Quá trình phát triển đất nước cũng như kinh nghiệm quốc tế cho thấy, hòa giải đóng vai trò đặc biệt quan trọng, là nhu cầu và đòi hỏi của xã hội để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong đời sống. Với cách thức thân thiện, đồng thuận trên nguyên tắc chia sẻ, cảm thông, hòa giải góp phần hàn gắn những mâu thuẫn, rạn nứt, nâng cao ý thức pháp luật của người dân, ngăn ngừa các tranh chấp trong tương lai, tạo sự đồng thuận, xây dựng khối đoàn kết trong nhân dân, góp phần bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Thấy rõ tầm quan trọng của vấn đề này, em xin được chọn đề tài: “Phân tích đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự qua thực tiễn áp dụng tại Tòa án”.
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 2
I LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 2
1 Khái niệm 2
2 Đặc điểm 3
3 Ý nghĩa 4
II QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ 5
1 Nguyên tắc công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự 5 2 Phạm vi các vụ án mà Tòa án công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự 5
3 Thủ tục công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự 7 III THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 9
1 Kết quả đạt được 9
2 Nguyên nhân 11
3 Đề xuất giải pháp 12
KẾT LUẬN 12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 2MỞ ĐẦU
Quá trình phát triển đất nước cũng như kinh nghiệm quốc tế cho thấy, hòa
giải đóng vai trò đặc biệt quan trọng, là nhu cầu và đòi hỏi của xã hội để
giải quyết các tranh chấp phát sinh trong đời sống Với cách thức thân
thiện, đồng thuận trên nguyên tắc chia sẻ, cảm thông, hòa giải góp phần
hàn gắn những mâu thuẫn, rạn nứt, nâng cao ý thức pháp luật của người
dân, ngăn ngừa các tranh chấp trong tương lai, tạo sự đồng thuận, xây dựng
khối đoàn kết trong nhân dân, góp phần bảo đảm an ninh chính trị và trật tự
an toàn xã hội Thấy rõ tầm quan trọng của vấn đề này, em xin được chọn
đề tài: “Phân tích đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện
hành về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự qua thực tiễn áp dụng
tại Tòa án”.
NỘI DUNG
I LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA
CÁC ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1 Khái niệm
Dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Từ điển tiếng Việt, “công nhận” là nhận
trước mọi người là hợp với sự thật, với lẽ phải hoặc hợp với thể lệ, luật
pháp1; “thỏa thuận” là đồng ý với nhau về điều nó đó có quan hệ đến các
bên sau khi đã bàn bạc2
Qua đó, có thể hiểu “công nhận sự thỏa thuận của đương sự” là hoạt động
của Tòa án tiến hành xem xét, thừa nhận việc thương lượng, thống nhất ý
chí của các bên đương sự trên cơ sở các quy định của pháp luật
Trang 32 Đặc điểm
- Chủ thể của việc công nhận sự thỏa thuận của đương sự là Toà án: Khi
đương sự đạt được thỏa thuận do tự thỏa thuận hoặc qua bên thứ ba hòa
giải thì việc công nhận sự thỏa thuận của đương sự phải được thực hiện
thông qua Toà án để đảm bảo giá trị pháp lý và tính ràng buộc cao hơn của
thỏa thuận Hiến pháp 2013 quy định, Tòa án là cơ quan xét xử của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp Do đó, Tòa
án mà cụ thể là thẩm pháp hoặc Hội đồng xét xử sẽ ra quyết định công
nhận sự thỏa thuận của đương sự
- Thỏa thuận của các đương sự phải xuất phát từ ý chí tự nguyện, nội dung
không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội: Việc
thỏa thuận giữa các được sự chỉ được công nhận trên cơ sở thương lượng
một cách trung thực, hợp lý và hoàn toàn tự nguyện, không bị cưỡng ép,
can thiệp dưới bất kì hình thức nào
- Trình tự, thủ tục được tiến hành theo quy định của pháp luật tố tụng dân
sự: Như các thủ tục tố tụng khác, việc công nhận sự thỏa thuận của đương
sự được Tòa án tiến hành trên cơ sở các quy định của pháp luật nhằm đảm
bảo sự minh bạch, công bằng, khách quan trong hoạt động tố tụng cũng
như sự bình đẳng giữa các bên đương sự trong quá trình giải quyết vụ việc
Đồng thời, việc công nhận sự thỏa thuận của đương sự cũng chỉ có hiệu lực
khi được thực hiện theo đúng trình tự thủ tục luật định
- Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự có hiệu lực pháp luật
ngay sau khi ban hành: Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự
dựa trên sự tự nguyện thỏa thuận và được tiến hành theo thủ tục chặt chẽ
của pháp luật Do đó, quyết định này có hiệu lực ngay và bắt buộc thực
hiện đối với các bên Tuy nhiên, quyết định công nhận sự thỏa thuận của
đương sự vẫn có thể bị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm tái thẩm để
tránh các sai sót và vi phạm pháp luật xảy ra
Trang 4- Hình thức công nhận sự thỏa thuận của đương sự là một quyết định hoặc
một bản án: Tùy thuộc vào thời điểm mà Tòa án công nhận sự thỏa thuận
của đương sự, cụ thể: (i) Các đương sự tự thỏa thuận được với nhau và yêu
cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận của đương sự trước khi khởi kiện, vì
đây là một loại việc dân sự theo Khoản 7 Điều 27 BLTTDS nên Tòa án sẽ
công nhận sự thỏa thuận của đương sự bằng một quyết định; (ii) Nếu các
đương sự đã khởi kiện ra Tòa án, Tòa án công nhận sự thỏa thuận của
đương sự tại giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm thì Thẩm phán ra quyết
định công nhận sự thỏa thuận của đương sự đó; Khi đã mở phiên tòa sơ
thẩm, Hội đồng xét xử sẽ tiến hành giải quyết theo thủ tục tố tụng và công
nhận sự thỏa thuận của đương sự bằng một bản án; (iii) Việc công nhận sự
thỏa thuận của đương sự ở giai đoạn phúc thẩm do Hội đồng xét xử ra
quyết định bằng một bản án phúc thẩm; (iv) Ở thủ tục giám đốc thẩm, tái
thẩm, Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm thực hiện việc xem xét lại bản án,
quyết định của Tòa nên công nhận sự thỏa thuận của đương sự bằng một
quyết định
3 Ý nghĩa
- Về mặt chính trị - xã hội:Việc công nhận sự thỏa thuận của đương sự là
một phương thức giải quyết vụ việc dân sự hiệu quả, đồng thời bảo đảm
tính bền vững của các mối quan hệ dân sự trong xã hội, góp phần khôi
phục, duy trì mối quan hệ bình thường các bên đương sự, hạn chế sự mâu
thuẫn, tranh chấp giữa các bên Đồng thời, thông qua việc giải thích pháp
luật của Tòa án hoặc người thứ ba, góp phần nâng cao ý thức pháp luật của
các đương sự có liên quan, giúp họ hiểu rõ hơn về vai trò, trách nhiệm,
quyền hạn của mình từ đó thương lượng, thống nhất thỏa thuận chung
- Về mặt pháp lý: Trên tinh thần cải cách tư pháp, đổi mới, cải cách thủ tục
TTDS, công nhận sự thỏa thuận của đương sự góp phần đảm bảo, nâng cao
quyền tự định đoạt của đương sự Đồng thời, giúp giảm áp lực công việc,
Trang 5tiết kiệm nguồn lực về cả thời gian, chi phí, nhân lực cho hệ thống Tòa án
từ đó nâng cao hiệu quả xét xử
II QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CÔNG NHẬN
SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
1 Nguyên tắc công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng
dân sự
Thứ nhất, thỏa thuận phải xuất phát từ ý chí tự nguyện của các đương sự
Khoản 2, Điều 5, BLTTDS quy định, các đương sự có quyền thỏa thuận
với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội Đồng
thời, theo nguyên tắc tiến hành hòa giải (Điều 205), việc hòa giải phải tôn
trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực
hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù
hợp với ý chí của mình
Những quy định này hoàn toàn phù hợp vì khi đương sự đã lựa chọn tự
nguyện thỏa thuận với nhau nghĩa là các bên đã quyết định giải quyết mâu
thuẫn qua hòa giải, thương lượng Yếu tố tự nguyện thỏa thuận cần được
đảm bảo về cả mặt ý chí và tự do bày tỏ ý chí về việc bảo vệ quyền, lợi ích
hợp khác của mình Do đó, một khi đương sự bị cưỡng ép về mặt thể chất
(do hành vi dùng vũ lực) hoặc tinh thần (đe dọa dùng vũ lực) thì nguyên tắc
tự do ý chí không còn được bảo đảm
Thứ hai, nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không được vi phạm điều
cấm của luật, không trái đạo đức xã hội Tuân thủ pháp luật là yêu cầu bắt
buộc trong đời sống xã hội, mọi thoả thuận vi phạm điều cấm của luật đều
không có giá trị pháp lý, đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung
giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận là
tôn trọng, bởi vậy sự thỏa thuận của các đương sự không được trái với
những chuẩn mực này
Trang 64 Phạm vi các vụ án mà Tòa án công nhận sự thỏa thuận của
đương sự trong tố tụng dân sự
Theo Khoản 1 Điều 205 BLTTDS, phạm vi những vụ án Tòa án tiến hành
hòa giải rất rộng, bao gồm tất cả các vụ án dân sự trừ những vụ án không
được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và
Điều 207 hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn
Những vụ án dân sự thuộc nhóm đối tượng không được hòa giải được quy
định tại Điều 206 BLTTDS bao gồm: (i) Yêu cầu đòi bồi thường vì lý do
gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước: Tài sản của Nhà nước ở đây được
hiểu là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện, thực hiện
quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân (Điều 197, 198
BLDS 2015) ; (ii) Những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều
cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội: là những trường hợp mà bản thân
giao dịch dân sự đó là giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện có
hiệu lực của giao dịch dân sự về nội dung và mục đích Tuy nhiên nếu các
bên chỉ tranh chấp về việc giải quyết hậu quả của giao dịch đó thì Tòa án
vẫn tiến hành hòa giải như VADS thông thường bởi bản chất của sự thỏa
thuận này có thể hiểu là về việc thống nhất phương thức khôi phục tình
trạng ban đầu của giao dịch dân sự hoặc phương án hoàn trả tài sản
Những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được (Đ207 BLTTDS) là: (i)
Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập
hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt; (ii) Đương sự không thể tham
gia hòa giải được vì có lý do chính đáng; (iii) Đương sự là vợ hoặc chồng
trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự; (iv) Một trong các
đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải
Đây là những trường hợp trên thực tế gặp trở ngại khách quan, chủ quan
dẫn đến Tòa án không hòa giải được và không thể chấp nhận sự thỏa thuận
của đương sự Bởi lẽ, bản chất của hòa giải là thống nhất thỏa thuận giữa
các bên lên quan, nếu khi tiến hành hòa giải nếu một bên đương sự vắng
Trang 7mặt, không muốn tiến hành hòa giải hoặc mất năng lực hành vi dân sự mà
quan hệ tranh chấp là quan hệ gắn liền với nhân thân của người đó thì
không thể hòa giải được
5 Thủ tục công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng
dân sự
a) Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
Ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, theo Điều 205 BLTTDS, sau khi có
thông báo thụ lý vụ án, Tòa án sẽ tiến hành các thủ tục liên quan đến việc
hòa giải rồi mới xem xét đến việc quyết định đưa vụ án ra xét xử
Thủ tục tiến hành hòa giải và công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
được quy định cụ thể tại Điều 208 đến 212 Theo đó, trước khi tiến hành
phiên hòa giải, Tòa án phải thông báo cho đương sự, người đại diện hợp
pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
về thời gian, địa điểm tiến hành phiên họp và nội dung của phiên họp
Trình tự thực hiện phiên họp được quy định chi tiết tại khoản 4 Điều 210,
các trình tự, thủ tục được thực hiện tương tự như một phiên tòa nhưng với
thủ tục rút gọn hơn mà vẫn đảm bảo được sự giám sát chặt chẽ, đầy đủ của
các bên liên quan đồng thời có cơ sở chắc chắn cho việc đánh giá quá trình
giải quyết để ra quyết định thỏa thuận của các đương sự là có căn cứ và
hợp pháp Khi các đương sự thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải
quyết trong vụ án dân sự thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành Biên bản
này được gửi ngay cho các đương sự tham gia hòa giải
Thẩm quyền công nhận sự thỏa thuận của đương sự (Điều 212): Hết thời
hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự
nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa
giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết
định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
Thời hạn ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự: Căn cứ
Trang 8mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì người có
thẩm quyền kể trên ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương
sự Đồng thời, “thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của
các đương sự nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải
quyết toàn bộ vụ án” Tuy “toàn bộ vụ án” chưa được giải thích chi tiết
nhưng trên tinh thần của Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP (đã hết hiệu lực)
có thể hiểu việc giải quyết toàn bộ vụ án ở đây là “các quan hệ pháp luật và
các yêu cầu của các đương sự trong vụ án và cả về án phí” (Khoản 2 Điều
21)
Hiệu lực của việc công nhận sự thỏa thuận của đương sự (Điều 213): Quyết
định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay
sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục
phúc thẩm và chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có
căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng
ép hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội Quyết định này có
bản chất và hiệu lực như một bản án của Tòa án, có hiệu lực thi hành ngay
và không bị kháng cáo Sở dĩ pháp luật quy định như vậy là vì quyết định
này dựa trên sự tự nguyện hòa giải của hai bên và được tiến hành theo một
thủ tục chặt chẽ Hơn nữa trước khi ra quyết định, đương sự đã có một
khoảng thời gian là 07 ngày để cân nhắc lại những vấn đề đã thỏa thuận và
có quyền xin thay đổi để đưa ra giải pháp khác Tuy nhiên để tránh các
trường hợp xảy ra sai sót hoặc vi phạm pháp luật mà cụ thể là “có căn cứ
cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc
vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội”, quyết định công nhận sự
thỏa thuận của đương sự vẫn có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc
thẩm
Tại phiên tòa sơ thẩm, việc công nhận sự thỏa thuận của đương sự ngay tại
thủ tục bắt đầu phiên tòa sơ thẩm được mở rộng và linh hoạt hơn so với
BLTTDS 2004 Cụ thể theo Khoản 1 Điều 246 BLTTDS: “Chủ tọa phiên
Trang 9tòa hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án
hay không; trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc
giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện, không vi phạm điều
cấm của luật và không trái đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử ra quyết
định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ án”.
