1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học theo hình thức tín chỉ ở các trường đại học nước ta hiện nay

38 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 208 KB
File đính kèm đổi mới phương pháp dạy học tín chỉ.rar (33 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC Trang A. MỞ ĐẦU 1 B. NỘI DUNG 4 Chương I. Khái quát cơ sở lý luận về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học theo hình thức tín chỉ ở các trường đại học nước ta hiện nay. 4 I.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4 I.2. Một số khái niệm cơ bản 6 I.3. Sơ lược về tình hình phát triển kinh tế xã hội nước ta hiện nay ảnh hưởng đến ngành giáo dục 8 I.4. Đổi mới phương pháp dạy học theo hình thức tín chỉ ở các trường đại học nước ta hiện nay là việc làm tất yếu. 8 Chương II: Tình hình việc áp dụng đổi mới phương pháp dạy học theo hình thức tín chỉ ở các trường đại học nước ta hiện nay. 12 II.1. Mục đích của phương pháp dạy học theo hình thức tín chỉ. 12 II.1.1. Mục tiêu của phương pháp dạy học theo hình thức tín chỉ. 12 II.1.2. Nội dung của phương pháp dạy học theo hình thức tín chỉ 12 II.1.3. Phương pháp của hình thức đào tạo tín chỉ 14 II.2. Những kết quả đạt được trong việc đổi mới phương pháp dạy học theo hình thức tín chỉ ở các trường đại học nước ta hiện nay. 15 II.3. Những hạn chế còn tồn tại trong việc đổi mới phương pháp dạy học theo hình thức tín chỉ ở các trường đại học ở nước ta hiện nay. 27 Chương III. Giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục phát triển việc dạy học theo hình thức tín chỉ trong thời gian tới. 31 III.1. Xây dựng trường đại học nghiên cứu 31 III.2. Thay đổi cơ chế tuyển chọn giảng viên và công tác giảng dạy ở đại học hiện nay. 31 III.3. Nâng cao công tác quản lý 32 III.4. Một số giải pháp về phía sinh viên đại học 32 C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 35 D. TÀI LIỆU THAM KHẢO 37

Trang 1

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Mọi thứ trong thế giới này, đều vận động và phát triển, không có tồn tạihình thức đứng yên, đứng yên ở đây chỉ là tương đối Đối với con con ngườicũng vậy, có thể hiểu sự vận động của xã hội loài người đó là quá trình conngười tìm tòi, nghiên cứu để phát hiện kiến thức, vận dụng những kiến thức đó

để chinh phục tự nhiên, phục vụ cho lợi ích con người sống trong môi trường tựnhiên được dễ dàng hơn Nhưng một thực tế là không phải quốc gia nào, khuvực nào cũng có trình độ phát triển như nhau nên đã xuất hiện nhóm nhữngnước phát triển, và những nước đang phát triển Mà kết quả của quy luật vậnđộng và phát triển này là “ cái mới” được tạo ra để thay thế cho “ cái cũ” đãkhông còn phù hợp nên nhiệm vụ đặt ra cho từng quốc gia là phải phát triển đểbắt kịp theo nhịp độ phát triển chung của thế giới, nhất là đối với các nước đangphát triển trong đó có Việt Nam

Trong chính sách đổi mới và hội nhập hiện nay, Việt Nam đã có nhữngbước đi vững mạnh trên con đường phát triển của mình như xây dựng đất nướctheo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa bền vững, phát triển nền kinh tế hànghóa nhiều thành phần theo đúng định hướng của xã hội chủ nghĩa, phát triển nềnkinh tế thị trường, thị trường chứng khoán… Chính vì vậy đất nước hiện nay rấtcần những con người có trình độ, nhanh nhẹn, có khả năng thích ứng với sự biếnđổi thường xuyên của thế giới Mà những con người đó chỉ được tạo ra tronggiáo dục Nên nhà nước ta xác định giáo dục là một trong những quốc sách hàngđầu

Trong vài năm trở lại đây ngành giáo dục thực hiện chính sách đổi mớiphương pháp giảng dạy, áp dụng hình thức đào tạo hệ tín chỉ vào dạy – học ởđại học thay thế cho phương pháp dạy học truyền thống Vì ở đào tạo theo tínchỉ, người học không những học được nhiều hơn về kiến thức mà còn phát huy

về những kỹ năng, khả năng nghiên cứu… Hình thức dạy học này đã được ápdụng thành công ở nhiểu nước trên thế giới, nhưng khi áp dụng vào Việt Nam

Trang 2

do nhiều lý do khác nhau nên bên cạnh những mặt đạt được thì vẫn còn tồn tạimặt chưa đạt được, gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng dạy – học ở đại học hiệnnay Và muốn khắc phục những mặt chưa đạt được đó thì chúng ta cần phải đưa

ra biện pháp mạnh hơn nữa, những chính sách thiết thực hơn nữa cho ngành giáodục để đưa ngành giáo dục phát triển lên một tầm cao mới, cho ra sản phẩm làcon người đáp ứng được nhu cầu xã hội hiện nay

