1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

THỰC HÀNH CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG HỆ THỐNG SẢN XUẤT GỐM SỨ TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH LUẬN VĂN THẠC SỸ

103 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 895,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành được cuốn luận văn với đề tài "Thực hành chính sách công nghệ để phát triển bền vững hệ thống sản xuất gốm sứ trên địa bàn thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh", b

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐÀO VĂN THẮNG

THỰC HÀNH CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ ĐỂ

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG HỆ THỐNG SẢN XUẤT GỐM SỨ TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 11

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ ĐỂ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT GỐM SỨ BỀN VỮNG 11

1.1 Những khái niệm cơ bản về chính sách và chính sách công nghệ 11

1.1.1 Khái niệm về chính sách 11

1.1.2 Khái niệm về chính sách công nghệ 15

1.2 Khái niệm về phát triển bền vững 20

1.2.1 Quan niệm về phát triển bền vững 20

1.2.2 Quan điểm về phát triển bền vững ở Việt Nam và tỉnh Quảng Ninh 24

1.3 Chính sách công nghệ và sự phát triển bền vững hệ thống sản xuất gốm sứ 27

1.3.1 Mối quan hệ giữa công nghệ và phát triển bền vững hệ thống sản xuất gốm sứ 27

1.3.2 Các chính sách công nghệ với sự phát triển bền vững hệ thống sản xuất gốm sứ 29

Tiểu kết Chương 1 34

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HÀNH CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ VÀ THỰC HÀNH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG HỆ THỐNG SẢN XUẤT GỐM SỨ TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH 35

2.1 Khái quát tình hình phát triển hệ thống sản xuất gốm sứ trên địa bàn thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh 35

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển hệ thống sản xuất gốm sứ Đông Triều, Quảng Ninh 35

Trang 3

2.1.2 Vai trò của hệ thống sản xuất gốm sứ trong phát triển kinh tế

- xã hội trên địa bàn thị xã Đông Triều 37

2.1.3 Đặc điểm của hệ thống sản xuất gốm sứ trên địa bàn thị xã Đông Triều 38

2.2 Các nhân tố tác động đến phát triển bền vững hệ thống sản xuất gốm sứ trên địa bàn thị xã Đông Triều, Quảng Ninh 39

2.2.1 Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên 39

2.2.2 Tài nguyên khoáng sản 41

2.2.3 Nhóm nhân tố về dân số và nguồn nhân lực 41

2.2.4 Nhóm nhân tố về thể chế chính sách phát triển bền vững 42

2.3 Các chính sách công nghệ được ban hành về công nghệ sản xuất gốm sứ trên địa bàn thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh (NN, Tỉnh, Sở, Thị xã) 43

2.3.1 Chính sách thuế 44

2.3.2 Chính sách tài chính - tín dụng 46

2.3.3 Chính sách công nghiệp 48

2.3.4 Chính sách thương mại 49

2.3.5 Chính sách đầu tư 51

2.4 Hiện trạng thi hành chính sách công nghệ trong hệ thống sản xuất gốm sứ trên địa bàn thị xã Đông Triều, Tỉnh Quảng Ninh 53

2.4.1 Những thành tựu đạt được trong quá trình thực hành chính sách công nghệ vào hệ thống sản xuất gốm sứ trên địa bàn thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh 59

2.4.2 Những hạn chế, tồn tại trong thực hành chính sách công nghệ vào hệ thống sản xuất gốm sứ trên địa bàn thị xã Đông Triều 65

Tiểu kết Chương 2 69

Trang 4

CHƯƠNG 3 ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG HỆ THỐNG SẢN XUẤT GỐM SỨ

TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, QUẢNG NINH 70

3.1 Những tiềm năng, cơ hội trong phát triển làng nghề thị xã Đông Triều 70

3.1.1 Tiềm năng về dân số và lao động 70

3.1.2 Tiềm năng từ các giá trị văn hoá truyền thống 70

3.1.3 Tiềm năng về thị trường 71

3.2 Các giải pháp điều chỉnh chính sách để phát triển bền vững hệ thống sản xuất gốm sứ trên địa bàn thị xã Đông Triều 71

3.2.1 Triển khai các chiến lược, quy hoạch của tỉnh và thị xã Đông Triều 72

3.2.2 Điều chỉnh các chính sách công nghệ để phát triển bền vững hệ thống sản xuất gốm sứ 73

Tiểu kết Chương 3 88

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90

1 Kết luận 90

2 Khuyến nghị 90

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được cuốn luận văn với đề tài "Thực hành chính sách công nghệ để phát triển bền vững hệ thống sản xuất gốm sứ trên địa bàn thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh", bên cạnh những nổ lực của bản thân,

vận dụng những kiến thức tiếp thu được từ việc giảng dạy của các thầy cô, cùng với sự tìm hiểu thêm về tài liệu, thông tin có liên quan đến đề tài, tác giả luôn nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của các thầy cô, những lời động viên khuyến khích từ phía gia đình, bạn bè, đồng nghiệp luôn theo suốt trong quá trình thực hiện luận văn

Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến Quý Thầy/Cô trong Khoa Khoa học quản lý, Trường Đại học KHXH&NV Hà Nội, đặc biệt xin chân thành cảm ơn PGS.TS Phạm Xuân Hằng người đã hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn này Tác giả cũng xin cảm ơn các bạn và đồng nghiệp đã cung cấp tài liệu, thông tin để tác giả có thêm kiến thức hữu ích cho luận văn của mình

Nhưng do đề tài nghiên cứu với thời gian hạn hẹp và khả năng còn hạn chế, nên không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, tác giả rất mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy cô, các bạn và các đồng nghiệp để kiến thức của tác giả trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn

Hà Nội, tháng 12 năm 2016

Người thực hiện

Đào Văn Thắng

Trang 6

DNNN : Doanh nghiệp nhà nước

DNTN : Doanh nghiệp tư nhân

ĐMCN : Đổi mới công nghệ

ESCAP : Uỷ ban KT&XH

khu vực châu Á-Thái Bình Dương GTGT : Giá trị gia tăng

KH&CN : Khoa học và công nghệ

LN : Làng nghề

NC&TK : Nghiên cứu và triển khai

OECD : Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế PTBV : Phát triển bền vững

QLCN : Quản lý công nghệ

SXKD : Sản xuất kinh doanh

TNDN : Thu nhập doanh nghiệp

TTCN : Thị trường công nghệ

UNESCO : Tổ chức giáo dục, khoa học

và văn hoá của Liên hiệp quốc XNK : Xuất nhập khẩu

WTO : Tổ chức thương mại thế giới

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG, BIỂU

Hình 1.1: Mô hình phát triển bền vững kiểu ba vòng tròn 22

Hình 1.2: Mô hình phát triển bền vững kiểu tam giác 22

Hình 1.3: Mô hình phát triển bền vững kiểu quả trứng 23

Bảng 2.1 Sự tăng trưởng về số lượng làng nghề thời kỳ 2005 – 2015 55

Bảng 2.2 Tổng hợp vốn đầu tư và kinh phí hỗ trợ cho làng nghề - TTCN 59

Bảng 2.3 Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chủ yếu 62

Bảng 2.4 Hàng hóa xuất khẩu 62

Bảng 3.1 Dự báo dân số thị xã Đông Triều 70

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong giai đoạn hiện nay, phát triển bền vững đã thật sự trở thành nhân

tố có tính quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia

Sự phát triển bền vững trong các ngành kinh tế đã trở thành yếu tố then chốt

để duy trì sức cạnh tranh của nền kinh tế Với hộ kinh doanh, khu vực doanh nghiệp công nghiệp, phát triển bền vững đã trở thành nhân tố đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa quyết định sự tăng trưởng và thành công mang tính chiến lược Bởi vậy, muốn thúc đẩy phát triển những đối tượng này, cần phải hiểu

rõ nội dung và các yếu tố có tác động tới quá trình này để đề ra chính sách và giải pháp thích hợp

Cùng với những thay đổi tích cực, nghề gốm sứ cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó có vấn đề phải bảo vệ môi trường theo hướng phát triển bền vững Hiện nay, các chất thải phát sinh từ nghề gốm sứ đang gây ô nhiễm môi trường, tác động trực tiếp tới sức khỏe con người Các kết quả quan trắc trong thời gian gần đây cho thấy mức độ ô nhiễm có xu hướng gia tăng, nhất là ô nhiễm bụi tại cơ sở sản xuất gốm, sứ, vật liệu xây dựng, khai thác đá, đồ gỗ mỹ nghệ và các làng nghề tái chế, nước thải có độ ô nhiễm hữu

cơ cao Công tác thu gom và xử lý chất thải rắn vẫn còn nhiều hạn chế, gây ảnh hưởng đến môi trường sống xung quanh Nhiều cơ sở sản xuất rơi vào tình cảnh khó khăn về điều kiện vay vốn Vốn thiếu, thị trường bấp bênh, bao

bì sản phẩm xấu, sản phẩm không tiếp cận được với thị trường, đặc biệt là tình trạng ô nhiễm môi trường đến mức báo động, gây bức xúc trong xã hội

