1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hướng dẫn dạy làm văn thuyết minh trong chương trình ngữ văn lớp 10 THPT

113 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 435 KB
File đính kèm Hướng dẫn dạy Làm văn thuyết minh.rar (67 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1.1 Trong những năm gần đây, cùng với việc đổi mới chương trình và SGK, đổi mới phương pháp dạy học đã và đang trở thành mối quan tâm hàng đầu không chỉ của các nhà giáo dục, các cơ quan chức năng mà của toàn xã hội. Trong tiến trình đó, do vài trò đặc thù của bộ môn Ngữ văn trong việc hình thành nhân cách cho học sinh, việc đổi mới phương pháp dạy học Văn được xem là vấn đề trọng tâm của đổi mới phương pháp dạy học. Có thể nói rằng, những thành tựu đạt được trong lĩnh vực này là hết sức to lớn, mang lại một diện mạo mới cho việc dạy và học bộ môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông hiện nay. Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa rằng: việc đổi mới phương pháp dạy học Văn trong nhà trường đã được hoàn thiện và không có gì phải bàn nữa. Bởi vì trong thực tế dạy học hiện nay, tình trạng học sinh “chán” học văn, “ngại” học văn, thậm chí “sợ” môn Văn vẫn chưa phải đã hoàn toàn chấm dứt. Và xét riêng trong nội bộ môn Ngữ văn, có vẻ như Làm văn là hợp phần ít được học sinh quan tâm nhất, bị “ghẻ lạnh” nhiều nhất bởi tính chất “khó, khô và khổ” của nó như nhiều người định kiến. Dẫn đến tình trạng này có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân về mặt phương pháp. Trong nhà trường phổ thông hiện nay, vẫn còn một bộ phận không nhỏ giáo viên Ngữ văn chưa có được những phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh, từng bài học cụ thể. Đặc biệt, việc dạy và học Làm văn hiện nay lại càng có nhiều vấn đề cần phải bàn đến. Ngay trong ngành Giáo pháp học, phương pháp dạy học Làm văn trong nhà trường phổ thông cũng chưa được quan tâm đúng mức, bằng chứng là số công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này vẫn chưa có nhiều. Mặt khác, từ trước đến nay, các công trình nghiên cứu dạy học Làm văn đa số vẫn chỉ chú trọng đến kiểu văn nghị luận, đặc biệt là nghị luận văn học.Trong khi đó, với sự ra đời của bộ SGK Ngữ văn mới, một số kiểu văn bản nhật dụng đã được đưa vào giảng dạy trong chương trình phổ thông như: Văn bản quảng cáo, văn bản thuyết minh…Việc dạy và học kiểu văn bản này đang thực sự trở thành một thách thức đối với cả giáo viên lẫn học sinh. Thực trạng đó đòi hỏi phải có những công trình có ý nghĩa phưong pháp luận để việc dạy và học các kiểu văn bản này có hiệu quả hơn. Đó là một trong những lí do thúc đẩy chúng tôi đến với đề tài này: góp phần vạch ra hưóng đi cho việc dạy học một trong những kiểu văn bản đang được xem là mới trong chương trình Ngữ văn THPT. 1.2. Việc lựa chọn đề tài này của chúng tôi cũng xuất phát từ vai trò của kiểu văn bản thuyết minh trong đời sống hiện nay. Có thể thấy rằng, dù mới được đưa vào trong chương trình kể từ bộ SGK Ngữ văn mới, nhưng trong thực tế, văn bản thuyết minh lại rất phổ biến và cần thiết. Chúng ta có thể gặp kiểu văn bản này trong bất cứ lĩnh vực nào của đời sống, từ đời sống khoa học đến cuộc sống thường nhật; từ những nhà trí thức đến người lao động, từ nhà khoa học đến người nông dân, bất cứ ai cũng có thể gặp và cần đến văn bản thuyết minh. Xét riêng trong nhà trường phổ thông, văn bản thuyết minh cũng đóng một vai trò cực kì quan trọng. Trong chương trình Làm văn bấy lâu nay, do nhấn mạnh “chất văn” một chiều, tư duy khoa học của học sinh ít được rèn luyện. Hà Văn Tấn nhận định: “Trong điều kiện kinh tế, xã hội kém phát triển, tư duy lí luận không phát triển, nhiều tàn dư nguyên thuỷ còn tồn tại (đặc biệt trong nếp cảm, nếp nghĩ của mỗi người), thì đó là một khó khăn vô cùng lớn, đòi hỏi phải có nỗ lực phi thường mới có thể khắc phục được, khi muốn biến dân tộc ta thành một dân tộc hiện đại”.( Hà Văn Tấn, thông tin khoa học giáo dục, số 121987). Để “biến dân tộc ta thành một dân tộc hiện đại” thì ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, mỗi người Việt Nam cần phải rèn luyện cho mình một tư duy mang tính khoa học. Việc đưa văn bản thuyết minh vào chương trình Ngữ văn phổ thông đã phần nào đáp ứng đượ yêu cầu đó. Bởi vì văn bản thuyết minh đòi hỏi một tư duy khoa học, và việc dạy học Làm văn thuyết minh cũng là dạy tư duy khoa học, góp phần nâng cao dân trí một cách thiết thực nhất. Từ vai trò quan trọng của văn bản thuyết minh trong đời sống và trong nhà trường, từ sự thiếu hụt mảng phương pháp dạy học kiểu văn bản này trong thực tiễn nghiên cứu phương pháp dạy học Ngữ văn hiện nay, chúng tôi quyết định tiến hành tìm hiểu đề tài “ Hướng dẫn dạy Làm văn thuyết minh trong chương trình Ngữ văn lớp 10 THPT”. Qua đề tài này, chúng tôi mong muốn sẽ tháo gỡ được phần nào những vướng mắc trong dạy học Làm văn thuyết minh cho giáo viên Ngữ văn khi dạy phần nội dung này ở lớp 10 THPT. 2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1.1 Lịch sử nghiên cứu kiểu văn bản thuyết minh Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản rất thông dụng, được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực của đời sống. Tuy nhiên, trước đây, do chỉ nhấn mạnh chất “văn” một chiều, kiểu văn bản này hầu như bị bỏ quên, rất hiếm khi được đề cập đến trong các tài liệu, các công trình nghiên cứu. Chỉ từ khi được đưa vào chương trình Ngữ văn phổ thông (2004) và cùng với sự thay đổi quan niệm “văn” trong nhà trường, văn bản thuyết minh mới được các nhà nghiên cứu, các nhà soạn sách thuộc chuyên ngành Ngữ văn quan tâm tìm hiểu. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu kiểu văn bản này một cách thực sự bài bản, toàn diện. Trong những tài liệu mà chúng tôi có được, văn bản thuyết minh mới chỉ được đề cập đến một cách tương đối sơ lược. Có thể điểm qua một số cuốn sách như sau: Trước hết phải kể đến cuốn sách giáo viên Ngữ văn 8 (2004), do ãb Giáo Dục ấn hành. Đây là cuốn sách có tính chất công cụ, không thể thiếu đối với giáo viên Ngữ văn THCS. Do kiểu bài văn thuyết minh được đưa vào chương trình phổ thông bắt đầu từ lớp 8, nên đây cũng là tài liệu đầu tiên trong hệ thống Sách giáo viên đề cập đến kiểu văn bản này. Sách giáo viên Ngữ văn 8 đã bàn đến văn bản thuyết minh trên một số nét khái quát như sau: Khái niệm văn bản thuyết minhếuo sánh với một số kiểu (dạng) văn bản khác cùng có mặt trong chương trình như văn bản tự sự, miêu tả, nghị luận. Tuy nhiên, do đây không phải phần trọng tâm của bài học về văn bản thuyết minh nên việc phân biệt vẫn nằm ở mức độ hết sức sơ lược và chưa đưa ra được một tiêu chí thật cụ thể. Về các phương pháp tạo lập văn bản thuyết minh, SGK Ngữ văn 8 cũng chỉ điểm qua trên những nét cơ bản nhất. Mặc dù thế, đây vẫn là tài liệu hết sức bổ ích và có ý nghĩa gợi ý rất lớn cho chúng tôi khi thực hiện đề tài này. Năm 2006, một loạt cuốn sách tham khảo theo chương trình Ngữ văn mới cho học sinh THCS và THPT đã ra đời, đáp ứng nhu cầu đổi mới chương trình và phương pháp dạy học bộ môn. Trong các tài liệu này, văn bản thuyết minh cũng được đề cập đến như một nội dung quan trọng. Chẳng hạn như cuốn “Bồi dưỡng Ngữ văn 8” của Nguyễn Kim Dung, Đỗ Kim Hảo…do Nxb Giáo Dục ấn hành năm 2006. Trong cuốn sách này, ở phần Làm văn, các tác giả đã giành hơn 10 trang để nói về văn thuyết minh: Khái niệm văn bản thuyết minh, đặc điểm chung của văn bản thuyết minh, giới thiệu một số phương pháp thuyết minh, các dạng văn bản thuyết minh,v.v… Cũng nằm trong hệ thống sách tham khảo Ngữ văn giành cho bậc THCS , năm 2006, cuốn “Kiến thức kĩ năng cơ bản Tập làm văn THCS” của tác giả Huỳnh Thị Thu Ba đã được Nxb Giáo Dục xuất bản. Trong phần hai của cuốn sách, tác giả Huỳnh Thị Thu Ba đã trình bày một số đặc điểm của văn thuyết minh và các phương pháp thuyết minh thường dùng. So với cuốn Bồi dưỡng Ngữ văn 8, phần trình bày đặc điểm văn bản thuyết minh của cuốn sách này rõ ràng hơn, khoa học hơn với các tiểu mục: a, Tính tri thức; b, Tính khoa học; c, Tính khách quan; d, Tính thực dụng. Tuy việc phân tích các đặc trưng văn bản thuyết minh ở đây chưa thật thấu đáo, nhưng đây vẫn là một tài liệu tham khảo bổ ích để chúng tôi hoàn thành tốt chương 1 của khoá luận này. Một tài liệu khác cũng đề cập đến phần văn bản thuyết minh, đó là cuốn Dạy học Tập làm văn ở Trung học cơ sở của tác giả Nguyễn Trí (Nxb Giáo dục2006). Trong cuốn sách này, sau khi giải thích thế nào là văn bản thuyết minh, tác giả đã đi vào tìm hiểu đặc điểm của văn bản thuyết minh, bao gồm: a, Văn bản thuyết minh đa dạng về đề tài và nội dung tri thức nhằm thoả mãn nhu cầu tìm hiểu, mở mang tri thức…của người đọc; b, Sử dụng phương thúc trình bày, giới thiệu giảng giải, giải thích.. với nhiều phương pháp khác nhau là đặc trưng của phương pháp viết các đặc trưng của văn bản thuyết minh; c, Thông tin trong van bản thuyết minh phải khách quan, chính xác, chân thực, có ích và được trình bày một cách rõ ràng, chặt chẽ, hấp dẫn. 20,104109 Nói tóm lại, trong các liệu mà chúng tôi đã sưu tầm và khảo sát được, văn bản thuyết minh đã được bàn đến như một nội dung quan trọng. Nhìn chung, các tài liệu này đều thống nhất ở chỗ: Đã đưa ra một cách hiểu chung về khái niệm văn bản thuyết minh, và mặc dù cách diễn đạt có thể khác nhau nhưng các tài liệu đó đều coi tính khách quan, tính khoa học, tính thực dụng là những đặc điểm nổi bật của văn bản thuyết minh. Tuy nhiên, đây là những tài liệu tham khảo dành cho bậc THCS, hơn nữa văn thuyết minh lại không phải là đối tượng duy nhất được đề cập đến. Do đó, các tài liệu trên chưa có điều kiện tìm hiểu một cách thấu đáo về kiểu văn bản này. Mặc dù vậy, đó vẫn là những gợi ý hết sức bổ ích cho chúng tôi khi thực hiện đề tài này. 2.2. Lịch sử nghiên cứu phương pháp dạy học Làm văn thuyết minh

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Trong những năm gần đây, cùng với việc đổi mới chương trình và SGK,

