 Đầu tư công
1.1.1 Khái niệm đầu tư công
Đầu tư có thể hiểu là việc bỏ vốn vào các hoạt động kinh tế-xã hội để mong nhận được lợi ích kinh tế hoặc lợi ích xã hội lớn hơn trong tương lai Phân theo nguồn vốn, đầu tư trong nước gồm có đầu tư công và đầu tư tư nhân Phân theo lĩnh vực có đầu tư tài chính, đầu tư thương mại, đầu tư phát triển Trong đó, đầu tư công tập trung chủ yếu vào đầu tư phát triển vì đầu tư phát triển nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất và mọi hoạt động xã hội khác Theo dự thảo Luật Đầu tư công, Đầu tư công được định nghĩa là việc sử dụng Ngân sách Nhà nước để đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế-xã hội không có khả năng thu hồi vốn hoặc có khả năng thu hồi vốn chậm
Đối tượng sử dụng Ngân sách Nhà nước trong đầu tư công rất đa dạng gồm:
dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật nhằm phục vụ công tác an ninh quốc phòng, văn hoá xã hội, phát triển kinh tế, các công trình công cộng, chương trình mục tiêu quốc gia, chi đầu tư phát triển
1.1.2 Đặc điểm đầu tư công
Ø Đầu tư công nhằm phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng nhân dân, cung cấp hàng hoá công
Hàng hoá công là loại hàng hoá không có tính cạnh tranh trong tiêu dùng Tính phi cạnh tranh về tiêu dùng biểu hiện cùng một lúc có hơn một người tận hưởng những lợi ích từ hàng hoá công và chi phí đáp ứng nhu cầu đòi hỏi các đối tượng tiêu dùng tăng thêm này là bằng không Khi hàng hoá công được cung cấp thì không thể loại trừ hoặc rất tốn kém để loại trừ một người nào đó tiêu dùng hàng hoá mà không chịu trả tiền cho hành động tiêu dùng của mình Phần lớn hàng hoá
Trang 14công do Chính phủ cung cấp và ngoài ra còn có thể huy động sự tham gia của khu vực tư để đáp ứng nhu cầu về hàng hoá công của xã hội
Tại sao Chính phủ phải cung cấp hàng hoá công? Nguyên nhân là có sự thất bại của khu vực tư trong việc cung cấp hàng hoá công, tính không hiệu quả do khu vực tư cung cấp hàng hoá công và làm giảm phúc lợi xã hội Sự phát triển của xã hội trong giai đoạn kinh tế thị trường hiện đại đã cho thấy chi tiêu công hoàn toàn không mất đi mà trái lại nó tạo ra sự tái phân phối giữa các khu vực trong nền kinh
tế Chính phủ đóng vai trò là một trung tâm của quá trình tái phân phối thu nhập thông qua các khoản chi tiêu công Với ý nghĩa đó, đầu tư công đóng vai trò rất quan trọng trong giai đoạn nền kinh tế đang có những bước chuyển đổi nhằm sử dụng các nguồn vốn đầu tư có hiệu quả
Ø Đầu tư công luôn gắn liền với bộ máy Nhà nước và nhiệm vụ kinh tế, chính trị và xã hội của quốc gia và không nhằm mục đích kinh doanh
Ø Các dự án đầu tư công thường không có khả năng thu hồi vốn hoặc thu hồi vốn chậm
1.1.3 Nội dung đầu tư công
Chi đầu tư từ Ngân sách Nhà nước bao gồm nhiều khoản chi với những mục đích khác nhau, có tính chất và đặc điểm khác nhau Tuy vậy, để phục vụ công tác quản lý, người ta có thể dựa vào nhiều tiêu thức nhất định để xác định nội dung chi
cụ thể Căn cứ vào mục đích các khoản chi thì có thể phân loại như sau:
Ø Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội không
có khả năng thu hồi vốn
Đây là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn nhất trong chi đầu tư công và được thực hiện theo phương thức không hoàn trả Khoản chi này hướng vào củng cố và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng của nền kinh tế (chi đầu tư cho cầu cống, bến cảng, sân bay, hệ thống thuỷ lợi, vận tải…), các ngành công nghiệp cơ bản, các công trình kinh tế có tính chất chiến lược, các công trình trọng điểm phục vụ phát triển văn hoá xã hội, phúc lợi công cộng Thực chất loại chi này đảm bảo tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng tài sản cố định cho các ngành sản xuất vật chất và
Trang 15không sản xuất, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển kinh tế xã hội Sự tham gia của Nhà nước vào các lĩnh vực nêu trên có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội nói chung và của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng, bởi nó nhằm kích thích đầu tư, giảm chi phí sản xuất, mở rộng thị trường, tăng cường khả năng cạnh tranh đồng thời tạo ra các trung tâm kinh tế
Ø Đầu tư và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp Nhà nước, góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết
Đây là khoản chi gắn liền với sự can thiệp của Nhà nước vào các lĩnh vực kinh tế Bằng khoản chi này một mặt Nhà nước bảo đảm đầu tư vào một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh cần thiết tạo điều kiện cho phát triển kinh tế-xã hội, mặt khác Nhà nước phải bảo đảm sự phát triển cơ cấu kinh tế hợp lý và giữ vững các mối quan hệ cân đối nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế ở mức độ cao Khoản chi này bao gồm:
- Đầu tư và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp để xây dựng mới, cải tạo, mở rộng cơ sở vật chất của các doanh nghiệp Khoản chi này thực hiện theo phương thức không hoàn trả hoặc cho vay có hoàn trả
- Đầu tư và hỗ trợ vốn lưu động, bù giá cho các doanh nghiệp Nhà nước, thực hiện theo phương thức hoàn trả và không hoàn trả
- Đầu tư dưới hình thức góp vốn cổ phần hoặc liên doanh
Ø Chi cho quỹ hỗ trợ phát triển để thực hiện tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
Đây là khoản chi cho quỹ hỗ trợ phát triển nhằm thực hiện cho vay ưu đãi đối với các ngành nghề, dự án cần ưu đãi Quỹ hỗ trợ phát triển là một tổ chức tài chính Nhà nước hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, bảo đảm hoàn vốn và bù đắp chi phí, có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có con dấu, được mở tài khoản ở Kho bạc Nhà nước và các ngân hàng trong và ngoài nước Quỹ được miễn nộp thuế và các khoản nộp NSNN để giảm lãi suất và chi phí Nguồn hình thành của quỹ hỗ trợ phát triển gồm vốn điều lệ và vốn huy động Nhà nước đầu tư 50% vốn điều lệ ban đầu của quỹ và cấp bổ sung thêm hàng năm trong quá trình hoạt động Vốn huy
Trang 16động gồm vốn vay từ phát hành trái phiếu Chính phủ, tiếp nhận các nguồn vốn ODA để cho vay lại, vay các khoản tích luỹ trả nợ nước ngoài, tiết kiệm bưu điện, bảo hiểm xã hội và các nguồn huy động khác theo quy định của pháp luật Trên cơ