Trong thời gian qua, Nhà nước đã ban hành và thực hiện những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tiến hành đổi mới công nghệ với không ít ưu đãi về

sử dụng đất, về thuế, về tín dụng Tuy nhiên, các chính sách này chưa phát huy tác dụng thực sự với doanh nghiệp do cơ quan quản lý KH&CN địa phương (là cấp sát nhất với doanh nghiệp và là nơi thống nhất giữa ban hành

Trang 9

và thực thi chính sách) thiếu các hành động triển khai chính sách đến các đối tượng Do đó, Doanh nghiệp vẫn chưa nắm bắt đầy đủ thông tin về các chính sách này, cũng như chưa tích cực hưởng ứng các cơ chế chính sách đó

Nghề gốm sứ Đông Triều có từ lâu đời nhưng đến năm 1945, nghề này mới được khôi phục phát triển trở lại Thời kỳ hưng thịnh nhất của làng gốm Đông Triều là vào những năm 60, 70 của thế kỷ trước; thời ấy một xóm nhỏ cũng có đến chục lò gốm sứ hoạt động Hưng thịnh nhất của làng nghề này là những năm 80, với hai hợp tác xã sứ Ánh Hồng và Đông Thành, chuyên sản xuất gốm sứ xuất khẩu sang Liên Xô (cũ) và Đông Âu Từ hai cơ sở này, Đông Triều đã hình thành nên 2 làng gốm sứ thủ công mỹ nghệ sầm uất với 9 doanh nghiệp và 70 hộ sản xuất, kinh doanh gốm sứ mỹ nghệ xuất khẩu, thu hút trên 1 nghìn lao động địa phương Để phục vụ cho việc phát triển gốm sứ, thời kỳ này, tại đây còn mở cả trường Mỹ thuật công nghiệp tại chức để đào tạo cho người làm nghề gốm sứ

Muốn thúc đẩy phát triển bền vững hệ thống sản xuất gốm sứ trên địa bàn thị xã Đông Triều cần phải tạo lập môi trường với các chính sách khuyến khích Doanh nghiệp chủ động tiến hành đổi mới, thấy rõ động cơ thúc đẩy và quyền lợi với trách nhiệm của họ Với những lý do trên, việc chọn đề tài

"Thực hành chính sách công nghệ để phát triển bền vững hệ thống sản

xuất gốm sứ trên địa bàn thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh" là sự cấp

bách, cần thiết

2 Tổng quan nghiên cứu

Các chính sách nói chung và chính sách công nghệ nói riêng đều đóng vai trò hết sức quan trọng và luôn được xác định giữ vai trò then chốt trong công cuộc đổi mới của nước ta, đặc biệt là trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Một nền công nghiệp phát triển luôn dựa trên một nền khoa học và công nghệ tiên tiến với các chính sách cụ thể và linh hoạt được Nhà nước đưa ra và ngược lại, công nghiệp phát triển sẽ tạo điều kiện cho

Trang 10

khoa học và công nghệ phát triển, tạo động lực cho các nhà hoạch định chính sách ngày càng đưa ra được những chính sách thiết thực và cụ thể… Chính vì vậy, khi nói đề cập đến vấn đề này thì cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước nói đến vấn đề chính sách công nghệ Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn này, tác giả xin điểm một số công trình mà

có liên quan gần nhất đến đề tài mà tác giả đang nghiên cứu cụ thể trên hai khía cạnh:

2.1 Các công trình nghiên cứu về chính sách công nghệ để phát triển bền vững

Có thể kể đến một số công trình sau:

Trần Ngọc Ca (2000), “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng

một số chính sách thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ và nghiên cứu triển khai trong các cơ sở sản xuất ở Việt Nam” đã đưa ra được những cơ sở lý

luận trong việc xây dựng các chính sách thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ nói chung và trong các cơ sở sản xuất nói riêng

Luận văn của tác giả Nguyễn Võ Hưng năm 2003 với đề tài “Nghiên

cứu cơ chế, chính sách khoa học công nghệ khuyến khích đổi mới công nghệ đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam có vốn Nhà nước” Trong

nghiên cứu này tác giả đã nghiên cứu những cơ chế, chính sách về khoa học công nghệ nói chung và chính sách khoa học công nghệ trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng; Phân tích thực trạng chính sách đổi mới công nghệ đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam có vốn nhà nước giai đoạn 1995 đến 2002 Trên cơ sở đó bài đề xuất khuyến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách khoa học và công nghệ trong công tác đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp này trong thời gian tới

Luận văn của tác giả Cao Thu Anh năm 2006, “Nghiên cứu đánh giá

những chính sách hỗ trợ về tài chính cho hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp theo Nghị định 119” nêu cơ sở lý luận về chính sách và chính

Trang 11

sách hỗ trợ tài chính Đưa ra những đánh giá thông qua việc chỉ ra những mặt đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại hạn chế trong các chính sách hỗ trợ tài chính đối với hoạt động đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp theo Nghị định 119 Trên cơ sở đó đưa ra một số khuyến nghị, đề xuất

Luận văn của tác giả Nguyễn Phúc Huy (2008) với đề tài “Xây dựng

chính sách công nghệ thúc đẩy việc ứng dụng nguồn năng lượng xanh trong

hệ thống chiếu sáng công cộng, khu dân cư vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu” Luận văn đã nghiên cứu việc ứng dụng nguồn năng lượng xanh

vào trong hệ thống chiếu sáng và khu vực vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu Theo đó cần phải “Xây dựng được chính sách thúc đẩy việc ứng dụng” trong các tổ chức và cá nhân với định chế về tài chính với: – Chế tài

về nguồn ngân sách theo kế hoạch hàng năm của các cơ quan công quyền sử dụng ngân sách nhà nước, có hệ thống kiểm soát năng lượng chặt chẽ đối với các đơn vị công quyền và các trung tâm dịch vụ đô thị ở các Thị xã và thành phố; Định chế về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu nguyên vật liệu và thành phẩm đối với các doanh nghiệp, cơ sở, tổ chức có thu; Hỗ trợ về tài chính và khuyến khích các cá nhân là hộ gia đình, khu vực dân cư trong việc tiết kiệm năng lượng và có kế hoạch thay đổi dần các nguồn năng lượng xanh thay thế cho các dạng năng lượng hoá thạch trong sinh hoạt hàng ngày

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kinh doanh và quản lý của tác giả

Nguyễn Thị Hương Quỳnh (2013) với đề tài “Chính sách khuyến khích các

doanh nghiệp vừa và nhỏ đổi mới công nghệ hướng thân thiện với môi trường”, đã hệ thống hoá một số vấn đề lý luận, kinh nghiệm thực tiễn liên

quan trực tiếp tới vấn đề đổi mới công nghệ (ĐMCN) theo hướng thân thiện với môi trường trong một số doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV); Đánh giá, phân tích, làm rõ những mặt được, chưa được, những nguyên nhân tương ứng

Trang 12

trong việc ĐMCN hướng thân thiện với môi trường ở một số DNNVV trong những năm 2007-2012; Đề xuất giải pháp chính sách nhằm thúc đẩy DNNVV đầu tư đổi mới công nghệ theo hướng thân thiện với môi trường trong thời gian tới

2.2 Các công trình nghiên cứu về thực hành (triển khai trên thực tế) Chính sách Khoa học công nghệ

Trần Văn Đông (2010) Đề án“Tác động chính sách khoa học và công

nghệ trên địa bàn tỉnh An Giang”, cho thấy trong hai năm 2009-2010 việc

thực hiện các chính sách về khoa học và công nghệ kích thích kinh tế đã đạt được một số kết quả trên các lĩnh vực: Quản lý nhà nước về khoa học, quản lý công nghệ, hỗ trợ chuyển giao công nghệ, quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, quản lý nhà nước về về tiêu chuẩn đo lường chất lượng và những chính sách thúc đẩy phát triển khoa học và đổi mới công nghệ trên địa bàn tỉnh An Giang Từ đó đưa ra một số đề xuất và kiến nghị

Luận văn của tác giả Đào Việt Hà (2010) với đề tài “Thực hành chính

sách thị trường kéo kích thích nhu cầu đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp công nghiệp (Nghiên cứu trường hợp nhóm ngành công nghiệp dệt tỉnh Nam Định)”, trình bày những vấn đề cơ bản về công nghệ và đổi mới công nghệ

