Như vậy, từ đầu thế kỷ XX đến nay, người Khmer là một trong những cộng đồng tộc người thiểu số có số dân đông thứ hai sau người Hoa góp phần tạo nên bức tranh văn hóa Bình Dương đa tộc n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
NGƯỜI KHMER Ở XÃ AN BÌNH HUYỆN PHÚ GIÁO
Trang 3Mục lục Trang
1 Đặt vấn đề 3
2 Phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận 6
3 Nội dung 8
Kết luận 42
Tài liệu tham khảo 43
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Cuối thế kỷ XVII, Bình Dương là một trong hai tổng thuộc dinh Phiên Trấn, huyện Tân Bình, ngoài lớp cư dân người Việt từ vùng Ngũ Quảng (nhiều nhất là Quảng Bình) vào khai phá vùng đất hoang vu này còn có các tộc người bản địa Mạ, Cơ ho, Stiêng
…cùng chung lưng đấu cật xây dựng vùng đất hoang vu này thành làng mạc và theo thời gian, thành phần tộc người đã có nhiều thay đổi Những tộc người bản địa dần dần chuyển lên sống ở vùng cao, do việc tách tỉnh Bình Dương và Bình Phước, nên địa bàn thuộc tỉnh Bình Dương ngày nay không còn những tộc người cư trú lâu đời, mà phần lớn những tộc người mới đến
Thế kỷ XIX, theo mô tả của Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí (hoàn
thành đời vua Gia Long) người Việt xen cư với các tộc người thiểu số (mà Trịnh Hoài Đức gọi khác với tên tộc người như ngày nay) Người Hoa, ông gọi là người Đường, các tộc người sống vùng cao ông gọi là Cao Miên và Đồ Bà Mỗi tộc người vẫn giữ phong tục của riêng mình tạo nên một bức tranh văn hóa phong phú của vùng Gia Định xưa “Gia Định ở về phía nam nước Việt, khi mới khai thác, thì có lưu dân nước ta cùng người
Đường (tục gọi người nhà Đại Thanh là Đường nhân, cũng như người dân tộc tứ di gọi người Trung Quốc là Hán nhân, người Hán đây không phải là Lưu Hán, người Đường đây không phải là Lý Đường Sách Quảng Đông tự nhận mình là người Đường của đời Đường Ngu chẳng qua chỉ là lời quá khoa trương) Người Tây Dương (các nước như Phú Lãng Sa, Hồng Mao, Mã Cao, đều gọi là Tây Dương) [3a] Cao Miên, Đồ Bà (người Sơn man, ở núi đảo theo đạo Bái Nhật (lạy mặt trời) ở trong 36 cửa bể Mãn Lạt Gia, đều gọi
là Đồ Bà), những người các nước ấy đến sinh sống chung nhau rất đông mà y phục đồ
dùng đều theo kiểu của dân tộc họ” (Trịnh Hoài Đức, 2008, tr.194)
Đến đầu thế kỷ XX theo công trình Monographie de la provine Thudaumot (1910)
thành phần cư dân Bình Dương có người Hoa, người Ấn, người Minh Hương, người Pnom (M’nông), người Lào, người Mọi (Stiêng), trong đó người Stiêng sống tách biệt trong rừng sâu Theo thống kê năm 1926, cư dân ở Thủ Dầu Một có các thành phần dân tộc “Người Việt gốc Nam Bộ là 105.968 người Người Việt gốc Bắc Bộ và Trung Bộ là 4.122 người Người Khmer là 2.469 người Người Stiêng là 11.945 người Người Chăm
Trang 5453 người Người Minh Hương 1.097 người Người Hoa là 1.374 người” (Mạc Đường,1985, tr.20)
Theo thống kê của Ban dân tộc tỉnh Bình Dương, năm 2013 trong tỉnh có 17 tộc người thiểu, trong đó nhiều nhất là người Hoa (10747 người), người Khmer (4442 người), người Chăm (935 người), người Stiêng (204 người), người Sán Chỉ, người Dao, người Ê
đê, người Tày, Nùng, Mường, Thái… sống rải rác tại các huyện Dầu Tiếng, Phú Giáo, Bến Cát tạo nên bức tranh đa dạng và phong phú về văn hóa và thành phần tộc người của tỉnh Bình Dương Việc nghiên cứu về các cộng đồng tộc người ấy góp phần làm rõ lịch sử
và đặc trưng văn hóa của tỉnh Bình Dương
Như vậy, từ đầu thế kỷ XX đến nay, người Khmer là một trong những cộng đồng tộc người thiểu số có số dân đông thứ hai (sau người Hoa) góp phần tạo nên bức tranh văn hóa Bình Dương đa tộc người nhưng hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về cộng đồng tộc người này (mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về người
Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long) Đó là lý do, chúng tôi nghiên cứu “Cộng đồng người Khmer ở Bình Dương”
Vấn đề đặt ra là cộng đồng người Khmer ở Bình Dương ngày nay đã định cư ở Bình Dương từ khi nào và văn hóa của họ có gì giống và khác so với văn hóa truyền thống của người Khmer ở bản quán (Trà Vinh, Sóc Trăng) là vấn đề cần được làm sáng tỏ
Do sống rải rác, xen cư cùng với người Việt và do tác động từ các chính sách của tỉnh làm biến đổi văn hóa truyền thống của tộc người này, họ phải đối diện với sự mâu thuẫn giữa việc bảo tồn văn hóa truyền thống và tiếp thu văn hóa hiện đại Liệu giữa các yếu tố văn hóa truyền thống của người Khmer có hòa chung một nhịp với quá trình hiện đại hóa xã hội theo chủ trương của tỉnh hay không là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu
Việc tìm hiểu quá trình di cư, hình thành và phát triển cộng đồng người Khmer góp phần làm rõ lịch sử phát triển của tỉnh Bình Dương Và việc nhận diện văn hóa người Khmer, chỉ rõ những yếu tố tích cực, tiêu cực đối với sự phát triển chung của tỉnh đóng góp thêm cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm phát huy các mặt tích cực, hạn chế các mặt tiêu cực của các yếu tố văn hóa này góp phần vào mục tiêu phát triển bền vững của tỉnh Bình Dương
Trang 6Kinh tế của người Khmer đã có nhiều thay đổi góp phần phát triển kinh tế tỉnh Bình Dương nhưng vấn đề này hiện nay còn bỏ ngõ, chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ có một công trình về lịch sử và văn hóa của cộng đồng người Khmer ở Bình Dương ngày nay, là tài liệu tham khảo có ý nghĩa đối với những ai quan tâm nghiên cứu lịch sử, văn hóa vùng đất Bình Dương Nó là minh chứng của luận điểm “văn hóa Việt Nam là văn hóa đa tộc người” bên cạnh văn hóa của tộc người đa số còn có văn hóa của các tộc người thiểu số tạo nên bức tranh muôn màu sắc của văn hóa địa phương
Hơn nữa, kết quả nghiên cứu đề tài này sẽ là cơ sở ban đầu để thực hiện đề tài Văn hóa các tộc người thiểu số ở Đông Nam Bộ thuộc khuôn khổ đề án nghiên cứu của tỉnh
Bình Dương trong 5 năm (2015 - 2020)
Tóm lại, việc nghiên cứu Người kinh tế Khmer ở xã An Bình, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương ngày nay là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2 PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁCH TIẾP CẬN
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu điền dã dân tộc học bao gồm : phỏng vấn
sâu bán cấu trúc, thảo luận nhóm và quan sát tham dự
Thời gian từ tháng 6/2017 – 5/2018 với ba đợt khảo sát dựa vào lịch nghi lễ của
cộng đồng:
+ Tháng 3, Tết Chol Chnam Thmay
+ Cuối tháng 4 đầu tháng 5, bắt đầu mùa cạo mủ cao su nhiều gia đình tổ chức cúng rẫy
+ Tháng 8 cúng ông bà Sen Dolta
+ Tháng 12 sau mùa thu hoạch mủ sẽ có những nghi lễ cúng tạ ơn
Ngoài ra lẻ tẻ còn tham dự các nghi lễ cưới, lễ tang được tổ chức trong gia đình cũng là những dịp quan trọng cần tham dự để thu thập dữ liệu
Ngoài nguồn dữ liệu định tính, đề tài còn kế thừa kết quả khảo sát tổng thể (năm