sở nguồn vốn tiếp nhận và huy động, quỹ hỗ trợ phát triển thực hiện hỗ trợ đầu tư theo chính sách của Nhà nước
Ø Chi dự trữ Nhà nước
Dự trữ là một tất yếu khách quan trong đời sống kinh tế xã hội Trong nền kinh tế thị trường, do tính tự phát vốn có của nó, có thể phát sinh sự mất cân đối ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội Dự trữ quốc gia được sử dụng với mục đích: Điều chỉnh các hoạt động của thị trường, điều hoà cung cầu về tiền, ngoại tệ
và một số mặt hàng chủ yếu, ổn định giá cả Trên cơ sở đó đảm bảo sự hoạt động
ổn định của nền kinh tế xã hội; giải quyết những hậu quả các trường hợp rủi ro bất ngờ xảy ra làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của xã hội Dự trữ Nhà nước được thực hiện dưới hình thức hiện vật và giá trị
1.2 Vai trò của đầu tư công đối với phát triển kinh tế -xã hội
Đầu tư công có ý nghĩa xã hội rất lớn trong định hướng phát triển chung của đất nước, do đó, nếu chỉ tính hiệu quả kinh tế đơn thuần thì sẽ không chính xác,
mà phải tính hiệu quả cả trong xoá đói giảm nghèo, phát triển giáo dục, an sinh xã hội
Đầu tư xây dựng cơ bản là đối tượng chính trong lĩnh vực đầu tư công, là một bộ phận đặc thù của cơ sở vật chất kỹ thuật trong nền kinh tế quốc dân có chức năng, nhiệm vụ cơ bản là đảm bảo những điều kiện chung cần thiết cho quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng được diễn ra bình thường, liên tục Đầu tư xây dựng cơ bản cũng được định nghĩa là tổng thể các cơ sở vật chất, kỹ thuật, kiến trúc đóng vai trò nền tảng cho các hoạt động kinh tế-xã hội được diễn ra một cách bình thường
1.2.1 Chi đầu tư công từ NSNN là khoản chi tích luỹ
Chi đầu tư công trực tiếp làm gia tăng số lượng và chất lượng tài sản cố định, gia tăng giá trị tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân Vấn đề này thể hiện rõ
Trang 17nét thông qua việc Nhà nước tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế
xã hội như: giao thông, thuỷ lợi, y tế, giáo dục, văn hoá, thông tin liên lạc, thể
dục thể thao, khoa học công nghệ và môi trường Sự tăng lên về số lượng và chất
lượng của hàng hoá công này là cơ sở và nền tảng cho sự tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội trên các lĩnh vực, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, làm tăng tổng sản phẩm quốc nội, thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế, thu hút đầu tư trong nước và ngoài nước và tạo động lực cho sự tăng trưởng và phát triển bền vững
1.2.2 Chi đầu tư công là khoản chi lớn nhưng không ổn định, gắn với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội trong từng thời kỳ
Chi đầu tư từ NSNN là yêu cầu tất yếu nhằm bảo đảm cho sự phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia Quy mô và tỷ trọng chi NSNN cho đầu tư trong từng thời kỳ phụ thuộc vào chủ trương, đường lối phát triển kinh tế-xã hội của Nhà nước
và khả năng NSNN, song nhìn chung các quốc gia luôn ưu tiên NSNN cho chi đầu
tư phát triển Theo kinh nghiệm phát triển, trong thời kỳ đầu thực hiện chiến lược công nghiệp hoá, quy mô chi đầu tư từ NSNN chiếm tỷ trọng khá lớn so với tổng đầu tư xã hội Ở giai đoạn này, do khu vực kinh tế tư nhân còn yếu kém trong khi chính sách thu hút vốn đầu tư chưa được hoàn thiện, nên Nhà nước phải tăng cường quy mô đầu tư từ NSNN để tạo đà cho tiến trình công nghiệp hoá Quy mô chi đầu
tư của Nhà nước sẽ giảm dần theo mức độ thành công của chiến lược công nghiệp hoá và mức độ phát triển của khu vực kinh tế tư nhân Khi đó chi đầu tư phát triển của Nhà nước chủ yếu tập trung vào điều chỉnh nhằm đạt tới sự ổn định kinh tế vĩ
mô và các khoản chi thực hiện chương trình mục tiêu kinh tế - xã hội sẽ được cắt giảm
1.2.3 Chi đầu tư phải gắn chặt chi thường xuyên nhằm nâng cao hiệu quả đồng vốn đầu tư xây dựng cơ bản
Sự phối hợp không đồng bộ giữa chi đầu tư với chi thường xuyên sẽ dẫn đến tình trạng thiếu kinh phí để duy tu, sửa chữa, bảo dưỡng cơ sở hạ tầng Điều này sẽ
Trang 18làm giảm hiệu quả khai thác và sử dụng tài sản đầu tư Sự gắn kết giữa hai nhóm chi này sẽ khắc phục tình trạng đầu tư tràn lan, không tính đến hiệu quả khai thác
Để đầu tư một dự án cần quan tâm rất nhiều đến các yếu tố, gồm nhu cầu thực
tế, quy mô đầu tư, giải pháp kỹ thuật, vốn đầu tư, hiệu quả đầu tư, Trong đó yếu
tố về nguồn vốn đầu tư và hiệu quả đầu tư là rất quan trọng, không thể bỏ qua trong quá trình nghiên cứu dự án
Chi đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn tài chính của Nhà nước hướng vào củng
cố và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng của nền kinh tế, các ngành công nghiệp cơ bản, các công trình kinh tế có tính chất chiến lược, các công trình trọng điểm phục
vụ phát triển văn hoá xã hội, phúc lợi công cộng
1.3 Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN
1.3.1 Khái niệm vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN là việc sử dụng một phần vốn tiền tệ đã tập trung vào Ngân sách Nhà nước để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội, phát triển sản xuất và dự trữ vật tư hàng hoá nhằm thực hiện mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế
Phân loại theo khoản mục chi phí, Vốn đầu tư XDCB được cấu thành:
Vốn xây lắp bao gồm: Vốn dùng cho chi phí xây dựng các công trình, hạng mục công trình, chi phí phá và tháo dỡ các vật kiến trúc cũ, chi phí san lấp mặt bằng xây dựng, chi phí xây dựng công trình tạm, công trình phụ trợ phục vụ thi công, nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công
Vốn thiết bị bao gồm: Vốn dùng cho chi phí mua sắm thiết bị công nghệ, chi phí đào tạo và chuyển giao công nghệ (nếu có), chi phí lắp đặt, thí nghiệm, hiệu chỉnh, chi phí vận chuyển, bảo hiểm, thuế và các loại phí liên quan khác
Vốn khác bao gồm: Vốn dùng cho các chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng và chi phí khác
+ Chi phí quản lý dự án
Bao gồm các chi phí để tổ chức thực hiện công việc quản lý dự án từ khi lập dự
án đến đến khi hoàn thành nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào khai thác sử
Trang 19dụng
+ Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng
Bao gồm: chi phí tư vấn khảo sát, thiết kế, giám sát xây dựng, tư vấn thẩm tra và các chi phí tư vấn đầu tư xây dựng khác
+ Chi phí khác
Bao gồm: vốn lưu động trong thời gian sản xuất thử và sản xuất không ổn định đối với các dự án đầu tư xây dựng nhằm mục đích kinh doanh, lãi vay trong thời gian xây dựng và các chi phí cần thiết khác
Trong nhiều công trình nghiên cứu về kết cấu hạ tầng, các tác giả thường phân chia kết cấu hạ tầng thành 2 loại cơ bản, gồm: Kết cấu hạ tầng kinh tế và kết cấu hạ tầng xã hội
- Kết cấu hạ tầng kinh tế: Thuộc loại này bao gồm các công trình hạ tầng
kỹ thuật như: năng lượng (điện, than, dầu khí) phục vụ sản xuất và đời sống, các công trình giao thông vận tải (đường bộ, đường sắt, đường biển, đường sông, đường hàng không, đường ống), bưu chính-viễn thông, các công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp…Kết cấu hạ tầng kinh tế là bộ phận quan trọng trong hệ thống kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển nhanh, ổn định, bền vững và là động lực thúc đẩy phát triển nhanh hơn, tạo điều kiện cải thiện cuộc sống dân cư
- Kết cấu hạ tầng xã hội: Xếp vào loại này gồm nhà ở, các cơ sở khoa học, trường học, bệnh viện, các công trình văn hoá, thể thao… và các trang, thiết
bị đồng bộ với chúng Đây là điều kiện thiết yếu để phục vụ, nâng cao mức sống của cộng đồng dân cư, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực phù hợp với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Như vậy, kết cấu hạ tầng xã hội là tập hợp một số ngành có tính chất dịch vụ xã hội; sản phẩm do chúng tạo ra thể hiện dưới hình thức dịch vụ và thường mang tính chất công cộng, liên hệ với sự phát triển con người cả về thể chất lẫn tinh thần
Với tính chất đa dạng và thiết thực, kết cấu hạ tầng là nền tảng vật chất có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc
Trang 20gia cũng như vùng lãnh thổ Có kết cấu hạ tầng đồng bộ và hiện đại, nền kinh tế mới có điều kiện để tăng trưởng nhanh, ổn định và bền vững Có rất nhiều công trình nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng, phát triển kết cấu hạ tầng có tác động tích cực đến phát triển kinh tế - xã hội ở cả các nước phát triển và đang phát triển Trình độ phát triển của kết cấu hạ tầng có ảnh hưởng đến trình độ phát triển của đất nước, có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế và công tác xoá đói giảm nghèo
Nghiên cứu về tác động của việc phát triển kết cấu hạ tầng ở đối với giảm nghèo ở Việt Nam, tác giả Phạm Thị Tuý (2006) đã phát hiện ra sáu tác động quan trọng sau đây:
- Kết cấu hạ tầng phát triển mở ra khả năng thu hút các luồng vốn đầu tư đa dạng cho phát triển kinh tế-xã hội;
- Kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ, hiện đại là điều kiện để phát triển các vùng kinh tế động lực, các vùng trọng điểm và từ đó tạo ra các tác động lan toả lôi kéo các vùng liền kề phát triển;
- Kết cấu hạ tầng phát triển trực tiếp tác động đến các vùng nghèo, hộ nghèo thông qua việc cải thiện hạ tầng mà nâng cao điều kiện sống của hộ;
- Phát triển kết cấu hạ tầng thực sự có ích với người nghèo và góp phần vào việc giữ gìn môi trường;
- Đầu tư cho kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông nông thôn, đem đến tác động cao nhất đối với giảm nghèo; và
- Phát triển kết cấu hạ tầng tạo điều kiện nâng cao trình độ kiến thức và cải thiện tình trạng sức khoẻ cho người dân, góp phần giảm thiểu bất bình đẳng về mặt xã hội cho người nghèo
Tóm lại, kết cấu hạ tầng đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của một quốc gia, tạo động lực cho sự phát triển Hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ, hiện đại sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất, hiệu quả của nền kinh tế và góp phần giải quyết các vấn đề xã hội
Ngược lại, một hệ thống kết cấu hạ tầng kém phát triển là một trở lực lớn đối
Trang 21với sự phát triển Ở nhiều nước đang phát triển hiện nay, kết cấu hạ tầng thiếu và yếu đã gây ứ đọng trong luân chuyển các nguồn lực, khó hấp thụ vốn đầu tư, gây ra những “nút cổ chai kết cấu hạ tầng” ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế
1.3.2 Vai trò vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN
Để gia tăng sự phát triển kinh tế, nền kinh tế nhất thiết phải có vốn để tập trung đầu tư vào cơ sở hạ tầng vì nó là một trong những ngành có tác động thúc đẩy đầu tư phát triển của các ngành khác mạnh nhất Khi nền kinh tế phát triển cao thì
cơ sở hạ tầng cần phải phù hợp với sự tiến triển của nhu cầu Do đó, nền kinh tế cần phải tạo lập vốn đầu tư với quy mô lớn để đáp ứng Nhưng do ngành này mang lại hiệu quả tài chính thấp vì khối lượng đầu tư cao, thời gian thu hồi vốn lâu nên vai trò của Nhà nước là phải cung cấp đầu tư cho cơ sở hạ tầng
Đồng thời, để đạt được mục tiêu kinh tế nhanh và bền vững, đòi hỏi nền kinh
tế phải tạo ra bộ khung kinh tế về cả cơ cấu ngành lẫn cơ cấu vùng và lãnh thổ Đầu
tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước lại chính là nhân tố đặc biệt quan trọng
để khai thác các nguồn lực tiềm năng như nhân lực, vật lực, tạo ra tổng lực đẩy mạnh sự chuyển dịch cơ cấu
(1) Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, tạo điều kiện cho các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh thúc đẩy sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
(2) Tạo sức hút các nguồn vốn khác cùng tham gia đầu tư vào mục tiêu công cộng Trong trường hợp này, vốn của Nhà nước đóng vai trò tác nhân thúc đẩy, do vậy cần phải sử dụng thật hiệu quả; các dự án của nguồn vốn Nhà nước phải có sức lan toả và thu hút cao
(3) Cải thiện cơ sở vật chất của ngành giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, khoa học và công nghệ; phát triển y tế; văn hoá và các mặt xã hội khác
(4) Tác động đến phát triển cơ sở hạ tầng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện mục tiêu xoá đói, giảm nghèo, tạo việc làm, cải thiện điều kiện sống ở các vùng nghèo, xã nghèo, vùng sâu, vùng xa; phát triển nguồn nhân lực, xây dựng các
cơ sở sản xuất và dịch vụ, tạo những tác động tích cực cho vùng nghèo, người