Nghiên cứu các nội dung về chính sách thị trường kéo trong điều kiện của Việt Nam Nghiên cứu và làm rõ những tác động của các chính sách thị trường kéo đến nhu cầu đổi mới công nghệ (ĐMCN) ở doanh nghiệp công nghiệp dệt tỉnh Nam Định Đưa ra các giải pháp thực thi nhằm điều chỉnh những chính sách thị trường kéo nhằm kích thích nhu cầu đổi mới công nghệ

ở doanh nghiệp công nghiệp dệt tỉnh Nam Định

Nguyễn Văn Thủy (2012) Đề tài “Nghiên cứu ngành gốm sứ Bình

Dương quá trình phát triển và bảo tồn” đã đề cập một cách toàn diện về nghề

gốm cổ từ thời tiền - sơ sử đến nguồn gốc ra đời của gốm sứ Bình Dương; các giai đoạn phát triển nổi bật của nghề gốm ở Bình Dương từ cuối thế kỷ XIX

Trang 13

đến năm 2010 Việc phân bổ của các lò gốm và kỹ thuật truyền thống của gốm sứ Bình Dương: nguyên liệu, xử lý nguyên liệu, tạo dáng sản phẩm, mỹ thuật trên gốm Nung sản phẩm: Kỹ thuật xây lò ống, kỹ thuật xây lò bao (lò bầu) Các loại sản phẩm gốm sứ Bình Dương, thị trường tiêu thụ, trong nước và nước ngoài Đồng thời kiến nghị và đề xuất các biện pháp bảo tồn ngành gốm sứ Bình Dương trong giai đoạn phát triển tiếp theo, để ngành gốm

có điều kiện phát triển, hội nhập và hiện đại hóa công nghệ sản xuất

Nguyễn Minh Tân (2013) “Chính sách khuyến khích các tổ chức

nghiên cứu và triển khai chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh” đã trình bày cơ sở lý luận về công nghệ, chuyển giao

công nghệ và chính sách khuyến khích chuyển giao công nghệ Nghiên cứu thực trạng hoạt động chuyển giao công nghệ và việc thực hiện các chính sách khuyến khích chuyển giao công nghệ (CGCN) trong nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2007-2011 Tìm hiểu chính sách khuyến khích các tổ chức nghiên cứu và triển khai chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh: hỗ trợ nâng cao năng lực hoạt động CGCN trong nông nghiệp của các tổ chức đơn vị khoa học công nghệ của địa phương; hỗ trợ nâng cao năng lực tiếp thu công nghệ cho nông dân, doanh nghiệp …

Tuy nhiên, việc thực hành chính sách công nghệ để phát triển bền vững

hệ thống sản xuất gốm sứ trên địa bàn thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh còn mới, chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào đề cập đến vấn đề này

Do đó, đây là lần đầu tiên vấn đề nghiên cứu về thực hành chính sách công nghệ để phát triển bền vững nghề gốm sứ được đặt ra để tiến hành nghiên cứu

cụ thể, khoa học và có hệ thống trên địa bàn thị xã Đông Triều

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 14

Luận văn đề ra mục tiêu nghiên cứu như sau: Định hướng điều chỉnh

chính sách công nghệ để phát triển bền vững hệ thống gốm sản xuất gốm sứ thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, Luận văn có các nhiệm vụ sau đây:

- Phân tích cơ sở lý luận về chính sách công nghệ phát triển bền vững

hệ thống sản xuất gốm sứ;

- Khảo sát thực trạng thực hành chính sách công nghệ để phát triển bền vững hệ thống sản xuất gốm sứ trên địa bàn thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh;

- Định hướng điều chỉnh chính sách công nghệ để phát triển bền vững

hệ thống gốm sản xuất gốm sứ thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

4 Phạm vi nghiên cứu

4.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu

- Chính sách công nghệ để phát triển bền vững hệ thống sản xuất gốm sứ;

- Phát triển bền vững hệ thống gốm sản xuất gốm sứ thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh;

- Những tác động của các chính sách công nghệ đến hệ thống sản xuất

gốm sứ

4.2 Phạm vi không gian nghiên cứu

Chính sách công nghệ sản xuất gốm sứ trên địa bàn thị xã Đông Triều,

tỉnh Quảng Ninh

5 Câu hỏi nghiên cứu

- Việc thực hành chính sách công nghệ trong hệ thống sản xuất gốm sứ trên địa bàn thị xã Đông Triều đã diễn ra như thế nào?

- Cần phải điều chỉnh chính sách công nghệ trong hệ thống sản xuất gốm sứ theo hướng bền vữngtrên địa bàn thị xã Đông Triều như thế nào?

Trang 15

6 Giả thuyết nghiên cứu

Quá trình thực hành chính sách công nghệ trong hệ thống sản xuất gốm

sứ trên địa bàn thị xã Đông Triều còn tồn tại nhiều thiếu sót, bất cập: chính sách tài chính chưa đủ mạnh, thủ tục phức tạp, mức độ nhận biết và thực hành chính sách công nghệ vào sản xuất còn yếu…

Điều chỉnh chính sách công nghệ theo hướng khắc phục hạn chế trong các chính sách phải gắn liền với việc sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên theo hướng phát triển bền vững nền sản xuất gốm sứ Đông Triều Cụ thể thông qua các nhóm giải pháp như:

- Giải pháp 1: Triển khai và thực thi các chiến lược, quy hoạch của tỉnh Quảng Ninh và thị xã Đông Triều

- Giải pháp 2: Có các điều chỉnh đối với các chính sách công nghệ để phát triển bền vững hệ thống sản xuất gốm sứ, thể hiện trong các chính sách (Chính sách thuế, Chính sách về tài chính - tín dụng, Chính sách công nghiệp, Chính sách thương mại, Chính sách tăng cường xây dựng đội ngũ….)

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp thu thập thông tin

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu cơ sở lý luận từ các lý thuyết có liên quan và kế thừa kết quả nghiên cứu từ các đề tài nghiên cứu đã

có Thu thập và phân tích thông tin từ các bài báo khoa học, từ kết quả các cuộc điều tra về hoạt động áp dụng chính sách công nghệ của doanh nghiệp, các văn bản chính sách có liên quan…;

- Phân tích chính sách: Thu thập các chính sách khuyến khích doanh nghiệp (các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển hệ thống gốm sứ của Chính phủ và tỉnh Quảng Ninh, các chính sách về thuế, tín dụng, thương mại, công nghiệp, công nghệ )

7.2 Phân tích số liệu thống kê

- Đối với các thông tin định lượng: thiết kế các biểu mẫu tổng hợp theo

Trang 16

yêu cầu nội dung cần phân tích, đánh giá

- Đối với các thông tin định tính: sử dụng các suy luận logic, phương pháp chuyên gia, đưa ra các phán đoán về bản chất của các sự kiện, thể hiện mối liên hệ giữa các sự kiện

9 Kết cấu của luận văn

Luận văn được trình bày theo các phần sau:

- Phần mở đầu

- Phần nội dung

Chương 1 Cơ sở lý luận chính sách công nghệ để phát triển sản xuất

gốm sứ bền vững

Chương 2 Thực trạng thực hành chính sách công nghệ để phát triển

bền vững hệ thống sản xuất gốm sứ trên địa bàn thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

Chương 3 Điều chỉnh chính sách công nghệ để phát triển bền vững hệ

Trang 17

thống sản xuất gốm sứ thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

- Kết luận và khuyến nghị

- Tài liệu tham khảo

Trang 18

Theo tác giải Vũ Cao Đàm thì “chính sách là một tập hợp biện pháp

được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”1 Theo tác giả thì khái niệm “hệ thống xã hội” được hiểu theo một ý nghĩa khái quát Đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường

Theo James Anderson: “Chính sách là một quá trình hành động có mục

đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà

họ quan tâm” Như vậy, có thể hiểu: Chính sách là chương trình hành động do

các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình Cũng có một định nghĩa khác, “chính sách là chuỗi những hoạt động mà chính quyền chọn làm hay không làm với tính toán

và chủ đích rõ ràng, có tác động đến người dân”

1 Vũ Cao Đàm (2005), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, xuất

bản lần thứ 11, Hà Nội, tr 26-27

Trang 19

Chính sách được hiểu theo nghĩa hẹp: Chính sách có thể được thể hiện thông qua, một chương trình, một mục tiêu của chương trình hay sự tác động của chương trình lên một vấn đề của xã hội

Thuật ngữ “chính sách” được dùng với nghĩa rộng hơn: như chính sách đối ngoại, chính sách đối nội; hoặc trong một nghĩa hẹp và cụ thể hơn ví dụ chính sách trợ cấp hay chính sách giải quyết đòi hỏi của sinh viên về nhà ở, học bổng Các tổ chức quốc tế (Liên hiệp quốc) cũng thường đưa ra nhiều chính sách của mình nhằm đề cập đến những vấn đề quan tâm như cấm vận; phòng chống ma túy, việc làm, thất nghiệp Thuật ngữ này cũng được sử dụng

