Hà Nội, 2021 MỤC LỤC A. Phần mở đầu 3 1. Lý do chọn đề tài 3 2. Câu hỏi nghiên cứu 3 3. Tổng quan nghiên cứu 4 4. Phương pháp nghiên cứu 4 B. Phần nội dung 4 Chương I: Khái quát lý luận về thất nghiệp 4 1. Khái niệm, thước đo và tác động 4 2. Phân loại thất nghiệp 6 3. Quy mô thất nghiệp 8 Chương II: Phân tích thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay 9 1. Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay 9 2. Cơ cấu dân số của những người thất nghiệp 11 3. Nguyên nhân của thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay 13 Chương III: Giải pháp cho thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay 15 C. Kết luận 16 DANH MỤC BẢNG BIỂU 17 TÀI LIỆU THAM KHẢO 17 A. Phần mở đầu 1. Lý do chọn đề tài Ngày nay với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, thế giới đã có không ít bước nhảy vọt về nhiều mặt, đưa văn minh nhân loại ngày càng trở nên tân tiến. Trong những năm gần đây, cùng với sự đi lên của toàn cầu, nước ta cũng đạt được những thành tựu nhất định về khoa học kĩ thuật ở các ngành như du lịch, dịch vụ, xuất khẩu,...Nhưng bên cạnh những thành tựu đó, chúng ta cũng có rất nhiều vấn đề cần được quan tâm và có những hành động để giảm thiểu tối đa như tệ nạn xã hội, thất nghiệp, lạm phát,...Có quá nhiều vấn nạn trong xã hội ngày nay cần được giải quyết nhưng có lẽ vấn đề gây nhức nhối và được quan tâm hàng đầu hiện nay chính là thất nghiệp. Thất nghiệp – một trong những vấn đề kinh niên của nền kinh tế. Bất kì quốc gia nào dù phát triển đến đâu cũng vẫn tồn tại thất nghiệp, chỉ là vấn đề thất nghiệp ở mức thấp hay cao mà thôi. Nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây gặp không ít khó khăn và chịu tác động của nền kinh tế toàn cầu đã khiến tỉ lệ thất nghiệp ở nước ta ngày càng gia tăng. Thất nghiệp dẫn đến nhiều vấn đề cho xã hội như : gia tăng tệ nạn xã hội, sự phân biệt giàu nghèo, sụt giảm nền kinh tế,...Tuy Việt Nam đã có những bước chuyển biến đáng kể trong nền kinh tế nhưng vấn đề giải quyết và tạo việc làm cho người lao động vẫn đang còn là vấn đề nan giải của xã hội hiện nay. Với đề tài này, em hi vọng có thể tìm hiểu sâu hơn về vấn đề thất nghiệp cũng như các biện pháp giảm thiểu thất nghiệp của nước ta để có những kiến thức và hiểu biết chính xác nhất cho vấn đề này. 2. Câu hỏi nghiên cứu Thất nghiệp là gì? Ở Việt Nam, thực trạng thất nghiệp diễn ra như thế nào? Và trước thực trạng như vậy, giải pháp nào có thể đưa ra để giảm thiểu thực trạng thất nghiệp tại nước ta? 3. Tổng quan nghiên cứu Nghề nghiệp – việc làm là vấn đề được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu trước hết không chỉ bởi nó là vấn đề quan trọng và cấp thiết đối với các tầng lớp nhân dân lao động đặc biệt là tầng lớp sinh viên mà đó còn là vấn đề chiến lược trong chương trình phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu lớn nhỏ được thực hiện và đăng tải kết quả dưới dạng các bài báo hay các sách chuyên khảo. Do khuôn khổ thời gian nên em chỉ xin đề cập đến một số tài liệu mà mình đã đọc và tìm hiểu được. 4. Phương pháp nghiên cứu Chủ yếu sử dụng phương pháp lý luận kết hợp với phương pháp thu thập thông tin và phân tích tài liệu. B. Phần nội dung Theo Văn Công (2017) mỗi nước đều có những căn bệnh vĩ mô chưa khi nào giải quyết được một cách triệt để như thất nghiệp, lạm phát, năng suất lao động tăng chậm, cán cân thanh toán thâm hụt triền miên v.v. Trong