2012 do bảo tàng tỉnh Bình Dương thực hiện) về các tộc người thiểu số ở tỉnh Bình Dương, trong đó có người Khmer để có số liệu tổng hợp về người Khmer Bình Dương mà trong phạm vi đề tài này không có điều kiện khảo sát toàn bộ (do giới kinh phí và thời gian)
Trang 7Như vậy, đề tài này vừa là nghiên cứu trường hợp một cộng đồng người Khmer sống tập trung tại xã An Bình, vừa sử dụng kết quả khảo sát trên diện rộng tổng thể người Khmer ở Bình Dương để có được mô tả đầy đủ về người Khmer
Trong phạm vi đề tài này chúng tôi sử dụng các lý thuyết : Đặc thù luận lịch sử của Franz Boas, chức năng luận của Bronislav Malinowski và Radcliffe Brown và sinh thái văn hóa của Julian Steward và Leslie White
Đặc thù luận lịch sử (historical particularism) do Franz Boas (1858 - 1942) khởi
xướng là sự phản ứng lại cách tiếp cận mang tính diễn dịch (deductive approach) của các học giả theo trường phái tiến hóa luận và khuếch tán văn hóa Theo Boas các nền văn hóa khác nhau có thể được hình thành từ các yếu tố khác nhau Các yếu tố đó có thể là môi trường tự nhiên, cũng có thể là "sự tình cờ lịch sử" hay cũng có thể là sự tương tác, tiếp xúc của các nền văn hóa trong quá trình trao đổi buôn bán hay di cư Sự vay mượn hay ứng xử trước môi trường hay sự tình cờ lịch sử có thể tạo ra những yếu tố văn hóa giống nhau mang tính độc lập với bất kỳ phát triển mang tính tiến hóa phổ quát Để giải thích
một hay các phong tục văn hóa, theo đặc thù luận lịch sử, cần phải phân tích trong ba
khía cạnh cơ bản là điều kiện tự nhiên, yếu tố tâm lý, và lịch sử liên quan, trong đó các yếu tố lịch sử đóng vai trò quan trọng nhất Yếu tố văn hóa của một xã hội là kết quả của
sự phát triển mang tính lịch sử và sự tương tác giữa con người và môi trường của xã hội
đó Do đó, chỉ có thể hiểu được một cách đầy đủ và đúng về bất cứ một thực hành văn hóa nào khi đặt trong bối cảnh của những sự tương tác này Quan điểm mang tính phương
pháp luận của đặc thù luận lịch sử về tính tương đối của sự khác biệt và các giá trị văn
hóa của các nền văn hóa khác nhau chính là nền tảng của quan điểm tiếp cận "tương đối văn hóa" (cultural relativism) Xuất phát từ lập luận cho rằng các thực hành văn hóa và đặc điểm xã hội là kết quả của hoàn cảnh lịch sử và môi trường cụ thể nên việc đánh giá các giá trị của các thực hành văn hóa (niềm tin, quan điểm, phong tục…) nào đó phải được đặt trong bối cảnh của chính nền văn hóa đó Văn hóa theo quan điểm tương đối văn hóa, vì vậy, không có "đúng" hay "sai", "cao" hay "thấp", nguyên thủy hay văn minh mà
là sự khác biệt và đa dạng Các nền văn hóa đều có giá trị như nhau do mỗi nền văn hóa đều được sáng tạo và phát triển để thích ứng với mỗi môi trường tự nhiên và xã hội mà chúng tồn tại (Thomas Barfield, 1997, tr.237)
Trang 8Đề tài sử dụng lối tiếp cận đặc thù luận lịch sử để có giác độ toàn diện về điều kiện
tự nhiên, yếu tố tâm lý, và lịch sử khi nghiên cứu về văn hóa của người Khmer ở Bình Dương Từ đó lý giải vì sao văn hóa của cộng đồng người Khmer ở An Bình (Phú Giáo) không giống với văn hóa của nhóm người Khmer mới di cư đến Bình Dương trong những năm gần đây
Để giải thích lý do tồn tại và biến mất của các thực hành văn hóa, đề tài còn áp
dụng quan điểm chức năng luận (functionalism) do Bronislav Malinowski (1884 -1942)
và Radcliffe Brown (1881 -1955) đề xướng vào những năm đầu thế kỷ XX Theo chức năng luận tất cả các thực hành và thể chế văn hóa đều có chức năng của nó trong tổng thể của nền văn hóa mà nó được sinh ra và tồn tại Chính vì vậy, giống như lập luận của đặc thù luận lịch sử, các nhà chức năng luận cho rằng việc so sánh về giá trị và chức năng của
các thực hành văn hóa của các nền văn hóa khác nhau là hoàn toàn bất hợp lý Theo Malinowski tất cả các thực hành và thể chế văn hóa, dù ở dưới dạng nào và bất luận nó được hình thành như thế nào, đều đóng vai trò như là công cụ cho việc thỏa mãn các nhu cầu sinh học và tâm lý cơ bản mang tính phổ quát của các cá nhân trong xã hội Vì vậy, văn hóa "phải được hiểu như là phương tiện có mục đích mang tính chức năng hay tính
công cụ" Trong công trình nghiên cứu nổi tiếng Magic, science and religion (1925),
Malinowski cho rằng các thực hành tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt là ma thuật, có chức năng tâm lý đối với bất cứ cá nhân trong việc thỏa mãn các nhu cầu về tinh thần Mặt
khác, chức năng luận còn nhấn mạnh đến tự kết nối, tương tác mang tính hữu cơ của
thành tố và thực hành văn hóa khác nhau trong hệ thống tổng thể của chúng Theo đó, một nền văn hóa không phải là tổng thể của các thành tố, mà tất cả các thành tố văn hóa của một nền văn hóa đều có sự kết nối chặt chẽ mang tính hữu cơ với nhau và mỗi thành tố đều có giá trị, chức năng nào đó trong tổng thể nền văn hóa chúng tồn tại Các thành tố của một nền văn hóa có sự kết nối mang tính cộng sinh với nhau, cùng nhau đóng góp cho
sự tồn tại một cách đầy đủ và bền vững giống như các bộ phận trong một cơ thể con người cùng nhau giúp cho cơ thể tồn tại và phát triển một cách khỏe mạnh Chính vì vậy, chỉ có thể hiểu chức năng và giá trị của các thành tố văn hóa một cách đầy đủ khi đặt chúng vào tổng thể văn hóa mà nó sinh ra và tồn tại
Trong khi Malinowski theo cách tiếp cận chức năng tâm lý, tìm hiểu vai trò của văn hóa đối với việc thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của cá nhân thì Radcliffe-Brown quan
Trang 9đến vai trò của thể chế văn hóa và cấu trúc xã hội trong việc duy trì sự cân bằng và ổn định của xã hội Theo Brown, tất cả mọi xã hội đều đòi hỏi các mối quan hệ xã hội phải được cấu trúc và có như vậy thì "các xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ của các cá nhân mới được giải quyết theo hướng không phá vỡ cấu trúc" Tuy nhiên, do nhấn mạnh chức
năng tạo nên sự ổn định của cấu trúc xã hội đã làm cho trường phái chức năng cấu trúc bỏ qua sự biến đổi liên tục của văn hóa Đây là hạn chế của chức năng cấu trúc (Thomas
Barfield, 1997, tr.209 - 212)
Tiếp cận theo chức năng luận, tác giả đề tài này ý thức rằng "chỉ có thể có được
một cách đầy đủ và sâu sắc nội dung, ý nghĩa và chức năng của một thực hành văn hóa nào đó trong bối cảnh rộng nhất có thể Cụ thể trong phạm vi đề tài này, để hiểu văn hóa của người Khmer ở Bình Dương sẽ phải quan tâm đến các yếu tố tự nhiên, chính trị, kinh
tế, văn hóa và xã hội của cộng đồng nơi thực hành văn hóa đó sinh ra và tồn tại Mặt khác,
với lý thuyết chức năng luận có thể giải thích vì sao một số thực hành văn hóa cổ truyền
đã bị mai một nơi người Khmer Bình Dương Đó là do điều kiện tự nhiên, chế độ chính trị, sinh kế tộc người hoàn toàn thay đổi so với trước năm 1960 còn sống trong rừng Hay nhóm người Khmer mới đến định cư ở Bình Dương không có những thực hành văn hóa giống người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long bởi điều kiện sống của họ thay đổi