Trang 22nghèo, hộ nghèo khai thác các tiềm năng của vùng, vươn lên làm ăn khá giả
1.4 Khái niệm, ý nghĩa hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN
1.4.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN
Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người do các cơ quan trong hệ thống hành pháp và hành chính thực hiện nhằm hỗ trợ các chủ đầu tư thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ của người đại diện sở hữu Nhà nước trong các dự án công; ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực đến dự án; kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong việc sử dụng vốn Nhà nước nhằm tránh thất thoát, lãng phí NSNN
Trong quản lý Ngân sách Nhà nước không có chế tài máy móc nào để từ đó
có thể đem lại một sự phân minh, sự chi tiêu công quỹ có hiệu quả, tiết kiệm mà không cần đến một cơ chế kiểm soát thanh toán hữu hiệu Hạn chế tiêu cực, góp phần sử dụng hiệu quả vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước nhằm tạo lập cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, là vốn mồi cho các thành phần kinh tế khác tham gia, là yếu tố quyết định quy mô và tốc độ phát triển kinh tế không những trước mắt mà còn cho lâu dài
Trong nền kinh tế thị trường, sự chi phối của quy luật cạnh tranh khiến các nhà thầu luôn tìm cách hạ giá thành, tăng lợi nhuận Trong vô số cách hạ giá thành
có cả thủ đoạn cắt giảm định mức kinh tế kỹ thuật, thay đổi kết cấu công trình, chủng loại vật tư… và hậu quả tất yếu là công trình kém chất lượng, tuổi thọ bị rút ngắn, công suất thực tế không như lúc phê duyệt ban đầu Vì vậy, một hệ thống
cơ chế kiểm soát thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản chặt chẽ, hoạt động có hiệu quả sẽ hạn chế những mặt tiêu cực trong quá trình thực hiện đầu tư cũng như nâng cao hiệu quả đầu tư
Việc xem xét hiệu quả kinh tế xã hội của dự án đầu tư công được xác định trong các bước quy hoạch, kế hoạch đầu tư phát triển dài hạn, trung hạn và ngắn hạn của ngành, của từng địa phương Khi lập dự án đầu tư xây dựng cơ bản, thiết
Trang 23kế kỹ thuật của từng công trình cũng cần phải xem xét yếu tố phục vụ phát triển kinh tế xã hội, trường hợp không khả thi hoặc quá trình nghiên cứu dự án có phương án tốt hơn thì phải xem xét lại nội dung quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn để có điều chỉnh cho phù hợp
1.4.2 Ý nghĩa hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN
Để quản lý lĩnh vực đầu tư có hiệu quả, hầu như quốc gia nào cũng coi trọng việc đầu tư, việc xây dựng chiến lược và kế hoạch đầu tư vào việc xây dựng một hệ thống đơn giá, định mức kinh tế kỹ thuật một cách khoa học, chặt chẽ nhất
là trong lĩnh vực đầu tư xây dựng Công tác kiểm tra, giám sát được tiến hành nghiêm túc theo nguyên tắc, kèm theo việc xử lý nghiêm minh các hiện tượng lãng phí, thất thoát vốn đầu tư Đối với công tác quản lý dự án, vai trò của chủ đầu
tư, chủ dự án được phân định rõ ràng trong điều luật
Trong nền kinh tế, khu vực kinh tế tư nhân thường không muốn tham gia vào việc cung cấp các hàng hoá công do khó thu lợi Những hàng hoá công này thường là các công trình hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế-xã hội như: đường xá, cầu cống, trường học, bệnh viện… Vai trò của những hàng hoá công này là vô cùng quan trọng vì nếu không có hệ thống hạ tầng giao thông thì nền kinh tế không vận hành được, không có hệ thống công trình trường học, bệnh viện, nhà văn hoá phục vụ phát triển con người thì yêu cầu phát triển xã hội cũng không được đáp ứng… Hoạt động đầu tư công của Nhà nước là nhằm cung cấp những hàng hoá công nên vai trò của hoạt động này đối với phát triển kinh tế-xã hội là không thể phủ nhận được Tác động của việc sản xuất những hàng hoá công không thể đo trực tiếp bằng các chỉ tiêu thông thường như đối với các hàng hoá do doanh nghiệp tư nhân kinh doanh mà phải thông qua ích lợi đem lại cho toàn bộ nền kinh tế-xã hội Chính vì thế việc đánh giá kết quả của đầu tư công của một địa phương phải thông qua kết quả phát triển kinh tế-xã hội của chính địa phương đó
Trang 241.4.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản
từ NSNN
* Khối lượng vốn đầu tư thực hiện là tổng số tiền đã chi để tiến hành các hoạt động của các công cuộc đầu tư bao gồm các chi phí cho công tác xây dựng, chi phí cho công tác mua sắm và lắp đặt thiết bị, chi phí quản lý và chi phí khác theo quy định của thiết kế dự toán và được ghi trong dự toán đầu tư được duyệt
* Tài sản cố định huy động là công trình hay hạng mục công trình, đối tượng xây dựng có khả năng phát huy tác dụng độc lập (làm ra sản phẩm hàng hoá hoặc tiến hành các hoạt động dịch vụ xã hội đã được ghi trong dự án đầu tư) đã kết thúc quá trình xây dựng, mua sắm, đã làm xong thủ tục nghiệm thu sử dụng, có thể đưa vào hoạt động được ngay
Đối với toàn bộ hoạt động đầu tư của cơ sở, ngành hoặc địa phương, chỉ tiêu
hệ số huy động tài sản cố định được xác định theo công thức
1.4.3.1 Hệ số huy động TSCĐ
+
Chỉ tiêu này còn gọi là: Hệ số huy động vốn đầu tư trong năm Về bản chất, khi xác định hệ số này phải so sánh giữa TSCĐ hình thành trong năm từ tổng mức vốn đầu tư trong năm để đầu tư tạo ra tài sản đó Do đặc điểm sản phẩm xây dựng
có quy mô lớn, thời gian xây dựng dài nên trong thực tế có độ trễ về thời gian thực hiện đầu tư kể từ khi bỏ vốn, đầu tư đến khi hoàn thành, đưa dự án, công trình vào khai thác, sử dụng Vì vậy, chỉ tiêu này không phản ánh đúng hiệu quả đầu tư của năm bỏ vốn, mà là phản ánh hiệu quả đầu tư của vài năm trước đó Do đó, khi sử dụng chỉ tiêu này để phân tích, đánh giá hiệu quả phải sử dụng theo cả dãy thời gian Do độ trễ và tính liên tục của đầu tư qua các năm, hệ số huy động vốn đầu tư
Giá trị TSCĐ được huy động trong kỳ
Vốn đầu tư thực hiện trong các kỳ trước nhưng chưa được huy động
Hệ số huy động
đầu tư thực hiện trong kỳ
+
Trang 25(TSCĐ) từng năm trong cả dãy hệ số liên tục của các năm được coi là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư của năm đó