đổi mới phương pháp dạy học đã và đang trở thành mối quan tâm hàng đầukhông chỉ của các nhà giáo dục, các cơ quan chức năng mà của toàn xã hội.Trong tiến trình đó, do vài trò đặc thù của bộ môn Ngữ văn trong việc hìnhthành nhân cách cho học sinh, việc đổi mới phương pháp dạy học Văn đượcxem là vấn đề trọng tâm của đổi mới phương pháp dạy học Có thể nói rằng,những thành tựu đạt được trong lĩnh vực này là hết sức to lớn, mang lại mộtdiện mạo mới cho việc dạy và học bộ môn Ngữ văn trong nhà trường phổthông hiện nay

Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa rằng: việc đổi mới phương phápdạy học Văn trong nhà trường đã được hoàn thiện và không có gì phải bànnữa Bởi vì trong thực tế dạy học hiện nay, tình trạng học sinh “chán” họcvăn, “ngại” học văn, thậm chí “sợ” môn Văn vẫn chưa phải đã hoàn toànchấm dứt Và xét riêng trong nội bộ môn Ngữ văn, có vẻ như Làm văn là hợpphần ít được học sinh quan tâm nhất, bị “ghẻ lạnh” nhiều nhất bởi tính chất

“khó, khô và khổ” của nó như nhiều người định kiến Dẫn đến tình trạng này

có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân về mặt phương pháp Trongnhà trường phổ thông hiện nay, vẫn còn một bộ phận không nhỏ giáo viênNgữ văn chưa có được những phương pháp dạy học phù hợp với từng đốitượng học sinh, từng bài học cụ thể Đặc biệt, việc dạy và học Làm văn hiệnnay lại càng có nhiều vấn đề cần phải bàn đến Ngay trong ngành Giáo pháphọc, phương pháp dạy học Làm văn trong nhà trường phổ thông cũng chưađược quan tâm đúng mức, bằng chứng là số công trình nghiên cứu chuyên sâu

về vấn đề này vẫn chưa có nhiều

Trang 2

Mặt khác, từ trước đến nay, các công trình nghiên cứu dạy học Làm văn

đa số vẫn chỉ chú trọng đến kiểu văn nghị luận, đặc biệt là nghị luận vănhọc.Trong khi đó, với sự ra đời của bộ SGK Ngữ văn mới, một số kiểu vănbản nhật dụng đã được đưa vào giảng dạy trong chương trình phổ thông như:Văn bản quảng cáo, văn bản thuyết minh…Việc dạy và học kiểu văn bản nàyđang thực sự trở thành một thách thức đối với cả giáo viên lẫn học sinh Thựctrạng đó đòi hỏi phải có những công trình có ý nghĩa phưong pháp luận đểviệc dạy và học các kiểu văn bản này có hiệu quả hơn Đó là một trong những

lí do thúc đẩy chúng tôi đến với đề tài này: góp phần vạch ra hưóng đi choviệc dạy học một trong những kiểu văn bản đang được xem là mới trongchương trình Ngữ văn THPT

1.2 Việc lựa chọn đề tài này của chúng tôi cũng xuất phát từ vai trò của kiểu

văn bản thuyết minh trong đời sống hiện nay Có thể thấy rằng, dù mới đượcđưa vào trong chương trình kể từ bộ SGK Ngữ văn mới, nhưng trong thực tế,văn bản thuyết minh lại rất phổ biến và cần thiết Chúng ta có thể gặp kiểuvăn bản này trong bất cứ lĩnh vực nào của đời sống, từ đời sống khoa học đếncuộc sống thường nhật; từ những nhà trí thức đến người lao động, từ nhà khoahọc đến người nông dân, bất cứ ai cũng có thể gặp và cần đến văn bản thuyếtminh

Xét riêng trong nhà trường phổ thông, văn bản thuyết minh cũng đóngmột vai trò cực kì quan trọng Trong chương trình Làm văn bấy lâu nay, donhấn mạnh “chất văn” một chiều, tư duy khoa học của học sinh ít được rènluyện Hà Văn Tấn nhận định: “Trong điều kiện kinh tế, xã hội kém pháttriển, tư duy lí luận không phát triển, nhiều tàn dư nguyên thuỷ còn tồn tại(đặc biệt trong nếp cảm, nếp nghĩ của mỗi người), thì đó là một khó khăn vôcùng lớn, đòi hỏi phải có nỗ lực phi thường mới có thể khắc phục được, khimuốn biến dân tộc ta thành một dân tộc hiện đại”.( Hà Văn Tấn, thông tin

Trang 3

khoa học giáo dục, số 12-1987) Để “biến dân tộc ta thành một dân tộc hiệnđại” thì ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, mỗi người Việt Nam cầnphải rèn luyện cho mình một tư duy mang tính khoa học Việc đưa văn bảnthuyết minh vào chương trình Ngữ văn phổ thông đã phần nào đáp ứng đượyêu cầu đó Bởi vì văn bản thuyết minh đòi hỏi một tư duy khoa học, và việcdạy học Làm văn thuyết minh cũng là dạy tư duy khoa học, góp phần nângcao dân trí một cách thiết thực nhất.

Từ vai trò quan trọng của văn bản thuyết minh trong đời sống và trongnhà trường, từ sự thiếu hụt mảng phương pháp dạy học kiểu văn bản nàytrong thực tiễn nghiên cứu phương pháp dạy học Ngữ văn hiện nay, chúng tôi

quyết định tiến hành tìm hiểu đề tài “ Hướng dẫn dạy Làm văn thuyết minh trong chương trình Ngữ văn lớp 10 THPT” Qua đề tài này, chúng tôi mong

muốn sẽ tháo gỡ được phần nào những vướng mắc trong dạy học Làm vănthuyết minh cho giáo viên Ngữ văn khi dạy phần nội dung này ở lớp 10THPT

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.1 Lịch sử nghiên cứu kiểu văn bản thuyết minh

Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản rất thông dụng, được sử dụng rộngrãi trong nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực của đời sống Tuy nhiên, trướcđây, do chỉ nhấn mạnh chất “văn” một chiều, kiểu văn bản này hầu như bị bỏquên, rất hiếm khi được đề cập đến trong các tài liệu, các công trình nghiêncứu

Chỉ từ khi được đưa vào chương trình Ngữ văn phổ thông (2004) và cùngvới sự thay đổi quan niệm “văn” trong nhà trường, văn bản thuyết minh mớiđược các nhà nghiên cứu, các nhà soạn sách thuộc chuyên ngành Ngữ vănquan tâm tìm hiểu Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào

Trang 4

nghiên cứu kiểu văn bản này một cách thực sự bài bản, toàn diện Trongnhững tài liệu mà chúng tôi có được, văn bản thuyết minh mới chỉ được đềcập đến một cách tương đối sơ lược Có thể điểm qua một số cuốn sách nhưsau:

Trước hết phải kể đến cuốn sách giáo viên Ngữ văn 8 (2004), do ãbGiáo Dục ấn hành Đây là cuốn sách có tính chất công cụ, không thể thiếu đốivới giáo viên Ngữ văn THCS Do kiểu bài văn thuyết minh được đưa vàochương trình phổ thông bắt đầu từ lớp 8, nên đây cũng là tài liệu đầu tiêntrong hệ thống Sách giáo viên đề cập đến kiểu văn bản này Sách giáo viênNgữ văn 8 đã bàn đến văn bản thuyết minh trên một số nét khái quát như sau:Khái niệm văn bản thuyết minhếuo sánh với một số kiểu (dạng) văn bản kháccùng có mặt trong chương trình như văn bản tự sự, miêu tả, nghị luận Tuynhiên, do đây không phải phần trọng tâm của bài học về văn bản thuyết minhnên việc phân biệt vẫn nằm ở mức độ hết sức sơ lược và chưa đưa ra đượcmột tiêu chí thật cụ thể Về các phương pháp tạo lập văn bản thuyết minh,SGK Ngữ văn 8 cũng chỉ điểm qua trên những nét cơ bản nhất Mặc dù thế,đây vẫn là tài liệu hết sức bổ ích và có ý nghĩa gợi ý rất lớn cho chúng tôi khithực hiện đề tài này

Năm 2006, một loạt cuốn sách tham khảo theo chương trình Ngữ vănmới cho học sinh THCS và THPT đã ra đời, đáp ứng nhu cầu đổi mới chươngtrình và phương pháp dạy học bộ môn Trong các tài liệu này, văn bản thuyếtminh cũng được đề cập đến như một nội dung quan trọng Chẳng hạn nhưcuốn “Bồi dưỡng Ngữ văn 8” của Nguyễn Kim Dung, Đỗ Kim Hảo…do NxbGiáo Dục ấn hành năm 2006 Trong cuốn sách này, ở phần Làm văn, các tácgiả đã giành hơn 10 trang để nói về văn thuyết minh: Khái niệm văn bảnthuyết minh, đặc điểm chung của văn bản thuyết minh, giới thiệu một sốphương pháp thuyết minh, các dạng văn bản thuyết minh,v.v…

Trang 5

Cũng nằm trong hệ thống sách tham khảo Ngữ văn giành cho bậcTHCS , năm 2006, cuốn “Kiến thức - kĩ năng cơ bản Tập làm văn THCS” củatác giả Huỳnh Thị Thu Ba đã được Nxb Giáo Dục xuất bản Trong phần haicủa cuốn sách, tác giả Huỳnh Thị Thu Ba đã trình bày một số đặc điểm củavăn thuyết minh và các phương pháp thuyết minh thường dùng So với cuốnBồi dưỡng Ngữ văn 8, phần trình bày đặc điểm văn bản thuyết minh củacuốn sách này rõ ràng hơn, khoa học hơn với các tiểu mục: a, Tính tri thức; b,Tính khoa học; c, Tính khách quan; d, Tính thực dụng Tuy việc phân tích cácđặc trưng văn bản thuyết minh ở đây chưa thật thấu đáo, nhưng đây vẫn làmột tài liệu tham khảo bổ ích để chúng tôi hoàn thành tốt chương 1 của khoáluận này.

Một tài liệu khác cũng đề cập đến phần văn bản thuyết minh, đó là cuốnDạy học Tập làm văn ở Trung học cơ sở của tác giả Nguyễn Trí (Nxb Giáodục-2006) Trong cuốn sách này, sau khi giải thích thế nào là văn bản thuyếtminh, tác giả đã đi vào tìm hiểu đặc điểm của văn bản thuyết minh, bao gồm:

a, Văn bản thuyết minh đa dạng về đề tài và nội dung tri thức nhằm thoả mãnnhu cầu tìm hiểu, mở mang tri thức…của người đọc; b, Sử dụng phương thúctrình bày, giới thiệu giảng giải, giải thích với nhiều phương pháp khác nhau

là đặc trưng của phương pháp viết các đặc trưng của văn bản thuyết minh; c,Thông tin trong van bản thuyết minh phải khách quan, chính xác, chân thực,

có ích và được trình bày một cách rõ ràng, chặt chẽ, hấp dẫn [20,104-109]Nói tóm lại, trong các liệu mà chúng tôi đã sưu tầm và khảo sát được,văn bản thuyết minh đã được bàn đến như một nội dung quan trọng Nhìnchung, các tài liệu này đều thống nhất ở chỗ: Đã đưa ra một cách hiểu chung

về khái niệm văn bản thuyết minh, và mặc dù cách diễn đạt có thể khác nhaunhưng các tài liệu đó đều coi tính khách quan, tính khoa học, tính thực dụng

là những đặc điểm nổi bật của văn bản thuyết minh

Trang 6

Tuy nhiên, đây là những tài liệu tham khảo dành cho bậc THCS, hơnnữa văn thuyết minh lại không phải là đối tượng duy nhất được đề cập đến.