Vì những lý do trên nên đề tài “ Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học theo hình thức tín chỉ ở các trường đại học nước ta hiện nay” được

chọn làm đề tài nghiên cứu

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Như tên đề tài đã xác định, mục đích của đề tài “ Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học theo hình thức tín chỉ ở các trường đại học nước ta hiện nay” là tìm hiểu về một số vấn đề đổi mới về phương diện lý do phải đổi

mới phương pháp, thực trạng áp dụng phương pháp ở các trường đại học hiệnnay, ưu nhược điểm của phương pháp và những gì mà nhà trường đã làm được,chưa làm được Từ đó thấy được đổi mới phương pháp dạy học là tất yếu và nhàtrường nên làm gì để áp dụng phương pháp mới này một cách hiệu quả nhất

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích trên đề tài có các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất: Nếu khái quát về phương pháp dạy học mới là gì? Giải thích

quan niệm đổi mới phương pháp dạy học là tất yếu

Thứ hai: Thực trạng áp dụng đổi mới phương pháp ở các trường đại học

hiện nay Thấy được những gì mà các trường đại học đã đạt được và chưa đạtđược khi áp dụng đổi mới phương pháp dạy học vào công tác dạy và học

Thứ ba: Dựa vào những kết quả đã nêu và phân tích ở trên, đưa ra một số

phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học khi áp dụng đổi mớiphương pháp dạy học ở các trưởng đại học hiện nay

Trang 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài “ Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học theo hình thức tín chỉ ở các trường đại học nước ta hiện nay” tập trung nghiên cứu về đổi mới

phương pháp dạy học đó là đào tạo theo tín chỉ ở các trường đại học hiện nayđược thực hiện như thế nào? Những mặt mà các trường đã đạt được và chưa đạtđược khi áp dụng phương pháp này vào hoạt động dạy và học

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích và giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tàiđặt ra, đề tài đã sử dụng một hệ thống nghiên cứu trong đó các phương phápđược phối hợp với nhau, hỗ trợ bỗ sung cho nhau và đồng thời kiểm tra nhau đểkhẳng định kết quả nghiên cứu Các phương pháp được sử dụng: Phương phápkhảo sát, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp quy nạp, diễn dịch…Trong đó phương pháp khảo sát và phân tích được sử dụng là chủ yếu

5 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo đề tài có 3 phần

I Khái quát cơ sở lý luận về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học theo hình thức tín chỉ ở các trường đại học nước ta hiện nay.

II Tình hình việc áp dụng đổi mới phương pháp dạy học theo hình thức tín chỉ ở các trường đại học nước ta hiện nay

III Giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục phát triển việc dạy – học theo hình thức tín chỉ trong thời gian tới

Trang 4

B NỘI DUNG Chương I Khái quát cơ sở lý luận về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học

theo hình thức tín chỉ ở các trường đại học nước ta hiện nay.

I.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Hệ thống tín chỉ đã được áp dụng vào việc đào tạo ở đại học từ lâu trênthế giới, ở các trường đại học danh tiếng của các nước phương Tây Hệ thốngnày cũng không phải là xa lạ đối với Việt Nam: Trước năm 1975, Viên đại họcCần Thơ đã từng áp dụng hệ thống tín chỉ trong các đại học Văn khoa, đại họcLuật khoa, và đại học Khoa học Sau năm 1975, nhiều giảng viên của trường đạihọc Cần Thơ đã được đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở nhiều trường đại học Âu –

Mĩ Những kinh nghiệm ấy thật là quý giá cho việc xây dựng chương trình đàotạo theo hệ thống tín chỉ do bộ giáo dục và đào tạo ban hành ( quyết định 43/2007/QĐ – BGD&ĐT) Thế nhưng khi nhận định về thực trạng chuyển đổi sang

hệ thống tín chỉ hiện nay của các trường đại học ở Việt Nam, M.Zjhra, một họcgiả của chương trinh Fulbright, đưa ra nhận xét sau đây:

“ Tín chỉ được áp dụng vào các một học nhằm đáp ứng yêu cầu của Bộ GD& ĐT [ Việt Nam] đã đến hạn chót phải thực hiện, nhưng những tín chỉ này không phản ánh một hệ thống đào tạo theo tín chỉ thực sự: Nó không phản ánh những đơn vị có thể chuyển đổi trong việc học tập và giảng dạy giữa các trường trong nước cũng như trong phạm vi quốc tế, những đơn vị tương đương nội dung, kỹ năng và nỗ lực học tập”

Hoặc nhận xét của C.J Trexler , một học giả khác cũng của chương trìnhFulbright :

“Các trường đại học Việt Nam đang thực hiện việc chuyển đổi này [sang học chế tín chỉ] nhưng có rất ít trường tạo ra được những thay đổi có tính chất

cơ bản vốn rất cần cho việc đổi mới hệ thống giáo dục đai học Việt Nam Nhiều trường chỉ đang thực hiện những thay đổi hình thức theo hệ thống mới ….Vì không có nhiều nhà khoa học”.