để chỉ cách ứng xử giữa các quốc gia với nhau - chính sách cấm vận của Mỹ chống Việt Nam trước đây là một ví dụ

Theo lý thuyết trò chơi (Game Theory) chính sách là một sự lựa chọn của các phương án chơi Trong bối cảnh của sự cạnh tranh, lựa chọn một hoạt động mang tính tốt nhất không theo nghĩa tuyệt đối mà chỉ mang tính tương đối Nghĩa là các nhà hoạch định chính sách lựa chọn cách thức tiến hành các hoạt động theo nguyên tắc: lựa chọn phương án tốt nhất trong tất cả các phương án mà công ty, nhà kinh doanh biết Do đó, để đưa ra một chính sách cần vận dụng lý thuyết phân tích hệ thống, lý thuyết lựa chọn tối ưu cũng như nhiều công cụ toán học khác để quyết định cái tốt nhất

Như vậy, phân tích khái niệm “chính sách” thì thấy:

- Chính sách là do một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra;

- Chính sách được ban hành căn cứ vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế;

- Chính sách được ban hành bao giờ cũng nhắm đến một mục đích nhất định; nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó; chính sách được ban hành đều có sự tính toán và chủ đích rõ ràng

Trang 20

Nhƣ vậy: Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình

Từ đó có thể hiểu: Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự

ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của

họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội Mà “Hệ thống xã hội” ở đây được hiểu theo một ý nghĩa khái quát, đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường,

 Các đặc trưng cơ bản của chính sách

Thứ nhất, chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước Nếu chủ thể ban hành các "chính sách tư" có thể là các tổ chức tư nhân, các đoàn thể chính trị – xă hội, cũng như các cơ quan trong bộ máy nhà nước để điều tiết hoạt động trong phạm vi tổ chức, đoàn thể hay cơ quan riêng biệt đó thì chủ thể ban hành chính sách công chỉ có thể là các cơ quan trong bộ máy nhà nước Vấn đề ở đây là các cơ quan trong bộ máy nhà nước vừa là chủ thể ban hành chính sách công, vừa là chủ thể ban hành "chính sách tư" Sự khác biệt là ở chỗ các "chính sách tư" do các cơ quan nhà nước ban hành là những chính sách chỉ nhằm giải quyết những vấn đề thuộc về nội bộ cơ quan đó, không có hiệu lực thi hành bên ngoài phạm vi cơ quan

Chính sách công do Nhà nước ban hành nên có thể coi chính sách công

là chính sách của Nhà nước Nhà nước ở đây được hiểu là cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước, bao gồm Quốc hội, các bộ, chính quyền địa phương các cấp…

Thứ hai, các quyết định này là những quyết định hành động, có nghĩa là chúng bao gồm cả những hành vi thực tiễn Chính sách công không chỉ thể

Trang 21

hiện dự định của nhà hoạch định chính sách về một vấn đề nào đó, mà còn bao gồm những hành vi thực hiện các dự định nói trên

Chính sách công trước hết thể hiện dự định của các nhà hoạch định chính sách nhằm làm thay đổi hoặc duy trì một hiện trạng nào đó Song, nếu chính sách chỉ là những dự định, dù được ghi thành văn bản thì nó vẫn chưa phải là một chính sách Chính sách công còn phải bao gồm các hành vi thực hiện những dự định nói trên và đưa lại những kết quả thực tế

Nhiều người thường hiểu chính sách công một cách đơn giản là những chủ trương của Nhà nước ban hành, điều đó đúng nhưng chưa đủ Nếu không

có việc thực thi chính sách để đạt được những kết quả nhất định thì những chủ trương đó chỉ là những khẩu hiệu mà thôi

Thứ ba, chính sách công tập trung giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế – xã hội theo những mục tiêu xác định Chính sách công là một quá trình hành động nhằm giải quyết một vấn đề nhất định Khác với các loại công cụ quản lý khác như chiến lược, kế hoạch của Nhà nước là những chương trình hành động tổng quát bao quát một hoặc nhiều lĩnh vực kinh tế – xă hội, đặc điểm của chính sách công là chúng được đề ra và được thực hiện nhằm giải quyết một hoặc một số vấn đề liên quan lẫn nhau đang đặt ra trong đời sống xã hội Chính sách công chỉ xuất hiện trước khi đó đã tồn tại hoặc có nguy cơ chắc chắn xuất hiện một vấn đề cần giải quyết Vấn

đề chính sách được hiểu là một mâu thuẫn hoặc một nhu cầu thay đổi hiện trạng xuất hiện trong đời sống kinh tế – xă hội đòi hỏi Nhà nước sử dụng quyền lực công để giải quyết Có thể nói, vấn đề chính sách là hạt nhân xuyên suốt toàn bộ quy trình chính sách (bao gồm các giai đoạn hoạch định, thực thi

và đánh giá chính sách) Việc giải quyết những vấn đề nói trên nhằm vào những mục tiêu mà Nhà nước mong muốn đạt được

Thứ tư, chính sách công gồm nhiều quyết định có liên quan lẫn nhau Trước hết, chúng ta không nên đồng nhất khái niệm quyết định ở đây với các

Trang 22

quyết định hành chính, càng không thể coi đó chỉ là những văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước

1.1.2 Khái niệm về chính sách công nghệ

1.1.2.1 Khái niệm về công nghệ

Từ những năm 60 của thế kỷ XX, thuật ngữ “công nghệ” được sử dụng

để chỉ các hoạt động ứng dụng những kiến thức là kết quả của nghiên cứu khoa học ở mọi lĩnh vực nhằm mang lại hiệu quả cao hơn trong hoạt động của con người Khái niệm công nghệ này dần được chấp nhận và sử dụng rộng rãi trên thế giới nhưng việc đưa ra định nghĩa công nghệ lại chưa có sự thống nhất, nguyên nhân là do tính đa dạng của công nghệ, sự đa dạng trong quan điểm của các nhà nghiên cứu và sự phát triển của KH&CN… Các tổ chức quốc tế và các nhà khoa học đã cố gắng đưa ra một định nghĩa về công nghệ có thể dung hoà các quan điểm, đồng thời tạo thuận lợi cho việc phát triển và hoà nhập của các quốc gia Và bốn khía cạnh cần bao quát trong định nghĩa công nghệ gồm:

- Khía cạnh “công nghệ là máy biến đổi”: đề cập đến khả năng làm ra

đồ vật của công nghệ Cần phân biệt giữa khái niệm công nghệ và kỹ thuật, hai khái niệm này đều quan tâm tới việc tạo ra các đồ vật, song công nghệ không những chỉ quan tâm tới việc tạo ra các đồ vật mà còn quan tâm tới

Trang 23

hiệu quả của quá trình đó;

- Khía cạnh “công nghệ là một công cụ”: nhấn mạnh vào dạng tồn tại vật chất của công nghệ Công nghệ là một sản phẩm của con người,

do đó con người có thể làm chủ được nó Vì là một công cụ nên công nghệ có mối quan hệ chặt chẽ đối với con người và cơ cấu tổ chức;

- Khía cạnh “công nghệ là kiến thức”: nhấn mạnh vào dạng tồn tại phi vật chất của công nghệ, khía cạnh này đề cập đến cốt lõi của mọi hoạt động công nghệ là kiến thức và nó bác bỏ quan niệm công nghệ phải là các vật thể nhìn thấy được Đặc trưng kiến thức khẳng định vai trò dẫn đường của khoa học đối với công nghệ, đồng thời nhấn mạnh rằng không phải ở các quốc gia

có các công nghệ giống nhau sẽ đạt được kết quả như nhau Việc sử dụng một công nghệ đòi hỏi con người cần phải được đào tạo về kỹ năng, kiến thức và luôn cập nhật những kiến thức đó;

- Khía cạnh “công nghệ hàm chứa trong các dạng hiện thân của nó” dù là kiến thức song vẫn có thể mua được, bán được công nghệ là một loại hàng hoá, đó là do công nghệ hàm chứa trong các vật thể tạo nên nó

Từ các khía cạnh trên, trong luận văn này công nghệ được hiểu theo định nghĩa do uỷ ban kinh tế và xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương (ESCAP): Công nghệ là “hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin Nó bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ”

Định nghĩa về công nghệ theo Ủy ban kinh tế và xã hội khu vực Châu

Á Thái Bình Dương (ESCAP) đưa ra có tính bao quát các khía cạnh liên quan

đến công nghệ “Công nghệ là hệ thống kiến thức, nhấn mạnh bản chất cốt

lõi của công nghệ là kiến thức, khẳng định vai trò dẫn đường của khoa học đối với công nghệ Công nghệ có khả năng chế biến các nguồn lực thành hàng hoá và dịch vụ, do đó phải đáp ứng được mục tiêu sử dụng và các