Do đó, các tài liệu trên chưa có điều kiện tìm hiểu một cách thấu đáo về kiểuvăn bản này Mặc dù vậy, đó vẫn là những gợi ý hết sức bổ ích cho chúng tôikhi thực hiện đề tài này

2.2 Lịch sử nghiên cứu phương pháp dạy học Làm văn thuyết minh

Cũng như lịch sử nghiên cứu văn bản thuyết minh, việc tìm hiểu cácphương pháp, hình thức tổ chức dạy học kiểu văn bản này cũng mới chỉ bắtđầu từ năm 2004, thời điểm văn thuyết minh được đưa vào chương trình Ngữvăn lớp 8 THCS

Đầu tiên vẫn phải kể đến Sách giáo viên Ngữ văn 8 Trong cuốn sáchnày, bên cạnh việc trình bày sơ lược về kiểu văn bản thuyết minh , các nhàbiên soạn đã dành phần lớn thời lượng của kiểu văn này để định hướng cáchdạy học những bài Làm văn thuyết minh cụ thể trong chương trình

Tiếp đó, năm 2005 Nxb Giáo Dục tiếp tục xuất bản cuốn Sách giáo viênNgữ văn 9 do Giáo sư Nguyễn Khắc Phi chủ biên Cuốn sách đề cập đến cáchdạy đối với những bài học về văn thuyết minh trong chương trình Ngữ văn 9,chẳng hạn như: Sử dụng các biện pháp nghệ thuật trong văn bản thuyết minh,

Sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh

Cùng trong hệ thống Sách giáo viên Ngữ văn, năm 2006, do yêu cầu củachương trình, Nxb Giáo Dục đã ấn hành hai bộ Sách giáo viên Ngữ văn dànhcho lớp 10 THPT, bao gồm cả Sách giáo viên Ngữ văn 10 và Sách giáo viênNgữ văn 10 nâng cao do Phan Trọng Luận chủ biên

Do đặc thù của loại sách có tính chất công cụ, hai bộ sách giáo viên trênđây cũng chỉ nêu lên những định hướng dạy học Làm văn thuyết minh cho

Trang 7

những bài cụ thể, còn để có được một cái nhìn có tính chất tổng quát vềphương pháp dạy học Làm văn thuyết minh thì tài liệu này vẫn chưa có điềukiện đi sâu tìm hiểu.

Bên cạnh Sách giáo viên, hỗ trợ cho việc dạy học Làm văn thuyết minhtrong chương trình phổ thông còn có những cuốn sách tham khảo

Đầu tiên, đó là cuốn Dạy học Tập làm văn Trung học cơ sở của tác giảNguyễn Trí (Nxb Giáo Dục-2006) Trong chương hai của tài liệu này, tác giả

đã dành một phần thời lượng để đề cập đến cách dạy văn bản thuyết minh.Tuynhiên, do đây là cuốn sách viết cho bậc THCS nên nội dung này nói riêng vàtoàn bộ cuốn sách nói chung vẫn chỉ có ý nghĩa phù hợp với chương trình Tậplàm văn THCS và ít có tính ứng dụng khi dạy học Làm văn thuyết minh ở lớp

10 THPT

Xét riêng những tài liệu có đề cập đến phương pháp dạy học Làm vănthuyết minh ở lớp 10 THPT thì lại càng hiếm Trước tiên phải kể đến các tàiliệu bồi dưỡng giáo viên Ngữ văn do Bộ Giáo Dục và Đào Tạo ban hành.Những tài liệu này đã tóm tắt lại kiến thức lí thuyết và xác định một số kĩnăng làm văn thuyêt minh cụ thể cần hình thành cho học sinh Đây sẽ là cơ sở

để giáo viên xác định trọng tâm cho từng bài học cụ thể Các nhà biên soạncũng đã bàn đến một số vấn đề phương pháp chung cho cả chương trình Ngữvăn, có khả năng áp dụng vào dạy học các nội dung Làm văn thuyết minh.Ngoài ra, cũng cần nhắc đến những cuốn sách tham khảo Ngữ văn chogiáo viên và học sinh lớp 10 THPT Chẳng hạn như sách hướng dẫn thiết kếgiáo án, thiết kế bài giảng Trong đó, các tác giả đã hưóng dẫn một cách cụthể một số thao tác để tiến hành một giờ dạy Làm văn, Tuy nhiên, cũng nhưSách giáo viên, các cuốn sách thiết kế bài giảng, thiết kế giáo án thưòng chỉ đivào những bài cụ thể theo một hướng nhất định, chưa thể trở thành một tài

Trang 8

liệu có ý nghĩa chỉ đạo chung về mặt phương pháp cho việc dạy học toàn bộphần Làm văn thuyết minh ở lớp 10 THPT.

Tóm lại, lịch sử nghiên cứu văn bản thuyết minh và phương pháp giảngdạy Làm văn thuyết minh trong nhà trường phổ thông, đặc biệt ở lớp 10THPT còn rất mới mẻ Cho đến thời điểm mà chúng tôi tiến hành nghiên cứu

đề tài này, vẫn chưa có một tài liệu nào nghiên cứu một cách chuyên sâu vềvấn đề văn bản thuyết minh và phương pháp dạy học làm văn thuyết minhtrong chương trình lớp 10 THPT Với khoá luận này, chúng tôi hi vọng sẽ gópphần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của các thầy cô giáo khi dạy họcphần nội dung này

Chương 1:

KHÁI QUÁT VỀ VĂN BẢN THUYẾT MINH VÀ ĐẶC ĐIỂM PHẦN LÀM

VĂN THUYẾT MINH LỚP 10 THPT

1.1 Khái quát về văn bản thuyết minh

Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản mới trong chương trình Ngữ vănphổ thông Năm 2004, với sự ra đời của bộ SGK Ngữ văn 8, kiểu văn bản nàylần đầu tiên được đưa vào chương trình Làm văn THCS và tiếp tục được nângcao, hoàn thiện kiến thức, kỹ năng trong chương trình Làm văn lớp 10 THPT.Tuy nhiên, trong cuộc sống, văn bản thuyết minh lại là kiểu văn bản hếtsức thông dụng và cần thiết, có phạm vi sử dụng rất rộng rãi, phổ biến trongnhiều nghành nghề, nhiều lĩnh vực.Chẳng hạn, khi mua một cái máy vitính,máy bơm, máy giặt chúng ta cần có văn bản thuyết minh để hiểu đượctính năng, cấu tạo , cách sử dụng, cách bảo quản loại máy đó Mua một hộpbánh, trên đó cũng ghi xuất xứ, thành phần các chất làm nên bánh, ngày sảnxuất, hạn sử dụng…Đến một danh lam thắng cảnh,trước cánh cổng ra vào thếnào ta cũng sẽ bắt gặp một tấm bảng ghi lời giới thiệu lai lịch, sơ đồ thắng

Trang 9

cảnh Ra ngoài phố, ta gặp các bảng quảng cáo giới thiệu sản phẩm Cầm mộtquyển sách, bìa sau có thể có lời giới thiệu tóm tắt nội dung.Trong SGK cócác bài trình bày thí nghiệm hoăc trình bày tiểu sử của các nhà văn, giới thiệutác phẩm được trích…Tất cả đều là văn bản thuyết minh Như vậy, đời sốnghằng ngày của chúng ta không thể thiếu các văn bản thuyết minh.

Vậy văn bản thuyết minh là gì ? Để trả lời đựoc câu hỏi này, ta phải làm

rõ các khái niệm có liên quan: Khái niệm văn bản và khái niệm thuyết minh.

1.1.3 Thế nào là văn bản thuyết minh ?

1.1.3.1.Khái niệm văn bản

Văn bản là khái niệm xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử nghiên cứu ngôn

ngữ học và văn bản học Cũng như các đơn vị khác của ngôn ngữ (chẳng hạntừ,câu…), văn bản là một trong những đơn vị rất phức tạp Cho đến nay, đã córất nhiều cách hiểu và cách định nghĩa về khái niệm này, xuất phát từ nhữnggóc nhìn và những quan diểm khác nhau Diệp Quang Ban trong cuốn “Vănbản và liên kết trong văn bản” đã nhận xét: “Số lượng các định nghĩa đãnhanh chóng lớn lên đến mức không dễ dàng kiểm nghiệm được “ [8,15]Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa rằng : Ngành ngôn ngữ học đangphải “sở hữu” một tập hợp hỗn độn các định nghĩa về văn bản Ngược lại,chúng ta vẫn có thể hệ thống hoá các định nghĩa đó theo những góc độ khácnhau Về vấn đề này, chúng tôi xin dẫn ra cách phân loại khái niệm văn bảncủa Phó giáo sư -Tiến sĩ Phan Mậu Cảnh trong cuốn “Ngôn ngữ học vănbản” Trong tài liệu này,tác giả đã hệ thống hoá khái niệm văn bản theo 3hướng chủ yếu:

1 Hướng nhấn mạnh về mặt hình thức Theo hướng này có các ý kiếncủa các tác giả như Cook (1989),R.Hasweg (1968),L.Hjelmslev(1953),N.NuNan (1993)

Trang 10

Chẳng hạn, N.NuNan (1993) cho rằng : “Văn bản là thuật ngữ để chỉ bất

kì cái nào ghi bằng chữ viết của một sự kiện giao tiếp” [23,15]

2 Hướng nhấn mạnh cả dạng viết, nội dung và cấu trúc Theo hướng này

có các định nghĩa của M.Halliday (1906), L.M.Loseva (1980), Trần NgọcThêm (1985), Nguyễn Quang Ninh (1994)

Nguyễn Quang Ninh cho rằng : “Văn bản là một thể hoàn chỉnh về hìnhthức, trọn vẹn về nội dung, thống nhất về cấu trúc và độc lập về giao tiếp.Dạng tồn tại điển hình của văn bản là dạng viết” [23,16]

3.Hướng nhấn mạnh hình thức nói

Các tác giả định nghĩa văn bản theo hướng này gọi văn bản là “diễnngôn” Tiêu biểu như định nghĩa của Barth(1970), Kook(1989), Crystl(1992),

Hồ Lê(1996)…Có thể dẫn ra một cách định nghĩa văn bản theo hướng này :

“Diễn ngôn là những chuỗi ngôn ngữ được nhận biết trọn nghĩa, được hợpnhất lại và có mục đích” (Cook,1989) [23,16]

Cũng trong tài liệu này, sau khi đã hệ thống hoá các cách hiểu về văn bản

và trên cơ sở kế thừa có phê phán những ý kiến đó, tác giả Phan Mậu Cảnh đãđưa ra một cách hiểu về khái niệm văn bản như sau:

“Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, là đơn vịđược tạo lập bởi sự liên kết các câu, các đoạn văn…tạo thành chỉnh thể thốngnhất, một đơn vị hoàn chỉnh về nội dung và hình thức, mang tính phong cách

và nhằm một mục đích nhất định” [23,18]

Theo chúng tôi, đây là một định nghĩa khá hợp lý bởi đã khái quát đượcđầy đủ những đặc điểm nổi bật nhất của một văn bản trên mọi khía cạnh củanó: nội dung, hình thức, dạng tồn tại, mục đích….Đó là cơ sở để chúng tôi lựachọn cách định nghĩa này, xem đó như là một tiền đề để đưa ra cách hiểu vềđối tượng của đề tài mà chúng tôi đang nghiên cứu, đó là văn bản thuyếtminh

Trang 11

1.1.1.2 Khái niệm thuyết minh

Thuyết minh là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa

học: toán học, vật lý học, sinh vật học, sử học…Chẳng hạn: Thuyết minh một cách giải toán, thuyết minh một thí nghiệm vật lý, thuyết minh quá trình sinh trưởng của một loại cây trồng…

Ở đây , “thuyết” có nghĩa là “nói lý lẽ nhằm làm cho người ta nghetheo”, còn “minh” nghĩa là “sáng tỏ” (minh xét, chứng minh…) Vậy có thểhiểu “thuyết minh” là : “nói hoặc chú thích cho người ta hiểu rõ hơn về những

sự vật, sự việc hoặc hình ảnh đã được đưa ra” (Theo Hoàng Phê, Từ điển tiếng Việt )

1.1.1.3 Khái niệm văn bản thuyết minh

Từ cách hiểu các khái niệm văn bản và thuyết minh trên chúng ta có thể

đi đến định nghĩa về văn bản thuyết minh như sau:

Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đờisống nhằm cung cấp tri thức về đặc điểm ,tính chất , nguyên nhân của các sựvật, sự việc, hiện tượng, giúp cho người tiếp nhận văn bản hiểu rõ đối tượng

và biết cách sử dụng chúng vào trong những mục đích có ích cho con người

1.1.2 Đặc trưng của văn bản thuyết minh

1.1.2.1 Đặc trưng về nội dung

Mỗi kiểu văn bản có những đặc trưng riêng về mặt nội dung: Nội dungcủa văn bản nghị luận là bàn bạc, phân tích, chứng minh… các vấn đề xã hộihay văn học, nội dung của văn bản tự sự là câu chuyện, nội dung của văn bảnbiểu cảm là cảm xúc đối với hiện thực…Văn bản thuyết minh cũng có nhữngđặc trưng riêng về mặt nội dung Theo chúng tôi, những đặc trưng đó là:

