1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự qua thực tiễn áp dụng tại Tòa án

14 121 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 37,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình phát triển đất nước cũng như kinh nghiệm quốc tế cho thấy, hòa giải đóng vai trò đặc biệt quan trọng, là nhu cầu và đòi hỏi của xã hội để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong đời sống. Với cách thức thân thiện, đồng thuận trên nguyên tắc chia sẻ, cảm thông, hòa giải góp phần hàn gắn những mâu thuẫn, rạn nứt, nâng cao ý thức pháp luật của người dân, ngăn ngừa các tranh chấp trong tương lai, tạo sự đồng thuận, xây dựng khối đoàn kết trong nhân dân, góp phần bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Thấy rõ tầm quan trọng của vấn đề này, em xin được chọn đề tài: “Phân tích đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự qua thực tiễn áp dụng tại Tòa án”.

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 2

I LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 2

1 Khái niệm 2

2 Đặc điểm 3

3 Ý nghĩa 4

II QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ 5

1 Nguyên tắc công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự 5 2 Phạm vi các vụ án mà Tòa án công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự 5

3 Thủ tục công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự 7 III THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 9

1 Kết quả đạt được 9

2 Nguyên nhân 11

3 Đề xuất giải pháp 12

KẾT LUẬN 12

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14

Trang 2

MỞ ĐẦU

Quá trình phát triển đất nước cũng như kinh nghiệm quốc tế cho thấy, hòa

giải đóng vai trò đặc biệt quan trọng, là nhu cầu và đòi hỏi của xã hội để

giải quyết các tranh chấp phát sinh trong đời sống Với cách thức thân

thiện, đồng thuận trên nguyên tắc chia sẻ, cảm thông, hòa giải góp phần

hàn gắn những mâu thuẫn, rạn nứt, nâng cao ý thức pháp luật của người

dân, ngăn ngừa các tranh chấp trong tương lai, tạo sự đồng thuận, xây dựng

khối đoàn kết trong nhân dân, góp phần bảo đảm an ninh chính trị và trật tự

an toàn xã hội Thấy rõ tầm quan trọng của vấn đề này, em xin được chọn

đề tài: “Phân tích đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện

hành về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự qua thực tiễn áp dụng

tại Tòa án”.

NỘI DUNG

I LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA

CÁC ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

1 Khái niệm

Dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Từ điển tiếng Việt, “công nhận” là nhận

trước mọi người là hợp với sự thật, với lẽ phải hoặc hợp với thể lệ, luật

pháp1; “thỏa thuận” là đồng ý với nhau về điều nó đó có quan hệ đến các

bên sau khi đã bàn bạc2

Qua đó, có thể hiểu “công nhận sự thỏa thuận của đương sự” là hoạt động

của Tòa án tiến hành xem xét, thừa nhận việc thương lượng, thống nhất ý

chí của các bên đương sự trên cơ sở các quy định của pháp luật

Trang 3

2 Đặc điểm

- Chủ thể của việc công nhận sự thỏa thuận của đương sự là Toà án: Khi

đương sự đạt được thỏa thuận do tự thỏa thuận hoặc qua bên thứ ba hòa

giải thì việc công nhận sự thỏa thuận của đương sự phải được thực hiện

thông qua Toà án để đảm bảo giá trị pháp lý và tính ràng buộc cao hơn của

thỏa thuận Hiến pháp 2013 quy định, Tòa án là cơ quan xét xử của nước

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp Do đó, Tòa

án mà cụ thể là thẩm pháp hoặc Hội đồng xét xử sẽ ra quyết định công

nhận sự thỏa thuận của đương sự

- Thỏa thuận của các đương sự phải xuất phát từ ý chí tự nguyện, nội dung

không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội: Việc

thỏa thuận giữa các được sự chỉ được công nhận trên cơ sở thương lượng

một cách trung thực, hợp lý và hoàn toàn tự nguyện, không bị cưỡng ép,

can thiệp dưới bất kì hình thức nào

- Trình tự, thủ tục được tiến hành theo quy định của pháp luật tố tụng dân

sự: Như các thủ tục tố tụng khác, việc công nhận sự thỏa thuận của đương

sự được Tòa án tiến hành trên cơ sở các quy định của pháp luật nhằm đảm

bảo sự minh bạch, công bằng, khách quan trong hoạt động tố tụng cũng

như sự bình đẳng giữa các bên đương sự trong quá trình giải quyết vụ việc

Đồng thời, việc công nhận sự thỏa thuận của đương sự cũng chỉ có hiệu lực

khi được thực hiện theo đúng trình tự thủ tục luật định

- Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự có hiệu lực pháp luật

ngay sau khi ban hành: Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự

dựa trên sự tự nguyện thỏa thuận và được tiến hành theo thủ tục chặt chẽ

của pháp luật Do đó, quyết định này có hiệu lực ngay và bắt buộc thực

hiện đối với các bên Tuy nhiên, quyết định công nhận sự thỏa thuận của

đương sự vẫn có thể bị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm tái thẩm để

tránh các sai sót và vi phạm pháp luật xảy ra

Trang 4

- Hình thức công nhận sự thỏa thuận của đương sự là một quyết định hoặc

một bản án: Tùy thuộc vào thời điểm mà Tòa án công nhận sự thỏa thuận

của đương sự, cụ thể: (i) Các đương sự tự thỏa thuận được với nhau và yêu

cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận của đương sự trước khi khởi kiện, vì