Trang 24

yêu cầu về kinh tế để được áp dụng trong thực tế Công nghệ là công cụ, phương tiện, nhấn mạnh đó là sản phẩm của con người và con người

có thể làm chủ được nó Công nghệ hàm chứa trong các dạng hiện thân của

nó như kiến thức, kỹ năng, thiết bị, các hệ thống… do đó công nghệ có thể mua bán được” 2 Theo định nghĩa này, khái niệm công nghệ không chỉ áp

dụng cho các lĩnh vực sản xuất ra các sản phẩm vật chất mà còn được áp dụng cho các lĩnh vực sản xuất ra các sản phẩm phi vật chất như các dịch vụ

xã hội…

Tuy còn có sự khác nhau giữa các định nghĩa này, nhưng xu thế chung hiện nay trên thế giới nhấn mạnh vào khía cạnh công nghệ là tri thức còn máy móc, thiết bị chỉ là vật mang tri thức Vấn đề quan trọng nhất trong các định nghĩa về công nghệ đó chính là tri thức khoa học

 Các đặc trưng cơ bản của công nghệ

Công nghệ là một loại hàng hoá nhưng là hàng hoá đặc biệt vì nó sản sinh ra sản phẩm, do vậy có những đặc trưng rất khác biệt với các loại hàng hoá khác Muốn quản lý tốt công nghệ cần nắm vững các đặc trưng cơ bản của công nghệ Nhiều nước đang phát triển đã không thành công trong việc dựa vào phát triển công nghệ để xây dựng đất nước, do không nắm vững các đặc trưng này Trong nền kinh tế thị trường, công nghệ là một loại hàng hoá nhưng là một loại hàng hoá đặc biệt Do là một sản phẩm đặc biệt nên ngoài những đặc trưng như những sản phẩm thông thường, công nghệ có những đặc trưng mà chỉ công nghệ (sản sinh ra sản phẩm) mới có Các đặc trưng của công nghệ cần được nắm vững là: chuỗi phát triển của các thành phần công nghệ, độ phức tạp (mức độ tinh vi) của các thành phần công nghệ, độ hiện đại của các thành phần công nghệ và chu trình sống của công nghệ

- Chuỗi phát triển của các thành phần công nghệ : Phần kỹ thuật: Khởi đầu của phần cứng công nghệ là nghiên cứu nhu cầu, thiết kế, chế tạo thử,

2

ESCAP (1989), Technology Atlas Project- A framework for technology based development Pg 99

Trang 25

trình diễn, sản xuất hàng loạt, truyền bá, phổ biến và cuối cùng là bị thay thế bởi trang thiết bị mới Các nước đang phát triển để có một công nghệ thường thông qua con đường nhập khẩu, do không trải qua các trình tự để có công nghệ nên khó nắm vững, tiến đến làm chủ được nó

- Mức độ phức tạp (độ tinh vi) của các thành phần công nghệ : Mức độ phức tạp của phần kỹ thuật được đánh giá theo các cấp như sau: 1) Các phương tiện thủ công sử dụng năng lượng cơ bắp con người hay súc vật là chủ yếu 2) Các phương tiện có động lực, nguồn năng lượng là các loại động

cơ nhiệt, điện thay thế cơ bắp

- Độ hiện đại của các thành phần công nghệ Khác với độ phức tạp của các thành phần công nghệ, độ hiện đại không thể chia thành “cấp” mà phải so sánh chúng với thành phần tương ứng được coi là “tốt nhất thế giới” vào thời điểm đánh giá Công việc này đòi hỏi những chuyên gia kỹ thuật thành thạo trong việc sử dụng công nghệ đó Có một số tiêu chuẩn chung để đánh giá mức độ hiện đại của các thành phần công nghệ Độ hiện đại của phần kỹ thuật Chỉ tiêu đánh giá là hiệu năng kỹ thuật Độ hiện đại của phần con người Đánh giá bằng chỉ tiêu: khả năng công nghệ Độ hiện đại của phần thông tin Đánh giá bằng chỉ tiêu: Tính thích hợp của thông tin Độ hiện đại của phần tổ chức Đánh giá bằng chỉ tiêu: Tính hiệu quả của tổ chức

- Chu trình sống của công nghệ, sự phát triển của một công nghệ có qui luật biến đổi theo thời gian Quản lý công nghệ đòi hỏi có sự hiểu biết sâu sắc

về chu trình sống của công nghệ, đặc biệt là mối quan hệ của chu trình sống công nghệ với sự tăng trưởng thị trường của nó Để hiểu rõ chu trình sống công nghệ cần đề cập đến hai đặc trưng khác có liên quan, đó là giới hạn của tiến bộ công nghệ và chu trình sống của sản phẩm Trong thời gian tồn tại của một công nghệ, công nghệ luôn biến đổi: về tham số thực hiện của công nghệ;

về quan hệ với thị trường… Trong nền kinh tế cạnh tranh, để duy trì vị trí của mình, các công ty phải tiến hành đổi mới sản phẩm, đổi mới qui trình sản xuất

Trang 26

và thay thế công nghệ đang sử dụng đúng lúc khi có những thay đổi trong khoa học - công nghệ, trong nhu cầu thị trường

 Mục tiêu của quản lý công nghệ

Mục tiêu quản lý công nghệ quốc gia: Quản lý Nhà nước về CN là dạng quản lý trong đó chủ thể quản lý chính là Nhà nước Đó là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nước, được sử dụng quyền lực Nhà nước của bộ máy hành chính Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người trong lĩnh vực phát triển CN

Mục tiêu QLCN chú trọng vào việc xây dựng các chính sách để tạo điều kiện cho các tiến bộ KH&CN, chú trọng đến các công nghệ đang hoạt động để đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế bền vững và ngăn ngừa các tác động xấu của công nghệ có thể gây ra cho con người và môi trường tự nhiên

Quản lý công nghệ ở quy mô doanh nghiệp: Việc lựa chọn công nghệ phù hợp sẽ giúp cho DN có được lợi thế cạnh tranh và để làm được điều đó, các nhà quản lý đặc biệt là QLCN cần phải có kiến thức cơ bản về chiến lược cạnh tranh, nó sẽ giúp họ trong việc định hướng lựa chọn công nghệ Mục tiêu QLCN là luôn đưa ra những quyết định khôn khéo trên mọi lĩnh vực nhằm tăng cường hiệu quả sản xuất kinh doanh và tạo lợi thế cạnh tranh của DN trên thương trường

1.1.2.2 Khái niệm về chính sách công nghệ

Khi nghiên cứu về chính sách đổi mới theo cách tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia (NIS), C Edquyst (2001) cho rằng: Chính sách khoa học công nghệ nói chung và chính sách công nghệ nói riêng là một phạm trù của chính sách đổi mới, đó là các can thiệp của nhà nước nhằm tác động tới sự thay đổi công nghệ và các hình thức đổi mới khác, bao gồm chính sách nghiên cứu và triển khai (R&D), chính sách công nghệ, chính sách vùng

Stonemen (1987) cho rằng chính sách đổi mới công nghệ là những chính sách liên quan tới những can thiệp của nhà nước nhằm tác động tới

Trang 27

quá trình đổi mới công nghệ, đồng thời nó thường liên quan tới các hoạt động R&D công nghệ (OECD, 2005) Qua đó có thể hiểu chính sách công nghệ là những can thiệp của nhà nước tới hoạt động của các tổ chức, cá nhân nhằm tạo môi trường thuận lợi, hỗ trợ để các cá nhân, tổ chức tiến hành các hoạt động của mình nhằm đạt được các mục tiêu đề ra về kinh tế, về xã hội,

về môi trường,…

Các yếu tố cơ bản của một chính sách nói chung và chính sách công nghệ nói riêng thường bao gồm: các yếu tố đầu vào, các hành động, đầu ra, kết quả và tác động của chính sách.3

Như vậy, “chính sách công nghệ” được hiểu là các chủ trương, biện

pháp của Đảng và Nhà nước nhằm phát triển công nghệ phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

1.2 Khái niệm về phát triển bền vững

1.2.1 Quan niệm về phát triển bền vững

Khái niệm “phát triển bền vững” xuất hiện trong phong trào BVMT từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ XX, từ đó đến nay đã có nhiều định nghĩa về phát triển bền vững được đưa ra, như:

Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế – xã hội lành mạnh, dựa trên việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên và BVMT, nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng không làm ảnh hưởng bất lợi cho các thế hệ mai sau

Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế – xã hội với tốc độ tăng trưởng cao, liên tục trong thời gian dài dựa trên việc sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên mà vẫn bảo vệ được môi trường sinh thái Phát triển kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội hiện tại, song không làm cạn kiệt tài nguyên, để lại hậu quả về môi trường cho thế hệ tương lai

Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không

3 Nguyễn Đình Bình-Nguyễn Hữu Xuyên (2015), Đổi mới công nghệ trong ngành công nghiệp hỗ trợ Nxb

Khoa học và kỹ thuật, tr 33

Trang 28

làm thương tổn đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng nhu cầu của họ

Năm 1987, trong Báo cáo “Tương lai của chúng ta” (Our common future) của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên

hợp quốc , “phát triển bền vững” được định nghĩa “phát triển bền vững là sự

phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”4 Định nghĩa này được nhiều tổ chức và quốc gia trên thế giới thừa nhận và được sử dụng rộng rãi trong các ấn phẩm về phát triển bền vững vì nó mang tính khái quát hoá cao về mối quan hệ giữa các thế hệ về thoả mãn các nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần, từ đó tạo ra phát triển bền vững, vì suy cho cùng, bản chất của phát triển bền vững tức là sự tồn tại bền vững của loài người trên trái đất không phân biệt quốc gia, dân tộc và trình độ kinh tế, xã hội, ở đây sự tồn tại của loài người luôn gắn với sự tồn tại của môi trường kinh tế, xã hội và tự nhiên mà con người cần phải có Tuy nhiên, định nghĩa này thiên về đưa ra mục tiêu, yêu cầu cho sự PTBV, mà chưa nói đến bản chất các quan hệ nội tại của quá trình phát triển bền vững là thế nào?