Trang 5

Từ năm 1986, Giáo dục đại học Việt Nam đã đưa ra nhiều chủ trươngthay đổi để đào tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu chuyển đổi nền kinh tế

kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường Học chế “học phần” đã rađời và được triển khai trong toàn bộ hệ thống các trường đại học và cao đẳng từnăm 1988 đến nay.Học chế học phần được xây dựng trên tinh thần tích lũy dầnkiến thức theo các môn học, tức là cũng đã có những ý tưởng của học chế “tínchỉ” Tuy nhiên, về một số phương diện học chế học phần chưa thật sự mềmdẻo Vào năm 1993, Bộ giáo dục và đào tạo bắt đầu triển khai mô hình học chếtín chỉ, trường ĐH Bách khoa Tp HCM là đơn vị thực hiện đầu tiên, hiện naytheo chỉ đạo của Bô GD&ĐT, hầu hết các trường đại học trong cả nước đã triểnkhai áp dụng học chế tín chỉ với các sắc thái và mức độ khác nhau

Năm học 2005- 2006, Bộ GD&ĐT sẽ thí điểm áp dụng phương pháp đàotạo theo hệ thống tín chỉ ở một số trường đại học, sau đó triển khai owr5 tất cảcác trường đại học trên toàn quốc Việc thay đổi phương pháp đào tạo đã cónhững tác động mạnh đến việc dạy và học hiện nay theo hai chiều ngược nhau

Gần đây, Thanh niên đã có cuộc trao đổi với ông Lê Viết Khuyến – Phó

vụ trưởng vụ ĐH, sau ĐH, Bộ GD&ĐT xoay quan về vấn đề này

Theo ông, đặc trương của hệ thống tín chỉ là kiến thức được cấu trúcthành các học phần, quá trình học tập là sự tích lũy kiến thức của người học theotừng học phần (đơn vị tín chỉ) khác với học niên chế là lớp học được tổ chứctheo một chương trình chung áp dụng nhất loạt cho tất cả người học Khi tổ chứcgiảng dạy theo tín chỉ, lớp học được tổ chức theo từng học phần, ở đầu mỗi học

kỳ, sinh viên được đăng ký các môn học thích hợp với năng lực và hoàn cảngcủa mình nhưng vẫn phù hợp với quy định chung nhằm đạt được kiến thức củamột môn học nào đó

Nó cho phép sinh viên chủ động xây dựng kế hoạch học tập thích hợpnhất, cho phép rút ngắn hoặc kéo dài thời gian học tập đối với riêng bản thântừng sinh viên Hình thức tín chỉ còn cho phép ghi nhận cả những kiến thức và

kỹ năng tích lũy được ngoài trường lớp để đạt được văn bằng, khuyến khích việchọc chủ động của sinh viên, tạo điều kiện cho các sinh viên từ nguồn gốc khác

Trang 6

nhau có thể tham gia học đại học một cách thuận lợi nhất Ngoài ra, ưu điểmcủa nó còn ở tính năng mềm dẻo và thích ứng cao Kết quả học tập của sinh viênđược tính theo từng học phần chứ không phải theo năm học, do đó việc hỏngmột phần nào đó, không cản trở quá trình học tiếp tục.

Có thể khẳng định việc chuyển đổi sang hình thức đào tạo tín chỉ là reaats

có lợi cho người học Về việc dạy sẽ có ảnh hưởng tích cực, tuy nhiên giáo viên

sẽ phải thay đổi phương pháp giảng dạy từ kiểu thầy dạy trò ghi sang việc phảilấy người học làm trung tâm Giảng viên rút được 1/3 thời gian lên lớp nhưngtăng thời gian chuẩn bị giờ giảng Giảng viên dạy được nhiều học phần, một họcphần được nhiểu giảng viên dạy

Năm 2007, Bộ GD&ĐT ban hành “ Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng

hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ”, và năm 2011 là hạn cuối cùng để các

trường liên quan phải chuyển đổi sang hệ thống đào tạo này Thế nhưng qua 3năm thực hiện thí điểm ở một số trường đại học trên cả nước, có rất nhiều ý kiếnnhận xét về thuận lợi và khó khăn của việc thực hiện quy chế này

I.2 Một số khái niệm cơ bản

Có mốt số khái niệm khái niệm liên quan đến đề tài này:

- Phương pháp dạy học: Là hệ thống những cách thức hoạt động ( bao

gồm các hành động và thao tác) của giảng viên và sinh viên nhằm thực hiện tốtmục đích và nhiệm vụ dạy học xác định

Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp giảng dạy (gọi tắt là phươngpháp dạy) và phương pháp học tập (gọi tắt là phương pháp học)

+ Phương pháp dạy: là phương pháp tổ chức hoạt động nhận thức cho

người học, phương pháp điều khiển các hoạt động trí tuệ và thực hành như dạy

tự học, dạy học kiểu tìm hiểu, dạy học giải quyết vấn đề, phương pháp giáo dục

ý thức và thái độ đúng đắn cho sinh viên

+ Phương pháp học: là phương pháp tự điều khiển hoạt động nhận thức vàrèn luyện khả năng thu thập thông tin để hình thành hệ thống kiến thức và kỹ

Trang 7

năng thực hành, hình thành nhân cách của người học và thành đạt mục tiêu họctập.