Chỉ tiêu này chỉ ra mức độ đạt được kết quả trực tiếp của hoạt động đầu tư trong tổng số vốn đầu tư đã được thực hiện của dự án, của cơ sở, của ngành hoặc địa phương Trị số của chỉ tiêu này càng cao phản ánh việc thi công dứt điểm xây dựng công trình, các công trình nhanh chóng được huy động vào sử dụng trong từng ngành, vùng, địa phương và toàn bộ nền kinh tế
1.4.3.2 Suất đầu tư cần thiết để làm tăng thêm một đơn vị tổng sản phẩm quốc
tố ngoại ứng Chính vì vậy khi sử dụng chỉ tiêu này để đánh giá hiệu quả đầu tư phát triển ở phạm vi ngành, địa phương, vùng và toàn bộ nền kinh tế trong các thời
kỳ hoạt động phải xem xét trong điều kiện nhất định khi các điều kiện liên quan đến việc gia tăng sản lượng không đổi
Theo thời gian, khi nền kinh tế tiến hành hiện đại hoá, công nghiệp hoá và đi kèm đó là mức độ thâm dụng vốn gia tăng thì chỉ số ICOR đương nhiên sẽ gia tăng cho dù hiệu quả đầu tư không hề suy giảm Việc so sánh ICOR giữa các nền kinh tế hay khu vực kinh tế cũng tương tự Ví dụ, nếu so sánh ICOR của Việt Nam với ICOR của những nước công nghiệp phát triển thì trong nhiều trường hợp chỉ số ICOR của Việt Nam sẽ thấp hơn; Nhưng điều đó không hoàn toàn có nghĩa là hiệu quả đầu tư ở Việt Nam cao hơn mà có lẽ phần nhiều là do các nước công nghiệp
Trang 26phát triển thâm dụng vốn nhiều hơn Đây chính là hạn chế trong việc sử dụng chỉ số ICOR để phân tích hiệu quả đầu tư
1.4.3.3 Tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện XDCB từ NSNN
1.4.3.4 Vốn đầu tư thực hiện của một đơn vị tài sản cố định huy động trong kỳ
- Vốn đầu tư thực hiện trong kỳ
F - Giá trị tài sản cố định huy động trong kỳ nghiên cứu của địa phương, vùng và toàn bộ nền kinh tế
Chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt nhưng phải luôn lớn hơn 1 mới đảm bảo cho hoạt động đầu tư ngày càng mở rộng và việc triển khai các kết quả của hoạt động đầu tư được thuận lợi
1.4.3.5 Mức vốn đầu tư thực hiện chưa được huy động ở cuối kỳ so với toàn
bộ vốn đầu tư thực hiện
ie =
VO
ve
I I
Trong đó:
Mức vốn đầu tư thực hiện chưa được huy động ở cuối kỳ so với toàn bộ vốn đầu tư thực hiện
e i
- Mức vốn đầu tư thực hiện chưa được huy động ở cuối kỳ so với toàn bộ vốn đầu tư thực hiện
Tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện trong kỳ =
Vốn đầu tư thực hiện trong kỳ
Tổng vốn đầu tư của dự án
Tổng vốn đầu tư trong kỳ
Trang 27Chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt, chứng tỏ việc thi công dứt điểm và nhanh chóng huy động các công trình đối tượng xây dựng được chú ý, giảm ứ đọng vốn
1.4.3.6 Mức tăng của tổng sản phẩm quốc nội so với giá trị tài sản cố định huy động trong kỳ nghiên cứu (ký hiệu: H F ( GDP )
∆
Chỉ tiêu này được xác định bằng cách so sánh giữa mức tăng của tổng sản phẩm quốc nội so với giá trị tài sản cố định huy động trong kỳ nghiên cứu của địa phương, vùng và toàn bộ nền kinh tế
Trang 28liên doanh vẫn còn thấp và sự thật là các công trình liên doanh thường đạt chất lượng cao hơn so với các công trình được tài trợ bởi Ngân sách Nhà nước
1.5.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Quá trình phát triển kết cấu hạ tầng ở Hàn Quốc đã diễn ra mạnh mẽ kể từ những năm 1960 khi nền kinh tế Hàn Quốc bắt đầu bước vào thời kỳ công nghiệp hoá nhanh chóng Đến nay, Hàn Quốc đang có một hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối tiên tiến so với các nền kinh tế công nghiệp đang nổi lên khác, tuy nhiên nó vẫn còn lạc hậu so với các nền kinh tế công nghiệp phát triển Ngay sau khi kết thúc chiến tranh Triều Tiên, Hàn Quốc đã bắt đầu quá trình hồi phục kinh tế của mình với sự hỗ trợ mạnh mẽ của viện trợ nước ngoài Kế hoạch phát triển 5 năm lần đầu tiên của Hàn Quốc (1962-1966) tập trung vào phát triển các ngành công nghiệp nhẹ và thay thế nhập khẩu Chính phủ đã bắt tay xây dựng 275 km đường sắt và nhiều dự án đường cao tốc nhỏ Kế hoạch phát triển 5 năm lần thứ hai (1967-1971) tập trung đẩy mạnh xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng gần 50% Chính phủ tiếp tục đầu tư phát triển đường sắt và đầu tư xây dựng đường cao tốc Dự
án đường cao tốc lớn đầu tiên Hàn Quốc được xây dựng nối hai thành phố lớn nhất nước, Seoul ở Tây Bắc và Pusan ở Đông Nam Dự án này đã tạo thành một hành lang công nghiệp tối quan trọng ở Hàn Quốc, đồng thời cũng là biểu tượng
về tính tự lực tự cường của dân tộc Hàn Quốc
Tuy nhiên, các khoản đầu tư của Hàn Quốc cho phát triển kết cấu hạ tầng trong những năm 1960 là chưa đủ Khi nền kinh tế bước vào giai đoạn toàn dụng nhân công đầu những năm 1970, Hàn Quốc đã bắt đầu gặp phải tình trạng
“thắt cổ chai” kết cấu hạ tầng Khi đó, nhận thấy thực tế rằng rất khó cạnh tranh với những ngành công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động, Hàn Quốc đã chuyển trọng tâm sang phát triển các ngành công nghiệp nặng và công nghiệp hoá chất, đòi hỏi trình độ phát triển cao của kết cấu hạ tầng Bắt đầu từ kế hoạch phát triển 5 năm lần thứ ba (1972-1976), Chính phủ Hàn Quốc đã xác định những ưu tiên mới cho phát triển kết cấu hạ tầng nhằm phục vụ các ngành công nghiệp hoá dầu, sản xuất thép và đóng tàu Nhiều dự án lớn về phát triển sân bay, cảng biển,
Trang 29đường cao tốc, đường sắt và hệ thống viễn thông đã được thực hiện Kể từ năm
1972, Chính phủ cũng bắt đầu xây dựng các khu công nghiệp lớn với cảng nước sâu mới, chủ yếu dọc bờ biển Đông Nam gần các cảng Pohang, Ulsan và Masan Bên cạnh đó, các chính quyền địa phương cũng tiến hành xây dựng các dự án cảng lớn ở Inchon và Pusan, xây thêm 487 km đường cao tốc ở miền Nam và xây dựng một hệ thống tàu điện ngầm ở Seoul
Vào nửa đầu những năm 1980, Hàn Quốc thực hiện các chính sách nhằm ổn định hoá nền kinh tế, phát triển khu vực tư nhân và giải điều tiết Chính phủ tập trung ít hơn vào phát triển công nghiệp nặng và công nghiệp hoá chất, song chú
ý nhiều hơn đến các ngành sản xuất hàng tiêu dùng chất lượng cao, đồng thời hạn chế chi tiêu Chính phủ Tuy vậy, đầu tư cho kết cấu hạ tầng vẫn ở mức tương đối cao, chiếm 8%GNP năm 1983 Năm 1985, nhận thấy mức lạm phát vẫn trong tầm kiểm soát, Chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện một loạt các biện pháp kích thích nền kinh tế và bổ sung một khoản ngân sách để kích cầu và tăng đầu