Trường phái lý thuyết thứ ba được sử dụng trong đề tài này là lý thuyết sinh thái văn hóa (cultural ecology) gắn liền với tên tuổi của Julian Steward (1920 - 1972) và
Leslie White (1900 -1975) cho rằng "văn hóa là sản phẩm của sự thích nghi nơi con người với môi trường tự nhiên cụ thể" Yếu tố then chốt của sự biến đổi hay tiến hóa của văn hóa chính là yếu tố kỹ thuật, cụ thể là khả năng kiểm soát năng lượng của con người Xã hội nào phát triển được khả năng kiểm soát năng lượng tốt hơn xã hội đó sẽ phát triển
nhanh và phức tạp hơn Theo lý thuyết sinh thái văn hóa văn hóa có thể phát triển theo
nhiều con đường khác nhau tùy thuộc vào từng hoàn cảnh môi trường cụ thể Sự giống nhau của các nền văn hóa xuất phát từ môi trường tự nhiên giống nhau ở nhiều vùng địa
lý khác nhau trên thế giới Tức giữa môi trường tự nhiên và văn hóa có mối quan hệ gắn
bó nhau, trong đó môi trường tự nhiên đặc thù là cơ sở cho việc hình thành các mô hình văn hóa khác nhau
Một học giả khác trong khuynh hướng lý thuyết này, Fredrick Barth cho rằng các đặc điểm sinh thái tạo nên ranh giới không chỉ giữa các tộc người, mà còn giữa các nhóm
Trang 10trong cùng một tộc người Có thể vận dụng định đề này vào việc giải thích sự khác nhau
về văn hóa giữa nhóm người Khmer ở An Bình, Phú Giáo và nhóm người Khmer ở Thủ Dầu Một mới nhập cư đến
Theo lý thuyết sinh thái văn hóa, biến đổi văn hóa không phải là sản phẩm của
"tình cờ lịch sử" hay sản phẩm của sự tiếp xúc vay mượn giữa các nền văn hóa mà là kết quả của quá trình thích ứng của các nền văn hóa với môi trường sinh thái địa phương Hạn chế của lối tiếp cận này là bỏ qua các yếu tố : môi trường sinh học, các thể chế chính trị, tôn giáo tín ngưỡng, tính liên kết với mạng lưới xã hội rộng hơn trong việc lý giải sự khác nhau giữa các nền văn hóa
Như vậy, đề tài này được nghiên cứu trên nền tảng lý thuyết : đặc thù lịch sử, chức năng luận và sinh thái văn hóa luận để giải quyết mục tiêu nghiên cứu của đề tài là trình
bày và lý giải về các thực hành văn hóa của người Khmer ở Bình Dương, sự khác nhau về văn hóa giữa các nhóm Khmer ở An Bình, Phú Giáo và Thủ Dầu Một ngày nay
2 NỘI DUNG
Các tộc người thiểu số nói chung, người Khmer nói riêng đều có chung suy nghĩ nếu một người ngoài cộng đồng, mới đến hỏi họ còn giữ những phong tục tập quán cổ truyền gì không, họ sẽ trả lời rằng "người Khmer chúng tôi bây giờ sống y như người Việt, không còn giữ phong tục tập quán truyền thống gì" bởi họ quan niệm nếu còn giữ phong tục cổ truyền sẽ bị xem là lạc hậu Tuy nhiên, khi nhà nghiên cứu thiết lập được mối quan
hệ thân thiết với cộng đồng, tạo được niềm tin nơi họ sẽ khám phá được nhiều điều thú vị
về thế giới quan và nhân sinh quan của cộng đồng, được thể hiện trong tâm thức và hành
vi của họ mà biểu hiện cụ thể là những kiêng kỵ, quan niệm về điềm báo, các nghi lễ vòng đời, vòng cây, nghi lễ cầu cho những điều tốt đẹp
Những kiêng kỵ và điềm báo
Người Khmer ở An Bình đa phần vẫn sống bằng nghề nông, nhưng nghề nông hiện nay đã khác xa thời tổ tiên họ Không phát hoang bằng lửa và trồng tỉa bằng thủ công mà dùng máy cày xới đất, trồng cây công nghiệp nhưng những kiêng kỵ trong nghề nông thời xưa vẫn được thực hành nơi người Khmer dù không còn nguyên vẹn
Kiêng kỵ thời canh tác nương rẫy là không trồng tỉa trên mảnh đất có con trăn chết cháy do lửa phát hoang Ông Ngưu Ng nhớ lại, khi phát cây trồng rẫy điều kiêng kỵ nhất
Trang 11là để trăn chết khi đốt cây Nếu đã thấy con trăn chết trên đất đó thì không thể canh tác, nếu vẫn cứ cố trồng trọt trên đất đó sẽ bị bệnh nặng, thậm chí chết người Nên trước khi đốt rẫy người Khmer thường cúng, vái nếu con trăn còn trong khu đất đó hãy đi ra khỏi
Ông Ngưu Ng vốn không tin vào chuyện kiêng kỵ này cuối cùng đã tin vì ông đã trải qua một cơn bệnh thập tử nhất sinh Ông kể : Khi đó có một quen đã phát cây và đốt dọn được một khu đất đẹp (đất tơi xốp, bằng phẳng), thấy một con trăn to chết cháy, người này kéo xác trăn đi bỏ trong một cái hang, định bụng vẫn tiếp tục trồng tỉa Về nhà, người này kể cho mẹ nghe, người mẹ bảo con không được trồng tỉa trên khu đất ấy nữa nếu không gia đình sẽ có chuyện chẳng lành Thấy tiếc, người này nói rõ sự việc cho ông Ngưu Ng nếu ông không tin vào kiêng kỵ này có thể tỉa lúa bình thường Ông Ngưu Ng vốn là người không tin vào những chuyện như thế này và quyết định trồng lúa trên khu đất này Khu đất rất màu mỡ nên ông Ng trồng lúa trĩu bông, khi lúa đã chín vàng sắp đến ngày gặt, ông ngã bệnh, bệnh rất khó tả, trong người khó chịu, khó thở giống như sắp chết Gia đình đưa ông đến bệnh viện chữa trị nhưng các bác sĩ không tìm ra được bệnh gì Các bác sĩ khuyên gia đình hãy đưa ông về và chuẩn bị tinh thần để lo hậu sự cho ông Người làng cũng rỉ tai nhau rằng ông Ngưu Ng sắp chết Khi đã không còn lối thoát nào khác, con người thường tìm đến việc cúng bái cầu may Vốn là người không tin bà bóng, nhưng đến lúc này, đây ông Ng phải tìm đến bà bóng xem việc ông đột ngột bệnh nặng có liên quan gì đến thần linh không Bà bóng làm lễ cúng, lên đồng và phán rằng ông Ng phạm phải điều kiêng kỵ, về nhà cúng đầu heo sẽ hết bệnh Quả nhiên đúng như vậy, gia đình mua đầu heo để bà bóng cúng tạ lỗi tổ tiên, ông Ng hết bệnh ngay như chưa từng bị bệnh
Từ đó về sau ông Ng tin vào điều kiêng kỵ này, không bao giờ dám trồng tỉa ở khu đất có con trăn chết sau khi đốt dọn Câu chuyện của ông Ng càng củng cố niềm tin nơi người Khmer rằng con trăn chết trong rẫy tức là ông bà bị chết cháy, kiêng cữ, không được trồng trên đất này
Nói về lúa ông đã trồng sắp thu hoạch ông cho một người quen và cũng nói rõ điều này, người này thu hoạch về ăn không bị sao
Theo khảo sát của đề tài, hầu hết người Khmer đều biết điều kiêng kỵ này Ông Ngưu Tr cho biết “ trước khi đốt rẫy, người ta phải cúng hai trứng hột vịt, vái cho ông bà
đi hết (con trăn), nếu không khi đốt con trăn chết thì không được làm rẫy trên khu đất đó
Bỏ khu đất đó cho đến khi cây cối mọc um tùm có thể phát lại”
Trang 12Ngày nay, kiêng kỵ này được hóa giải bằng cách, trước khi cho máy cày xới đất, chuẩn bị xuống giống cao su, tiêu người dân đều tổ chức cúng "để xin phép ông bà" Lễ vật cúng nhất thiết phải có con gà, gạo muối, trầu cau
Một kiêng kỵ khác liên quan đến điều không hay Người Khmer dùng cách nói uyển ngữ trong những trường hợp bị ma nhập, bị xui xẻo, đi rừng, đi biển, đi chôn người chết như một kiêng kỵ “tránh nói điều không hay” Người Khmer quan niệm thần linh hay quỷ thần là những đối tượng rất linh thiêng, con người không thể nhắc đến một cách thô
thiển nên khi có ai đó “bị ma nhập làm cho bệnh”, người ta sẽ có cách nói rất kính cẩn lôk môk sua-sôc-tuk (các ngài đến hỏi thăm sức khoẻ) Người Khmer quan niệm rằng con
người nên tránh những lời nói, việc làm hàm ý xui xẻo, nhất là những ngày đầu năm mới Đối với những ai đi xa, những nghề đi biển, đi rừng, người Khmer cũng kiêng nhắc đến việc sẽ làm khi chuẩn bị hành trình hoặc kiêng gọi thẳng tên một số con vật được cho là