Ngoài ra, thời hạn ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự và
hiệu lực của quyết định này tương tự như trong giai đoạn chuẩn bị xét xử
nêu trên
b) Tại Tòa án cấp phúc thẩm
Điều 300 BLTTDS quy định về việc công nhận sự thỏa thuận của các
đương sự tại phiên tòa phúc thẩm như sau:
“1 Tại phiên tòa phúc thẩm, nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau
về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện, không vi phạm
điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử phúc
thẩm ra bản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận
của các đương sự
2 Các đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc chịu án phí sơ thẩm, nếu
không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định theo quy định của pháp
luật.”
Theo đó, ở bất kì thời điểm nào kể cả trước hay tại phiên tòa phúc thẩm,
Tòa án vẫn mở phiên tòa phúc thẩm bình thường kể cả khi đương sự đã
thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án Đồng thời Tòa án cũng
không có trách nhiệm phải tiến hành hòa giải, việc các đương sự thỏa thuận
được với nhau về việc giải quyết vụ án là do các bên đương sự tự thực hiện,
thương lượng và đề nghị Tòa công nhận kết quả Bản án phúc thẩm có hiệu
lực pháp luật ngay từ ngày tuyên án theo Khoảng 6 Điều 313 BLTTDS
Trang 10III THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
HIỆN HÀNH
1 Kết quả đạt được
Thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,
thương mại, lao động thời gian qua cho thấy, các quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự về hòa giải bước đầu đã đi vào cuộc sống; các Tòa án đã chú
trọng tới công tác hòa giải và hòa giải thành được nhiều vụ án phải giải
quyết
Đánh giá kết quả đạt được của ngành Tòa án trong những năm vừa qua, có
thể thấy các Tòa án đã thực hiện tốt phương châm kiên trì hòa giải, thuyết
phục để đương sự nhận thức rõ quyền, nghĩa vụ của mình, qua đó đảm bảo
việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, kịp thời, góp phần củng cố mối
đoàn kết trong nội bộ nhân dân
- Từ năm 2014 đến năm 2017 tỷ lệ hòa giải trong giải quyết các vụ án dân
sự của các Tòa án đã có nhiều tiến bộ, trung bình hàng năm đạt 50% số vụ
phải giải quyết, có những Tòa tỷ lệ này đạt tới 60-70%, tuy nhiên vẫn còn
có những Tòa án có tỷ lệ hòa giải đạt thấp Cụ thể là:
+ Đối với các vụ án dân sự, TAND cấp tỉnh đã ra quyết định công nhận sự
thỏa thuận của các đương sự được 601 vụ chiếm tổng số 4,4% vụ việc dân
sự đã giải quyết; TAND cấp huyện đã ra quyết định công nhận sự thỏa
thuận của các đương sự được 107.455 vụ chiếm tổng số 28,2% vụ việc dân
sự đã giải quyết
+ Đối với các vụ việc hôn nhân gia đình, TAND cấp tỉnh đã ra quyết định
công nhận sự thỏa thuận của các đương sự được 2280 vụ chiếm tổng số
16,2% vụ việc hôn nhân gia đình đã giải quyết; TAND cấp huyện đã ra
quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự được 355,179 vụ
chiếm tổng số 64,2% vụ việc hôn nhân gia đình đã giải quyết
+ Đối với các vụ án kinh doanh thương mại, TAND cấp tỉnh đã ra quyết
định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự được 241 vụ chiếm tổng số