Trang 12

a.Tính tri thức

Như trên đã nói, văn bản thuyết minh là kiểu văn bản được viết ra nhằmcung cấp những tri thức về sự vật, sự việc, hiện tượng Bị chi phối bởi mụcđích đó, nội dung của văn bản thuyết minh chủ yếu là trình bày tính chất, đặcđiểm, cấu tạo, cách dùng cùng lí do phát sinh, quy luật phát triển, biến hoácủa dối tượng Một bài văn thuyết minh muốn đạt yêu cầu thì trước hết nóphải cung cấp những kiến thức nào đó thật tường tận cho độc giả Đó chính làtính tri thức của văn bản thuyết minh.Trong khi đó, với các kiểu văn bản khácnhư tự sự hay biểu cảm, tính tri thức không được xem như một vấn đề cốt tử,nghĩa là các kiểu văn bản này không được xem xét trước hết ở phương diện trithức khoa học

Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là : những kiểu (dạng) văn bảnkhác không mang lại tri thức cho người đọc Cần hiểu rằng, với các kiểu vănbản khác, việc truyền thụ tri thức không phải là nhiệm vụ chính Trong vănbản thuyết minh, ngược lại, nhiệm vụ chính lại là cung cấp tri thức về đốitượng được thuyết minh Để thấy rõ hơn điều này, chúng ta sẽ đi vào tìm hiểuhai ví dụ sau đây:

Ví dụ 1:

“… Ở Bình Định, dừa là chủ yếu, dừa là tất cả Dừa ở đây như rừng, dừamọc ven sông, men bờ ruộng, leo sườn đồi, rải theo bờ biển Trên nhữngchặng đường dài suốt 50, 60 km, chúng ta chỉ gặp cây dừa: dừa xiêm thấp lè

tè, quả tròn, nước ngọt, dừa nếp lơ lửng giữa trời, quả vầng xanh mơn mởn,dừa lửa lá đỏ, vỏ hồng…”

(Theo Hoàng Văn Huyền-Những mẫu chuyện địa lý).[12,73]

Ví dụ 2:

Dừa ơi

Tôi lớn lên đã thấy dừa trước ngõ

Trang 13

Dừa ru tôi giấc ngủ tuổi thơ

Mỗi buổi chiều nghe dừa reo trước gió

Tôi hỏi nội tôi: “dừa có tự bao giờ ?”

Dừa vẫn đứng hiên ngang cao vút

Lá vẫn xanh rất mực dịu dàng

Rễ dừa bám sâu vào lòng đất

Như dân làng bám chặt quê hương

(Lê Anh Xuân- trích Hoa Dừa)

Trên đây là hai ví dụ thuộc hai kiểu văn bản khác nhau: Văn bản thuyếtminh (ví dụ 1) và văn bản biểu cảm (ví dụ 2) Hai đoạn văn bản này có cùngchung đối tượng : cây dừa, nhưng tính chất tri thức của chúng khác hẳn nhau

Đoạn thơ trích từ bài thơ Dừa ơi của Lê Anh Xuân cốt không phải giúp cho

người đọc hiểu về đặc điểm cây dừa mà ở đây, mục đích chủ yếu là làm rungđộng trái tim người đọc trước tinh thần kiên trung, bất khuất của con ngườiquê hương được hình tượng hoá dưới biểu tượng cây dừa Trong khi đó, đoạnvăn thuyết minh về cây dừa Bình Định lại chủ yếu tập trung vào mục đíchcung cấp một cách có hệ thống tri thức về loại cây này: sự phong phú, sứcphát triển của cây dừa, phân loại các loại dừa

Từ hai ví dụ này, ta có thể một lần nữa khẳng định rằng : tính tri thức làmột trong những yêu cầu quan trọng và cũng là đặc trưng tiêu biểu nhất vềmặt nội dung của văn bản thuyết minh.â

b.Tính khoa học

Bị chi phối bởi mục đích truyền thụ tri thức cho người tiếp nhận, văn bảnthuyết minh cần phải đảm bảo tính khoa học Ở đây tính khoa học được hiểutheo nghĩa: tính khoa học của tri thức Nói một cách cụ thể hơn, các kiến thứcđược đưa vào trong văn bản thuyết minh nhất thiết phải chính xác, phù hợp

Trang 14

với thực tế khách quan.Văn bản thuyết minh không cho phép hư cấu, tưởngtượng như trong văn bản nghệ thuật, mặc dù vẫn có thể sử dụng phương thứcmiêu tả hay tự sự để việc truyền tải nội dung trở nên háp dẫn hơn Tham khảođoạn văn sau, chúng ta sẽ thấy rõ hơn điều đó:

“Bà tôi thường kể cho tôi nghe rằng, chim cú kêu là có ma tới Tôi hỏi vìsao thì bà giải thích: “Thế cháu không nghe tiếng cú kêu thường vọng từ bãitha ma đến hay sao?” Sau này học môn sinh học tôi mới biết là không phảivậy Chim cú là loài chim ăn thịt, thường ăn thịt lũ chuột đồng, kẻ phá hoạimùa màng Chim cú là giống vật có lợi, là bạn của nhà nông Sở dĩ, chim cúthường hay tới bãi tha ma là vì ở đó có lũ chuột đồng đào hang Bây giờ mỗilần nghe tiếng chim cú, tôi chẳng những không sợ mà còn vui vì biết rằng bạncủa nhà nông đang hoạt động” [16,15]

Mặc dù được thể hiện bằng hình thức kể chuyện, đoạn văn trên vẫn đượcviết theo phương thức thuyết minh Ở đây, câu chuyện “bà tôi” kể chỉ là cái

cớ để người viết có cơ hội trình bày những tri thức về đối tượng thuyết minhcủa mình Rõ ràng, việc sử dụng yếu tố tự sự chỉ làm tăng thêm sức hấp dẫncho văn bản thuyết minh chứ không hề làm tổn hại đến tính khoa học của trithức, cụ thể ở đây là những tri thức về lợi ích của loài chim cú

Tóm lại, tính khoa học là một yêu cầu bắt buộc đối với văn bản thuyếtminh Nó đòi hỏi thông tin trong kiểu văn bản này phải phản ánh đúng bảnchất và quy luật của đối tượng một cách chân thật như vốn có Việc sử dụngcác yếu tố nghệ thuật như miêu tả hay tự sự không được phép làm ảnh hưởngđến tính khoa học của văn bản thuyết minh

c.Tính khách quan

Không giống với một số kiểu văn bản như nghị luận, miêu tả hay tự sựthường mang tính chất chủ quan, văn bản thuyết minh là kiểu văn bản kháchquan.Tính khách quan ở đây cần được hiểu ở hai phương diện: Một là tính

Trang 15

khách quan trong thái độ của người viết, hai là tri thức của bài văn thuyếtminh phải phù hợp với thực tế khách quan như chúng ta đã đề cập trong tínhkhoa học.

Ở phương diện thứ nhất, tính khách quan được hiểu là thái độ trung thực,bình thản của người viết trước đối tượng thuyết minh Điều này hoàn toànkhác với kiểu văn bản tự sự, biểu cảm hay nghị luận vốn được viết ra để rhểhiện tình cảm, cảm xúc, tư tưởng…mang tính chủ quan của người viết Dĩnhiên, nói như thế không có nghĩa là, trong văn bản thuyết minh, người viếtphải tỏ ra vô cảm, thờ ơ với đối tượng Ở đây, tính khách quan trong thái độcủa người viết cần được hiểu một cách tương đối và uyển chuyển hơn Bởi vìtrong một số văn bản thuyết minh, ví dụ về một danh lam thắng cảnh, một tácgiả văn học…người viết vẫn có quyền bày tỏ cảm xúc của mình thông quanhững cảm nhận về đối tượng đó Tuy nhiên, cách thể hiện thường kín đáo vàgián tiếp; và quan trọng nhất là ở chỗ: việc bày tỏ thái độ của người viếtkhông có tác dụng định hướng cho người đọc (người nghe) có thái độ yêu,ghét về đối tượng đang được thuyết minh

Ở phương diện thứ hai ,tính khách quan thể hiện ở sự phù hợp của trithức trong văn bản với quy luật vận động, phát triển của đối tượng Ngườiviết có thể thích hay không thích đối tượng mà mình đang thuyết minh, nhưngkhông có quyền thay đổi , bóp méo thông tin về đối tượng

d Tính thực dụng

Văn bản thuyết minh nằm trong loại văn bản nhật dụng, nghĩa là nó được

sử dụng phổ biến trong đời sống thường nhật của chúng ta, nó đáp ứng nhữngyêu cầu đôi khi thuần tuý mang tính vật chất của con người Do đó có thể nóirằng: tính thực dụng, hiểu theo nghĩa ích dụng, là một đặc trưng quan trọngcủa văn bản thuyết minh

Trang 16

Tuy nhiên, như thế không có nghĩa là: chỉ có văn bản thuyết minh mới cótính thực dụng.Vấn đề là ở chỗ mức độ đậm, nhạt của thuộc tính này trongmỗi loại văn bản như thế nào Chẳng hạn, văn bản nghệ thuật cũng có tínhthực dụng, nhưng nó chỉ dừng lại ở chỗ tác động lên tình cảm của con ngườibằng sức truyền cảm của hình tượng nghệ thuật, từ đó có thể biến đổi nhậnthức của người tiếp nhận Còn tính thực dụng của văn bản nghị luận lại thểhiện ở chỗ nó trực tiếp tác động tới trí tuệ, thuyết phục người đọc bằng một hệthông lí lẽ và dẫn chứng.

Trong khi đó, tính thực dụng của văn bản thuyết minh rất rộng lớn Nótrực tiếp giới thiệu, cung cấp tri thức nhằm chỉ đạo thực tiễn trong mọi lĩnhvực của đời sống con người Chẳng hạn, những cuốn sách dạy nấu ăn sẽ giúpchúng ta dễ dàng chế biến các món ăn, những bài giới thiệu về danh lamthắng cảnh giúp ta hình dung được nơi đó dù chưa một lần đến, một bản giớithiệu về thuốc chữa bệnh sẽ cho ta biết phải dùng loại thuốc đó như thế nàocho hiệu quả Việc văn bản thuyết minh được sử dụng rộng rãi trong đời sốngnhư chúng tôi đã trình bày ở phần đầu chương I của khoá luận này cũng làmột minh chứng cho tính thực dụng của kiểu văn bản này trong thực tế

Từ những điều đã phân tích ở trên, chúng tôi có thể khái quát lại đặctrưng về mặt nội dung của văn bản thuyết minh trên những đặc điểm sau : tínhtri thức, tính khách quan, tính khoa học và tính thực dụng Những đặc trưngnày góp phần làm nên diện mạo riêng cho văn bản thuyết minh

Tuy nhiên, nội dung bao giờ cũng phải được tồn tại dưới một hình thứcnhất định Triết học Mác-xít đã chỉ ra rằng: nội dung và hình thức là hai mặtcủa một vấn đề mà nằm ngoài nhau, chúng không thể tồn tại Do đó, khi nóiđến nội dung của văn bản thuyết minh thì chúng ta không thể không quan tâmđến mặt hình thức thể hiện nội dung đó.Vì thế, trong phần sau, chúng tôi sẽtrình bày những đặc trưng về mặt hình thức của văn bản thuyết minh

Trang 17

1.1.2.2 Đặc trưng về hình thức

a Về bố cục

Một văn bản thuyết minh thông thường cũng có bố cục ba phần như cácloại văn bản khác, đó là: phần mở đầu, phần triển khai nội dung và phần kết thúc.Tuy nhiên, trên thực tế, có những loại văn bản thuyết minh hết sức ngắngọn, không tuân thủ theo bố cục này, ví dụ : Văn bản hướng dẫn cách sử dụngcác loại đồ dùng, các loại thuốc Chẳng hạn, trên một lọ thuốc chữa bệnh cóghi những thông tin về nơi sản xuất, số lượng thuốc, chỉ định, thành phần, liềulượng dùng thì đây cũng lã một dạngvăn bản thuyết minh.Văn bản nàykhông có bố cục như một văn bản thông thường, mà các thông tin lại đượctrình bày dưới hình thức các mục rất ngắn gọn Những văn bản thuyết minhnhư thế khá phổ biến trong đời sống Điều này hoàn toàn khác với văn bản tự

sự, miêu tả hay nghị luận là những kiểu văn bản không cho phép trình bàytheo bố cục như trên