“linh thiêng”: rắn, cọp, cá sấu, chuột,… Vì họ sợ nói trước dự định sẽ không đem lại kết
quả tốt Nên chọn cách nói giảm nhẹ hơn hoặc xem như không có gì hết “Đi rừng” tâu pô-rây (vào rừng kiếm cây, chặt củi, săn bắn) trong nhiều trường hợp cũng được nói khác
đi thành tâu pho-sa (đi chợ) Khi vào rừng, con vật linh thiêng như rắn phải được kiêng
nhắc đến, để tránh những hiểm nguy có thể gặp phải “Rắn” được gọi là dây leo (puás
khăm), “rắn cắn” được nói tránh là puás châc (rắn mổ) hoặc giảm nhẹ hơn nữa là vól ruôt (dây leo quấn) “Thấy cọp” (khơ- nh kho-la) thì nói thành khơ-nh chho-ke (thấy chó) Trong trường hợp thấy có tổ ong chích chết người thì tránh gọi khô-mum “ong” mà gọi thay là rui (ruồi) “Đi biển” (tâu sắ-môt) được nói tránh thành tâu so-re (đi ruộng) “Cá chốt đâm” (to-rây kănh-chôs chăk) nói thành to-rây krănh chăk (cá rô chích) Qua những
chi tiết trên, có thể đúc kết rằng, khi con người gặp hoặc thấy những gì nguy hiểm, có hại thì họ thường nói ngược lại thành điềm lành, điềm tốt, nhằm tránh những rủi ro có thể gặp
phải Trong trường hợp mang thây ma (người chết) đi thiêu hoặc chôn (dôk xak-xop tâu đôt hay dôk xak-xop tâu cóp) họ sẽ nói tránh thành noăm xak xop tâu po-rây (dắt (dẫn)
thây (thi thể) đi rừng) Để có thể đánh lạc hướng ma quỷ xung quanh bám theo (Dẫn theo Đào Thị Kim Duyên, 2015, tr.115)
Ngày nay, môi trường sống thay đổi: Không còn rừng nên không còn thú dữ, không còn rừng để khai hoang, đi rừng, đi chôn người chết nên những kiêng kỵ trên chỉ còn trong tâm thức người Khmer
Trang 13Đối với phụ nữ mang thai, đứa con trong bụng là quý giá nhất không chỉ với bản thân phụ nữ đó mà còn rất quý đối với gia đình, dòng họ, nên người phụ nữ đó phải tuyệt đối tuân theo những điều kiêng kỵ do ông bà truyền lại nhằm đảm bảo cuộc sinh nở “mẹ tròn con vuông”, đứa trẻ lớn lên khỏe mạnh, thông minh Theo ông Ngưu B, người phụ
nữ mang thai khi ăn phải ngồi một chỗ, không được nhìn đám tang, không tự hái chuối trên cây để ăn ngay mà chỉ ăn khi chuối đã được hái sẵn Nếu không tránh những kiêng kỵ trên đứa trẻ sinh ra sẽ bị khóc dạ đề (3 tháng 10 ngày) Phụ nữ mang thai cũng kiêng bước qua dây cột trâu để tránh chữa trâu (12 tháng mới sinh), ăn xong phải rửa chén ngay, không ngâm trong nước để tránh việc con bị lở loét Hiện nay, những kiêng kỵ đối với phụ nữ mang thai vẫn còn được duy trì
Liên quan đến người phụ nữ mang thai và sinh con còn có một kiêng kỵ khác, kiêng phụ nữ sinh con trong nhà vì sẽ làm ô uế nhà, ảnh hưởng đến tổ tiên đang ngự trên bàn thờ của gia đình Trước năm 1994, phụ nữ Khmer sinh con ở cái chòi nhỏ sau nhà Trong chòi, người ta đặt một chiếc giường, bên cạnh giường, đào một cái lỗ thoát nước trên đó có gác hai thanh cây để người phụ nữ ngồi tắm rửa, nước theo đó chảy xuống cái
hố bên ngoài Mỗi một phụ nữ, mỗi một lần sinh đều ở trong cái chòi mới Người ta làm cái chòi này bằng loại gỗ tạp dễ hủy Sản phụ không bao giờ ở lại cái chòi mình đã ở trước đó, sản phụ này kiêng tái sử dụng chòi của sản phụ khác (dù người sử dụng trước đó
đã hết thời gian ở cữ, vào ở trong nhà chính cái chòi vẫn còn tốt) ngay cả hai chị em gái đang sống chung ở nhà chính của cha mẹ Vì vậy, trong gia đình có bao nhiêu phụ nữ sinh, bao nhiêu lần sinh là có bấy nhiều lần làm chòi để phụ nữ trải qua cuộc sinh và ở cữ trong một tháng
Từ khi xã An Bình có trạm y tế (1984), người Khmer không còn sinh ở nhà với bà
mụ vườn nữa mà đã đến thăm khám thai và sinh con tại các cơ sở y tế, cái chòi dành cho sản phụ cũng không còn và những kiêng kỵ đối với cho sản phụ cũng dần mai một Chăm sóc y tế ngày càng tốt hơn, tỷ lệ phụ nữ gặp bất trắc khi sinh con, trẻ em chết non không còn nhiều nên những kiêng kỵ cũng tự nó mất ý nghĩa
Điềm báo
Điềm báo là một hiện tượng tồn tại trong cuộc sống, báo hiệu trước một số sự việc xấu có thể diễn ra trong thời gian gần, có thể cảm nhận được bằng giác quan thứ sáu của con người Dự cảm tồn tại ở nhiều dạng, có thể là mơ hồ như linh tính, linh cảm, hoặc rõ
Trang 14nét như giấc mơ Điều này khiến nhiều người tin vào sự tồn tại của một thế giới tâm linh song song cùng với thế giới của người sống và nhiều khi, những tín hiệu điềm báo từ thế giới tâm linh ấy đã báo trước cho người sống những việc sẽ xảy ra trong tương lai Con người ta ai cũng từng trải qua những dự cảm ngay trước khi nó xảy ra Hiện tượng này đến nay khoa học vẫn chưa có một lời giải thích thỏa đáng Nói cách khác, con người tin vào sự tồn tại của một thế giới tâm linh song song cùng với thế giới của người sống và đôi khi, những tín hiệu từ thế giới tâm linh ấy đã báo trước cho người sống những việc sẽ xảy ra trong tương lai, đó là điềm báo Điềm báo liên quan đến niềm tin của mỗi người, ai
có niềm tin mới quan tâm đến điềm báo, chúng có thể xuất hiện trong giấc mơ hay trong hiện thực
Với người Khmer, điềm báo có giá trị như một lời cảnh báo rằng họ đã hành động điều gì sai, tổ tiên báo hiệu để họ điều chỉnh lại hành vi ứng xử của lại bản thân
Chị Ngưu T có cách lý giải về những giấc mơ cùa mình “ Nằm mơ thấy con khỉ nghĩa là ông bà quở trách mình quên cúng cơm cho ông bà Sau giấc mơ ấy phải cúng cơm trộn với tro bếp (tro được sàn kỹ cho sạch) – có lẽ ngày xưa không có muối, người Khmer ăn cơm với tro từ ây tre, có vị mặn và cũng có chất dinh dưỡng, nên ông bà yêu cầu cúng cơm trộn với tro Tro để trộn với cơm phải được đốt từ cây le sạch, tro được sàn
kỹ cho thật mịn Cơm nấu chín trộn tro vào, dâng cúng ông bà
Theo sự trải nghiệm của chị T, các giấc mơ xấu là mơ thấy cháy nhà, thấy bản thân
bị gãy răng, mơ thấy người ta làm nhà, kéo cây Đây là những điềm báo trong cộng đồng
sẽ có người chết Mơ thấy nước lớn và trong, thấy mình đi chơi chỗ này chỗ nọ là điềm tốt, bản thân và gia đình sẽ có niềm vui
Một người bình thường trở thành bà bóng cũng nhận được điềm báo trong giấc mơ, thường là một vị thần hiện ra yêu cầu người này phải trở thành bà bóng để giúp cộng đồng Nếu người này không thực hiện theo điềm báo, sẽ bị bệnh nặng “thập tử nhất sinh”,
để hết bệnh phải làm lễ cúng và thề nguyền trở thành bà bóng trọn đời Ông Ngưu Tr (sinh năm 1949) kể về trường hợp của chị ông, bà Ngưu B được sinh ra và lớn lên, kết hôn và sinh con bình thường như những người phụ nữ khác trong làng, nhưng đến năm bà
49 tuổi, mắc một trận bệnh nặng, tưởng chừng không qua khỏi, đưa đến bệnh viện, các bác sĩ không tìm ra bệnh Về nhà bà nằm mơ thấy một vị thần mách bảo phải làm một lễ cúng để trở thành bà bóng Trong cơn tuyệt vọng cận kề với cái chết bà đã tuân theo lời vị
Trang 15thần trong giấc mơ mách bảo Cũng theo sự mách bảo của thần, gia đình sắm sửa lễ vật để
cúng cho bóng nhập vào bà, quan trọng nhất phải có cây kchom là vật trung gian giữa bản thân bà bóng (thể xác) và “bóng” (linh hồn), cây kchom đưa “bóng” nhập vào bà bóng Lễ