Chính vì vậy, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã đưa ra định nghĩa

cụ thể hơn, đó là: “Phát triển bền vững là một loại hình phát triển mới, lồng

ghép một quá trình sản xuất với bảo toàn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng của chúng ta đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai” Định nghĩa này có thể mở rộng với ba cấu

thành cơ bản về sự phát triển bền vững:

Về mặt kinh tế: Một hệ thống bền vững về kinh tế phải có thể tạo ra hàng hoá và dịch vụ một cách liên tục, với mức độ có thể kiểm soát của chính phủ và nợ nước ngoài, tránh sự mất cân đối giữa các khu vực làm tổn hại đến

4 World Commission on Environment and Development (1987), Our Common Future, Oxford University Press, Oxford, New York

Trang 29

sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ

Về mặt xã hội: Một hệ thống bền vững về mặt xã hội phải đạt được sự công bằng trong phân phối, cung cấp đầy đủ các dịch vụ xã hội bao gồm y tế, giáo dục, bình đẳng giới, sự tham gia và trách nhiệm chính trị của mọi công dân

Về môi trường: Một hệ thống bền vững về môi trường phải duy trì nền tảng nguồn lực ổn định, tránh khai thác quá mức các hệ thống nguồn lực tái sinh hay những vận động tiềm ẩn của môi trường và việc khai thác các nguồn lực không tái tạo không vượt quá mức độ đầu tư cho sự thay thế một cách đầy

đủ Điều này bao gồm việc duy trì sự đa dạng sinh học, sự ổn định khí quyển

và các hoạt động sinh thái khác mà thường không được coi như các nguồn lực kinh tế

Phát triển bền vững có thể được minh hoạ theo các mô hình sau đây:

Hình 1.1: Mô hình phát triển bền vững kiểu ba vòng tròn

Hình 1.2: Mô hình phát triển bền vững kiểu tam giác

Trang 30

Mô hình 1.1 và mô hình 1.2 được sử dụng rộng rãi trong các ấn phẩm

về phát triển bền vững thời gian gần đây, chúng có điểm giống nhau và được gọi chung là mô hình “ba trụ cột” do đều được xây dựng dựa trên ba trụ cột của phát triển bền vững là: tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và BVMT

Hình 1.3: Mô hình phát triển bền vững kiểu quả trứng

Nguồn: Theo Centre for Invironment Education

Mô hình phát triển bền vững kiểu quả trứng do Liên minh quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (IUCN) đưa ra năm 1994 Mô hình này minh hoạ mối quan

hệ giữa con người và hệ sinh thái như là một vòng tròn nằm trong một vòng tròn khác Điều này hàm ý rằng, con người nằm trong hệ sinh thái và hai đối tượng này hoàn toàn phụ thuộc, tác động, chi phối lẫn nhau.5

Như vậy, mỗi mô hình có những thế mạnh cũng như những hạn chế nhất định Luận văn đồng nhất lựa chọn và sử dụng mô hình PTBV kiểu ba vòng tròn để phân tích, do mô hình này phản ánh rõ nhất phát triển bền vững

là miền giao thoa giữa phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và BVMT Nói cách khác, phát triển bền vững đạt được trên cơ sở đảm bảo hài

5 Centre for Invironment Education (2007) Sustainable Development: An Introduction (Intemship Series,

Volume-I), India

Trang 31

hoà được cả ba mục tiêu: kinh tế, xã hội và môi trường

1.2.2 Quan điểm về phát triển bền vững ở Việt Nam và tỉnh Quảng Ninh

Ở Việt Nam, chủ đề phát triển bền vững cũng đã được chú ý nhiều trong giới nghiên cứu cũng như những nhà hoạch định đường lối, chính sách Quan niệm về phát triển bền vững thường được tiếp cận theo hai khía cạnh: Một là, phát triển bền vững là phát triển trong mối quan hệ duy trì những giá trị môi trường sống, coi giá trị môi trường sinh thái là một trong những yếu tố cấu thành những giá trị cao nhất cần đạt tới của sự phát triển Hai là, phát triển bền vững là sự phát triển dài hạn, cho hôm nay và cho mai sau; phát triển hôm nay không làm ảnh hưởng tới mai sau

Trong mục 4, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường, phát triển bền vững được định nghĩa: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh

tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường” Đây là định nghĩa có tính tổng quát, nêu bật những yêu cầu và mục tiêu trọng yếu nhất của phát triển bền vững, phù hợp với điều kiện và tình hình ở Việt Nam

Từ nội hàm khái niệm phát triển bền vững, rõ ràng là, để đạt được mục tiêu phát triển bền vững cần giải quyết hàng loạt các vấn đề thuộc ba lĩnh vực

là kinh tế, xã hội và môi trường

Quan điểm, định hướng phát triển tiểu thủ công nghiệp của Quảng Ninh đó là, bảo tồn củng cố và phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp với nhiều hình thức tổ chức sản xuất, quy mô doanh nghiệp và các thành phần kinh tế (kể cả đầu tư nước ngoài) gắn với du lịch; khuyến khích

và tăng cường đầu tư trang thiết bị, ứng dụng khoa học, công nghệ sản xuất tiên tiến hài hoà với kỹ thuật truyền thống Trên cơ sở định hướng này sẽ duy trì và phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp bền vững, nghiên cứu xây dựng các cụm điểm công nghiệp, có thiết kế chi tiết và xây dựng cơ

Trang 32

sở hạ tầng kỹ thuật: điện, nước, giao thông, bưu điện, hệ thống xử lý nước thải… Có chương trình giải quyết di dời các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp vào các cụm, điểm công nghiệp để ổn định sản xuất và bảo đảm vệ sinh môi trường Khôi phục ngành nghề đã có do chưa hoà nhập với cơ chế thị trường bị dừng sản xuất trong thời gian qua, du nghề mới, học nghề, truyền nghề TTCN về địa phương để tạo ra công việc làm sử dụng lao động nông nhàn, lao động phụ ở nông thôn, tăng thu nhập, cải thiện điều kiện sống, ổn định trật tự xã hội ở địa phương

Cũng như các ngành khác, trong giai đoạn hiện nay phải củng cố phát triển các ngành nghề đang hoạt động, tạo nhiều sản phẩm hàng hoá Cụ thể:

- Ngành nghề sẽ gắn liền với du lịch văn hoá, du lịch sinh thái;

- Củng cố, giữ vững, các ngành nghề - tiểu thủ công nghiệp hiện có đang phát triển, khôi phục các ngành nghề truyền thống, phát triển và xây dựng ngành nghề mới ở hộ gia đình;

- Khuyến khích và tăng cường đầu tư trang thiết bị tiên tiến cho các ngành nghề, có kết hợp với công nghệ kỹ thuật truyền thống;

- Hình thành các cụm công nghiệp quy mô nhỏ và vừa đáp ứng yêu cầu phát triển ngành nghề - tiểu thủ công nghiệp;

- Phát triển ngành nghề - tiểu thủ công nghiệp cần gắn với hoạt động văn hoá, du lịch, bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên.6

Để phát triển hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp một cách bền vững thì thời gian qua tỉnh Quảng Ninh đã đưa ra các văn bản pháp luật nhằm chỉ đạo, hướng dẫn thi hành để thực hiện hiệu quả mục tiêu đề ra Đó là những văn bản sau:

Quyết định số 2408/2014/QĐ-UBND ngày 22/10/2014 của UBND tỉnh

Quảng Ninh “về việc ban hành quy định quản lý, sử dụng kinh phí khuyến

6 Theo

http://quangninh.gov.vn/vi-VN/so/sokhdt/Trang/Tin%20chi%20ti%E1%BA%BFt.aspx?newsid=21&dt=2010-05-19&cid=5