- Đổi mới phương pháp dạy học: được hiểu là đổi mói nội dung, giáo

trình cách tiến hành các phương pháp dạy và phương pháp học, đổi mới cácphương tiện và hình thức triển khai phương pháp trên cơ sở khai thác triệt để ưuđiểm của các phương pháp truyền thống và vận dụng linh hoạt một số phươngpháp dạy – học tiên tiến nhằm nâng cao tính chủ động sáng tạo, năng lực pháthiện và giải quyết vấn đề phát huy tối đa tính tích cực chủ động và sáng tạo củangười học, nâng cao năng lực tự học tự nghiên cứu, nâng cao các kỹ năng cầnthiết về nghề nghiệp, kỹ năng làm việc với người khác, kỹ năng tìm kiếm và xử

lý thông tin, kỹ năng trình bày, thuyết phục, kỹ năng tự phát triển

Hình thức đổi mới phương pháp dạy học mà nước ta đang áp dụng hiệnnay là đào tạo theo hình thức tín chỉ Vậy tín chỉ là gì? Đã có nhiều định nghĩa

+ Thời gian lên lớp

+ Thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác

đã quy định ở thời khóa biểu

+ Thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết bàihoặc chuẩn bị bài…Đối với các môn học lý thuyết 1 tín chỉ (với 2 giờ chuẩn bịbài) trong một tuần là kéo dài trong 1 học kỳ 15 tuần, đối với các môn học ởphòng studio hay phòng thí nghiệm ít nhất là 2 giờ 1 tuần ( với một giờ chuẩnbị) , đối với các môn tự học ít nhất là 3 giờ trong 1 tuần

Trang 8

I.3 Sơ lược về tình hình phát triển kinh tế xã hội nước ta hiện nay ảnh hưởng đến ngành giáo dục

Với sự phát triển cực kỳ nhanh chóng của khoa học và công nghệ đặc biệt

là công nghệ thông tin và truyền thông, nhân loại đang bước đầu quá độ sangnền kinh tế tri thức Từ trên nền tảng đó cùng với những biến đối lớn lao vềchính trị và xã hội trong các thập niên vừa qua, xu thế toàn cầu hóa mạnh mẽđang diễn ra trên thế giới

Ở nước ta, sau gần 2 thập niên thực hiện đường lối “ đổi mới” chuyểndịch từ nên kinh tế hàng hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa, sự công nghiệp hóa hiện đại hóa ngay từ đầu và trongsuốt giai đoạn phát triển… Từng bước phát triển nền kinh tế tri thức đã đạtđược nhiều thành quả Trong bối cảnh quốc tế nêu trên, ở nước ta không chỉ có

sự đổi mới, chuyển sang nền kinh tế thị trường mà còn có xu hướng hội nhập vàtoàn cầu hóa Có thế nỏi trong bối cảnh quốc tế và trong nước nêu trên đã tạonên một thời kỳ mới đối với đất nước Thời kỳ mới đó cũng làm cho nền giáodục đại học nước ta chuyển sang một giai đoạn mới mang những đặc trưng mới

về sứ mạng, cơ cấu, chức năng…Những đặc trưng mới đó cũng làm nảy sinhyêu cầu phải làm đổi mới mục tiêu nội dung và phương pháp dạy học và học ởđại học

I.4 Đổi mới phương pháp dạy học theo hình thức tín chỉ ở các trường đại học nước ta hiện nay là việc làm tất yếu.

a Đổi mới cách dạy và học cũ là yêu cầu cấp bách của thời đại.

Phương pháp dạy học truyền thống với vai trò “giáo viên làm trung tâm”

và sinh viên thụ động tiếp nhập thông tin đã trở nên lạc hậu trước yêu cầu củađào tạo xã hội Một nguyên nhân cơ bản tạo nên những yếu kém và chất lượngthấp của giáo dục Việt Nam là phương pháp giảng dạy còn lạc hậu, nhiều giáoviên sử dụng phương pháp giảng bài truyền thống theo kiểu thông báo đồng loạt

Đa số giáo viên chỉ chú trọng tới thông tin đầy đủ những nội dung cần truyền đạttrong chương trình, cố gắng làm cho sinh viên hiểu và nhớ bài giảng trên lớp, do

Trang 9

vậy đã đặt người học vào trong thói quen thụ động lắng nghe, ghi chép bài giảng

và học thuộc lòng, ít có cơ hội động não Như vậy, phương pháp dạy học truyềnthống đã không còn đáp ứng được nhu cầu của thời đại nữa, buộc nhành giáodục phải tìm cho mình một phương pháp mới, thay đổi cách thức hoạt động để

có thể bắt kịp được thời đại

b đổi mới phương pháp dạy học theo hình thức tín chỉ ở các trường đại học hiện nay là việc làm tất yếu.