đó căn bệnh được coi là phổ biến và nan giải, đó là thất nghiệp mà cụ thể là ta sẽ đi nghiên cứu và tìm hiểu vấn đề thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay. Ở chương đầu tiên chúng ta sẽ nghiên cứu về các khái niệm, những nội dung lý luận liên quan đến thất nghiệp. Và phân tích thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay, đồng thời đưa ra các giải pháp cho thực trạng này thông qua lần lượt hai chương là chương II và chương III. Chương I: Khái quát lý luận về thất nghiệp 1. Khái niệm, thước đo và tác động Để thuận lợi cho việc nghiên cứu về thất nghiệp, việc cần làm trước tiên là làm rõ các khái niệm có liên quan. Theo tác giả J.L, Những người trong độ tuổi lao động là những người ở độ tuổi có nghĩa vụ và quyền lợi lao động theo quy định của pháp luật. Lực lượng lao động là số người trong độ tuổi lao động đang có việc làm hoặc chưa có việc làm nhưng đang tìm kiếm việc làm. Người có việc làm là những người đang làm việc trong các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. Người thất nghiệp là người hiện đang chưa có việc làm nhưng mong muốn và đang tìm kiếm việc làm.Ngoài những người có việc làm và thất nghiệp còn có những người về hưu, người đang đi học, người nội trợ gia đình, người không có khả năng lao động, một số người không muốn tìm việc làm với các lý do khác nhau. (J.L, 2021) Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ phần trăm giữa số người thất nghiệp so với tổng số người trong lực lượng lao động. Đây là chỉ tiêu phản ánh khái quát tình trạng thất nghiệp ở một quốc gia. Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên là tỷ lệ thất nghiệp mà tại đó thị trường lao động cân bằng. Ngoài ra cũng cần phân biệt thất nghiệp trật tự, thất nghiệp trá hình, bán thất nghiệp. Những khái niệm trên đều ít nhiều phản ánh tình trạng thất nghiệp và lao động trong một quốc gia. Tuy vậy, thước đo về tình trạng thất nghiệp cũng còn có những thiếu sót. Thứ nhất, khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp cao, tìm việc làm khó khăn, có người do không tìm được việc trong thời gian dài nên có thể lâm vào trạng thái tuyệt vọng và không tiếp tục đăng ký xin việc, số thống kê thường bỏ qua những người này. Thứ hai, khi có tình trạng thất nghiệp nặng nề, một số người có việc làm đầy đủ trở thành có việc từng phần. Mặc dù có việc làm, thực tế những người này chỉ là có việc làm từng phần. Nhưng số liệu thống kê vẫn đánh gia họ có việc làm 100%. Thứ ba, trong thước đo không phân biệt được tình hình người lao động có trình độ cao do thất nghiệp phải làm những công việc giản đơn như giáo sư, tiến sĩ đi đạp xích lô, hớt tóc,… Thứ tư, người làm nghề tự do, ví dụ: người buôn bán nhỏ thu nhập thấp, sống lay lắt. Những người này thuộc khu vực không chính thức của nền kinh tế (gọi là kinh tế “vỉa hè”) nhưng chiếm tỷ lệ khá lớn cũng không được coi là có việc làm. Thứ năm, ảnh hưởng của thất nghiệp đến phúc lợi xã hội. Nguyễn Văn Dương (2021) đã chỉ ra người thất nghiệp, tỷ lệ thất nghiệp không đo được chính xác mức độ nghèo khổ của thất nghiệp đối với từng đối tượng cụ thể. Ví dụ: một chủ gia đình khi thất nghiệp khác nhiều so với một chàng sinh viên tốt nghiệp đại học nhưng không kiếm được việc làm. Thất nghiệp có tác động rất lớn đến cả cá nhân người bị thất nghiệp lẫn xã hội. Với bản thân người thất nghiệp, khi không có việc làm, thu nhập của họ giảm sút, kỹ năng chuyên môn