vật dâng cúng bóng buộc phải có đầu heo (gồm đầu, bộ lòng và đuôi heo, tượng trưng cho con heo), nhang đèn, gạo, muối (lễ vật đặt trên chiếc bàn nhỏ, không đặt chung bàn thờ tổ tiên) Hàng năm, gia đình phải tổ chức cúng cho bóng hai lần vào Rằm tháng Ba và Rằm tháng Tám, lễ cúng phải có người hát những bài hát dành riêng cho bóng, phụ họa cho lời hát có kèn, trống Trong khung cảnh linh thiêng, nhang khói nghi ngút, tiếng nhạc sập sình, lời ca trau chuốt trang nghiêm, thánh thót, khoảng 2-3 phút sau, bóng (linh hồn) nhập vào xác, giọng nói của người được bóng nhập thay đổi, tiếng nói phát ra từ bà bóng
bấy giờ tiếng của vị bóng nhập vào
Một người phụ nữ bình thường trở thành bà bóng có khả năng nhìn thấu sự việc xuyên không gian và thời gian Ông Ngưu Tr nói chị ông có hai khả năng: Thứ nhất là biết được người bệnh bị bệnh gì, do đâu Nếu biết được bệnh do cõi âm gây nên chỉ cần cúng là hết bệnh, bệnh về thể lý phải đi đến cơ sở y tế điều trị; Thứ hai, bà có khả năng giúp người mất đồ xác định được ai lấy cắp, đề xuất phương cách có thể lấy lại được Khi
đã trở thành bà bóng, bà Ngưu B “phải kiêng đi đám tang, không đi đến thăm người mới
sinh, không chui qua sào quần áo vì đó là những chỗ ô uế, xúc phạm đến bóng; kiêng ăn
thịt bò, trăn, rắn, vooc, khỉ, dê, chó, cá trầu dục, nếu ăn sẽ bị hành hạ trong người, có khi khó chịu đến chết
Là một bà bóng phải sống rất khắc khổ vì những kiêng kỵ, cúng bái nên không ai muốn trở thành bà bóng Việc trở thành bà bóng là duyên cơ do thần chọn Theo ông Ngưu Ng, trước năm 1975, trong cộng đồng người Khmer ở An Bình có bốn, năm bà bóng Cách đây 20 năm, trong cộng đồng còn ba bà bóng Hiện nay, những bà bóng kia đã qua đời, chỉ còn bóng Ngưu B còn sống (bà cũng đã 82 tuổi) nhưng không còn chữa bệnh hay xem bói cho người Khmer như trước đây, nhưng hàng năm gia đình buộc vẫn phải
cúng heo cho bà, rất tốn kém và rất khó tìm người hát bóng
Theo ông Ngưu Ng, trở thành bà bóng "là nghiệp" chứ không được hưởng lợi gì
Bà bóng không được kiếm sống bằng công việc chữa bệnh và xem bói cho dân làng (vì
nếu trục lợi dân làng bà sẽ bị bóng phạt bệnh) nhưng gia đình phải lo lễ vật và người hát
bóng để cúng cho bà bóng hàng năm rất tốn công, tốn của Bà bóng chỉ vinh dự một điều
Trang 16là đại diện bóng (thần linh) giúp đỡ dân làng Bối cảnh xã hội ngày nay, người dân bệnh
đã có bác sĩ, đến cơ sở y tế chẩn đoán và điều trị Nếu mất trộm gì đã có dân quân tự vệ, công an các cấp tìm ra kẻ trộm, không cần tìm đến bà bóng để bói Bà bóng tự thân đã mất hết vai trò trong xã hội đương đại
Tuy nhiên, người nào đã trở thành bà bóng dù hiện nay đã già không còn làm công
việc của bà bóng nữa vẫn phải tổ chức cúng bóng Như trường hợp bà bóng Ngưu B, 84
tuổi, mỗi năm rằm tháng Tám gia đình phải tổ chức cúng bóng mặc dù rất tốn kém (lễ vật, người diễn xướng), năm nào không cúng bà bị bệnh, rất "khó ở" nhưng bác sĩ không thể tìm ra bệnh gì Gia đình tin rằng bà bị "bóng hành" vì không cúng Hiện nay, ở An Bình, không còn nghệ nhân hát và múa bóng, nên khi tổ chức lễ Bà Bóng, gia đình mời nghệ nhân từ Bình Phước Ông Ngưu Tr mô tả :
Nghi lễ
Ngày nay hệ thống nghi lễ của người Khmer vẫn được bảo tồn khá phong phú, dù người dân luôn phát biểu “giờ mất gốc, sống giống người Việt rồi” Chúng tôi tạm chia hệ thống nghi lễ ấy theo ba nhóm: nghi lễ vòng đời người, nghi lễ liên quan đến cây trồng,
và những nghi lễ khác do gia đình hoặc cộng đồng thực hiện cầu cho những điều tốt đẹp, xin được thần linh phù hộ để vượt qua những điều không may Mỗi nghi lễ sẽ được trình bày theo các khía cạnh sau: thời gian tổ chức, lễ vật dâng cúng, mục đích của nghi lễ, lý giải biểu tượng và chức năng của nghi lễ
Những nghi lễ vòng đời người
Lễ cúng bà mụ [sen Chmop] được tổ chức sau khi sinh đứa trẻ ba ngày (khi ấy bà
mẹ và đứa trẻ vẫn còn ở trong chòi dành cho sản phụ, người Khmer không sinh con trong nhà chính) Lễ vật cúng Mụ gồm: bốn chén cơm có bốn đôi đũa, một tô canh, một chén nước mắm, một con gà luộc, một chai rượu, một chiếc ly uống rượu, một chiếc đĩa phủ khăn trắng trên đó đặt gạo, trầu, cau và một sợi chỉ màu trắng Cúng mụ vì người Khmer
Trong lễ cúng bóng có múa bà bóng, trên nền nhạc của trống Bà Bóng, thanh la (chiêng của
người Khmer), lục lạc Động tác múa chủ yếu là sự chuyển động của đôi tay, đôi chân Nghệ
nhân múa quanh một cây nêu đặt trong nhà Nghệ nhân múa thường cầm thêm một cái lục lạc
để tạo thêm âm thanh hòa vào cùng với các làn điệu của thanh la và trống Thời gian múa
không hạn định, diễn tiến kéo dài theo diễn trình của lễ cúng Bà Bóng Lễ cúng Bà Bóng mỗi lần kéo dài khoảng 20 -30 phút, múa Bà Bóng cũng bằng ấy thời gian Trước đây, lễ cúng Bà Bóng
kéo dài hai ngày nhưng hiện nay để tiết kiệm, lễ thường kéo dài một ngày
Trang 17quan niệm bà mụ muốn đỡ được trẻ phải có vị thần phù hộ, gia đình sản phụ cúng để tạ
ơn Bà Mụ (tức cúng người đỡ đầu cho bà đỡ đẻ) Hành vi mang tính biểu tượng “người ta đốt cây nến cắm lên chén gạo đầy, cột chỉ tay cho đứa trẻ và sản phụ” (Kim N, 2018) để cầu bà mụ mang sức khỏe cho mẹ và bé Với nghi lễ cúng mụ, người chủ nhà chính thức thông báo cho tổ tiên rằng gia đình có thêm thành viên mới, cầu cho tổ tiên phù hộ, ban phước lành để đứa trẻ khỏe mạnh mau lớn Nghi lễ còn có chức năng tẩy uế cho bà đỡ, bởi bà đỡ bị dính máu của sản phụ tức bị ô uế, tổ chức nghi lễ để mong được thần – Bà
Mụ ban sức khỏe, sự minh mẫn, để bà đỡ tiếp tục công việc đỡ đẻ cho những phụ nữ khác trong cộng đồng Trong nghĩ lễ người ta cũng cột chỉ tay cho bà đỡ bởi người Khmer tin sợi chỉ sẽ xua tan vận rủi, có sức mạnh thần kỳ, mang đến vận may và bảo đảm người đeo
nó nhận được sự bảo vệ của tổ tiên, thần linh
Ông Kim N nhớ lúc vợ ông sinh người con trai út (năm 1994), trong cộng đồng chỉ còn hai bà đỡ nhưng có bảy người phụ nữ sinh cùng lúc, vì thế ông phải đưa vợ đến trạm
y tế sinh, và vài người nữa cũng vậy Từ sau năm 1994, người Khmer dần dần bỏ tập quán sinh con tại nhà, đi đến trạm y tế sinh Và khi sinh con ở trạm y tế người ta không còn tổ chức cúng mụ nữa Hiện nay, phụ nữ Khmer không còn sinh con ở nhà, mọi người đều đến thăm khám thai và sinh con ở trạm y tế nên tục cúng mụ cũng không còn duy trì (Kim
N, sinh năm 1952, 2018)
Lễ đầy tháng [sen króc khe] là nghi lễ đầu tiên của một đời người, tương đối phổ
biến ở nhiều tộc người (người Việt, Khmer, Hoa, Bố Y) Lễ đầy tháng của người Khmer được tổ chức tại gia đình sau một tháng, đúng vào ngày sinh của đứa bé như các tộc người khác Lễ đầy tháng đánh dấu sự chấm dứt thời gian ở cữ của sản phụ và đứa trẻ
Theo quan niệm truyền thống của người Khmer “phụ nữ khi sinh là ô uế nên ở ngoài chòi sau nhà Trong thời gian ở chòi một tháng hàng xóm không nên đến đây và sản phụ cũng kỵ sang nhà hàng xóm do máu dơ trong người sản phụ chưa hết, uế khí còn nặng ảnh hưởng không tốt cho hàng xóm; kiêng tham dự vào tất cả những hoạt động cúng