Một khi “cái cũ” đã không còn phù hợp nữa thì chắc chắn nó sẽ bị đàothải và cái mới được ra đời với những tính năng ưu việt hơn, cái mới sẽ đáp ứngđược yêu cầu thách thức đã đặt ra

Trong giáo dục cũng vậy, phương pháp dạy học truyền thống đã khôngcòn phù hợp nữa thì phương pháp dạy học hiện đại ra đời Đây là phương phápdạy học lấy người học làm trung tâm, giáo viên chỉ là người tổ chức hướng dẫnhọc sinh một con đường để người học tự tìm đến và chiếm lĩnh tri thức Đâychính là hình thức đào tạo theo tín chỉ mà các trường đại học đang lần lượt ápdụng để nâng cao chất lượng dạy và học trường đại học đang lần lượt áp dụng

để nâng cao chất lượng dạy và học của trường mình

Trong vòng đua tranh của xã hội, với quy luật mọi sự vật hiện tượng đềuvận động, thì đối với bất cứ một trường đại học nào cũng phải thay đổi phươngpháp dạy học để đáp ứng được nhu cầu của xã hội một khi xã hội có bước pháttriển mới như hiện nay, nếu không thì trường đó sẽ bị đào thải theo quy luật tựnhiên

Sở dĩ hình thức đào tạo theo tín chỉ được các trường đại học nước ta lầnlượt áp dụng do đây là một hình thức đào tạo đã được nhiều nước trên thế giớivận dụng thành công đem lại cho nền giáo dục những bước phát triển vượt bậc

Thứ nhất: Đây là phương thức đưa giáo dục đại học về đúng nghĩa của nó,

người tự học, tự nghiên cứu, giảm sự nhồi nhét kiến thức của người dạy, và do

đó nó phát huy được tính chủ động sáng tạo của người học

Trang 10

Thứ hai: Nó liên quan đến độ mềm dẻo và linh hoạt của chương trình.

Chương trình được thiết kế theo phương thức đào tạo tín chỉ bao gồm một hệthống những môn học thuộc khối kiến thức chung, những môn học thuộc khốikiến thức chuyên ngành, những môn học thuộc khối kiến thức cận chuyênngành Mỗi khối kiến thức đều có số lượng môn học lớn hơn số lượng các mônhọc hay số lượng tín chỉ được yêu cầu , sinh viên có thể tham khảo giáo viênhoặc cố vấn học tập để chọn những môn học phù hợp với mình, để hoàn thànhnhững yêu cầu cho một văn bằng và để phục vụ cho nghề nghiệp tương lai củamình

Thứ ba: Do chính đặc điểm “ tích lũy tín chỉ” trong phương thức đào tạo

theo tín chỉ mang lại Sinh viên được cấp bằng khi đã tích lũy được đầy đủ sốlượng tín chỉ do trường đại học quy đinh, do vậy họ có thể hoàn thành nhữngđiều kiện để được cung cấp bằng tùy theo khả năng và nguồn lực của cá nhân

Thứ tư: Phương thức đào tạo theo tín chỉ phản ánh được mối quan tâm và

những yêu cầu của người học như là những người sử dụng kiến thức và nhu cầucủa các nhà sử dụng lao động trong các tổ chức kinh doanh và tổ chức nhà nước

c Phương thức đào tạo theo tín chỉ không chỉ có lợi cho giáo viên và sinh viên mà còn có lợi cho các nhà quản lý ở một số khía cạnh sau:

Thứ nhất: Nó vừa là thước đo khả năng học tập của người học vừa là

thước đo hiệu quả và thời gian làm việc của giáo viên

Thứ 2: Nó là cơ sở để báo cáo các số liệu của trường đại học cho các cơ

quan cấp trên và các đơn vị liên quan, môt khi thước đo giờ tín chỉ được pháttriển và kiện toàn, việc sử dụng nó như là một phương tiện để giám sát bênngoài, để báo cáo và quản lý hành chính sẽ hữu hiệu hơn

Tuy nhiên, Việt Nam là nước đang phát triển, nên việc áp dụng hình thứcđào tạo theo tín chỉ cho các trường đại học còn gặp nhiều khó khăn về cơ sở vậtchất, về trình độ còn khiêm tốn của giảng viên và cả sinh viên cũng như về trình

độ quản lý giáo dục ở các trường địa học còn nhiều thiếu sót Chính vì vậy, kể từkhi áp dụng hình thức đào tạo tín chỉ vào hoạt động dạy và học thì các trường

Trang 11

đại học nước ta tuy đã có nhiều cố gắng để thực hiện nhằm mục đích nâng caochất lượng đào tạo, phát triển toàn diện về mọi mặt của người học Bước đầu đãđạt được một số thành công nhất định như sinh viên có trách nhiệm hơn đơn vịviệc học của mình cũng như phát huy ở sinh viên những mặt tích cực năng động,sáng tạo Còn đối với giảng viên thì có ý thức hơn đối với việc nâng cao trình độchuyên môn, nghiệp vụ, khả năng nắm bắt những thông tin mới để có thể thựchiện sự nghiệp đào tạo con người phù hợp với nhu cầu xã hội Bên cạnh đó, giáodục đại học còn cần có những biện pháp mới để từng bước hoàn thiện chươngtrình đào tạo, phát huy một cách tốt nhất những tính năng của hình thức đào tạotheo tín chỉ.