bị xói mòn, niềm tin đối với cuộc sống suy giảm và tâm trạng u uất. Với xã hội, tình trạng thất nghiệp cũng là một chi phí mà xã hội phải i gánh chịu. Thất nghiệp càng nhiều, giá phải trả càng lớn. Những khoản chi phí do tình trạng thất nghiệp gây ra có thể kể đến như : Chính phủ phải có khoản chi về trợ cấp thất nghiệp, khoản thu từ thuế thu nhập cho ngân sách giảm sút, nguồn lực lãng phí, sản lượng sút kém. Ngoài ra, thất nghiệp làm cho các tệ nạn xã hội gia tăng (cờ bạc, trộm cướp, mại dâm…) gây tổn thương về mặt tâm lý và niềm tin của nhiều người. Để tìm ra các giải pháp cho tình trạng thất nghiệp, người ta thường phân loại (hoặc đánh giá cơ cấu) của thất nghiệp. 2. Phân loại thất nghiệp Theo các tác giả trong bài nghiên cứu “Thất nghiệp ở Việt Nam thực trạng nguyên nhân và giải pháp”, Thất nghiệp có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau như: theo giới tính, theo lứa tuổi, theo vùng lãnh thổ, theo nghề chuyên môn hoặc theo lý do thất nghiệp (bỏ việc, mất việc, quay lại làm việc), theo tình hình phát triển kinh tế, thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường và thất nghiệp do tự nguyện. Trong các cách phân loại trên thất nghiệp theo tình trạng phát triển kinh tế, thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường và thất nghiệp do sự tự nguyện được xem xét kỹ hơn. (Duy et al., 2013) Ngọc Nguyễn (2021) chỉ ra rằng, thất nghiệp theo tình hình phát triển kinh tế hay thất nghiệp phân theo nguyên nhân hay nguồn gốc của nó. Đây là loại thất nghiệp căn cứ vào nguồn gốc thất nghiệp. Nó bao gồm thất nghiệp tạm thời (thất nghiệp luân phiên, cọ sát), thất nghiệp cơ cấu và thất nghiệp chu kỳ. Thất nghiệp tạm thời xảy ra khi có một số người lao động không muốn làm công việc cũ đang trong thời gian tìm kiếm công việc mới hoặc nơi làm việc tốt hơn, kể cả những người mới bước vào thị trường lao động đang tìm việc hoặc đã tìm được việc nhưng trong thời gian chờ đi làm. Mọi xã hội, mọi thời gian đều có loại thất nghiệp này. Thất nghiệp cơ cấu là thất nghiệp xảy ra khi có sự cân đối giữa cung và cầu về các loại lao động ở các ngành nghề khác nhau, mặc dù trong thị trường lao động tổng thể, cung, cầu vẫn có khả năng cân đối. Loại thất nghiệp này gắn liền với sự biến động cơ cấu kinh tế và khả năng điều chỉnh cung của thị trường lao động. Thất nghiệp cơ cấu sinh ra do sự không tương hợp giữa người đi tìm việc với bản thân công việc. Cụ thể như không tương hợp về kỹ năng (thiếu người sử dụng máy vi tính, thừa lái xe ô tô con), không tương hợp về địa điểm (kỹ sư lâm nghiệp ở Hà Nội nhiều hơn ở Lào Cai). Loại này còn bao gồm cả thất nghiệp có tính thời vụ. Thất nghiệp chu kỳ (còn gọi là thất nghiệp do thiếu cầu) xảy ra khi mức cầu chung về lao động giảm sút. Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường là thất nghiệp xảy ra khi tiền lương được ấn định không phải bởi các lực lượng thi trường và cao hơn mức lương thực tế cân bằng của thị trường lao động. Loại này do yếu tố chính trị, xã hội tác động. Thất nghiệp phân theo mức độ tự nguyện của người lao động bao gồm: thất nghiệp tự nguyện và thất nghiệp không tự nguyện. Thất nghiệp tự nguyện là một bộ phận người lao động không làm việc do việc làm và mức lương không phù hợp với mong muốn của họ. Loại này ứng với thất nghiệp tự nhiên. Thất nghiệp không tự nguyện là bộ phận người không có việc làm mặc dù đã chấp nhận làm việc với mức lương hiện