Trang 33

công của tỉnh Quảng Ninh” Quyết định này đã tạo điều kiện và huy động các

nguồn lực trong nước và ngoài nước tham gia và hỗ trợ cho các tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển công nghiệp nông thôn và các dịch vụ khuyến công theo quy hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh; Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, tạo việc làm, tăng thu nhập, thực hiện phân công lại lao động xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh; Hỗ trợ tạo điều kiện cho các

tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư phát triển công nghiệp nông thôn một cách bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh, thực hiện có hiệu quả lộ trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế

Theo kế hoạch xây dựng phát triển làng nghề - tiểu thủ công nghiệp đến năm 2015, tỉnh Quảng Ninh có chủ trương củng cố, giữ vững, hiện đại hoá các làng nghề - tiểu thủ công nghiệp hiện có, đồng thời khôi phục các làng nghề truyền thống, phát triển và xây dựng làng nghề mới ở hộ gia đình, từng

xã nhằm khắc phục dần tình trạng thuần nông; khuyến khích và tăng cường đầu tư trang thiết bị tiên tiến cho các làng nghề, có kết hợp với công nghệ kỹ thuật truyền thống; phát triển làng nghề theo hướng hình thành các cụm công nghiệp quy mô nhỏ và vừa; phát triển làng nghề cần gắn với hoạt động văn hoá, du lịch, bảo vệ sinh thái

Ngày 09/4/2009, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đã có Quyết định số 567/QĐ-BKHCN về việc “Phê duyệt Danh mục các dự án thuộc Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp để tuyển chọn thực hiện trong năm 2010” Thực hiện Quyết định trên, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh đã phối hợp với UBND Thị xã Đông Triều, Hiệp hội Gốm sứ Đông triều (Đơn vị sẽ là đại diện cho các doanh nghiệp, hộ sản xuất kinh doanh sản phẩm gốm sứ của Thị xã Đông Triều đứng tên là Chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể khi đăng ký bảo hộ) khẩn trương xây dựng dự án để báo cáo

Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt cho thực hiện trong năm 2010 Dự án

Trang 34

tập trung vào việc xây dựng, quản lý và phát triển nhãn hiệu tập thể “Đông Triều” cho sản phẩm gốm sứ của Thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh; Thiết lập cơ chế bảo hộ, quản lý khai thác và phát triển nhãn hiệu tập thể nhằm nâng cao giá trị, danh tiếng sản phẩm gốm sứ truyền thống của thị xã Đông Triều; giữ gìn, phát huy giá trị của sản phẩm, góp phần nâng cao đời sống người sản xuất

1.3 Chính sách công nghệ và sự phát triển bền vững hệ thống sản xuất gốm sứ

1.3.1 Mối quan hệ giữa công nghệ và phát triển bền vững hệ thống sản xuất gốm sứ

Phát triển vật liệu xây dựng phải bảo đảm tính bền vững, góp phần phát triển kinh tế, tạo sự ổn định xã hội và bảo vệ môi trường; phù hợp với các quy hoạch khác liên quan; Phát triển vật liệu xây dựng trên cơ sở khai thác có hiệu quả thế mạnh về tài nguyên khoáng sản, thế mạnh về thị trường và lao động, đồng thời không ngừng đào tạo nâng cao năng lực quản lý, vận hành sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong sản xuất kinh doanh; Phát triển vật liệu xây dựng trên cơ sở lựa chọn quy mô công suất hợp lý, công nghệ hiện đại, sạch, tiêu tốn ít năng lượng, nguyên liệu; sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng,

đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế; từng bước loại bỏ các cơ sở sản xuất

có công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường và hiệu quả kinh tế thấp; Phát triển vật liệu xây dựng trước hết đáp ứng nhu cầu xây dựng trong nước đồng thời lựa chọn những sản phẩm công nghệ Việt Nam có lợi thế để xuất khẩu, trong đó chú trọng các sản phẩm được sản xuất với trình độ công nghệ có hàm lượng chất xám cao; Đa dạng hóa các hình thức đầu tư, thu hút mọi nguồn lực vào phát triển sản xuất vật liệu xây dựng Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng; Thống nhất quản lý đầu tư phát triển vật liệu xây dựng trên cơ sở quy hoạch được phê duyệt Quy hoạch vật liệu xây dựng được rà soát và điều chỉnh phù hợp với tình hình phát

Trang 35

triển kinh tế - xã hội của đất nước theo từng thời kỳ cụ thể; Sản phẩm vật liệu xây dựng phải phù hợp với điều kiện khí hậu, phù hợp với tập quán sinh hoạt ở Việt Nam, vừa có tính truyền thống vừa hiện đại, thân thiện môi trường, có sức cạnh tranh cao ở thị trường trong nước và thị trường quốc tế

Định hướng về quy mô đầu tư, công nghệ khai thác, chế biến đất sét cao lanh và fenspat cho sản xuất gốm sứ xây dựng và bảo vệ môi trường, phải thực hiện theo các nội dung trong “Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến

và sử dụng khoáng sản làm vật liệu xây dựng ở Việt Nam đến năm 2020”7

, trong đó cần tập trung vào một số vấn đề chính sau:

+ Tập trung nghiên cứu xây dựng các quy trình công nghệ chế biến đất sét, cao lanh và fenspat cho phù hợp với đặc điểm và nguồn gốc thành tạo khoáng sản;

+ Tổ chức những cụm khai thác, chế biến cao lanh và fenspat tập trung

để sản xuất các nguyên liệu thương phẩm, bảo đảm ổn định chất lượng;

+ Các cơ sở khai thác chế biến phải có những định hướng cụ thể về mục đích sử dụng đối với từng loại nguyên liệu có yêu cầu chất lượng khác nhau

Định hướng quy hoạch phát triển sản xuất gạch ốp lát và sứ vệ sinh Định hướng phát triển về đầu tư, công nghệ, chủng loại sản phẩm và xuất khẩu:

+ Các cơ sở sản xuất hiện có cần đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu, hạ giá thành sản xuất và phải bảo đảm các tiêu chuẩn về môi trường trong sản xuất;

+ Đầu tư các cơ sở sản xuất tập trung công suất lớn, chuyên môn hóa sản xuất nguyên liệu để nâng cao hiệu quả đầu tư, tiết kiệm chi phí vật tư, năng lượng, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm;

7 Quyết định số 45/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ : Phê duyệt Điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản làm vật liệu xây dựng ở Việt Nam đến năm 2020

Trang 36

1.3.2 Các chính sách công nghệ với sự phát triển bền vững hệ thống sản xuất gốm sứ

1.3.2.1 Chính sách thuế

Chính sách thuế là một nội dung của chính sách tài chính quốc gia, là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà nhà nước sử dụng đề ra quyết định về thu nhập và huy động nguồn thu để đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu của mình

Vai trò của chính sách thuế thể hiện qua chức năng cơ bản tự thân của nó: Chức năng định hướng: Chính sách thuế góp phần định hướng cho nhà quản lý thu và nộp thuế một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời và hợp lý Chính sách thuế còn giúp các nhà sản xuất kinh doanh định hướng, xác định ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh để mang lại hiệu quả phù hợp với khả năng và năng lực của mình

Chức năng điều tiết: Chính sách thuế giúp phân phối, điều tiết thu nhập giữa các cá nhân, các tổ chức và góp phần phân phối lại các nguồn của cải xã hội và năng lực sản xuất của toàn xã hội trong lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân theo những định hướng phát triển của nhà nước

Như vậy chính sách thuế góp phần chủ động tích cực trong việc khuyến khích hay kiềm chế đối với các hoạt động kinh tế - xã hội của tất cả các ngành, lĩnh vực, lãnh thổ, tổ chức và cá nhân theo những mục tiêu định hướng

và hoạch định của nhà nước

1.3.2.2 Chính sách tài chính - tín dụng

Chính sách tài chính là việc sử dụng thuế và chi tiêu của chính phủ để điều khiển hoạt động kinh tế của một nước Định nghĩa này đã được trình bày trong Luật Việc Làm năm 1946 và được phát biểu lại trong Luật Humphrey-Hawkins năm 1978

Giáo trình Tài chính tiền tệ (Học viện Tài chính) đưa ra quan niệm:

“Chính sách tài chính là một bộ phận quan trọng của chính sách kinh tế, là

Trang 37

tổng thể các mục tiêu và giải pháp tài chính trong việc khai thác, động viên

và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính của đất nước phục vụ có hiệu quả cho việc thực hiện các kế hoạch và chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ tương ứng.”8