Ngay cả trong những văn bản thuyết minh sử dụng bố cục ba phần thì nộidung của mỗi phần cũng không giống với kiểu văn bản tự sự, miêu tả haynghị luận Chẳng hạn, bố cục ba phần của văn bản tự sự là: mở đầu câuchuyện (giới thiệu thời gian,địa điểm,nhân vật ), diễn biến các tình tiếttruyện, kết thúc truyện (kết quả, ý nghĩa câu chuyện ) Hay bố cục của mộtvăn bản nghị luận là: Phần mở đầu nêu lên vấn đề cần bàn bạc, phần triểnkhai nghị luận, thuyết phục người nghe, phần kết thúc khẳng định lại và nêu ýnghĩa vấn đề.Trong khi đó, ba phần của một văn bản thuyết minh thôngthường là:

-Phần mở đầu: giới thiệu đối tượng, làm cho người đọc xác định đượckiểu văn bản mà người viết đang sử dụng

-Phần triển khai: Thuyết minh về đối tượng

-Phần kết thúc: nêu công dụng, ý nghĩa thực tiễn của vấn đề

Trang 18

Sự khác nhau về nội dung từng phần như trên giữa văn bản thuyết minhvới các kiểu văn bản khác cũng góp phần làm nên diện mạo riêng cho kiểuvăn bản này.

b Về kết cấu

Nội dung của văn bản thuyết minh thường rất phong phú, chứa hàmlượng thông tin cao Do đó, người viết phải biết cách trình bày nội dung theonhững trình tự nhất định Trình tự ấylàm thành kết cấu của văn bản thuyếtminh Nhìn chung, văn bản thuyết minh thường sử dụng một số kết cấu mangtính chất ổn định: kết cấu theo trình tự thời gian, kết cấu theo trật tự khônggian, kết cấu theo trật tự logic của đối tượng Nếu như văn bản tự sự thường

sử dụng kiểu kết cấu theo trình tự thời gian sự kiện, văn bản miêu tả thườngkết cấu theo trình tự không gian, văn bản nghị luận được kết cấu theo các luậnđiểm, các khía cạnh của vấn đề; thì văn bản thuyết minh lại sử dụng tất cả cáckiểu kết cấu trên Đó chính là điểm độc đáo và cũng là một đặc trưng hìnhthức của kiểu văn bản này

c.Về phương pháp thuyết minh

Trước hết cần phải hiểu rằng: khái niệm phương pháp ở đây được hiểu

theo ý nghĩa là những cách thức để tạo lập văn bản thuyết minh Kiểu văn bảnthuyết minh sử dụng phương thức trình bày, giới thiệu, giảng giải với nhiềuphương pháp khác nhau như nêu định nghĩa, giải thích, liệt kê, so sánh,… Cácphương pháp này thường đan xen nhau trong cùng một văn bản thuyết minhnhằm thoả mãn các yêu cầu trình bày hoặc giới thiệu, giảng giải hầu nhưkhông có văn bản thuyết minh nào chỉ sử dụng duy nhất một phương pháp.Hơn các kiểu văn bản khác,văn bản thuyết minh, do yêu cầu nội tại, đòi hỏi sự

đa dạng của các phương pháp trình bày đây là một đăc trưng quan trọng củaphương pháp viết bài văn thuyết minh

d Về ngôn ngữ

Trang 19

Ngoài những yêu cầu chung như tính chính xác, trong sáng mà bất cứvăn bản nào cũng phải đạt được, mỗi kiểu văn bản còn có những đặc trưngriêng về mặt ngôn ngữ Bởi vì ngôn ngữ của một văn bản bao giờ cũng phảiphù hợp với đặc điểm của kiểu loại văn bản mà trong đó nó tồn tại Chẳnghạn, đối với văn bản nghệ thuật (tự sự, miêu tả), văn bản chính luận, ngôn ngữphải giàu màu sắc cảm xúc chủ quan, giàu tính hình tượng Riêng đối với vănbản thuyết minh là kiểu văn bản trình bày tri thức khách quan về sự vật hiệntượng thì ngôn ngữ phải mang tính khách quan, chính xác và thường đơnnghĩa để tránh bị hiểu nhầm.

Những đặc trưng trên đây của văn bản thuyết minh sẽ là cơ sở giúpchúng ta có thể phân biệt kiểu văn bản này với các kiểu văn bản khác Vấn đềnày sẽ được chúng tôi tiếp tục trình bày ở phần sau

1.1.3 Phân biệt văn bản thuyết minh với một số kiểu (dạng) văn bản khác.

Mỗi kiểu văn bản có những đặc trưng riêng về nội dung và hình thức Vàdựa vào đó, ta có thể phân biệt kiểu (dạng) văn bản này với kiểu (dạng) vănbản khác.Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi chỉ tiến hành phân biệt vănbản thuyết minh với một số kiểu (dạng) văn bản khác cùng có mặt trongchương trình phổ thông như : Văn bản tự sự,văn bản miêu tả, văn bản nghịluận trên những nét cơ bản nhất

1.1.3.1 Phân biệt văn bản thuyết minh với văn bản nghị luận

Hiện nay đã có khá nhiều cách định nghĩa về văn bản nghị luận mà mỗicách định nghĩa đều có những ưu điểm và hạn chế riêng Trên cơ sở tiếp thu

có phê phán những ý kiến đó, chúng tôi sẽ đưa ra cách hiểu của mình về kháiniệm này như sau:

Trang 20

Văn bản nghị luận là kiểu văn bản trong đó người viết (người nói) trìnhbày ý kiến của mình bằng cách dùng lý luận (bao gồm cả dẫn chứng và lý lẽ)

để làm sáng rõ một vấn đề nào đó, nhằm làm cho người đọc (người nghe)hiểu, tin, đồng tình với ý kiến của mình và hành động theo những điều màmình đề xuất

Như thế, mục đích của văn bản nghị luận là nhằm xác lập cho người đọc,người nghe một tư tưởng, quan điểm nào đó Đối tượng mà văn bản nghị luậnhướng tới thể hiện là các vấn đề chính trị-xã hội và văn học.Về nội dung, vănbản nghị luận thiên về trình bày các ý kiến, các lý lẽ để giải thích, chứngminh, phân tích, bình luận một vấn đề nào đó Những ý kiến, lí lẽ đó được tổchức thành các luận điểm,l uận cứ Như thế, điểm mấu chốt của một văn bảnnghị luận là ở các luận điểm, luận cứ Không có luận điểm, luận cứ thì khôngthành văn bản nghị luận.Về mặt ngôn ngữ, kiểu văn bản này mang phongcách ngôn ngữ nghị luận Nó chú trọng sự chính xác, chặt chẽ, vì mục đíchcủa diễn đạt trong văn nghị luận là nhằm phản ánh rõ ràng, chính xác quátrình tư duy để đạt đến việc nhận thức chân lí.Tuy nhiên ngôn ngữ của vănnghị luận cũng cần có sự hấp dẫn, lôi cuốn bằng chính cảm xúc của ngườiviết thể hiện trong đó chứ không chấp nhận sự khô khan, đơn điệu, nhất là khiđối tượng nghị luận là một vấn đề văn học

Từ cách hiểu về văn bản nghị luận như trên và đặt nó trong sự so sánhvới kiểu văn bản thuyết minh, chúng tôi nhận thấy giữa hai kiểu văn bản này

có những đặc điểm khác nhau cơ bản Cụ thể là:

Về mục đích, trong khi văn bản nghị luận được viết ra nhằm xác lập chongười đọc, người nghe một tư tưởng, quan điểm nào đó về các vấn đề xã hội-chính trị hay văn học, thì văn bản thuyết minh lại hướng tới mục đích cungcấp cho người đọc, người nghe những tri thức cụ thể, xác thực về đối tượng

Trang 21

thuyết minh, giúp họ biết cách sử dụng những đối tượng đó vào mục đích hữuích cho con người.

Từ sự khác nhau về mục đích đã dẫn tới sự khác nhau về nội dung giữahai kiểu văn bản này Nội dung của văn bản nghị luận là các luận điểm, luận

cứ của người viết khi bàn bạc về một vấn đề nào đó.Còn văn bản thuyết minhchỉ đơn thuần trình bày tri thức, bao gồm các đặc điểm ,tính chất, nguyên lý,quy luật, quá trình phát sinh, hình thành và phát triển của đối tượng thuyếtminh

Do có nội dung và mục đích không giống nhau ,mỗi kiểu (dạng) văn bảnchúng ta đang nói tới ở đây có tính chủ quan - khách quan khác nhau.Tínhchủ quan - khách quan ở đây được hiểu theo nghĩa: thái độ của người viết thểhiện trong mỗi kiểu (dạng) văn bản như thế nào Đối với văn bản nghị luận,cảm xúc chủ quan của người viết được xem là một vấn đề có tính nguyên tắc.Bởi vì nếu ngay cả người viết (người nói) cũng không có tình cảm,cảm xúc,không tin vào những tư tưởng, quan điểm mà mình đưa ra trong văn bản thìlàm sao có thể khiến cho người đọc (người nghe) hiểu và tin theo Và như thế,mục đích của văn bản nghị luận đã không thể đạt được

Trong khi đó như chúng tôi đã phân tích ở phần trước, một trong nhữngđặc điểm của văn bản thuyết minh là tính khách quan, trong đó bao hàm ýnghiã tính khách quan trong thái độ của người tạo lập văn bản Người tạo lậpvăn bản thuyết minh cần phải có thái độ điềm tĩnh, bình thản trước đối tượng

mà mình đang trình bày, giới thiệu

Tuy nhiên, sự phân biệt tính chủ quan - khách quan của hai kiểu văn bảnthuyết minh và nghị luận cần được hiểu một cách tương đối Trên thực tế,trong nhiều văn bản thuyết minh, đặc biệt là các văn bản thuyết minh văn học,vẫn phần nào chứa đựng trong đó màu sắc biểu cảm và cảm xúc chủ quan củangười viết Sự phân biệt của chúng tôi ở đây nằm ở cấp độ khái quát trên

Trang 22

những đặc trưng lớn của mỗi kiểu văn bản, nhằm vạch ra một ranh giới tươngđối rõ nét giữa hai kiểu văn bản nghị luận và thuyết minh.

1.1.3.2 Phân biệt văn bản thuyết minh với văn bản tự sự

Văn bản tự sự là kiểu văn bản trong đó người viết sử dụng phương thức

tự sự để trình bày một chuỗi các sự việc theo trình tự diễn biến nhất định, tạothành một câu chuyện Qua đó, người viết bày tỏ thái độ của mình trước hiệnthực khách quan được tái hiện qua nội dung văn bản

Từ đó, có thể xác định được đặc trưng của dạng văn bản này như sau:Văn bản tự sự có nội dung là câu chuyện được kể, được viết ra với mụcđích kể lại câu chuyện đó, đồng thời bày tỏ thái độ của người viết đối với hiệnthực khách quan Mặt khác, vì là văn bản kể chuyện nên phương thức biểu đạtchủ yếu ở đây là hư cấu, tưởng tượng Văn bản tự sự được viết bằng ngôn ngữthuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật mang tính đa nghĩa, tính hình tượng vàtính thẩm mĩ cao

Qua việc xác lập một cách hiểu về văn bản tự sự như trên, đồng thời từquá trình tìm hiểu đặc trưng của văn bản thuyết minh, chúng tôi nhận thấygiữa hai kiểu văn bản này có khá nhiều điểm khác nhau:

Trước hết, về nội dung và mục đích,nếu như văn bản tự sự được viết ranhằm kể lại câu chuyện và qua đó, gửi gắm thái độ của người viết; thì văn bảnthuyết minh lại chủ yếu trình bày tri thức, làm cho người đọc (người nghe)hiểu thấu đáo về đối tượng Mặt khác, văn bản thuyết minh không có nhânvật, cốt truyện, diễn biến các tình tiết như văn bản tự sự mà chỉ có tri thứckhách quan

Một điểm khác nhau nữa, như chúng tôi đã nói ở trên, hư cấu tưởngtượng là đặc điểm nổi bật của văn bản tự sự Trong khi đó, đối với tri thức màvăn bản thuyết minh trình bày, thì hư cấu tưởng tượng là yếu tố tuyệt đối bịloại trừ Bởi vì một trong những đặc trưng và cũng là yêu cầu thiết yếu của

Trang 23

văn bản thuyết minh là tính khoa học, nghĩa là tri thức thuyết minh phải chínhxác, phản ánh đúng quy luật của thực tế khách quan.