hành. Loại này ứng với thất nghiệp chu kỳ. Theo nghiên cứu của Bá Ngọc (2007) phân loại thất nghiệp theo sự tự nguyện là cơ sở để xây dựng hai đường cung về lao động trong mô hình về thị trường lao động. DL : đường cầu về lao động. SL : đường cung về lao động thể hiện số người muốn và chấp nhận làm việc ở mỗi mức lương thực tế hiện hành. S’L : đường cung về lao động thể hiện số người mong muốn làm việc ở mỗi mức lương thực tế (bao gồm cả số người thất nghiệp tự nguyện tại mỗi mức lương). Đường này biểu thị số người tham gia vào lực lượng lao động ở mỗi mức lương (thực tế). Tại WP: cung bằng cầu về lao động đồng thời số người thất nghiệp không tự nguyện bằng 0. Tại W1P: AB: số người thất nghiệp không tự nguyện. BC: số người thất nghiệp tự nguyện.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
BÀI TIỂU LUẬN NHẬP MÔN NĂNG LỰC THÔNG TIN TÊN ĐỀ TÀI: THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY :
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Trang 2Hà Nội, 2021
MỤC LỤC
A Phần mở đầu 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Câu hỏi nghiên cứu 3
3 Tổng quan nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
B Phần nội dung 4
Chương I: Khái quát lý luận về thất nghiệp 4
1 Khái niệm, thước đo và tác động 4
2 Phân loại thất nghiệp 6
3 Quy mô thất nghiệp 8
Chương II: Phân tích thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay 9
1 Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay 9
2 Cơ cấu dân số của những người thất nghiệp 11
3 Nguyên nhân của thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay 13
Chương III: Giải pháp cho thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay 15
C Kết luận 16
DANH MỤC BẢNG BIỂU 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 3A Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, thế giới đã có không
ít bước nhảy vọt về nhiều mặt, đưa văn minh nhân loại ngày càngtrở nên tân tiến Trong những năm gần đây, cùng với sự đi lên củatoàn cầu, nước ta cũng đạt được những thành tựu nhất định về khoahọc kĩ thuật ở các ngành như du lịch, dịch vụ, xuất khẩu, Nhưngbên cạnh những thành tựu đó, chúng ta cũng có rất nhiều vấn đềcần được quan tâm và có những hành động để giảm thiểu tối đa như
tệ nạn xã hội, thất nghiệp, lạm phát, Có quá nhiều vấn nạn trong
xã hội ngày nay cần được giải quyết nhưng có lẽ vấn đề gây nhứcnhối và được quan tâm hàng đầu hiện nay chính là thất nghiệp
Thất nghiệp – một trong những vấn đề kinh niên của nền kinh tế Bất
kì quốc gia nào dù phát triển đến đâu cũng vẫn tồn tại thất nghiệp,chỉ là vấn đề thất nghiệp ở mức thấp hay cao mà thôi Nền kinh tếViệt Nam trong những năm gần đây gặp không ít khó khăn và chịutác động của nền kinh tế toàn cầu đã khiến tỉ lệ thất nghiệp ở nước
Trang 4như : gia tăng tệ nạn xã hội, sự phân biệt giàu nghèo, sụt giảm nềnkinh tế, Tuy Việt Nam đã có những bước chuyển biến đáng kể trongnền kinh tế nhưng vấn đề giải quyết và tạo việc làm cho người laođộng vẫn đang còn là vấn đề nan giải của xã hội hiện nay.
Với đề tài này, em hi vọng có thể tìm hiểu sâu hơn về vấn đề thấtnghiệp cũng như các biện pháp giảm thiểu thất nghiệp của nước ta
để có những kiến thức và hiểu biết chính xác nhất cho vấn đề này
2 Câu hỏi nghiên cứu
Thất nghiệp là gì? Ở Việt Nam, thực trạng thất nghiệp diễn ra nhưthế nào?
Và trước thực trạng như vậy, giải pháp nào có thể đưa ra để giảmthiểu thực trạng thất nghiệp tại nước ta?