Trang 12

Chương II: Tình hình việc áp dụng đổi mới phương pháp dạy học theo hình

thức tín chỉ ở các trường đại học nước ta hiện nay.

II.1 Mục đích của phương pháp dạy học theo hình thức tín chỉ.

II.1.1 Mục tiêu của phương pháp dạy học theo hình thức tín chỉ.

Phương pháp dạy học theo tín chỉ nhằm mục tiêu nâng cao ý thức tự giáchọc tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thựchành, nâng cao kỹ năng làm việc với người khác, kỹ năng tìm kiếm và xử lýthông tin, kỹ năng trình bày thảo luận cho sinh viên…

II.1.2 Nội dung của phương pháp dạy học theo hình thức tín chỉ

Mọi phương thức đào tạo chỉ lấy quá trình dạy – học làm trọng tâm Ơphương thức đào tạo truyền thống, vai trò của người dạy được coi trọng (lấyngười dạy làm trung tâm) Còn ở trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, vai tròcủa người học được đặc biệt coi trọng (lấy người học làm trung tâm)

Chiều hướng lấy người học làm trung tâm được quán triệt từ khâu thiết kếchương trình, biên soạn nội dung giảng dạy và sử dụng phương pháp giảng dạy

Để có phương pháp dạy – học theo đúng nghĩa của phương thức đào tạotín chỉ, điểm mấu chốt đẩu tiên là phải xác định lại vai trò của người dạy vàngười học

a Vai trò người dạy

Trong phương thức đào tạo truyền thống, người dạy có một số vai trò,trong đó hai vai trò nổi bật nhất là “ người toàn trí” (người biết mọi thứ về mônhọc liên quan) và “ quyết định mọi hoạt động dạy – học trong lớp học”

Trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, hai vai trò đã nêu ở trên có mộtmức độ nào đó vẫn được duy trì Tuy nhiên, người dạy phải đảm bảo thêm ítnhất ba vai trò nữa là

- Cố vấn cho quá trình học tập

Trang 13

- Người tham gia vào quá trình học tập

- Người học và nhà nghiên cứu

b Vai trò của người dạy học

Trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, người học phải được tạo điềukiện để thực sự trở thành người đàm phán tích cực và có hiệu quả với chínhmình trong quá trình học tập, với mục tiêu học tập với các thành viên trongnhóm và trong lớp học và với người dạy

- Sinh viên đại học trong xã hội khong chỉ là những người thu nhận kiếnthức thụ động từ giáo viên và từ sách vở mà điều quan trọng là họ phải là nhữngngười biết cách học như thế nào

- Người học được xem như là một thành phần hợp pháp trong quá trìnhdạy – học Là những người cộng sự với người dạy trong việc xác định nội dung

và phương pháp giảng dạy, vừa là người cung cấp thông tin phản hồi về bảnthân mình như trình độ, nhu cầu mong muốn về môn học…cho người dạy đểngười dạy có thể điều chỉnh nội dung, phương pháp và thủ thuật giảng dạy phùhợp, tăng hiệu quả dạy – học

c Vai trò nhà quản lý sinh viên

Về công tác quản lý sinh viên, dưới khía cạnh là những phương diện hoạtđộng công ích của nhà trường nhằm quản lý tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ sinhviên thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình học tập tại trường

Hình thức tín chỉ quy địn thường một môn học có:

Giờ lý thuyết: Nhằm giới thiệu mục tiêu của bài học và các yêu cầu thực

hiện, trình bày cấu trúc nội dung và logic các đơn vị kiến thức của bài giảng

Giờ thảo luận: Ở đây sinh viên phải làm việc nhiều hơn với những công

việc như phân tích nội dung, đi sâu vào bản chất của kiến thức, vận dụng lýthuyết vào thực tiễn… Sinh viên có thể làm những công việc đó một mình hoặctheo nhóm tùy vào sự sắp xếp của giáo viên

Trang 14

II.1.3 Phương pháp của hình thức đào tạo tín chỉ

Để thực hiện mục tiêu nói trên thì hình thức dạy học học theo tín chỉ cónhững phương pháp sau

Phương pháp đàm thoại: Là hình thức đối thoại giữa giáo viên và sinh

viên, giữa sinh viên với nhau dựa trên hệ thống câu hỏi Phương pháp này làmcho giờ học sinh động, không khí học tập nổi bật, phát huy tính tích cực, độc lậpnhận thức của sinh viên