Đặc điểm ngôn ngữ của hai kiểu văn bản này cũng khác nhau: Vănphong thuyết minh là văn phong khoa học với những yêu cầu về tính chặtchẽ ,lô gic, đơn nghĩa; khác với văn phong tự sự vốn hết sức linh hoạt, giàuhình tượng và thường đa nghĩa

1.1.3.3 Phân biệt văn bản thuyết minh với văn bản miêu tả

Văn bản miêu tả đã trở nên rất quen thộc đối với học sinh phổ thông.Ngay từ bậc tiểu học, các em đã được làm quen với kiểu văn bản này SGK

Ngữ văn 6, tập 2 đã định nghĩa kiểu văn bản này như sau: Văn miêu tả là loại văn nhằm giúp người đọc, người nghe hình dung những đặc điểm, tính chất nổi bật của một sự vật, sự việc, con người, phong cảnh…làm cho những cái

đó như hiện lện trước mắt của người đọc, người nghe.

Như vậy, nói cách khác, văn bản miêu tả được viết ra nhằm giup ngườiđọc, người nghe cảm nhận được cái “hồn” của đối tượng Nó không giống vớivăn bản thuyết minh được viết ra với mục đích để con người hiểu đối tượng.Hai kiểu văn bản trên được viết ra với 2 mục đích khác nhau Nhưngcũng không thể phủ nhận rằng: Văn bản miêu tả là kiểu văn bản có nhiềuđiểm giống và dễ bị nhầm lẫn với văn bản thuyết minh hơn cả Do đó, để tạo

ra một sự khu biệt giữa hai kiểu văn bản nói trên, chúng tôi sẽ hệ thống hoánhững điểm khác nhau giữa chúng theo bảng sau:

• Có hư cấu tưởng tượng không

nhất thiết phải trung thành với sự vật

• Dùng nhiều so sánh, liên tưởng

•Mang nhiều cảm xúc chủ quan

•Trung thành với đặc điểm củađối tượng, sự vật

• Ít dùng tưởng tượng, so sánh

Trang 24

của người viết

•Ít dùng số liệu cụ thể, chi tiết

•Dùng nhiều trong sáng tác văn

•Thường theo một số yêu cầugiống nhau (mẫu)

1.1.4 Các dạng văn bản thuyết minh

Văn bản thuyết minh do tính ích dụng và thiết thực của nó, là một kiểuvăn bản hết sức đa dạng và phong phú Vì thế việc phân loại văn bản thuyếtminh là một việc làm tương đối phức tạp Chúng ta có thể phân chia kiểu vănbản này theo nhiều tiêu chí Với mỗi tiêu chí, sẽ cho ta một hệ thống riêng.Sau đây là một số cách phân loại mà chúng tôi đã khảo sát và thống kê được:

 Phân loại văn bản thuyết minh dựa trên tiêu chí đặc trưng của nó Đây làcách phân chia của Sách giáo viên Ngữ văn 10, tập 2, chương trình nâng

Trang 25

cao Theo hướng này, các tác giả đã chia văn bản thuyết minh thành baloại:

- Loại văn bản thuyết minh trình bày, giới thiệu sự vật là loại thông dụng

và cơ bản

- Loại văn bản thuyết minh có tính chất thực dụng, chủ yếu chỉ cung cấpthông tin cô đọng, chính xác như bản giới thiệu thuốc, giới thiệu đồ điện tử,…loại này nói chung rất ngắn gọn, theo mẫu sẵn.Ví dụ: tờ giới thiệu thuốc cócác mục: thành phần, công dụng, liều dùng,

-Loại văn bản thuyết minh có tính nghệ thuật Tác giả dùng hình thức nghệthuật, xây dựng hình tượng để người đọc tỉếp thu nhẹ nhàng, vui vẻ.Ví dụ: Dulịch theo hệ hô hấp hay hệ tuần hoàn trong cơ thể con người

Hai loại sau thực ra là biến thể của loại trước Trong chương trình, họcsinh chỉ học loại thứ nhất [30,12]

Cách phân chia này đã tạo ra một kết quả tương đối rõ và bám sátchương trình Ngữ văn 10 Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy tiêu chí phân chia ởđây thiếu sự nhất quán: Nếu loại thứ nhất và loại thứ hai được phân chia theotiêu chí đặc trưng về mặt nội dung thì loại thứ hai và loại thứ ba lại được phânchia trên cơ sở hình thức thể hiện

 Phân loại văn bản thuyết minh dựa trên hình thức kết cấu mà chúng sửdụng Theo cách này,văn bản thuyết minh có thể được chia thành nhiềudạng, tương ứng với các hình thức kết cấu Có bốn dạng chủ yếu:

- Dạng văn bản thuyết minh kết cấu theo trình tự thời gian

- Dạng văn bản thuyết minh kết cấu theo trình tự không gian

- Dạng văn bản thuyết minh kết cấu theo lô gíc của đối tượng

- Dạng văn bản thuyết minh có kết cấu hỗn hợp

Cách phân chia này tương đối hợp lí nhưng ít khi được sử dụng, bởi vìmuốn biết được một văn bản thuyết minh thuộc dạng nào, người đọc buộc

Trang 26

phải tìm hiểu hình thức kết cấu của nó Việc làm này tốn không ít thời gian,công sức và nhiều khi rất phức tạp bởi đa số các văn bản thuyết minh sử dụngkhông chỉ một hình thức kết cấu.

 Phân loại văn bản thuyết minh theo đối tượng Tiêu chí này đã được SGKngữ văn 8 sử dụng để phân chia văn bản thuyết minh thành các dạng:Thuyết minh một phương pháp, thuyết minh một đồ dùng, thuyết minhmột tác phẩm văn học…Tuy nhiên, dễ dàng nhận thấy rằng: Cách phânchia này chỉ phù hợp với đối tượng học sinh THCS và vẫn chưa bao quátđược phạm vi đối tượng hết sức rộng lớn mà văn bản thuyết minh thể hiện.Theo chúng tôi, có thể sử dụng tiêu chí đối tượng để phân chia văn bảnthuyết minh, nhưng theo một hệ thống khác mà chúng tôi cho là hợp lí hơn.Dựa theo tiêu chí này chúng tôi chia văn bản thuyết minh thành các dạng nhưsau:

-Dạng văn bản thuyết minh về các hiện tượng, vấn đề thuộc tự nhiên-Dạng văn bản thuyết minh về các hiện tượng, vấn đề của đời sống xãhội

-Dạng văn bản thuyết minh văn học

Để làm rõ hơn điều này, phần tiếp sau của khoá luận sẽ giành để trìnhbày các dạng văn bản thuyết minh theo hệ thống mà chúng tôi đã xác lập.1.1.4.1 Thuyết minh về các sự vật hiện tượng, vấn đề của tự nhiên

Thuộc dạng này là các văn bản thuyết minh về loài vật, cây trồng, cácdanh lam thắng cảnh…Đây là dạng văn bản thuyết minh rât phổ biến và đãđược rèn luyện cho học sinh ngay ở bậc THCS

Để viết tốt dạng văn bản thuyết minh này, ngoài việc sưu tầm các tàiliệu, điều quan trọng là người viết phải trực tiếp quan sát, mắt thấy tai ngheđối tượng Chẳng hạn, để thuyết minh một danh lam thắng cảnh thì phải trựctiếp đến nơi thăm thú quan sát danh thắng đó Bài văn thuộc dạng văn bản

Trang 27

thuyết minh này thường kèm theo yếu tố miêu tả để làm nổi bật đặc điểm củađối tượng và hấp dẫn người đọc (người nghe).

1.1.4.2 Thuyết minh về các sự vật hiện tượng, vấn đề thuộc đời sống xãhội

Thuộc dạng này là các văn bản thuyết minh về một phương pháp (cáchlàm), thuyết minh về một loại đồ dùng, về một nhân vật lịch sử…

Để viết được dạng văn bản này điều cần thiết là sưu tầm được các tài liệuđáng tin cậy, kết hợp với quan sát, thực nghiệm (đối với bài thuyết minhphương pháp)

1.1.4.3 Thuyết minh về một hiện tượng văn học

Thực chất, văn học cũng là một vấn đề của đời sống xã hội.Tuy nhiênđây là một vấn đề đặc biệt, do đó, chúng tôi tách các văn bản thuyết minh vềđối tượng này ra khỏi dạng văn bản thuyết minh về các hiện tượng của đờisống xã hội để dễ khảo sát và tìm hiểu

Thuộc về dạng này là các văn bản thuyết minh về những vấn đề văn họcnhư: tác giả, tác phẩm,giai đoạn, trào lưu, thể loại văn học…Trong chươngtrình phổ thông, ta có thể dễ dàng bắt gặp dạng văn bản thuyết minh này dướihình thức những bài giới thiệu ngắn trong phần tiểu dẫn, hoặc các bài thuyết

minh về thể loại văn học trong phần Tri thức đọc- hiểu v.v…

Để làm tốt dạng văn bản thuyết minh này, yêu cầu người viết không chỉcần hiểu đối tượng cần được thuyết minh, mà còn phải có một vốn kiến thứcsâu rộng về các vấn đề văn hoá, lí luận văn học và đời sống xã hội

1.2 Đặc điểm phần Làm văn thuyết minh trong chương trình Ngữ văn lớp 10 THPT

Trong phần này, chúng tôi sẽ trình bày đặc điểm chương trình Làm vănlớp 10 THPT, trong đó đặc biệt chú ý đến phần Làm văn thuyết minh

Trang 28

1.2.1 Đặc điểm chương trình Làm văn lớp 10 THPT

1.2.1.1 Chương trình Làm văn lớp 10 THPT được biên soạn theo tinhthần tích hợp,tích cực

Từ chương trình SGK chỉnh lí hợp nhất trở về trước, ở lớp 10 nói riêng

và trong toàn bộ cấp học THPT nói chung, Làm văn được tách riêng thànhmột phân môn và được viết thành một quyển sách riêng

Với sự ra đời của bộ SGK Ngữ văn mới dành cho bậc THPT, Làm văn

đã trở thành một hợp phần, cùng với Tiếng Việt và Văn tạo nên một bộ mônthống nhất: môn Ngữ văn Cách biên soạn này đã thể hiện quan điểm tích hợprất rõ

Tinh thần tích hợp của hợp phần Làm văn biểu hiện chủ yếu ở quan hệgắn bó với Tiếng Việt và Đọc-hiểu văn bản Cụ thể: Kiến thức, kĩ năng sửdụng từ ngữ, câu, phong cách ngôn ngữ được vận dụng và rèn luyện trong nộidung thực hành tạo lập văn bản Ngữ liệu trong bài Làm văn chủ yếu được lấy

từ các văn bản của phần Đọc hiểu Ví dụ: Văn bản Truyện An Dương Vương

và Mỵ Châu- Trọng Thuỷ (Ngữ văn 10, tập 1) học ở tuần thứ ba trong phần

Văn, đến tuần sáu, văn bản này lại được sử dụng làm ngữ liệu để học sinh rènluyện thao tác chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu trong bài văn tự sự

Tinh thần tích cực cũng được thể hiện rất rõ trong chương trình Làm vănlớp 10 THPT Đó là việc rút ngắn, bỏ bớt những kiến thức nặng nề, thuần líthuyết, thay vào đó là các bài tập thực hành Các nội dung lí thuyết chủ yếuđược trình bày theo hướng quy nạp (nhất là ở chương trình chuẩn), học sinhrút ra lí thuyết qua việc thực hành phân tích ngữ liệu và trả lời câu hỏi gợi ý

Rõ ràng, đây là cách làm có thể phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh

ở mức độ cao nhất Học sinh không chỉ lĩnh hội tri thức từ thầy mà còn tựmình tìm ra tri thức và chiếm lĩnh nó

Trang 29

Mặt khác, việc SGK Ngữ văn 10 đưa vào nội dung văn bản nhật dụngcũng là một biểu hiện của tinh thần tích cực Học sinh học tập môn Ngữ văntheo SGK mới sẽ được làm quen và thực hành tạo lập những kiểu văn bản màcác em thường gặp và có nhu cầu sử dụng cao trong thực tiễn đời sống: vănbản quảng cáo, đơn từ, trình bày một vấn đề bằng miệng…