3 Tổng quan nghiên cứu
Nghề nghiệp – việc làm là vấn đề được nhiều ngành khoa học quantâm nghiên cứu trước hết không chỉ bởi nó là vấn đề quan trọng vàcấp thiết đối với các tầng lớp nhân dân lao động đặc biệt là tầng lớpsinh viên mà đó còn là vấn đề chiến lược trong chương trình pháttriển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Đã có khá nhiều các côngtrình nghiên cứu lớn nhỏ được thực hiện và đăng tải kết quả dướidạng các bài báo hay các sách chuyên khảo Do khuôn khổ thời giannên em chỉ xin đề cập đến một số tài liệu mà mình đã đọc và tìmhiểu được
4 Phương pháp nghiên cứu
Chủ yếu sử dụng phương pháp lý luận kết hợp với phương pháp thuthập thông tin và phân tích tài liệu
Trang 5B Phần nội dung
Theo Văn Công (2017) mỗi nước đều có những căn bệnh vĩ môchưa khi nào giải quyết được một cách triệt để như thất nghiệp, lạmphát, năng suất lao động tăng chậm, cán cân thanh toán thâm hụttriền miên v.v Trong đó căn bệnh được coi là phổ biến và nan giải,
đó là thất nghiệp mà cụ thể là ta sẽ đi nghiên cứu và tìm hiểu vấn đềthất nghiệp ở Việt Nam hiện nay Ở chương đầu tiên chúng ta sẽnghiên cứu về các khái niệm, những nội dung lý luận liên quan đếnthất nghiệp Và phân tích thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam hiệnnay, đồng thời đưa ra các giải pháp cho thực trạng này thông qualần lượt hai chương là chương II và chương III
Chương I: Khái quát lý luận về thất nghiệp
1 Khái niệm, thước đo và tác động
Để thuận lợi cho việc nghiên cứu về thất nghiệp, việc cần làm trước tiên là làm rõ các khái niệm có liên quan
Theo tác giả J.L, Những người trong độ tuổi lao động là những người ở độ tuổi có nghĩa vụ và quyền lợi lao động theo quy định của pháp luật Lực lượng lao động là số người trong độ tuổi lao động đang có việc làm hoặc chưa có việc làm nhưng đang tìm kiếm việc làm Người có việc làm là những người đang làm việc trong các cơ sởkinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước Người thất nghiệp là người hiện đang chưa có việc làm nhưng mong muốn và đang tìm kiếm việc làm.Ngoài những người có việc làm và thất nghiệp còn có
những người về hưu, người đang đi học, người nội trợ gia đình, ngườikhông có khả năng lao động, một số người không muốn tìm việc làmvới các lý do khác nhau (J.L, 2021)
Trang 6khái quát tình trạng thất nghiệp ở một quốc gia Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên là tỷ lệ thất nghiệp mà tại đó thị trường lao động cân bằng Ngoài ra cũng cần phân biệt thất nghiệp trật tự, thất nghiệp trá hình,bán thất nghiệp.
Những khái niệm trên đều ít nhiều phản ánh tình trạng thấtnghiệp và lao động trong một quốc gia Tuy vậy, thước đo về tìnhtrạng thất nghiệp cũng còn có những thiếu sót
Thứ nhất, khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp cao, tìmviệc làm khó khăn, có người do không tìm được việc trong thời giandài nên có thể lâm vào trạng thái tuyệt vọng và không tiếp tục đăng
ký xin việc, số thống kê thường bỏ qua những người này
Thứ hai, khi có tình trạng thất nghiệp nặng nề, một số người cóviệc làm đầy đủ trở thành có việc từng phần Mặc dù có việc làm,thực tế những người này chỉ là có việc làm từng phần Nhưng số liệuthống kê vẫn đánh gia họ có việc làm 100%
Thứ ba, trong thước đo không phân biệt được tình hình người laođộng có trình độ cao do thất nghiệp phải làm những công việc giảnđơn như giáo sư, tiến sĩ đi đạp xích lô, hớt tóc,…
Thứ tư, người làm nghề tự do, ví dụ: người buôn bán nhỏ thunhập thấp, sống lay lắt Những người này thuộc khu vực không chínhthức của nền kinh tế (gọi là kinh tế “vỉa hè”) nhưng chiếm tỷ lệ khálớn cũng không được coi là có việc làm
Thứ năm, ảnh hưởng của thất nghiệp đến phúc lợi xã hội
Nguyễn Văn Dương (2021) đã chỉ ra người thất nghiệp, tỷ lệ thấtnghiệp không đo được chính xác mức độ nghèo khổ của thất nghiệpđối với từng đối tượng cụ thể Ví dụ: một chủ gia đình khi thất nghiệpkhác nhiều so với một chàng sinh viên tốt nghiệp đại học nhưngkhông kiếm được việc làm Thất nghiệp có tác động rất lớn đến cả cánhân người bị thất nghiệp lẫn xã hội
Trang 7Với bản thân người thất nghiệp, khi không có việc làm, thu nhậpcủa họ giảm sút, kỹ năng chuyên môn bị xói mòn, niềm tin đối vớicuộc sống suy giảm và tâm trạng u uất.