tư cho kết cấu hạ tầng Những biện pháp này đã góp phần nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế lên mức 2 con số Mặc dù tỷ trọng đầu tư kết cấu hạ tầng trong GNP giảm xuống còn khoảng 5%, nhưng lượng vốn đầu tư tuyệt đối gia tăng rất nhanh
Vào giữa những năm 1990, những nút thắt cổ chai lớn đã bắt đầu ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế Hàn Quốc, đặc biệt là những nút cổ chai về giao thông đường
bộ và đường cao tốc Do sự gia tăng bất thường của xe ô tô, là hệ quả của các chính sách hỗ trợ phát triển ngành công nghiệp ô tô nội địa, Hàn Quốc đã phải đối mặt với những vấn đề giao thông nghiêm trọng, làm gia tăng mạnh những chi phí hậu cần Người ta tính toán rằng, tắc nghẽn giao thông đã gây tổn hại tới 6,5
tỷ USD Để khắc phục, trong những năm 1990, Hàn Quốc đã có kế hoạch chi khoảng 100 tỷ USD chỉ riêng cho phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, trong đó khoảng một nửa cho đường bộ, 40% cho đường sắt (kể cả tuyến đường sắt cao tốc từ Seoul đi Pusan) và phần còn lại cho sân bay và bến cảng Tuy vậy, hệ thống kết cấu hạ tầng của Hàn Quốc cũng gặp phải một số vấn đề khác, chẳng hạn như
Trang 30chi phí xây dựng gia tăng nhanh chóng (nhất là đền bù giải phóng mặt bằng và tiền lương của lao động trong nước) và các mối quan tâm ngày càng tăng về thâm hụt ngân sách Thí dụ, bong bóng đầu cơ giá đất đã làm gia tăng chi phí xây dựng một km đường cao tốc từ 4 triệu USD năm 1985 lên khoảng 26 triệu USD năm 1990
Kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm 1993-1997 đã hoạch định một chương trình tham vọng tập trung vào việc cải thiện mức sống của người dân (nhà ở, môi trường, giao thông đô thị) và mở rộng phúc lợi xã hội (giao thông và phân phối,
kể cả việc phát triển các tiêu chuẩn thông tin liên lạc) nhằm đáp ứng những nhu cầu về kết cấu hạ tầng của xã hội
Do có những nỗ lực liên tục của Chính phủ nên sự gia tăng đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng đã đạt mức kỷ lục hơn 20% một năm và những năm gần đây thậm chí đã vượt qua tốc độ gia tăng ngân sách quốc gia Đáng chú ý, trong năm
1997, ngân sách chính phủ đầu tư cho kết cấu hạ tầng lần đầu tiên vượt qua mức
10 tỷ Won Năm 2001, tỷ trọng vốn đầu tư cho kết cấu hạ tầng trong tổng chi tiêu ngân sách của chính phủ đã đạt mức 14,6%, tăng đáng kể so với mức 11,2% của năm 1993 và 14,2% năm 1997 Bên cạnh những chính sách mở rộng cung, Chính phủ Hàn Quốc cũng tập trung vào những chính sách nhằm thu hẹp cầu đầu
tư cho kết cấu hạ tầng thông qua việc sử dụng có hiệu quả hơn hệ thống kết cấu
hạ tầng hiện có, chẳng hạn như áp dụng các hệ thống thông tin về hậu cần hoặc
hệ thống thông tin về giao thông trên đường cao tốc
Chính phủ Hàn Quốc đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình
phát triển kết cấu hạ tầng của đất nước, không chỉ vì Chính phủ và các cấp chính quyền chủ yếu là chủ đầu tư của các dự án kết cấu hạ tầng lớn, mà Chính phủ còn ban hành và thực hiện các chính sách khuyến khích phát triển kết cấu hạ tầng phù hợp với tình hình và yêu cầu phát triển kinh tế trong từng giai đoạn
Cục Kế hoạch Kinh tế là cơ quan điều phối quá trình ra quyết định trong
lĩnh vực kết cấu hạ tầng, có trách nhiệm quản lý một diện rộng các hoạt động liên quan đến phát triển kết cấu hạ tầng, bao gồm điều phối kế hoạch của các
Trang 31bộ, đưa ra các khuyến nghị chính sách và phân bổ ngân sách Ngoài ra các bộ khác cũng có trách nhiệm lập kế hoạch phát triển và quản lý kết cấu hạ tầng theo ngành Các chính quyền địa phương có trách nhiệm quản lý hệ thống giao thông ở
địa phương
1.5.2 Kinh nghiệm của Indonesia
Với những khoản đầu tư lớn, Chính phủ Indonesia cho rằng kết cấu hạ tầng tiếp tục đóng vai trò quan trọng cho tăng trưởng và phát triển kinh tế của nước này Kết cấu hạ tầng được đầu tư tốt sẽ tạo cơ hội việc làm trong các lĩnh vực kết cấu hạ tầng, hạ thấp chi phí sản xuất-kinh doanh, khuyến khích đầu tư trong
và ngoài nước, tạo ra các trung tâm kinh tế mới, qua đó mở rộng cơ hội việc làm, cải thiện chất lượng cuộc sống, thúc đẩy thương mại quốc tế… Chính phủ cho rằng, sự phát triển kết cấu hạ tầng sẽ góp phần quan trọng để Indonesia có thể đạt được một số mục tiêu phát triển khá ấn tượng vào năm 2009: GDP tăng 7,6%; lạm phát được duy trì ở mức 3%; đầu tư tăng 12,8%; thu nhập bình quân đầu người đạt 10.000 Rupiah, tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống còn 5,1%
1.5.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Từ năm 2009, Trung Quốc sẽ đầu tư 7-9 tỉ USD để giúp nước này xây dựng
cơ sở hạ tầng ở các hạng mục giao thông chính, xây dựng hệ thống mạng lưới điện quốc gia và hệ thống dẫn nước sạch
Qua những kinh nghiệm của Trung Quốc với những sự kiện quan trọng mang tầm cỡ thế giới đã có có hoạch triển khai thì chỉ định thầu không phải là biện pháp
để đẩy nhanh tiến độ, mà quan trọng là cách thực hiện có kế hoạch chứ không phải
là một sự "sắp đặt có kế hoạch" để đẩy tiến độ dự án vào thế "cấp bách" Hầu hết các công trình được đấu thầu rộng rãi, giúp tiết kiệm thời gian và tiền bạc Việc triển khai xây dựng công trình cần được cải tiến để bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội Cần khuyến khích việc thành lập các tổ chức tư vấn, giám định các dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật để bảo đảm chất lượng, chi phí hợp lý và triển khai đúng tiến độ
Phương châm xã hội hoá cần được thể chế hoá bằng các quy định của Chính
Trang 32phủ trong từng lĩnh vực, trên cơ sở tổng kết và rút ra bài học từ các chủ trương, như đổi đất lấy hạ tầng, đấu giá quyền sử dụng đất, giao khoán xây dựng từng khu phố mới cho các nhà thầu; đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế để hình thành
mô hình thích hợp trong xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Khu vực công cần đảm nhiệm vai trò điều tiết các hoạt động, đồng thời cần khuyến khích sự tham gia của dân chúng vào tiến trình lập các dự án đầu tư cho đến giám sát việc thực hiện; phải bảo đảm bằng các quy định của Chính phủ về quyền của người dân được tiếp cận thông tin các dự án, tính công khai và minh bạch về thông tin, mọi dự án phải được công bố trước khi thực hiện và người dân được quyền đưa ra ý kiến phản kháng Điều đó sẽ kích thích sự tham gia của công chúng trong quá trình xây dựng và lôi kéo mọi công dân thực hiện phương châm