1.2.1.2 Chương trình Làm văn là một hợp phần quan trọng của môn Ngữ vănlớp 10 THPT

Tính chất quan trọng của hợp phần Làm văn trong chương trình Ngữvăn lớp 10 THPT được thể hiện rõ ở tương quan giữa số tiết của nó so vớitổng số tiết Ngữ văn mà học sinh lớp 10 THPT được học Trong chương trìnhchuẩn ( ban cơ bản), học sinh được học 105 tiết Ngữ văn/ 35 tuần/ năm.Trong đó số tiết Làm văn là 34 tiết, chiếm 32,4% Đó là chưa kể 4 bài viếthọc sinh làm ở nhà

Trong chương trình Ngữ văn 10 nâng cao, học sinh được học 140 tiếtNgữ văn/ 35 tuần/ năm Trong đó có 44 tiết Làm văn, chiếm 31,4%

1.2.1.3 Các nội dung chính trong chương trình Làm văn 10 THPT (bao gồm

cả chương trình chuẩn và chương trình nâng cao)

a Những vấn đề chung về văn bản và tạo lập văn bản

Phần này nhằm hệ thống hoá những kiến thức chung đã học ở THCS.Theo truyền thống, phần kiến thức và kỹ năng liên quan đến văn bản được đặttrong môn Tiếng Việt (Ngữ pháp văn bản) Xuất phát từ quan niệm cho rằng,công việc chủ yếu của làm văn là tạo lập các loại văn bản, chương trình Ngữvăn mới từ THCS đến THPT chủ trương chuyển phần này sang phần Làmvăn.Ví dụ ở THCS, học sinh được học: văn bản và đặc điểm văn bản, tínhthống nhất về chủ đề văn bản, đoạn văn, liên kết câu trong đoạn và cách thứcchuyển ý, chuyển đoạn Ở lớp 10 THPT, học sinh được tiếp tục hoàn thiện

Trang 30

kiến thức về văn bản, về nội dung hình thức của văn bản và về văn bản vănhọc…

Tính nhất quán trong việc quán triệt quan điểm này được thể hiện trongtoàn bộ chương trình ngữ văn 10 THPT

b Các kiểu văn bản và phương thức biểu đạt

Nhiệm vụ của chương trình Làm văn 10 chủ yếu là ôn tập, hệ thống hoá,nâng cao thêm các kiến thức và kỹ năng của học sinh, tạo điều kiện để mởrộng, nâng cao và hoàn thiện ở các lớp 11,12 tiếp theo Theo tinh thần đó,chương trình Làm văn 10 gồm một số nội dung cơ bản sau đây:

-Hệ thống hoá các kiểu văn bản đã được học ở THCS

-Văn bản tự sự, cách tóm tắt văn bản tự sự theo nhân vật chính

-Văn bản nghị luận: Luận điểm, luận cứ, lập luận, cách làm bài văn nghịluận

-Luyện nói, luyện viết đoạn văn, bài văn tự sự, thuyết minh, nghị luận-Một số kiểu văn bản khác: quảng cáo, kế hoạch cá nhân

Nếu so với chương trình Làm văn 10 chỉnh lí hợp nhất 2000 , ta thấychương trình Ngữ văn mới có nhiều điểm khác biệt Sở dĩ có thể nói như vậy

là bởi vì: chương trình Làm văn cũ chỉ học về kiểu bài văn nghị luận (nghịluận xã hội và nghị luận văn học).Trong khi đó, chương trình Ngữ văn mớiđưa vào hợp phần Làm văn nhiều kiểu văn bản mới: văn bản quảng cáo, kếhoạch cá nhân, văn bản thuyết minh Văn nghị luận trong chương trình mớichỉ chiếm một vị trí khiêm tốn để dành chỗ cho văn bản tự sự và thuyết minh.1.2.1.4 Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, các tiết học cụ thể trong chương trìnhLàm văn lớp 10 THPT được triển khai và sắp xếp theo các cụm bài:

- Văn bản tự sự:

+Lập dàn ý bài văn tự sự

+Chọn sự việc chi tiết tiêu biểu trong bài văn tự sự

Trang 31

+Miêu tả biểu cảm trong văn tự sự

+Luyện tập viết đoạn văn tự sự

+Tóm tắt văn bản tự sự

- Văn bản thuyết minh:

+Các hình thức kết cấu bài văn thuyết minh

+Lập dàn ý bài văn thuyết minh

+Tính chuẩn xác, hấp dẫn của bài văn thuyết minh

+Tóm tắt văn bản thuyết minh

-Văn bản nghị luận:

+Lập dàn ý bài văn nghị luận

+Lập luận trong văn nghị luận

đủ, chẳng hạn, về văn bản tự sự chỉ có hai bài: Tóm tắt văn bản tự sự và Chọn

sự việc, chi tiết tiêu biểu trong bài tự sự Về văn bản thuyết minh cũng chỉ có

ba bài: Các hình thức kết cấu văn bản thuyết minh, Luyện tập vận dụng các hình thức kết cấu văn bản thuyết minh và Tóm tắt văn bản thuyết minh,…

Thêm vào đó, trong chương trình Làm văn của bộ sách Ngữ văn 10 nâng cao,các tác giả SGK đã đưa thêm vào một số bài có tính chất nâng cao và mở rộng

kiến thức, chẳng hạn như: Phân loại văn bản theo phương thức biểu đạt,

Trang 32

Thực hành lập ý và viết đoạn văn theo những yêu cầu khác nhau, Đọc tích luỹ kiến thức, Liên tưởng, tưởng tượng…

Ngoài ra, toàn năm học có 7 bài viết (cả chương tình chuẩn và chươngtrình nâng cao): một bài ôn tập kiểu bài phát biểu cảm nghĩ, 2 bài văn tự sự, 3bài văn thuyết minh và 1 bài văn nghị luận Chỉ riêng với điều này cũng đủcho ta thấy được tầm quan trọng của văn thuyết minh trong chương trình Làmvăn lớp 10 THPT

1.2.2 Đặc điểm phần Làm văn thuyết minh trong chương trình Ngữ văn lớp 10 THPT

Phần Làm văn thuyết minh trong chương trình Ngữ văn 10 THPT chiếmmột vai trò hết sức quan trọng so với các kiểu bài khác Tuy nhiên, vấn đềphức tạp là ở chỗ, từ lớp 10 trở đi , SGK Ngữ văn THPT được biên soạnthành hai bộ: Cơ bản và nâng cao Do đó, khi trình bày đặc điểm của phầnLàm văn thuyết minh trong chương trình Ngữ văn lớp 10 THPT, chúng tôi sẽtrình bày thành hai tiểu mục: Đặc điểm của phần Làm văn thuyết minh trongchương trình Ngữ văn lớp 10 THPT - ban cơ bản và Đặc điểm phần Làm vănthuyết minh trong chương trình Ngữ văn lớp 10 THPT nâng cao

1.2.2.1 Đặc điểm phần Làm văn thuyết minh trong chương trình Ngữ văn lớp

Trang 33

Lên lớp 9 các em tiếp tục được bổ sung kiến thức và kĩ năng về vănthuyết minh thông qua các bài học: Sử dụng một số biện pháp nghệ thuậttrong văn bản thuyết minh, Sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyếtminh, các tiết luyện tập…( Về vấn đề này, xin xem thêm phụ lục 1).

Trong chương trình Ngữ văn lớp 10 THPT, văn bản thuyết minh vẫn làmột trong những vấn đề trọng tâm Có thể nói rằng, phần Làm văn thuyếtminh ở lớp 10 THPT vừa là sự củng cố, vừa là sự tiếp nối, hoàn thiện các kiếnthức và kỹ năng mà học sinh đã được học ở bậc THCS Chẳng hạn, ở lớp 8,học sinh đã được tìm hiểu một số phương pháp thuyết minh như: phươngpháp nêu định nghĩa, giải thích, liệt kê, nêu ví dụ, dùng số liệu, so sánh, phânloại, phân tích Lên lớp 10, học sinh tiếp tục được học về các phương phápthuyết minh.Trong bài học này, học sinh vừa được ôn lại các phương pháp đãhọc, vừa được làm quen với một số phương pháp thuyết minh khác, như:thuyết minh bằng cách giảng giải nguyên nhân-kết quả, thuyết minh bằngcách chú thích Một câu hỏi đặt ra là: Tại sao không cho học sinh lớp 8 THCStìm hiểu luôn hai phương pháp thuyết minh này? Câu trả lời ở đây là: So vớinhưng phương pháp thuyêt minh như nêu ví dụ,dùng số liệu, phân tích, phânloại… Thì hai phương pháp này có độ “khó” cao hơn đối với học sinh kể cảtrong việc tiếp thu kiến thức và vận dụng chúng trong quá trình viết bài vănthuyết minh

Bên cạnh việc hoàn thiện, nâng cao hơn kiến thức và kĩ năng thì phầnLàm văn thuyết minh trong chương trình Ngữ văn lớp 10 THPT so với phầnLàm văn thuyết minh ở lớp 8 THCS còn có một đặc điểm khác biệt rất lớn:

Do đối tượng học sinh lớp 8 THCS vốn kiến thức chưa nhiều, mới bắt đầulàm quen với kiểu văn bản thuyết minh nên phần Làm văn thuyết minh ở lớp

8 THCS gắn bó chặt chẽ với chương trình Đọc- hiểu văn bản Chẳng hạn,

trong khi chương trình Tập làm văn học về văn bản thuyết minh (Tìm hiểu

Trang 34

chung về văn thuyết minh, Phương pháp thuyết minh thì chương trình đọc hiểu cũng có các bài học tương ứng: Thông tin về ngày trái đất năm 2000, Ôn dịch thuốc lá, Bài toán dân số…là những văn bản sử dụng rất nhiều các yếu

tố thuyết minh và phương pháp thuyết minh

Còn trong chương trình Ngữ văn 10 THPT, phần Làm văn thuyết minh ítgắn bó hơn với phần Đọc - hiểu văn bản Có thể giải thích điều này như sau:đối tưọng học sinh lớp 10 THPT là đối tưọng học sinh lớn hơn, đã được tiếpxúc với nhiều văn bản thuyết minh trong đời sống và đã có vốn kiến thức vềkiểu văn bản này từ THCS

Tóm lại, trong cái nhìn đối sánh với phần Làm văn thuyết minh trongchương trình Ngữ văn THCS, phần Làm văn thuyết minh trong chương trìnhNgữ văn lớp 10 THPT là sự củng cố, hoàn thiện và nâng cao hơn về kiến thức

và kĩ năng trong các đơn vị bài học

Còn xét trong chương trình Làm văn ở bộ SGK Ngữ văn 10 - chươngtrình chuẩn, phần Làm văn thuyết minh có các đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, nó chiếm một phần lớn trong toàn bộ thời lượng giành chohợp phần này Trong 34 tiết Làm văn mà học sinh được học tại lớp (kể cả cáctiết viết bài ở lớp) thì có 10 tiết giành cho văn thuyết minh (kể cả hai tiết viếtbài ở lớp ), chiếm 30,3%.Còn nếu tính riêng số lượng các bài làm văn viết thìthuyết minh chiếm 3/7 bài trong toàn bộ năm học của học sinh lớp 10 THPT,chiếm 42,9%

Thứ hai, các tiết học về văn thuyết minh được sắp xếp thành một cụmbài, được bố trí trong các tuần học liên tục từ tuần 18 đến tuần 26 của nămhọc.Trong 10 tiết học tại lớp của phần Làm văn thuyết minh, có 6 tiết dànhcho việc hình thành tri thức lí thuyết và rèn luyện kĩ năng lập dàn ý dựngđoạn, tóm tắt văn bản thuyết minh Cụ thể như sau:

Tuần 18: - các hình thức kết cấu văn bản thuyết minh

Trang 35

- Lập dàn ý bài văn thuyết minh

Tuần 20: Tính chuẩn xác, hấp dẫn của văn bản thuyết minh

Tuần 23: Phương pháp thuyết minh

Tuần 24: Luyện tập viết đoạn văn thuyết minh

Tuần 25: Tóm tắt văn bản thuyết minh

Việc bố trí các bài học về văn bản thuyết minh thành một cụm bài manglại nhiều lợi ích: Đảm bảo tính hệ thống, giúp cho học sinh có điều kiện đi sâutìm hiểu về kiểu văn bản này và có những kĩ năng tổng hợp để viết được mộtbài văn thuyết minh đúng yêu cầu