Với xã hội, tình trạng thất nghiệp cũng là một chi phí mà xã hộiphải i gánh chịu Thất nghiệp càng nhiều, giá phải trả càng lớn.Những khoản chi phí do tình trạng thất nghiệp gây ra có thể kể đếnnhư : Chính phủ phải có khoản chi về trợ cấp thất nghiệp, khoản thu
từ thuế thu nhập cho ngân sách giảm sút, nguồn lực lãng phí, sảnlượng sút kém Ngoài ra, thất nghiệp làm cho các tệ nạn xã hội giatăng (cờ bạc, trộm cướp, mại dâm…) gây tổn thương về mặt tâm lý
và niềm tin của nhiều người
Để tìm ra các giải pháp cho tình trạng thất nghiệp, người tathường phân loại (hoặc đánh giá cơ cấu) của thất nghiệp
2 Phân loại thất nghiệp
Theo các tác giả trong bài nghiên cứu “Thất nghiệp ở Việt Namthực trạng nguyên nhân và giải pháp”, Thất nghiệp có thể đượcphân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau như: theo giới tính, theo lứatuổi, theo vùng lãnh thổ, theo nghề chuyên môn hoặc theo lý do thấtnghiệp (bỏ việc, mất việc, quay lại làm việc), theo tình hình pháttriển kinh tế, thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường và thất nghiệp
do tự nguyện Trong các cách phân loại trên thất nghiệp theo tìnhtrạng phát triển kinh tế, thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường vàthất nghiệp do sự tự nguyện được xem xét kỹ hơn (Duy et al., 2013) Ngọc Nguyễn (2021) chỉ ra rằng, thất nghiệp theo tình hình pháttriển kinh tế hay thất nghiệp phân theo nguyên nhân hay nguồn gốccủa nó Đây là loại thất nghiệp căn cứ vào nguồn gốc thất nghiệp
Nó bao gồm thất nghiệp tạm thời (thất nghiệp luân phiên, cọ sát),thất nghiệp cơ cấu và thất nghiệp chu kỳ
Trang 8Thất nghiệp tạm thời xảy ra khi có một số người lao động khôngmuốn làm công việc cũ đang trong thời gian tìm kiếm công việc mớihoặc nơi làm việc tốt hơn, kể cả những người mới bước vào thịtrường lao động đang tìm việc hoặc đã tìm được việc nhưng trongthời gian chờ đi làm Mọi xã hội, mọi thời gian đều có loại thấtnghiệp này.
Thất nghiệp cơ cấu là thất nghiệp xảy ra khi có sự cân đối giữacung và cầu về các loại lao động ở các ngành nghề khác nhau, mặc
dù trong thị trường lao động tổng thể, cung, cầu vẫn có khả năngcân đối Loại thất nghiệp này gắn liền với sự biến động cơ cấu kinh
tế và khả năng điều chỉnh cung của thị trường lao động Thất nghiệp
cơ cấu sinh ra do sự không tương hợp giữa người đi tìm việc với bảnthân công việc Cụ thể như không tương hợp về kỹ năng (thiếu người
sử dụng máy vi tính, thừa lái xe ô tô con), không tương hợp về địađiểm (kỹ sư lâm nghiệp ở Hà Nội nhiều hơn ở Lào Cai) Loại này cònbao gồm cả thất nghiệp có tính thời vụ
Thất nghiệp chu kỳ (còn gọi là thất nghiệp do thiếu cầu) xảy rakhi mức cầu chung về lao động giảm sút
Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường là thất nghiệp xảy ra khitiền lương được ấn định không phải bởi các lực lượng thi trường vàcao hơn mức lương thực tế cân bằng của thị trường lao động Loạinày do yếu tố chính trị, xã hội tác động
Thất nghiệp phân theo mức độ tự nguyện của người lao độngbao gồm: thất nghiệp tự nguyện và thất nghiệp không tự nguyện.Thất nghiệp tự nguyện là một bộ phận người lao động không làmviệc do việc làm và mức lương không phù hợp với mong muốn của