đây là một loại việc dân sự theo Khoản 7 Điều 27 BLTTDS nên Tòa án sẽ

công nhận sự thỏa thuận của đương sự bằng một quyết định; (ii) Nếu các

đương sự đã khởi kiện ra Tòa án, Tòa án công nhận sự thỏa thuận của

đương sự tại giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm thì Thẩm phán ra quyết

định công nhận sự thỏa thuận của đương sự đó; Khi đã mở phiên tòa sơ

thẩm, Hội đồng xét xử sẽ tiến hành giải quyết theo thủ tục tố tụng và công

nhận sự thỏa thuận của đương sự bằng một bản án; (iii) Việc công nhận sự

thỏa thuận của đương sự ở giai đoạn phúc thẩm do Hội đồng xét xử ra

quyết định bằng một bản án phúc thẩm; (iv) Ở thủ tục giám đốc thẩm, tái

thẩm, Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm thực hiện việc xem xét lại bản án,

quyết định của Tòa nên công nhận sự thỏa thuận của đương sự bằng một

quyết định

3 Ý nghĩa

- Về mặt chính trị - xã hội:Việc công nhận sự thỏa thuận của đương sự là

một phương thức giải quyết vụ việc dân sự hiệu quả, đồng thời bảo đảm

tính bền vững của các mối quan hệ dân sự trong xã hội, góp phần khôi

phục, duy trì mối quan hệ bình thường các bên đương sự, hạn chế sự mâu

thuẫn, tranh chấp giữa các bên Đồng thời, thông qua việc giải thích pháp

luật của Tòa án hoặc người thứ ba, góp phần nâng cao ý thức pháp luật của

các đương sự có liên quan, giúp họ hiểu rõ hơn về vai trò, trách nhiệm,

quyền hạn của mình từ đó thương lượng, thống nhất thỏa thuận chung

- Về mặt pháp lý: Trên tinh thần cải cách tư pháp, đổi mới, cải cách thủ tục

TTDS, công nhận sự thỏa thuận của đương sự góp phần đảm bảo, nâng cao

quyền tự định đoạt của đương sự Đồng thời, giúp giảm áp lực công việc,

Trang 5

tiết kiệm nguồn lực về cả thời gian, chi phí, nhân lực cho hệ thống Tòa án

từ đó nâng cao hiệu quả xét xử

II QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CÔNG NHẬN

SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

1 Nguyên tắc công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng

dân sự

Thứ nhất, thỏa thuận phải xuất phát từ ý chí tự nguyện của các đương sự

Khoản 2, Điều 5, BLTTDS quy định, các đương sự có quyền thỏa thuận

với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội Đồng

thời, theo nguyên tắc tiến hành hòa giải (Điều 205), việc hòa giải phải tôn

trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực

hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù

hợp với ý chí của mình

Những quy định này hoàn toàn phù hợp vì khi đương sự đã lựa chọn tự

nguyện thỏa thuận với nhau nghĩa là các bên đã quyết định giải quyết mâu

thuẫn qua hòa giải, thương lượng Yếu tố tự nguyện thỏa thuận cần được

đảm bảo về cả mặt ý chí và tự do bày tỏ ý chí về việc bảo vệ quyền, lợi ích

hợp khác của mình Do đó, một khi đương sự bị cưỡng ép về mặt thể chất

(do hành vi dùng vũ lực) hoặc tinh thần (đe dọa dùng vũ lực) thì nguyên tắc

tự do ý chí không còn được bảo đảm

Thứ hai, nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không được vi phạm điều

cấm của luật, không trái đạo đức xã hội Tuân thủ pháp luật là yêu cầu bắt

buộc trong đời sống xã hội, mọi thoả thuận vi phạm điều cấm của luật đều

không có giá trị pháp lý, đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung

giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận là

tôn trọng, bởi vậy sự thỏa thuận của các đương sự không được trái với

những chuẩn mực này

Trang 6

4 Phạm vi các vụ án mà Tòa án công nhận sự thỏa thuận của

đương sự trong tố tụng dân sự

Theo Khoản 1 Điều 205 BLTTDS, phạm vi những vụ án Tòa án tiến hành

hòa giải rất rộng, bao gồm tất cả các vụ án dân sự trừ những vụ án không

được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và

Điều 207 hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn

Những vụ án dân sự thuộc nhóm đối tượng không được hòa giải được quy

định tại Điều 206 BLTTDS bao gồm: (i) Yêu cầu đòi bồi thường vì lý do

gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước: Tài sản của Nhà nước ở đây được