tế - xúc phạm thần linh; kỵ gặp gỡ một sản phụ khác; kỵ ăn những thức ăn cứng lạnh và khó tiêu hóa” (Kim N, sinh năm 1952, 2018)
Đúng một tháng sau khi sinh người phụ nữ được tắm nước lá rừng, gia đình phá bỏ cái chòi, đưa sản phụ và đứa trẻ vào nhà để thực hiện lễ cúng đầy tháng cho đứa trẻ
Trang 18Người mẹ và đứa bé được đưa đến trước bàn thờ tổ tiên để tiến hành nghi lễ cho đứa trẻ ra mắt tổ tiên
Trong lễ đầy tháng không thể thiếu một vật làm từ lá cây cơm nguội1 Theo sự mô
tả của ông Kim N có thể hình dung như sau: xếp chiếc lá lại thành hình cánh hoa, cắm vào thân cây chuối như một “lẳng hoa” có trang trí thêm chỉ bốn màu: trắng, đen, đỏ, nâu (màu tự nhiên từ lá cây rừng) Lễ vật dâng cúng tổ tiên gồm: một con gà, xôi, rượu, gạo muối, nhang đèn Trước năm 1975, rượu dâng cúng tổ tiên phải được nấu từ lúa mới được
ủ bằng men làm từ lá cây rừng (hiện nay người Khmer không còn tự nấu rượu)
Nghi thức cúng theo trình tự từ ngoài vào trong: bàn thiên, bàn thờ Cửu huyền thất
tổ, bàn thờ tổ tiên
Chủ lễ (thường là người lớn tuổi nhất trong gia đình) thắp hương khấn nguyện:
"Hôm nay, ngày (mùng) tháng (âl), ngày cháu (nội hay cháu ngoại ) họ, tên tròn một tháng tuổi, gia đình chúng tôi bày mâm lễ vật này, xin thần Núi, thần Sông, thần Rừng, tổ tiên, ông bà về đây hưởng của lễ này mà phù hộ cho cháu mau lớn, khỏe mạnh để đi rẫy, đi săn giỏi
Người mẹ và đứa bé, sau thời gian ở cữ một tháng, cách ly với thế giới xung quanh (ở ngoài chòi), trải qua nghi thức phòng vệ, được tin rằng đã có sự bảo trợ của tổ tiên, không còn lo lắng về những điều không hay có thể xảy ra, giờ đã tái hòa nhập với xã hội trong một vị thế mới, rời bỏ không gian giới hạn – cái chòi để bước ra không gian rộng
lớn hơn, tiếp xúc với nhiều người mà trước lễ đầy tháng điều này là không thể
Sau lễ đầy tháng, đứa bé sẽ xuất hiện trước cộng đồng và được cộng đồng chấp nhận như một thành viên mới Lúc này đứa bé được làm quen không giới hạn trong gia đình thân thích mà có thể gặp gỡ các thành viên khác trong cộng đồng, những người trong cộng đồng có thể ẵm bé, thăm hỏi sản phụ
Lễ đầy tháng xuất phát từ thời xưa, khi trình độ y tế còn kém phát triển và khả năng đề kháng của đứa bé thấp nên tỉ lệ tử vong của bé sơ sinh rất cao, trong số trẻ không
1 Cây cơm nguội có tên khoa học (Bischofia trifoliata (Rixb) Hook f hoặc Bischofia javanica Blume Họ Euphorbiaceae còn gọi cây nhội, thu phong, trọng dương mộc Cây có lá kép, mọc so le, có cuống chung thẳng, dài 8
- 12 cm, đầu cuống có 3 lá chét, lá chét giữa lớn hơn hai lá chét bên Lá chét hình trứng hay hình mác, mép lá có răng cưa nông, dài 8 - 10cm Đầu và đáy lá chét nhọn Cụm hoa hình chùy, mọc ở kẽ lá Hoa đơn tính khác gốc, nhỏ màu lục nhạt Hoa đực có 5 lá đài, 5 nhị Hoa cái có 5 lá đài và bầu thượng 3 ô Cây ra hoa về cuối xuân sang đầu mùa hạ Quả thịt hình cầu, khi chín có màu nâu hay màu hồng nhạt, vị chát; quả tạo thành một chùm thõng xuống Cây mọc hoang trong rừng Cây có tán lá xanh quanh năm và dễ trồng nên được đưa về thành phố làm cây lấy bóng mát
Trang 19may phần lớn chết ngay tháng đầu tiên của năm đầu Vì thế, nếu qua được một tháng bé khỏe mạnh tức đứa bé chính thức trở thành một thành viên của gia đình, cộng đồng Lễ đầy tháng đánh dấu việc đứa bé đã qua thời “trứng nước” mong manh, và sản phụ kết thúc giai đoạn kiêng khem ở cữ Lễ đầy tháng là nghi lễ chuyển đổi một đứa trẻ còn mơ hồ về
sự tồn tại của nó sang một sự tồn tại chắc chắn hơn Nếu trước lễ đầy tháng, tuổi của đứa
bé được tính bằng ngày thì sau lễ đầy tháng tuổi được tính bằng tháng, mạng sống được đảm bảo hơn Lễ đầy tháng còn mang ý nghĩa chuyển đổi không gian sinh hoạt của người
mẹ và đứa bé [mà theo Anorld van Gennep là chuyển đổi lãnh thổ: territorial passage] từ
một không gian hẹp nhất (cái chòi) ra một không gian rộng hơn (mọi vị trí trong nhà), từ việc hạn chế tiếp xúc với người khác đến chỗ được giao tiếp với mọi người đến nhà Trước lễ đầy tháng, người mẹ và bé mang khí dơ trong người sẽ làm ô uế bậc tổ tiên đáng kính Sản phụ và đứa bé rất hạn chế tiếp xúc người ngoài vì có thể họ sẽ mang đến những điều không may Nếu người đang có tang hay dự lễ tang về tiếp xúc với bé, bé sẽ
bị “sài lạnh” (khóc quấy cả ngày lẫn đêm, không chịu bú sữa, thân hình gầy gò yếu ớt hay
ốm đau)
Lễ đầy tháng, theo quan niệm của người Khmer còn mang ý nghĩa tạ ơn: tạ ơn Tổ tiên, ông bà đã phù hộ cho người phụ nữ từ khi mang thai đến khi sinh nở và đứa con ra đời được khỏe mạnh
Với lễ đầy tháng sản phụ và đứa bé đã bước qua giai đoạn kiêng cữ, mở rộng
không gian sinh hoạt và sự tiếp xúc với những người xung quanh, đánh dấu sự kết thúc thời gian thử thách về sức khỏe và sinh mạng của đứa trẻ Đứa bé chính thức trở thành một thành viên của gia đình và cộng đồng Lễ đầy tháng mang ý nghĩa phòng vệ cho sản phụ và đứa trẻ khỏi những điều không hay do lần đầu rời không gian hẹp quen thuộc (cái chòi), cách ly với mọi người trong gia đình, để bắt đầu hòa nhập với mọi người trong gia đình, lối xóm Ngày nay, người Khmer vẫn duy trì lễ đầy tháng, khác nhau về chi tiết trình tự nghi lễ
Con trai Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long sau khi trải qua thời gian đi tu (từ sau
12 tuổi, đi tu trong hai năm) sẽ trở thành người trưởng thành nhưng con trai Khmer ở xã
An Bình không có chùa riêng nên không vào chùa Người Khmer ở An Bình cũng không làm lễ trưởng thành cho thanh thiếu niên Sau khi thực hiện lễ đầy tháng không còn tổ chức nghi lễ gì cho đứa trẻ, chỉ làm lễ cúng trong trường hợp đứa trẻ bị bệnh
Trang 20Hôn lễ của người Khmer ngày nay được thực hiện vừa truyền thống vừa hiện đại
Phần nghi thức theo truyền thống và tiệc cưới theo lối hiện đại Để đôi nam – nữ trở thành
vợ chồng, hôn lễ trải qua ba nghi thức dạm hỏi, lễ hỏi và lễ cưới
Lễ dạm hỏi [Sđây Đol Đâng] (còn gọi là bắn tin – tức dò ý của đôi bên): khi đôi nam nữ có tình ý với nhau, nhà trai sẽ cậy ông mai [Maha] (cũng là chủ lễ, người đại diện,
người có uy tín trong họ tộc, có gia đình hạnh phúc và phải am hiểu phong tục tập quán) đến nhà gái để dạm hỏi người con gái ấy về cho con trai mình Nhà gái cũng cậy ông mai đứng ra đối đáp với ông mai nhà trai
Theo ông Thạch Tô N, cuộc đối đáp giữa hai ông mai nhà gái – nhà trai rất thú vị Đây là lần đầu tiên hai bên gia đình gặp nhau, hai ông mai đều dùng cách nói ẩn dụ để hỏi rằng nhà gái có đồng ý gả con cho nhà trai, và đáp rằng nhà trai không chê gì người con gái mà con trai họ đã chọn và yêu thương:
“Không biết hôm nay nhà ấy đến đây có việc gì? (nhà gái)
Hôm nay đẹp trời nên đi rừng, đi ngang khu đất này thấy đẹp nên dừng lại (nhà trai)
Ừ! Đất này đẹp
Khu đất đẹp nên muốn trồng tỉa ở đây, và cũng muốn kiếm lúa giống để cày cấy, không biết nhà bên ấy có lúa giống không?"