1.3.2.3 Chính sách công nghiệp

Trên phạm vi thế giới, thuật ngữ “Chính sách công nghiệp”(CSCN) mới chỉ xuất hiện từ sau chiến tranh thế giới II, khi mà Chính phủ Nhật Bản ban hành một loạt các chính sách để tái thiết nền kinh tế và phát triển công nghiệp sau khi bị chiến tranh tàn phá nặng nề Tiếp theo đó, Đài Loan, Hàn Quốc và một số nước khác cũng đề ra các chính sách riêng của mình để khôi phục và phát triển công nghiệp Vì thuật ngữ này được sử dụng phổ biến chỉ ở một số nước nên chưa có một định nghĩa chuẩn, thống nhất về CSCN Một số

học giả cho rằng: “CSCN là những chính sách được nhằm vào ngành công

nghiệp, một số khác lại cho rằng CSCN là những chính sách liên quan đến việc khuyến khích và tổ chức lại các ngành công nghiệp riêng biệt nào đó”9

Theo Bộ Công Nghiệp và Thương Mại Quốc Tế của Nhật Bản, “CSCN

bao gồm những biện pháp mang tính bổ sung được dựa trên nguyên tắc thị trường, nhằm giải quyết những vấn đề bất ổn của thị trường như ô nhiễm môi trường, xung đột về mậu dịch, hoạt động nghiên cứu và triển khai có quy mô lớn, và những bất ổn định trong cung cấp năng lượng, đồng thời khuyến khích việc chuyển dịch công nghiệp và di chuyển lao động một cách thuận lợi mà không gây mâu thuẫn về mặt xã hội”10

Các quan niệm về CSCN trên có nhiều điểm không phù hợp với tình hình phát triển của Việt Nam Vì thế, các nhà kinh tế và hoạch định chính sách của Việt Nam lại đưa ra một quan niệm khác về CSCN Theo họ, “CSCN

8 Phạm Ngọc Dũng, Đinh Xuân Hạng (2011) “Giáo trình Tài chính-tiền tệ”, Nxb Tài chính, Hà Nội

9 Nguyễn Minh Tú, Vũ Xuân Nguyệt Hồng (2001) Chính sách công nghiệp và các công cụ chính sách công nghiệp: Kinh nghiệm của Nhật Bản và bài học kinh học rút ra cho công nghiệp Việt Nam –– NXB Lao động

10

Tatako Ishihara: Industrial policy and competition policy

Trang 38

là một hệ thống các chính sách, nguyên tắc và biện pháp thích hợp mà Nhà nước sử dụng như một công cụ để điều chỉnh các hoạt động công nghiệp của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra trong từng thời kỳ phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia đó”11

Trên cơ sở quan niệm đó, CSCN bao gồm việc định rõ các ngành công nghiệp cụ thể sẽ được khuyến khích và chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển các ngành công nghiệp đã được lựa chọn thông qua hệ thống các công

cụ Đường lối, chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của một quốc gia thường không đổi trong một thời gian dài, nhưng với từng giai đoạn phát triển cụ thể, nhiệm vụ của CSCN có thể thay đổi nhằm mục đích điều chỉnh các hoạt động công nghiệp theo hướng có hiệu quả hơn cho sự phát triển kinh tế- xã hội chung của đất nước để chuyển nền kinh tế từ trạng thái phát triển thấp sang phát triển cao hơn, từ nền kinh tế lạc hậu sang nền kinh tế văn minh hiện đại,

từ nền kinh tế đang phát triển sang nền kinh tế phát triển

1.3.2.4 Chính sách thương mại

Cùng với sự phát triển của xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, chính sách thương mại của mỗi quốc gia hay khu vực ngày càng thu hút được sự quan tâm của nhiều quốc gia và khu vực khác Chính sách thương mại trở thành tâm điểm của các cuộc thương lượng, các dàn xếp nhiều mối bất đồng giữa các quốc gia, khu vực trên thế giới không chỉ trong phạm vi của quan hệ kinh tế, thương mại mà cả trong các quan hệ kinh tế, chính trị khác

Theo đó, “Chính sách thương mại là hệ thống các quy định, công cụ và

biện pháp thích hợp của Nhà nước để điều chỉnh các hoạt động thương mại của quốc gia trong những thời kỳ nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đề ra trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội”12

Chính sách thương mại là một bộ phận của chính sách kinh tế-xã hội

11 Võ Đại Lược (1998) Chính sách phát triển công nghiệp của Việt Nam trong quá trình đổi mới Nxb

Khoa học xã hội - 1998

12

Đặng Đình Hào, Hoàng Đức Thân (2003), Kinh tế thương mại Nxb Thống kê, tr 133

Trang 39

của nhà nước, nó bao gồm nhiều loại chính sách để điều chỉnh toàn bộ hoặc các hoạt động thương mại cụ thể khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu Trong thực tiễn người ta thường đề cập đến chính sách thương mại cụ thể Chẳng hạn: chính sách thương mại quy định các hoạt động thương mại của thương nhân, chính sách thương mại trong nước và quốc tế, chức trách của các cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thương mại, tổ chức lưu thông hàng hoá, phát triển thương mại ở các vùng, chính sách thuế quan, trách nhiệm và quyền hạn của các thương nhân khi kinh doanh thương mại trong nước hay với nước ngoài, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thương mại

Do đó có thể hiểu chính sách thương mại là một bộ phận cấu thành của

hệ thống chính sách kinh tế của quốc gia, là tổng thể các giải pháp mà nhà nước sử dụng để can thiệp đến hoạt động thương mại trong từng thời kỳ nhất định, nhằm khuyến khích hay hạn chế hoạt động thương mại để đạt được mục tiêu quản lý và phát triển kinh tế

Trong điều kiện hội nhập kinh tế-thương mại của nước ta với khu vực

và thế giới ngày càng sâu rộng hiện nay, chính sách thương mại được xây dựng vừa phải tương thích với các cam kết song phương và đa phương, vừa phải phát huy được lợi thế so sánh để thúc đẩy xuất khẩu, bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước, góp phần phát triển kinh tế-xã hội

1.3.2.5 Chính sách đầu tư

Trong nền kinh tế thị trường, chính sách khuyến khích đầu tư có vị trí quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế Khi đất nước chuyển sang thời kỳ xây dựng và phát triển kinh tế thì vấn đề mấu chốt, quyết định của mọi sự tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia là giải quyết các bài toán tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, suy đến cùng là giải quyết vấn

đề đầu tư

“Chính sách đầu tư là hệ thống những quan điểm, những biện pháp mà

nhà nước sử dụng các công cụ, đòn bẩy kinh tế tác động vào các hoạt động

Trang 40

đầu tư của các chủ thể nhằm định hướng hoạt động, bảo đảm sự tăng trưởng

và hiệu quả cao cho nền kinh tế trong từng thời kỳ” Nói cách khác, chính

sách đầu tư là hệ thống chính sách khuyến kích và bảo đảm đầu tư của nhà nước đối với các chủ thể tham gia đầu tư Đây là hệ thống đồng bộ từ quan điểm chiến lược, cơ chế chính sách tạo môi trường thuận lợi bình đẳng cho hoạt động đầu tư Chính sách đầu tư bao gồm các chính sách về tích luỹ tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư, chính sách tạo vốn và sử dụng vốn

Chính sách đầu tư là hệ thống chính sách khuyến khích và đảm bảo đầu tư của nhà nước đối với các chủ thể tham gia đầu tư Chính sách khuyến khích đầu tư có vị trí quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế Khi đất nước chuyển sang thời kỳ xây dựng và phát triển kinh tế thì vấn đề mấu chốt, quyết định của mọi sự tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia là giải quyết các bài toán tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, suy đến cùng là giải quyết vấn đề đầu tư Chính sách khuyến khích đầu tư là một

hệ thống đồng bộ từ quan điểm chiến lược, cơ chế, chính sách tạo môi trường thuận lợi, bình đẳng cho hoạt động đầu tư

Lực lượng tham gia đầu tư được mở rộng gồm nhà nước, doanh nghiệp, dân cư và người nước ngoài Nguồn vốn đầu tư được mở rộng: vốn ngân sách, vốn tự có của doanh nghiệp, nguồn vốn của dân cư, nguồn vốn đầu tư của nước ngoài Hình thức đầu tư cũng được mở rộng bao gồm đầu tư của ngân sách, tín dụng nhà nước, tín dụng, ngân hàng và đầu tư giao tiếp thông qua cổ phiếu, trái phiếu

Hiện nay trong quá trình phát triển kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế diễn ra trong xu thế toàn cầu hoá, chính sách đầu tư là nhạy cảm

và phải thường xuyên thay đổi để phù hợp quá trình vận động và phát triển của nền kinh tế nhưng phải luôn tuân thủ nguyên tắc: bảo đảm môi trường đầu

tư hấp dẫn ổn định, những biện pháp bảo hộ đầu tư trong nước phải từng bước bác bỏ những cản trở để phù hợp lộ trình kinh tế, những biện pháp khuyến

Ngày đăng: 20/08/2021, 01:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w