hiểu là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện, thực hiện

quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân (Điều 197, 198

BLDS 2015) ; (ii) Những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều

cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội: là những trường hợp mà bản thân

giao dịch dân sự đó là giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện có

hiệu lực của giao dịch dân sự về nội dung và mục đích Tuy nhiên nếu các

bên chỉ tranh chấp về việc giải quyết hậu quả của giao dịch đó thì Tòa án

vẫn tiến hành hòa giải như VADS thông thường bởi bản chất của sự thỏa

thuận này có thể hiểu là về việc thống nhất phương thức khôi phục tình

trạng ban đầu của giao dịch dân sự hoặc phương án hoàn trả tài sản

Những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được (Đ207 BLTTDS) là: (i)

Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập

hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt; (ii) Đương sự không thể tham

gia hòa giải được vì có lý do chính đáng; (iii) Đương sự là vợ hoặc chồng

trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự; (iv) Một trong các

đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải

Đây là những trường hợp trên thực tế gặp trở ngại khách quan, chủ quan

dẫn đến Tòa án không hòa giải được và không thể chấp nhận sự thỏa thuận

của đương sự Bởi lẽ, bản chất của hòa giải là thống nhất thỏa thuận giữa

các bên lên quan, nếu khi tiến hành hòa giải nếu một bên đương sự vắng

Trang 7

mặt, không muốn tiến hành hòa giải hoặc mất năng lực hành vi dân sự mà

quan hệ tranh chấp là quan hệ gắn liền với nhân thân của người đó thì

không thể hòa giải được

5 Thủ tục công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng

dân sự

a) Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

Ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, theo Điều 205 BLTTDS, sau khi có

thông báo thụ lý vụ án, Tòa án sẽ tiến hành các thủ tục liên quan đến việc

hòa giải rồi mới xem xét đến việc quyết định đưa vụ án ra xét xử

Thủ tục tiến hành hòa giải và công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

được quy định cụ thể tại Điều 208 đến 212 Theo đó, trước khi tiến hành

phiên hòa giải, Tòa án phải thông báo cho đương sự, người đại diện hợp

pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

về thời gian, địa điểm tiến hành phiên họp và nội dung của phiên họp

Trình tự thực hiện phiên họp được quy định chi tiết tại khoản 4 Điều 210,

các trình tự, thủ tục được thực hiện tương tự như một phiên tòa nhưng với

thủ tục rút gọn hơn mà vẫn đảm bảo được sự giám sát chặt chẽ, đầy đủ của

các bên liên quan đồng thời có cơ sở chắc chắn cho việc đánh giá quá trình

giải quyết để ra quyết định thỏa thuận của các đương sự là có căn cứ và

hợp pháp Khi các đương sự thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải

quyết trong vụ án dân sự thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành Biên bản

này được gửi ngay cho các đương sự tham gia hòa giải

Thẩm quyền công nhận sự thỏa thuận của đương sự (Điều 212): Hết thời

hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự

nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa

giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết

định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

Thời hạn ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự: Căn cứ

Trang 8

mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì người có

thẩm quyền kể trên ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương

sự Đồng thời, “thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của

các đương sự nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải

quyết toàn bộ vụ án” Tuy “toàn bộ vụ án” chưa được giải thích chi tiết

nhưng trên tinh thần của Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP (đã hết hiệu lực)

có thể hiểu việc giải quyết toàn bộ vụ án ở đây là “các quan hệ pháp luật và

các yêu cầu của các đương sự trong vụ án và cả về án phí” (Khoản 2 Điều

21)

Hiệu lực của việc công nhận sự thỏa thuận của đương sự (Điều 213): Quyết

định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay

sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục

phúc thẩm và chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có

căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng

ép hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội Quyết định này có

bản chất và hiệu lực như một bản án của Tòa án, có hiệu lực thi hành ngay

và không bị kháng cáo Sở dĩ pháp luật quy định như vậy là vì quyết định

này dựa trên sự tự nguyện hòa giải của hai bên và được tiến hành theo một

thủ tục chặt chẽ Hơn nữa trước khi ra quyết định, đương sự đã có một

khoảng thời gian là 07 ngày để cân nhắc lại những vấn đề đã thỏa thuận và

có quyền xin thay đổi để đưa ra giải pháp khác Tuy nhiên để tránh các

trường hợp xảy ra sai sót hoặc vi phạm pháp luật mà cụ thể là “có căn cứ

cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc

vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội”, quyết định công nhận sự

thỏa thuận của đương sự vẫn có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc

thẩm

Tại phiên tòa sơ thẩm, việc công nhận sự thỏa thuận của đương sự ngay tại

thủ tục bắt đầu phiên tòa sơ thẩm được mở rộng và linh hoạt hơn so với

BLTTDS 2004 Cụ thể theo Khoản 1 Điều 246 BLTTDS: “Chủ tọa phiên

Trang 9

tòa hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án

hay không; trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc

giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện, không vi phạm điều

cấm của luật và không trái đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử ra quyết

định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ án”.