Thông thường, cha cô gái hoặc ông cậu, ông mai của nhà gái không bao giờ nhận
lời ngay cho dù đã đồng ý Họ vẫn thận trọng và khiêm tốn trả lời : "Lúa giống thì không thiếu nhưng lúa không được tốt lắm, lúa bị mốc"
Trước cách đối đáp như vậy, ông mai vẫn tiếp tục làm mọi cách để thuyết phục
"Lúa mốc cũng không chê
Nếu không chê thì có thể bán”
Lời đối đáp trên dùng hình ảnh “lúa giống” để nói người con gái, “lúa giống mốc”
là người con gái không hoàn hảo, “mua lúa giống” là hỏi cưới người con gái, “không chê lúa mốc” chấp nhận sự không hoàn hảo Hai ông mai ngụ ý rằng hôm nay ngày lành tháng tốt nhà trai cậy ông mai đến hỏi cưới vợ cho con trai của họ, nhà gái khiêm tốn nói rằng con gái của họ không hoàn hảo nhưng nếu nhà trai không chê họ sẽ gả và nhà trai nói họ muốn cưới người con gái ấy dù không hoàn hảo Bước đầu hai bên đồng ý gả, cưới
Trang 21Khi ấy nhà gái chẻ một đoạn nứa, vót nhỏ bằng cây tăm, bẻ ra từng khúc bằng nhau dính liền, không bẻ rời Cứ một khúc tương ứng với thời gian là một ngày trao cho ông mai, cầm về trình báo với nhà trai Bên nhà trai, cứ mỗi ngày, họ bẻ một khúc nứa bỏ
đi cho đến khúc cuối cùng thì cùng ông mai đến nhà gái Lần này phía nhà trai có cha mẹ hoặc người cậu, con trai và ông mai đi cùng Đến nhà gái, ông mai vào nhà trước thưa chuyện, khi được gia chủ đồng ý gia đình nhà trai mới được vào
Để hoàn thành thủ tục cho một cuộc hôn nhân, ông mai đọc gia phả nhà trai, nhà gái, khi biết chắc hai dòng họ và gia đình hai bên không cùng huyết thống mới quyết định
tổ chức cưới cho đôi nam nữ
Ông Ngưu Bư là người thường được cộng đồng nhờ làm ông mai, đại diện nhà trai
đi hỏi cưới dâu, kể rằng khi đến nhà gái thường có lời xa gần “đây thực sự là Phum (Phum giàu đẹp), có hoa cỏ xanh tươi nên có người muốn đến đây gửi thân, muốn thành thân sống trên mảnh đất trù phú này” Khi nghe những lời đó, cha mẹ cô dâu đáp lại: “Cô/chị có chuyện gì? Đây là Chhay-Phum gì? Ngồi xuống đi”
Chhay-Sau khi ngồi xuống hỏi thăm sức khoẻ qua lại, cha mẹ cô gái hỏi ông mai có việc chi Ông mai nói rằng: “Xin lỗi, tôi có người nhờ đến đây để thăm dò mối lương duyên cùng gia đình chị” Khi đó, cha mẹ cô gái sẽ hỏi về thân thế, gia tộc con trai Xong, cha
mẹ cô gái trả lời rằng để hỏi ý kiến thân tộc trước khi trả lời chính xác cho ông mai
Khi nhà gái đồng ý gả con gái cho nhà trai, người thân của cô gái chẻ một que nứa,
bẻ từng khúc, mỗi khúc tương ứng với một lễ vật heo, đồ trang sức, vòng đeo tay Nhà trai đồng ý thì hai bên tiến hành bàn bạc chọn ngày lành tháng tốt làm đám hỏi Hoăc lễ hỏi và lễ cưới diễn ra trong cùng một thời điểm
Lễ hỏi [Lơng ma ha] sau lễ dạm hỏi là lễ hỏi để hai bên thỏa thuận ngày cưới, sính
lễ nhà trai phải mang sang nhà gái mỗi thứ đều có đôi như: hai nải chuối cơm, hai đĩa bánh tai yến, một mâm trầu cau, một mâm rượu, bánh trái cây đến nhà cô dâu xin thưa
chuyện hỏi cưới Khi đến nhà gái vị Maha đặt vật lễ trang nghiêm, thắp đèn cầy và nhang
mời những vong linh ông bà quá cố vào dùng những lễ vật của đàng trai và xin hỏi cưới cháu gái của của ông bà Khi cha mẹ cô dâu thống nhất gả thì cha mẹ chú rể đưa mâm rượu mời cha mẹ cô dâu dùng và mâm trầu cau mời mẹ cô dâu, sau đó trao các cặp lễ vật cho nhà gái Trong lễ hỏi ông mai cũng nhắc lại hôn ước theo luật tục:
“Trai bỏ vợ như của đổ đi
Trang 22Gái lộn chồng của một thường hai”
Nếu người đàn ông ngoại tình sẽ phải đi ra mình không, đàn bà ngoại tình sẽ phải đền gấp đôi số sính lễ mà nhà trai mang sang
Sau lễ hỏi, người con trai sẽ sang ở rể nhà gái trong ba năm nhưng hai người vẫn chưa được ngủ với nhau Trong thời gian này, chàng rể phải làm việc chăm chỉ chứng tỏ mình là người đàn ông đáng tin cậy có thể gánh vác gia đình, nhà vợ mới yên tâm trao con gái cho anh ta, lễ cưới chính thức sẽ được tiến hành Ngược lại, nếu chàng rể lười lao động, hoặc bộc lộ nhiều điều không tốt, nhà gái sẽ từ hôn và không tổ chức lễ cưới Chàng rể sẽ trở về nhà, đôi nam nữ không trở thành vợ chồng của nhau, họ sẽ tìm đối tượng khác Đó là luật tục nhưng trong thực tế, hai bên đã tìm hiểu kỹ trước khi tiến hành
lễ hỏi để không xảy ra tình trạng từ hôn sau lễ hỏi sẽ khiến cho hai bên rất khó kết hôn sau đó Ngày nay, tục ở rể không còn phổ biến do người Khmer ảnh hưởng người Việt, theo chế độ phụ hệ
Lễ cưới [Pithi Apea Pìea]
Không giống xã hội cổ truyền khép kín, các thành viên trong cộng đồng luôn tuân theo những tục lệ chung của cộng đồng, ngày nay con người có nhiều sự lựa chọn Tùy theo hoàn cảnh gia đình, ý thức tộc người và quan niệm của cá nhân, lễ cưới sẽ được tổ chức truyền thống hay hiện đại Theo khảo sát của đề tài, nếu người Khmer kết hôn với người Việt lễ cưới sẽ được tổ chức theo cách của người Việt, nếu đôi nam nữ đều là người Khmer ở An Bình kết hôn với nhau sẽ tổ chức lễ cưới vừa có yếu tố Khmer vừa mang nét văn hóa Việt nhưng nếu người nam Khmer ở An Bình kết hôn với con gái Khmer ở Bình Phước phải tổ chức lễ cưới theo nghi thức truyền thống Dưới đây là mô tả trường hợp lễ cưới mang tính truyền thống của người Khmer mà bà Kim Đ (sinh năm 1957) tổ chức cho con trai bà cách đây hơn một năm (tháng 12/2017)
Con trai bà Kim Đ kết hôn với một cô gái Khmer ở Bình Phước2, gia đình cô gái yêu cầu phải tổ chức lễ cưới theo nghi thức truyền thống Bà Kim D, nhà trai phải tuân thủ điều này Bà nói, lễ cưới theo truyền thống khá phức tạp, mất nhiều thời gian và công