Phương pháp làm thí nghiệm: Phương pháp này giúp cho sinh viên nắm

được tri thức một cách chắc chắn, tin tưởng vào tính chính xác của khoa học,gây hứng thú học tập, việc tiến hành thí nghiệm còn góp phần hình thành chohọc sinh các kỹ năng, kỹ xảo thực hành và khả năng vận dụng kiến thức vàothực tiễn

Phương pháp luyện tập: Đây là phương pháp vận dụng lý thuyết vào giải

những bài tập Nó được sử dụng hầu hết ở các môn học, giúp sinh viên hiểu vàcũng cố được kiến thức cũng như nâng cao khả năng tư duy, khả năng trìnhbày…

Ngoài ra còn còn có kết hợp một số phương pháp khác như phương phápthuyết trình, phương pháp quan sát (giảng thuật, giảng giải, giảng diễn)…

Để thực hiện những phương pháp đó cần có phương tiện để thực hiện Đốivới hình thức đào tạo theo tín chỉ thì giảng viên phải sử dụng máy tính để soạngiáo án điện tử, hay hệ thống máy chiểu, micro, dụng cụ hóa chất đầy đủ…

Như chúng ta đã biết, đối với bất cứ một hình thức đào tạo nào thì nócũng phải xác định riêng cho mình mục tiêu, nội dung và phương pháp thựchiện Ba yếu tố trên có tương quan với nhau và điều hướng vào cái mục đíchchung, cái cần phải đạt được Mục đích sau cùng của hình thức đào tạo theo tínchỉ là hướng tới người học lấy người học làm trung tâm, phát triển người học ởcác phương diện về trình độ, kỹ năng, khả năng hoạt động nhóm, tập thể cũngnhư hình thành về nhận thức tình cảm

Trang 15

II.2 Những kết quả đạt được trong việc đổi mới phương pháp dạy học theo hình thức tín chỉ ở các trường đại học nước ta hiện nay.

a Phát triển ở người học những phẩm chất đính với định hướng của hình thức tín chỉ.

Khi tổ chức giảng dạy theo tín chỉ, đầu mỗi học kỳ, sinh viên được đăng

ký các môn học thích hợp với năng lực và hoàn cảnh của học và phù hợp vớiquy định chung nhằm đạt được những kiến thức theo một chuyên môn chính vào

đó Sự lụa chọn các môn học rất rộng rãi, sinh viên có thể ghi tên học các mônliên ngành nếu họ thích Sinh viên không chỉ giới hạn học các môn chuyên môncủa mình mà còn cần học các môn học khác lĩnh vực, chẳng hạn sinh viên ngànhkhoa học tự nhiên và kỹ thuật vẫn cần phải học một ít môn khoa học xã hội,nhân văn và ngược lại

Về việc đánh giá kết quả học tập, hệ thống tín chỉ dùng cách đánh giáthường xuyên và dựa vào sự đánh giá đó đối với các môn học tích lũy được đểcấp bằng tốt nghiệp

Như vậy, với hình thức này sinh viên đã phát huy tính tích cực học tậpcủa mỗi cá nhân, mỗi người biết mình có năng lực về lĩnh vực nào, yếu kém ởđiểm nào để có thể lựa chọn môn học thích hợp để có thể phát huy được sởtrường, khắc phục điểm yếu Đồng thời, sinh viên tùy theo khả năng học tập củamình có thể quyết định số tín chỉ mà minh có thể hoàn thành trong một kỳ học

Như vậy, sinh viên giỏi có thể rút ngắn thời gian học tập, không nhất thiếtphải bốn năm hoặc năm năm như theo niên chế trước đây Tuy nhiên cho đếnđây ưu điểm này vẫn còn rất hạn chế, nhưng trong tương lai nó sẽ được phát huyngày càng tốt hơn

Thời lượng lên lớp giảm mạnh, giúp cho sinh viên có nhiều thời gian tựhọc, tự nghiên cứu, Hầu hết các môn học đều giảm khoảng trên dưới 50% thậmchí có môn giảm trên 70% thời lượng Như vậy sẽ có một phần kiến thức sinhviên phải tự nghiên cứu để nắm vững mà không cần phải lên lớp Điều này có

Trang 16

tính hợp lý vì thật ra không nhất thiết hễ cái gì viết trong giáo trình thì thầy giáophải giảng thì sinh viên mới hiểu được, có nhiều vấn đề không cần giảng viên

mà sinh viên có thể tự mình đọc hiểu được Tự học sẽ tiết kiệm được nhiều thờigian để sinh viên có thể học được nhiều kiến thức hơn Đây là điều cần thiếtnhằm phát huy tính chủ động sáng tạo của người học Việc giảm thời lượng lênlớp còn khắc phục một phần tình trạng giảng viên làm việc quá tải không cầnthiết

Vừa qua Học viên báo chí và tuyên truyền và Viện nghiên cứu truyềnthống và phát triển đã tổ chức trưng cầu ý kiến của 1154 sinh viên thuộc 31trường đại học tại ba địa bàn Hà Nội, Huế, và thành phố Hồ Chí Minh cho thấymột số phát hiện chính về học tập của sinh viên qua số liệu từ kết quả nghiêncứu