Thứ ba, trong các bài học về văn bản thuyết minh thuộc chương trìnhchuẩn, kiến thức được trình bày theo con đường qui nạp, được cung cấp chủ

yếu qua hình thức phân tích ngữ liệu (Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh, Phương pháp thuyết minh, Tóm tắt văn bản thuyết minh) Từ sự

phân tích các ngữ liệu được đưa ra trong SGK, học sinh tự rút ra các tri thức

- Kết quả cần đạt

- Nội dung

- Ghi nhớ

- Luyện tập

Trang 36

Cấu trúc trên đây của một đơn vị bài học Làm văn thuyết minh hoàn toànthống nhất với cấu trúc của đơn vị bài học Làm văn về các dạng văn bản khác

và cũng thống nhất với cấu trúc một đơn vị bài học thuộc các hợp phần TiếngViệt và Đọc - hiểu văn bản Qua đây, có thể thấy được tính thống nhất caotrong quan điểm biên soạn chương trình của các tác giả SGK Ngữ văn 10THPT

1.2.2.2 Đặc điểm phần Làm văn thuyết minh trong chương trình Ngữ văn lớp

10 THPT nâng cao

Phần Làm văn thuyết minh trong bộ sách Ngữ văn lớp 10 nâng cao vẫn

là sự tiếp nối, củng cố và hoàn thiện kiến thức về kiểu văn này mà học sinh đãđược học ở bậc THCS Tuy nhiên, do đối tượng học sinh của bộ sách này lànhững học sinh theo chương trình phân ban Khoa học xã hội -nhân văn nên sovới chương trình chuẩn, phần Làm văn thuyết minh trong chương trình Ngữvăn nâng cao có một số điểm khác biệt cần phải làm rõ

Thứ nhất, số tiết dành cho việc hình thành kiến thức lí thuyết và rènluyện kĩ năng ở trên lớp của phần làm văn thuyết minh trong chương trìnhNgữ văn 10 nâng cao ít hơn so với chương trình chuẩn Nếu như số tiết Làmvăn thuyết minh của chương trình chuẩn là 10 tiết thì ở chương trình nâng caochỉ có 5 tiết Trừ 2 tiết viết bài và trả bài thì số tiết học còn lại của phần này là

3 tiết, bao gồm các đơn vị bài học:

- Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh (1 tiết)

- Luyện tập vận dụng các hình thức kết cấu trong văn bản thuyết minh (1tiết)

- Tóm tắt văn bản thuyết minh (1 tiết)

Số bài viết rèn luyện kĩ năng tạo lập văn bản thuyết minh trong chươngtrình nâng cao cũng ít hơn trong chương trình chuẩn Cụ thể: Chương trình

Trang 37

chuẩn có 3 bài viết văn thuyết minh (bài viết số 4, số 5, số 6), còn trongchương trình nâng cao chỉ có 2 bài (bài viết số 5, số 6)

Bên cạnh đó, nội dung kiến thức của một đơn vị bài học về văn thuyếtminh trong chương trình nâng cao cũng được trình bày theo phương phápkhác Như trên đã phân tích, kiến thức của các đơn vị bài học Làm văn thuyếtminh trong chương trình chuẩn chủ yếu được phát hiện bằng con đường quynạp, còn ở chương trình nâng cao, kiến thức lí thuyết được trình bày chủ yếutheo hướng diễn dịch,trực tiếp, ngắn gọn trong một mục của SGK Phần cònlại dành cho việc luyện tập Việc trình bày như thế là phù hợp với đối tượnghọc sinh Ban khoa học xã hội - nhân văn, vì đây là đối tượng học sinh tươngđối khá, có khả năng tiếp thu những kiến thức mang tính chất trừu tượng hơnCấu trúc của một đơn vị bài học Làm văn thuyết minh trong chương trìnhnâng cao cũng có điểm khác so với cấu trúc của một đơn vị bài học Làm vănthuyết minh thuộc chương trình chuẩn: Cụ thể, một đơn vị bài học Làm vănthuyết minh trong chương trình nâng cao bao gồm các phần sau:

- Kết quả cần đạt

- Nội dung

- Luyện tập

Như thế, có thể dễ dàng nhận thấy rằng các đơn vị bài học Làm văn

thuyết minh trong chương trình nâng cao không có phần Ghi nhớ Sở dĩ có

điều đó là bởi vì phần Ghi nhớ trong các đơn vị bài học Làm văn thuyết minh

thuộc chương trình chuẩn được dùng để hệ thống lại kiến thức cơ bản củabài, mà các kiến thức này đã được trình bày rất ngắn gọn và rõ ràng trongphần nội dung ở các đơn vị bài học thuộc chương trình nâng cao

***************

Trang 38

Tóm lại, trong chương 1, chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu đặc điểm củakiểu văn bản thuyết minh trong sự đối sánh với các kiểu loại văn bản khácnhư tự sự, miêu tả và nghị luận Chúng tôi cũng đã phân tích một số đặc điểmcủa chương trình Làm văn lớp 10 THPT, trong đó đặc biệt chú ý tới phầnLàm văn thuyết minh Đây chính là những cơ sở quan trọng để chúng tôi đivào chương 2, chương trọng tâm của khoá luận này: Tìm hiểu những phươngpháp và hình thức dạy học phù hợp trong việc tổ chức dạy học các nội dung líthuyết và rèn luyện kĩ năng Làm văn thuyết minh cho học sinh lớp 10 THPT.

Trang 39

phải được đặt ra Trong khuôn khổ khoá luận này, chúng tôi sẽ đi vào tìmhiểu một số phương pháp và hình thức dạy học Làm văn thuyết minh, nhằmgiúp cho các giáo viên phần nào bớt đi những khó khăn, vướng mắc khi dạyphần này trong chương trình Ngữ văn lớp 10 THPT.

2.1 Các nội dung lí thuyết và kĩ năng Làm văn thuyết minh cần hình thành cho học sinh lớp 10 THPT

2.1.1 Các nội dung lí thuyết Làm văn thuyết minh cần hình thành cho học sinh trong chương trình Ngữ văn lớp 10 THPT

Không giống các hợp phần khác như Văn học sử, Lí luận văn học lànhững hợp phần cung cấp lí thuyết theo kiểu đầu ra, tri thức Làm văn là trithức được cung cấp cho học sinh theo kiểu đầu vào Nghĩa là, việc dạy họcLàm văn không dừng lại ở chỗ học sinh nắm bắt được tri thức lí thuyết màquan trọng hơn là phải làm sao cho nguời học biết cách vận dụng lí thuyết đãhọc vào các hoạt động thực hành, đặc biệt là thực hành tạo lập văn bản Nóicách khác, lí thuyết Làm văn là lí thuyết có tính chất công cụ, lí thuyết kĩnăng, lí thuyết có tác dụng hướng dẫn và chỉ đạo hoạt động thực hành Việcdạy học các nội dung lí thuyết không ngoài mục đích của hoạt động làm văn:giúp học sinh biết cách vận dụng kiến thức đã học về các kiểu bài, các môhình, qui trình, thao tác thực hiện …vào việc tạo lập, nhận diện các loại vănbản và có khả năng tự kiểm tra, đánh giá năng lực làm văn của bản thân mình.Xét riêng trong phần Làm văn thuyết minh, dạy các nội dung lí thuyếtcho học sinh trước hết là dạy lí thuyết về kiểu bài, các mô hình kết cấu, cácphương pháp tạo lập văn bản thuyết minh, lí thuyết về cách viết đoạn văntrong văn bản thuyết minh, cách lập dàn ý cho kiểu bài này,v.v…Trong đó, líthuyết về kiểu bài, về một số phương pháp thuyết minh…học sinh đã đượchọc từ bậc THCS.Trong chương trình lớp 10, những tri thức này được củng

Trang 40

cố lại, nâng cao và hoàn thiện hơn Bên cạnh đó, phần Làm văn thuyết minh ởlớp 10 THPT dành phần lớn thời lượng cho việc cung cấp lí thuyết về các kĩnăng thực hành cụ thể: kĩ năng viết đoạn văn trong bài văn thuyết minh, kĩnăng lập dàn ý, kĩ năng tóm tắt văn bản thuyết minh.

Không nằm ngoài mục tiêu của việc dạy lí thuyết Làm văn, việc dạy cáctri thức lí thuyết Làm văn thuyết minh cho học sinh lớp 10 THPT cũng nhằmgiúp các em có khả năng vận dụng chúng vào thực hành dựng đoạn, lập dàn ý,tóm tắt văn bản thuyết minh…Và mục đích cuối cùng là biết cách tạo lập mộtvăn bản thuyết minh chuẩn xác, hấp dẫn

Những nội dung lí thuyết Làm văn thuyết minh cụ thể cần trang bị chohọc sinh lớp 10 THPT rất phong phú Cụ thể là:

2.1.1.1.Lí thuyết về các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh

Ở nội dung này, trước hết, giáo viên phải giúp học sinh hiểu khái niệm

kết cấu văn bản SGK Ngữ văn 10 đã viết rất rõ: Kết cấu văn bản là sự tổ chức, sắp xếp các thành tố của văn bản thành một đơn vị thống nhất, hoàn chỉnh, có ý nghĩa Người viết có thể chọn các hình thức kết cấu khác nhau nhưng dù cách nào cũng phải phù hợp với mối liên hệ bên trong của các đối tượng, quan hệ giữa đối tượng với môi trường xung quanh và quá trình nhận thức của con người [24,165]

Tiếp đó, cần tổ chức cho học sinh tìm hiểu các hình thức kết cấu của vănbản thuyết minh, bao gồm các hình thức chủ yếu sau đây:

- Kết cấu theo trình tự thời gian: trình bày sự vật, vấn đề theo quá trìnhhình thành, vận động, phát triển của chúng

- Kết cấu theo trình tự không gian: trình bày sự vật, vấn đề theo cấu tạovốn có của nó: bên trên, bên dưới, bên ngoài, bên trong; hoặc theo trật tự quansát, từ xa đến gần, từ trung tâm đến các bộ phận xung quanh

Ngày đăng: 19/08/2021, 21:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức thảo luận có thể theo hai bàn kế tiếp nhau. Giáo viên có thể   gọi   bất   kì   học   sinh   nào   trong nhóm trả lời). - Hướng dẫn dạy làm văn thuyết minh trong chương trình ngữ văn lớp 10 THPT
Hình th ức thảo luận có thể theo hai bàn kế tiếp nhau. Giáo viên có thể gọi bất kì học sinh nào trong nhóm trả lời) (Trang 89)
Giáo viên sử dụng bảng phụ (hoặc chiếu   lên   màn   hình)   hai   đoạn   văn thuyết   minh   cùng   một   đối   tượng nhưng   khác   nhau   về   hình   thức   thể hiện - Hướng dẫn dạy làm văn thuyết minh trong chương trình ngữ văn lớp 10 THPT
i áo viên sử dụng bảng phụ (hoặc chiếu lên màn hình) hai đoạn văn thuyết minh cùng một đối tượng nhưng khác nhau về hình thức thể hiện (Trang 91)
II-Các hình thức kết cấu của - Hướng dẫn dạy làm văn thuyết minh trong chương trình ngữ văn lớp 10 THPT
c hình thức kết cấu của (Trang 94)
2. Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh - Hướng dẫn dạy làm văn thuyết minh trong chương trình ngữ văn lớp 10 THPT
2. Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh (Trang 96)
=> Hình thức kết cấu của văn bản:   theo   trình   tự   lô   gíc   của   đối tượng: từ khái niệm chung đến từng loại và bài phú cụ thể. - Hướng dẫn dạy làm văn thuyết minh trong chương trình ngữ văn lớp 10 THPT
gt ; Hình thức kết cấu của văn bản: theo trình tự lô gíc của đối tượng: từ khái niệm chung đến từng loại và bài phú cụ thể (Trang 99)
Các hình thức kết cấu văn bản thuyết minh Bài viết số 5: Văn thuyết minh ( ở lớp) - Hướng dẫn dạy làm văn thuyết minh trong chương trình ngữ văn lớp 10 THPT
c hình thức kết cấu văn bản thuyết minh Bài viết số 5: Văn thuyết minh ( ở lớp) (Trang 102)
Luyện tập vận dụng các hình thức kết cấu văn bản thuyết minh Bài viết số 6: văn thuyết minh ( hs làm ở nhà) - Hướng dẫn dạy làm văn thuyết minh trong chương trình ngữ văn lớp 10 THPT
uy ện tập vận dụng các hình thức kết cấu văn bản thuyết minh Bài viết số 6: văn thuyết minh ( hs làm ở nhà) (Trang 102)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w