“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”
Thứ nhất: Điều chỉnh lại quy mô đầu tư từ NSTƯ và cơ cấu chi NSNN
Trọng điểm chi NSNN năm 2006 thiên về sự nghiệp xã hội, tăng cường mức độ đảm bảo đối với những khâu yếu kém trong phát triển xã hội Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đã tăng chi ngân sách cho các vùng khó khăn nhằm thu hẹp khoảng cánh giữa các vùng, miền
Thứ hai: Tăng cường đầu tư cho hạ tầng cơ sở nông thôn, thúc đẩy phát triển
toàn diện nông nghiệp nông thôn Tỷ lệ đầu tư cho xây dựng mới ở nông thôn năm
2006 lên tới 48%
Thứ ba: Bước đầu cải cách phân loại thu chi của Chính phủ, hoàn thiện hệ
thống cơ chế, luật pháp về tài chính Đây được xem là điều chỉnh lớn nhất trong hệ thống tài chính Trung Quốc kể từ năm 1949 đến nay nhằm minh bạch hoá quy mô thu chi của Chính phủ theo các chức năng trọng yếu Lần cải cách này tương đối phức tạp với nhiều khâu, trên diện rộng đi từ điều chính chế độ kế toán, chuyển đổi số liệu, đưa ra mục lục ngân sách mới đến đào tạo nhân sự v.v… nhằm tạo điều kiện để năm 2007 lập dự toán ngân sách theo mục lục mới Đồng thời, năm
2006, Trung Quốc đã mở rộng phạm vi chi tập trung qua Kho bạc Nhà nước đặc biệt với các khoản mua sắm của Chính phủ, giúp việc quản lý được tiền mặt của
Trang 33NSTƯ, đưa hoạt động mua sắm của Chính phủ vào quy củ Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng chủ trương đẩy mạnh kích cầu trong nước, duy trì tốc độ tăng đầu tư đi đôi với tăng tiêu dùng, để tạo sự cân bằng giữa đầu tư và tiêu dùng
Trang 342.1 Giới thiệu tổng quan về tỉnh Đồng Nai
Đồng Nai là tỉnh thuộc Miền Đông Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (KTTĐPN), có diện tích 5.902,5 km2, chiếm 1,78% diện tích tự nhiên cả nước và chiếm 25,5% diện tích tự nhiên của vùng Đông Nam Bộ Đồng Nai có vị trí địa lý và địa hình hết sức thuận lợi để phát triển kinh tế-xã hội và mở rộng giao lưu thương mại, phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía Đông Bắc giáp Lâm Đồng, phía Tây Bắc giáp Bình Dương, phía Tây giáp TP HCM và phía Nam giáp Bà Rịa-Vũng Tàu Là một tỉnh có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến đường huyết mạch quốc gia đi qua như quốc lộ 1A, quốc lộ 20, quốc lộ 51; tuyến đường sắt Bắc-Nam; gần cảng Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, nằm ở khu vực cửa ngõ của vùng KTTĐPN kết nối ba vùng Đông Nam Bộ, Duyên Hải Miền Trung và Tây Nguyên, có thể giao thương với trong nước và quốc tế bằng đường biển, đường bộ và đường hàng không (khi sân bay Long Thành được xây dựng)
* Khái quát về tình hình kinh tế -xã hội 5 năm 2005-2009
- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng trưởng bình quân 5 năm (2005-2009) là
13,3%/năm; Trong đó: ngành công nghiệp, xây dựng tăng bình quân là 14,6%; dịch
vụ tăng bình quân là 14,9%; ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng bình quân là 4,8% Quy mô GDP theo giá thực tế năm 2009 đạt 60.419 tỷ đồng; GDP bình quân đầu người theo giá thực tế năm 2009 là 24,723 triệu đồng/người (tương đương 1.396 USD/người); GDP bình quân đầu người năm 2009 (theo giá so sánh 1994 quy USD) là 1.168 USD/người, tăng gấp 1,5 lần năm 2005
Trang 35- Giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định 1994) tăng bình quân 4 năm 2009) là 18,7%/năm; Trong đó: khu vực quốc doanh Trung ương tăng bình quân 9,4%/năm, khu vực quốc doanh địa phương tăng bình quân 4,6%/năm, khu vực ngoài quốc doanh tăng bình quân 20,4%/năm, khu vực đầu tư nước ngoài tăng bình quân 21,1%/năm Giá trị sản lượng xây dựng tăng trưởng bình quân 4 năm 20,5%/năm Công tác quản lý xây dựng được quan tâm thực hiện theo quy hoạch Công tác phát triển nhà ở được quan tâm, nhất là nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân, nhà cho người có thu nhập thấp Thị trường vật liệu xây dựng phát triển phong phú, đáp ứng nhu cầu xây dựng của xã hội
(2006 Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản (giá cố định 1994) tăng bình quân 5 năm (2005-2009) là 6,2%; trong đó giá trị sản xuất nông nghiệp tăng trưởng bình quân 5 năm là 5,5%/năm (trồng trọt tăng 3,6%, chăn nuôi tăng 9,7%); giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp tăng bình quân 7,3%/năm; ngành thuỷ sản tăng bình quân 13%/năm Cùng với sự quan tâm đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, đời sống người dân khu vực nông thôn ngày càng ổn định và phát triển
- Giá trị tăng thêm của các ngành dịch vụ tăng bình quân 5 năm là 14,9%/năm; đặc biệt trong năm 2008, có tốc độ tăng trưởng cao nhất từ trước đến nay tăng 17,7% so với năm 2007 Tỷ trọng các ngành dịch vụ trong giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của tỉnh theo đúng định hướng, cuối năm 2009 chiếm 32,2%GDP Các loại hình thương mại, dịch vụ chất lượng cao từng bước được đầu tư phát triển, nhiều siêu thị đã được xây dựng và đi vào hoạt động, các cửa hàng tiện ích hình thành và từng bước phát triển; nhiều hình thức thương mại mới như bán hàng đa cấp, nhượng quyền thương mại, cửa hàng tự chọn, cửa hàng thực phẩm an toàn, đại
lý giao nhận hàng hoá đã ra đời, đánh dấu sự phát triển, hội nhập sâu của thương mại, dịch vụ trên địa bàn Đồng Nai
- Tốc độ tăng thu ngân sách 5 năm 2005-2009 bình quân đạt 12,3%/năm, tổng thu ngân sách bình quân chiếm tỷ lệ 24,2% GDP hàng năm Thu ngân sách đạt cao tạo điều kiện để tăng các khoản chi ngân sách, nhất là chi đầu tư phát triển kinh tế-
Trang 36xã hội Bình quân tốc độ tăng chi ngân sách hàng năm là 15%/năm, trong đó chi đầu
tư phát triển chiếm tỷ trọng bình quân hàng năm trên 35,5% tổng chi ngân sách
- Trong 5 năm 2006-2010 huy động tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt trên 123.000 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ bình quân 45,1% GDP hàng năm Trong đó, Vốn NSNN tăng bình quân 6,7%, chiếm tỷ trọng 7,6% trong tổng vốn Vốn tín dụng tăng bình quân 7,3%, chiếm tỷ trọng 14,4% Vốn đầu tư các doanh nghiệp nhà nước tăng bình quân 4,6%, chiếm tỷ trọng 3,3% Vốn dân cư, tư nhân tăng bình quân 32,5%, chiếm tỷ trọng 20,9% Vốn đầu tư nước ngoài tăng vốn khác bình quân 24,1%, chiếm tỷ trọng 1,4% trong tổng vốn đầu tư