Ngoài ra, thời hạn ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự và

hiệu lực của quyết định này tương tự như trong giai đoạn chuẩn bị xét xử

nêu trên

b) Tại Tòa án cấp phúc thẩm

Điều 300 BLTTDS quy định về việc công nhận sự thỏa thuận của các

đương sự tại phiên tòa phúc thẩm như sau:

“1 Tại phiên tòa phúc thẩm, nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau

về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện, không vi phạm

điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử phúc

thẩm ra bản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận

của các đương sự

2 Các đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc chịu án phí sơ thẩm, nếu

không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định theo quy định của pháp

luật.”

Theo đó, ở bất kì thời điểm nào kể cả trước hay tại phiên tòa phúc thẩm,

Tòa án vẫn mở phiên tòa phúc thẩm bình thường kể cả khi đương sự đã

thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án Đồng thời Tòa án cũng

không có trách nhiệm phải tiến hành hòa giải, việc các đương sự thỏa thuận

được với nhau về việc giải quyết vụ án là do các bên đương sự tự thực hiện,

thương lượng và đề nghị Tòa công nhận kết quả Bản án phúc thẩm có hiệu

lực pháp luật ngay từ ngày tuyên án theo Khoảng 6 Điều 313 BLTTDS

Trang 10

III THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

HIỆN HÀNH

1 Kết quả đạt được

Thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,

thương mại, lao động thời gian qua cho thấy, các quy định của Bộ luật Tố

tụng dân sự về hòa giải bước đầu đã đi vào cuộc sống; các Tòa án đã chú

trọng tới công tác hòa giải và hòa giải thành được nhiều vụ án phải giải

quyết

Đánh giá kết quả đạt được của ngành Tòa án trong những năm vừa qua, có

thể thấy các Tòa án đã thực hiện tốt phương châm kiên trì hòa giải, thuyết

phục để đương sự nhận thức rõ quyền, nghĩa vụ của mình, qua đó đảm bảo

việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, kịp thời, góp phần củng cố mối

đoàn kết trong nội bộ nhân dân

- Từ năm 2014 đến năm 2017 tỷ lệ hòa giải trong giải quyết các vụ án dân

sự của các Tòa án đã có nhiều tiến bộ, trung bình hàng năm đạt 50% số vụ

phải giải quyết, có những Tòa tỷ lệ này đạt tới 60-70%, tuy nhiên vẫn còn

có những Tòa án có tỷ lệ hòa giải đạt thấp Cụ thể là:

+ Đối với các vụ án dân sự, TAND cấp tỉnh đã ra quyết định công nhận sự

thỏa thuận của các đương sự được 601 vụ chiếm tổng số 4,4% vụ việc dân

sự đã giải quyết; TAND cấp huyện đã ra quyết định công nhận sự thỏa

thuận của các đương sự được 107.455 vụ chiếm tổng số 28,2% vụ việc dân

sự đã giải quyết

+ Đối với các vụ việc hôn nhân gia đình, TAND cấp tỉnh đã ra quyết định

công nhận sự thỏa thuận của các đương sự được 2280 vụ chiếm tổng số

16,2% vụ việc hôn nhân gia đình đã giải quyết; TAND cấp huyện đã ra

quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự được 355,179 vụ

chiếm tổng số 64,2% vụ việc hôn nhân gia đình đã giải quyết

+ Đối với các vụ án kinh doanh thương mại, TAND cấp tỉnh đã ra quyết

định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự được 241 vụ chiếm tổng số

Ngày đăng: 20/08/2021, 05:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Viện ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, GS. Hoàng Phê chủ biên, Nxb. Hồng Đức, 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: Nxb. Hồng Đức
5. Nguyễn Thùy Linh, Công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam: luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tốtụng dân sự Việt Nam: luận văn thạc sĩ luật học
2. Trường ĐH Luật Hà Nội, Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân Khác
6. Báo cáo 44/BC-TANDTC về đánh giá thực trạng quan hệ xã hội có liên quan đến các chính sách trong đề nghị xây dựng Luật hòa giải đối thoại tại Tòa án Khác
7. Báo cáo tổng kết công tác năm 2018 8. Báo cáo tổng kết công tác năm 2019 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w