họ Loại này ứng với thất nghiệp tự nhiên Thất nghiệp không tựnguyện là bộ phận người không có việc làm mặc dù đã chấp nhậnlàm việc với mức lương hiện hành Loại này ứng với thất nghiệp chukỳ
Trang 9Theo nghiên cứu của Bá Ngọc (2007) phân loại thất nghiệp theo sự
tự nguyện là cơ sở để xây dựng hai đường cung về lao động trong
mô hình về thị trường lao động
DL : đường cầu về lao động
SL : đường cung về lao động thể hiện số người muốn và chấp nhận làm việc ở mỗi mức lương thực tế hiện hành
S’L : đường cung về lao động thể hiện số người mong muốn làm việc ở mỗi mức lương thực tế (bao gồm cả số người thất nghiệp tự nguyện tại mỗi mức lương) Đường này biểu thị số người tham gia vào lực lượng lao động ở mỗi mức lương (thực tế)
Tại W*/P: cung bằng cầu về lao động đồng thời số người thất nghiệp không tự nguyện bằng 0
Tại W1/P: AB: số người thất nghiệp không tự nguyện
BC: số người thất nghiệp tự nguyện
3 Quy mô thất nghiệp
Quy mô thất nghiệp được thể hiện ở số lượng người thất nghiệp tại một thời điểm nào đó Quy mô thất nghiệp chịu tác động bởi số người mới bị mất việc và số người thất nghiệp mới tìm được việc làm
D L E
Số lượng Lao động
Trang 10Đánh giá quy mô thất nghiệp người ta còn căn cứ vào thời gian thất nghiệp trung bình Thời gian thất nghiệp trung bình là độ dài bình quân về thời gian thất nghiệp trong một thời kỳ nhất định.
Ví dụ: Có 8 người thất nghiệp trong đó 3 người thất nghiệp 12 tháng
1 Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Xét trên tổng thể thị trường lao động, tình trạng dư cung vẫncòn phổ biến Những năm trước đây, tỷ lệ lao động qua học nghề,nhất ỉà đào tạo nghề chính quy còn thấp dẫn đến chất lượng laođộng không đảm bảo, không đáp ứng được yêu cầu công việc Trongnhững năm gần đây, mặc dù tình trạng học vấn của lao động khôngngừng được cải thiện, hệ thống văn bằng được nâng cao và mở rộngnhưng tình trạng thất nghiệp vẫn tiếp tục gia tăng Đề tài “Sinh viên:Tốt nghiệp và thất nghiệp” chỉ ra, lượng sinh viên tốt nghiệp từ cáctrường đại học,cao đẳng chính quy trong cả nước không cỏ việc làmngày càng nhiều, một bộ phận sau khi tốt nghiệp đại học trở đảmnhận các công việc không cần bằng cấp, hiện tượng sinh viên saukhi tốt nghiệp làm công nhân, hoặc làm các công việc không cầnđến trình độ đại học đang dần không còn xa lạ (Đoàn, Nguyễn, &Nguyễn, 2014)
Ở Việt Nam, khái niệm thất nghiệp được hiểu là những ngườikhông có việc làm, có các hoạt động tìm kiếm việc làm và sẵn sànglàm việc ngay khi có cơ hội việc làm trong giai đoạn tham chiếu
Trang 11Tác giả Anh Hoàng nhận định “Việt Nam là một trong nhữngnước đang phát triển, chủ yếu vẫn là nguồn lao động thủ công, khicuộc cách mạng công nghiệp 4.0 thật sự diễn ra thì nguồn nhân lựccủa Việt Nam sẽ bị đào thải và thất nghiệp, robot và công nghệ hiệnđại sẽ thống lĩnh thị trường lao động Nếu không nhanh chóng thayđổi, trong tương lai gần chúng ta chắc chắn sẽ trở thành “nô lệ” củarobot” (Anh Hoàng, 2018)
Đổi mới kinh tế và chính trị trong 30 năm qua đã thúc đẩy pháttriển kinh tế và nhanh chóng đưa Việt Nam từ một trong những quốcgia nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia có thu nhập trungbình thấp từ năm 2008 Mặc dù vậy, nghiên cứu của Lê Thị ThảoNguyên (2017) chỉ ra rằng hệ thống bảo hiểm thất nghiệp nói riêng và