- Về phát triển các khu công nghiệp: Trong giai đoạn 2005-2009 có thêm 10 KCN được thành lập, nâng tổng số KCN được thành lập trên địa bàn tỉnh lên 29 KCN với diện tích 9.076 ha, trong đó diện tích cho thuê là 6.003 ha, đã cho thuê 60% diện tích đất dùng cho thuê (cao hơn so 47% của cả nước và 56% của vùng KTTĐPN Đến cuối năm 2009, có 8 KCN có nhà máy xử lý nước thải (NMXLNT) hoàn thành 12 KCN có NMXLNT đang xây dựng Ngoài các khu công nghiệp tập trung trên, còn có Khu liên hợp công nông nghiệp Donataba, Khu công nghệ cao chuyên ngành công nghệ sinh học và Khu đô thị công nghệ cao tại Long Thành, Cẩm Mỹ đang triển khai lập quy hoạch và thủ tục đầu tư
- Thị trường tài chính, thị trường bất động sản được phát triển mạnh nhằm thu hút các nguồn lực cho đầu tư phát triển Công tác thông tin thị trường, giá cả, quảng cáo được tổ chức tốt
- Công tác bảo vệ môi trường luôn được tỉnh quan tâm đồng thời với phát triển kinh tế-xã hội, tỷ lệ thu gom xử lý chất thải y tế đạt 90%; thu gom chất thải nguy hại đạt 45%; thu gom xử lý rác thải sinh hoạt đạt 77%
Nhìn chung, tình hình kinh tế-xã hội tỉnh Đồng Nai 5 năm 2005-2009 phát triển tương đối cao so với khu vực và cả nước Tình hình chính trị ổn định, quốc phòng an ninh được giữ vững là những tiền đề cần thiết để tỉnh Đồng Nai tiếp tục phát triển với tốc độ cao, nhằm đạt được mục tiêu năm 2015 tỉnh cơ bản công
nghiệp hoá-hiện đại hoá sớm hơn so với cả nước (năm 2020)
Trang 372.2 Thực trạng sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn từ năm
2005 đến năm 2009
2.2.1 Tình hình đầu tư vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN
Nhu cầu về vốn đầu tư XDCB quá lớn nên UBND tỉnh Đồng Nai cũng đã tìm nhiều giải pháp để triển khai huy động vốn đầu tư bổ sung vào ngân sách và kêu gọi đầu tư từ các thành phần kinh tế để đầu tư phát triển điển hình như các công trình giao thông đường bộ, gồm các hình thức sau:
- Tập trung khai thác quỹ đất: Hàng năm nguồn vốn khai thác quỹ đất cũng đóng góp vào tổng chi đầu tư của toàn tỉnh trung bình từ 600-750 tỷ đồng, nguồn vốn này thu được trên cơ sở bán các khu đất quy hoạch làm khu dân cư, khu thương mại Nguồn vốn thu được này là nguồn bổ sung lớn cho việc đầu tư phát triển cơ sở
DA trên 130 tỷ đồng
+ DA Cầu qua cù Lao Đại Phước-Nhơn Trạch: Cù lao Đại Phước được quy hoạch với mục tiêu là khu du lịch sinh thái, tuy nhiên về giao thông còn hạn chế là chưa có cầu bắt qua nhánh sông của sông Đồng Nai, các nhà đầu tư vào khu du lịch này đã thống nhất bỏ vốn ra để đầu tư, ngân sách tỉnh hỗ trợ 20% giá trị công trình, tổng vốn đầu tư của DA là 100 tỷ đồng, đến nay DA đã xây dựng hoàn thành phần cầu
- Huy động vốn đóng góp tự nguyện của nhân dân để đầu tư đường giao thông nông thôn:
Trang 38+ Hỗ trợ từ ngân sách tỉnh 40% dự toán xây lắp được duyệt đối với các DA có
dự toán từ 100 triệu trở lên cho các DA vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn + Hỗ trợ từ ngân sách tỉnh 30% dự toán xây lắp được duyệt đối với DA có dự toán từ 150 triệu đồng trở lên thuộc vùng nông thôn còn lại
+ Ngân sách huyện xem xét hỗ trợ thêm cho các DA thuộc diện nói trên để thực hiện
- Vay vốn đầu tư từ nguồn nhàn rỗi của KBNN Trung Ương: UBND tỉnh Đồng Nai đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận cho vay từ nguồn vốn nhàn rỗi KBNN Trung Ương 300 tỷ đồng để đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đô thị thành phố Biên Hoà-khu trung tâm hành chính Thành phố, hiện nay thành phố Biên Hoà đang tập trung xây dựng các khu tái định cư để thực hiện công tác bồi thường giải phóng mặt bằng làm cơ sở triển khai các DA
Đầu tư XDCB từ NSNN còn có một tác động rất quan trọng là thúc đẩy đầu tư
tư nhân vì việc cải thiện cơ sở hạ tầng cũng như dịch vụ công cộng sẽ tạo ra môi trường thuận lợi, dễ dàng hơn cho đầu tư tư nhân, làm giảm đáng kể chi phí đầu tư… và do vậy làm cho nhiều DA đầu tư tư nhân trở nên khả thi hơn
Trang 39Bảng 2.1: Tỷ trọng các nguồn vốn trong việc huy động vốn đầu tư phát
triển (giá hiện hành)
Năm (Kế hoạch)
Đầu tư từ nguồn vốn NSNN cấp
ĐT từ nguồn vốn tín dụng
ĐT từ vốn các DN Nhà nước
Tổng vốn đầu tư phát triển
Tổng số (tỷ đồng)
Tỷ trọng /Tổng vốn ĐTPT (%)
Tổng số (tỷ đồng)
Tỷ trọng /Tổng vốn ĐTPT (%)
Tổng số (tỷ đồng)
Tỷ trọng /Tổng vốn ĐTPT (%)
Tổng số (tỷ đồng)
Tỷ trọng /Tổng vốn ĐTPT (%)
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đồng Nai
Tỷ trọng vốn NSNN trong tổng vốn đầu tư phát triển có xu hướng giảm dần
Cụ thể, năm 2005 chiếm tỷ trọng 11,52%; năm 2006 chiếm tỷ trọng 10,69%; năm
2007 chiếm tỷ trọng 8,78%; năm 2008 chiếm tỷ trọng 7,72%; do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu, năm 2009 chiếm tỷ trọng 8,53% tăng hơn năm 2007, chứng tỏ vốn NSNN ngày càng thực hiện đúng vai trò dẫn xuất-làm vốn mồi cho các DA đầu tư, tạo điều kiện để thu hút ngày càng nhiều các nguồn vốn khác tham gia vào việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội cho tỉnh nhà Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn trong giai đoạn 2005-2009 đạt khoảng 104.652,7 tỷ đồng, trong đó vốn NSNN cấp 9.480,65 tỷ đồng (chiếm 9,06%), vốn tín dụng 15.941,9 tỷ đồng (chiếm 15,23%), vốn của các DNNN 3.707,8 tỷ đồng (chiếm 3,54%)
2.2.2 Cơ cấu phân bổ vốn đầu tư XDCB từ NSNN
2.2.2.1 Cơ cấu phân bổ vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN theo ngành
Trang 40Bảng 2.2: Cơ cấu phân bổ vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN theo
ngành
Ngành
VCP (tr.đồng)
Tỷ trọng (%)
VCP (tr.đồng)
Tỷ trọng (%)
VCP (tr.đồng)
Tỷ trọng (%)
VCP (tr.đồng)
Tỷ trọng (%)
VCP (tr.đồng)
Tỷ trọng (%)
TỔNG VCP (tr.đồng)
Tỷ trọng (%)
đó, tỉnh Đồng Nai ngày càng chú trọng đầu tư các công trình giao thông, xây mới đường, cầu, tạo điều kiện vận chuyển liên lạc giữa thành phố và các huyện được xuyên suốt, nhằm tạo nền móng cho phát triển kinh tế; kích thích đầu tư phát triển