2 Người Khmer ở Bình Phước có chùa của riêng cộng đồng Ngôi chùa có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn văn hóa truyền thống: dạy chữ Khmer, nơi diễn ra các hoạt động văn hóa truyền thống để các thành viên hội tụ về sinh hoạt nên người Khmer ở Bình Phước còn giữ được văn hóa truyền thống tốt hơn người Khmer ở An Bình (không có ngôi chùa Nam tông của riêng cộng đồng)
Trang 23sức, bà cảm thấy rất áp lực, vấn đề ở đây không phải là tiền mà rất khó có đủ lễ vật xưa, các nghi thức mất nhiều thời gian và cần ông mai (chủ lễ, người đại diện gia đình) hiểu biết để điều hành buổi lễ, nhưng bà đã cố gắng hết sức để tổ chức một lễ cưới tươm tất
Bà mô tả lễ cưới của con trai bà được tổ chức trong ba ngày, hai đêm với những nghi thức: đưa chú rể sang nhà gái, tiến hành lễ cắt tóc, lễ cắt bông cau, buộc chỉ tay, lạy ông bà, cha mẹ và nghi thức nhập phòng
Trước ngày cưới chú rể nhờ bạn bè đến nhà cô dâu cất rạp cưới Cha mẹ chú rể mượn hai người thanh niên chưa vợ đi cắt bông cau (người Khmer gọi là bông vàng bông bạc) Trước khi leo lên cây cắt bông cau người ta cúng mâm trầu cau cho người khuất mặt giữ gốc cau (không bị té khi leo lên thân cau) Hoa cau sau khi cắt về đặt ở chỗ trang
trọng để sau đó sẽ thực hiện nghi thức cắt bông cau
Sính lễ gia đình bà Đ mang sang nhà gái gồm: 30 đồng tiền cắc (nhà gái sẽ tặng tiền này cho họ hàng mỗi người một đồng như lời thông báo đã gả con gái lấy chồng, đồng tiền còn mang ý nghĩa gia đình nhà gái chia sẻ may mắn cho họ hàng), nồi đồng (đủ cho mẹ vợ nấu hai lon gạo), kiềng đồng (cho cô dâu), chiêng đồng (đánh trong ngày cưới),
lưỡi rìu (chặt đầu heo), một con heo sống, một đầu heo Theo bà Kim Đ sính lễ không
phải quá nhiều tiền nhưng ngày nay khó tìm được kiềng đồng, chiêng đồng, nồi đồng và tiền cắc Trong trường hợp gia đình không có, có thể đi mượn để thực hiện đúng nghi thức, sau đó trả lại Hoặc không thể mượn được, nhà trai có thể xin nhà gái miễn giảm, tình huống xấu nhất không thể thương thảo được, thì lễ cưới không diễn ra
Nghi thức đầu tiên của lễ cưới là nhà trai cùng ông mai đưa sính lễ cùng chú rể sang nhà gái Lúc này, trước cổng nhà cô dâu bày sẵn một bàn được trang trí đẹp đặt ngang, trên bàn có hai bình hoa Tục lệ này có ý nghĩa, khi đến trước cổng thì nhà trai phải dừng lại trước khi cha mẹ cô dâu và cô dâu nhận vật lễ Kế đến là ông mai (Maha) múa mở rào, múa xong chú rể ôm mâm cau, hai chú rể phụ bưng mâm trầu và mâm rượu đứng hai bên đi vào nhà gái
Khi nhà trai vào đến nhà, cô dâu còn ở trong buồng, ông mai phải hát mời cô dâu
ra làm lễ Sự khéo léo của ông mai là đây, ông hát sao cho cô dâu và họ hàng nhà gái hài lòng, đưa cô dâu bước ra gian nhà trên, trước bàn thờ tổ tiên để làm lễ Trong số những người tôi phỏng vấn không ai nhớ được nguyên văn những lời ông mai hát mời cô dâu ra làm lễ, chỉ nhớ nội dung chính của những câu hát này là ca ngợi bố mẹ cô dâu đã có công
Trang 24sinh thành và giáo dục người con gái nết na, dịu dàng, duyên dáng để hôm nay có người đến cưới làm vợ Lời hát còn ngụ ý ca ngợi tình yêu lứa đôi, hai người từ đây sẽ sống hạnh phúc bên nhau đến răng long đầu bạc, cô dâu hãy dời gót ngọc ra gặp chú rể để thực hiện nghi thức lạy ông bà
Khi cô dâu từ trong buồng bước ra ngoài, hai bên gia đình dâng cơm cúng ông bà,
để ông bà chứng kiến giây phút linh thiêng gắn kết đôi nam nữ thành một Hai gia đình phải cúng hai con gà (gà của nhà gái là gà trống, gà của nhà trai là gà mái), hai mâm cơm mỗi mâm cơm gồm: năm chén cơm, một tô canh, nhang đèn, một bầu rượu, trong lễ cưới không cúng gạo muối (mâm cơm của phía nhà trai phải do chính nhà trai mang từ nhà qua, không được lấy cơm của nhà gái, kể cả tô, chén, muỗng đũa để cúng) Ý nghĩa của việc cúng cơm là mời ông bà về dùng bữa, chứng giám cho sự thành hôn của đôi nam – nữ
Lễ cắt tóc
Sau nghi thức cúng cơm ông bà là lễ cắt tóc cho cô dâu, chú rể Một phụ lễ múa hát theo điệu nhạc đi vòng quanh cô dâu, chú rể, thỉnh thoảng đưa chiếc kéo lên cắt tượng trưng vài sợi tóc trên đầu của hai người Người Khmer quan niệm cắt tóc là cắt bỏ ưu phiền và đem lại những điều tốt đẹp Tục cắt tóc này có nguồn gốc từ Bà-La-Môn giáo, cắt tóc là một trong những nghi thức của lễ San-sa-kar, có ý nghĩa làm cho thanh khiết cơ thể, cắt tóc để xóa bỏ những điều xấu xa ra khỏi cuộc đời của đôi trai gái này Ngoài ra, còn mang ý nghĩa công nhận cô dâu, chú rể là những người đã trưởng thành, có trách nhiệm trong cuộc sống gia đình tương lai Nghi thức này là nghi thức thành đinh được ghép chung vào lễ thành hôn Có trưởng thành rồi mới thành hôn
Lễ cắt hoa cau [Pithi kat khanh sia]
Sau lễ cắt tóc là lễ cắt hoa cau là nghi thức chính thức thừa nhận đôi trai gái thành
vợ thành chồng
Hoa cau được buộc lại thành ba bó, ông mai đưa bó hoa cau thứ nhất cho chú rể tặng cô dâu (21 sợi cau được buộc bằng chỉ trắng với 21 miếng cau và trầu) với ý nghĩa từ nay hai người chính thức nên nghĩa vợ chồng, bó thứ hai tặng mẹ vợ (12 sợi cau được buộc bằng chỉ trắng với 12 miếng cau và trầu) tỏ lòng biết ơn với công nuôi dưỡng sinh thành của mẹ vợ, bó thứ ba tặng cho em vợ (6 sợi cau được buộc bằng chỉ trắng với 6 miếng cau và trầu) tỏ lòng biết ơn công khó của người em đã giúp đỡ vợ mình