hệ thống an sinh xã hội nói chung tại Việt Nam vẫn chưa hoàn thiện
để phục vụ tốt người lao động, do đó đa số người dân phải làm mọicông việc để tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình Đâycũng chính là nguyên nhân khiến cho tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Namthường thấp hơn so với các nước đang phát triển
Bài báo của Thu Hiền (2020) chỉ ra từ kết quả TĐTDS&NO 2019, tỷ
lệ thất nghiệp của dân số từ 15 tuổi trở lên của Việt Nam là 2,05%;trong đó theo giới tính thì tỷ lệ thất nghiệp của nam giới từ 15 tuổitrở lên là 2,00%, còn ở nữ giới là 2,11% Bên cạnh đó, Kết quảTĐTDS&NO 2019 của Tổng cục Thống kê đã cho thấy, tỷ lệ thấtnghiệp của người dân ở khu vực thành thị và nông thôn cũng có sựkhác biệt khá lớn Việt Nam có tới 65,57% dân số cư trú ở khu vựcnông thôn nhưng tỷ lệ thất nghiệp của khu vực nông thôn lại thấphơn gần hai lần so với khu vực thành thị Tỷ lệ thất nghiệp chungcủa người dân từ 15 tuổi trở lên ở nông thôn chỉ có 1,64% (trong đó
ở nam giới là 1,59%, ở nữ giới là 1,69%); trong khi đó ở thành thị, tỷ
lệ này lên tới 2,93% (trong đó ở nam giới là 2,86%, còn ở nữ giới là
Trang 12độ chuyên môn kỹ thuật và khả năng lựa chọn công việc linh hoạtcủa người lao động có thể là nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệchnày.
Tính theo vùng kinh tế, Đông Nam Bộ là vùng có tỷ lệ lao động
từ 15 tuổi trở lên thất nghiệp cao nhất cả nước với 2,65% dân số; tạiđây tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị là 2,96%, ở nông thôn là 2,14%;còn theo giới tính thì nữ giới lại có tỷ lệ thất nghiệp cao hơn nam giớitrong Vùng với mức tương ứng là 2,71% và 2,60% Đứng thứ 2 làĐồng bằng sông Cửu Long với tỷ lệ thất nghiệp chiếm 2,42% số dântrong vùng, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung với tỷ lệ 2,14%
2 Vùng kinh tế có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất cả nước lần lượt làTrung du và miền núi phía Bắc 1,20% và Tây Nguyên 1,50%
Nhìn vào biểu đồ 1, ta thấy tỷ lệ thất nghiệp cao nhất thuộc vềnhóm lao động có trình độ cao đẳng (3,19%), tiếp đến là nhóm cótrình độ đại học (2,61%) Nhóm có tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn lại lànhững lao động trình độ thấp hơn như trung cấp (1,83%), sơ cấp(1,3%) và không có trình độ chuyên môn kỹ thuật (1,99%) Riêng đốivới nhóm có trình độ trên đại học, do nhu cầu cao về trình độchuyên môn trong thời kỳ đổi mới nên có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất(chỉ 1,06%) Các số liệu cũng cho thấy, hầu như ở các trình độchuyên môn kỹ thuật tỷ lệ thất nghiệp ở nữ giới luôn cao hơn so vớinam giới, đặc biệt đối với nhóm lao động có trình độ sơ cấp (có tỷ lệ4,57%)
2 Cơ cấu dân số của những người thất nghiệp
Theo Kết quả TĐTDS&NO 2019, những người thất nghiệp thường
có độ tuổi khá trẻ Hầu hết nguồn thất nghiệp có độ tuổi từ 15-54tuổi (chiếm tới 91,7% tổng số người thất nghiệp của cả nước) màtrong đó: tỷ lệ thất nghiệp của nam giới từ 15-54 tuổi cao hơn nữgiới trong cùng độ tuổi, tương ứng là 92,6% tổng số nam giới thấtnghiệp và 90,9% tổng số nữ giới thất nghiệp Người trong độ tuổi từ