Về hành vi tự học và học thêm của sinh viên

Hình thức tự học, tự nghiên cứu ở nhà 79,9%

[2; Sinh viên học theo hình thức tín chỉ như thế nào]

Về tỉ lệ sinh viên tham gia học thêm ở ba nhóm

Nhóm sinh viên ở TP Hồ Chí Minh 53,8

[2; Sinh viên học theo hình thức tín chỉ như thế nào]

Và hai môn ngoại ngữ, tin học chiếm ưu thế tuyệt đối cao trong tỉ lệ sinhviên tham gia học thêm Có 90,4% sinh viên tham gia học thêm ngoại ngữ và53,7 sinh viên tham gia học thêm tin học trong tổng số sinh viên đã và đang

Trang 17

tham gia học thêm Ngược lại tỉ lệ này đối với các môn học khác là không đáng

Về định hướng giá trị tri thức

Tìm hiểu định hướng của sinh viên về các giá trị tri thức mà họ tìm kiếmtrong học tập, theo kết quả điều tra, tỉ lệ % sinh viên lựa chọn các giá trị mà họcoi trọng hiện nay khá đồng đều đối với 5 giá trị sau

Tri thức do thế hệ trước truyền lại 46,2%

[2, Sinh viên học theo hình thức tín chỉ như thế nào]

Từ số liệu điều tra, có thể thấy sinh viên ngày nay vẫn tin tưởng và đề caovai trò tri thức mà họ cần học hỏi, đó là cách đối nhân xử thế trong quan hệ ứng

xử, kinh nghiệm và hoạt động thực tiễn của bản thân

Trang 18

[2, Sinh viên học theo hình thức tín chỉ như thế nào]

Hiện nay sinh viên đào tạo theo hình thức tín chỉ đã biết và quen vớinhững khái niệm như bài tập nhóm, thảo luận nhóm, làm việc theo nhóm…Họctập trong môi trường nhóm sẽ thúc đẩy sự tích cực học tập của cá nhân, tạo sựgắn kết trong một cộng đồng trong khi làm việc nhóm, những mâu thuẫn sẽ nảysinh, buộc sinh viên phải giải quyết “ xung đột” từ đó, họ sẽ có khả năng giảiquyết những mâu thuẫn, thuyết phục được người khác trong những hoàn cảnh cóthể bắt gặp trong cuộc sống này Tinh thần học hỏi và khả năng lắng nghe ngườikhác cũng sẽ là điều mà sinh viên sẽ học hỏi được thông qua việc học nhóm.Những kỹ năng này rất quan trọng đối với sinh viên khi bước ra môi trường làmviệc và đây sẽ là tiền đề tốt để biết cách làm việc trong một môi trường tập thể.Ngoài ra việc học tập nhóm sẽ tổng hợp được những kiến thức sáng tạo của từng

cá nhân, từ đó sản phẩm học tập sẽ giàu tính sáng tạo

Đào tạo theo tín chỉ còn tạo điều kiện cho sinh viên ở các khoa khác nhauhọc cùng nhau, từ đó sinh viên có thể giao lưu, kết bạn, học hỏi kinhnghiệm….Giúp cho mỗi cá nhân có thể mở mang kiến thức trong học tập vàtrong cuộc sống, nâng cao kỹ năng giao tiếp, ứng xử

Hiện nay, sau khi áp dụng hình thức đào tạo tín chỉ được một thời gian,phương thức này đã rèn luyện cho sinh viên một số kỹ năng cần thiết, giúp họchọc tập tốt trong môi trường đào tạo tín chỉ

Trang 19

Qua khảo sát nhóm sinh viên K38 khoa Anh hai trường đại học Ngoạingữ - DDHQGHN đã làm rõ được những vấn đề trên

Cần thiết Rần cần thiết

Việc rèn luyện kỹ năng tự học, tự nghiên cứu ở sinh viên 35,3% 49,6%

Tự xây dựng và quản lý kế hoach học tập cá nhân 42,8% 41,4%

[2, Những hiểu biết và thái độ của sinh viên]

b Đội ngủ giảng viên, đã phát triển lên một trình độ mới

Để có thể giảng dạy ở một trường đại học, điều cần thiết trước tiên đó làtrình độ Có thể nói, giảng viên ở nước ta hiện nay có trình độ cao về chuyênmôn, nghiệp vụ

Khi khảo sát về đội ngũ cán bộ quản lý và nhân viên, giảng viên ở trườngđại học Duy Tân tính đến ngày 30/11/2010, tồng số nhà giáo cán bộ quản lý vànhân viên trong trường có 809 người, trong đó có 609 giảng viên, cán bộ quả lý

và 200 thỉnh giảng

Xét về trình độ chuyên môn, trong số, 495 giảng viên trong đó tỉ lệ giảngviên có trình độ thạc sĩ trở lên chiếm 80,00% và tiến sĩ trờ lên 10,03% được thểhiện qua bảng sau

Ngày đăng: 19/08/2021, 21:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w