Ngoài pháp luật, nhà nước sử dụng các quy tắc, chuẩn mực xã hội khác để quản lý xã hội như đạo đức,tập quán,... So với các chuẩn mực xã hội khác, pháp luật vẫn là công cụ đặc biệt mang nhiều ưu thế vượt trội, có ý nghĩa quyết định xu thế phát triển của xã hội. Do đó, nhìn chung pháp luật luôn giữ vai trò chi phối sự tồn tại và phát triển của các chuẩn mực khác. Bên cạnh đó, các chuẩn mực xã hội khác cũng có vai trò nhất định đối với pháp luật. Các chuẩn mực xã hội có nguồn gốc từ thực tiễn đời sống xã hội, được hình thành từ nhu cầu, đòi hỏi cần có một công cụ, phương tiện điều chỉnh các quan hệ xã hội, định hướng hành vi của con người. Nảy sinh trong đời sống xã hội, chịu sự chi phối mạnh mẽ của pháp luật nhưng các chuẩn mực xã hội này cũng có tác động không nhỏ tới pháp luật. Trong những chuẩn mực xã hội liên quan tới pháp luật thì có chuẩn mực đạo đức và pháp luật hình sự có sự liên quan khá mật thiết với nhau, để làm rõ hơn về vấn đề này tôi đã chọn đề 2: “Phân tích mối quan hệ giữa chuẩn mực đạo đức và pháp luật hình sự.”
Trang 2xã hội có nguồn gốc từ thực tiễn đời sống xã hội, được hìnhthành từ nhu cầu, đòi hỏi cần có một công cụ, phương tiệnđiều chỉnh các quan hệ xã hội, định hướng hành vi của conngười Nảy sinh trong đời sống xã hội, chịu sự chi phốimạnh mẽ của pháp luật nhưng các chuẩn mực xã hội nàycũng có tác động không nhỏ tới pháp luật Trong nhữngchuẩn mực xã hội liên quan tới pháp luật thì có chuẩn mựcđạo đức và pháp luật hình sự có sự liên quan khá mật thiếtvới nhau, để làm rõ hơn về vấn đề này tôi đã chọn đề 2:
“Phân tích mối quan hệ giữa chuẩn mực đạo đức và pháp luật hình sự.”
Trang 4THÂN BÀI
1 Pháp luật hình sự
Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự chung do nhà nước
đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện để điều chỉnhcác quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng của nhànước
Pháp luật hình sự: thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng
và chống tội phạm - loại vi phạm pháp luật có tính nguyhiểm cao hơn hẳn so với các loại vi phạm pháp luật kháccho xã hội Nhà nước sử dụng nhiều hình thức và biện phápkhác nhau, trong đó có biện pháp pháp luật hình sự Biệnpháp này được Nhà nước sử dụng thể hiện trước hết quahoạt động xây dựng pháp luật mà kết quả là các văn bảnquy phạm PLHS quy định về tội phạm và hình phạt được rađời Các quy phạm pháp luật này tồn tại trong mối quan hệhữu cơ biện chứng với nhau trong một hệ thống tạo thànhngành luật hình sự
Quy phạm pháp luật của pháp luật hình sự
Trang 5Quy phạm pháp luật của pháp luật hình sự được hìnhthành qua các quy định của pháp luật Đó là các quy địnhchung về tội phạm và hình phạt cũng như biện pháp hình
sự phi hình phạt, là các quy định về các tội phạm cụ thể vàcác khung hình phạt cũng như biện pháp hình sự phi hìnhphạt cụ thể Các quy định này đều phải được thể hiện ởhình thức văn bản quy phạm pháp luật cao nhất trong hệthống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam hay nói cáchkhác, các quý định về tội phạm và hình phạt cũng như biệnpháp hình sự phi hình phạt phải do cơ quan quyền lực nhànước cao nhất của Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam banhành vì tính đặc biệt của các quy định này
2 Chuẩn mực đạo đức
Đạo đức là toàn bộ những quan niệm về thiện ác, lương
tâm, danh dự, trách nhiệm, về lòng tự trọng, về công bằnghạnh phúc và những quy tắc xử sự hình thành trên cơ sởcác ý niệm, quan điểm đó Tuy mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng
có quan niệm và cách giải thích khác nhau về đạo đứcnhưng quá trình lịch sử tồn tại và phát triển lâu dài của conngười đã xây dựng nên những giá trị đạo đức có tính phổ
Trang 6biến, chung nhất cho tất cả mọi người Đạo đức là cơ sở tồntại và phát triển của xã hội, là kết tinh của đời sống tinhthần nhân loại.
Chuẩn mực đạo đức là hệ thống các quy tắc, yêu cầu, đòi
hỏi đối với hành vi xã hội của con người, trong đó xác lậpnhững quan điểm, quan niệm chung về công bằng và bấtcông, về cái thiện và cái ác, về lương tâm, danh dự, tráchnhiệm và những phạm trù khác thuộc đời sống đạo đức tinhthần của xã hội
Các đặc điểm của chuẩn mực đạo đức:
Đặc điểm thứ nhất:
Chuẩn mực đạo đức được đảm bảo tôn trọng và thựchiện trong thực tế xã hội là nhờ vào hai nhóm các yếu tố:các yếu tố chủ quan và các yếu tố khách quan:
- Các yếu tố chủ quan là các yếu tố tồn tại, thường trực
trong ý thức, quan điểm của mỗi cá nhân, chi phối vàđiều khiển hành vi đạo đức của họ gồm: một là nhữngthói quen, nếp sống trong sinh hoạt hàng ngày của mỗicon người; hai là sự tự nguyện, tự giác của mỗi con ngườitrong việc thực hiện hành vi đạo đức phù hợp với các quy
Trang 7tắc của chuẩn mực đạo đức; ba là sức mạnh nội tâm chiphối bởi lương tâm của mỗi người.
+ Sức mạnh nội tâm, chịu sự chi phối bởi lương tâmcủa mỗi người Lương tâm thường được ví như một thứ
“tòa án” đặc biệt, chuyên phán xét các hành vi saitrái, vi phạm chuẩn mực đạo đức Một hành vi vi phạmchuẩn mực đạo đức có thể không bị pháp luật trừngphạt, nhưng nó lại bị lương tâm “cắn rứt” Đây là một
cơ chế đặc biệt của việc thực hiện chuẩn mực đạo đức
Ví dụ: Khi chúng ta đi trên đường và nhìn thấy mộtngười ăn xin đang đói mà ta lại không chút cảmthương Không có quy phạm pháp luật nào buộc ta khigặp những trường hợp như thế, ta phải đưa cho họ baonhiêu tiền hay cho họ một thứ gì khác
+ Những thói quen, nếp sống trong sinh hoạt hàngngày của mỗi người, chúng được lặp đi lặp lại nhiềulần trong quá trình xã hội hóa cá nhân, trở thành cáithường trực trong mỗi người và điều khiển hành vi đạođức của họ một cách tức thời, gần như mang tính “tựđộng”
Trang 8Ví dụ: Không ai và cũng không có pháp luật nào quyđịnh việc con người trong cuộc sống, trong công việcluôn phải làm việc đúng giờ, làm việc thật cẩn thận, tỉ
mỉ, kĩ càng nhưng sự thật là trong cuộc sống vẫn luôn
có những con người quy củ với những quy định đã trởthành thói quen, nếp sống sinh hoạt của bản thân Bác
Hồ của chúng ta là một tấm gương điển hình về làmviệc quy củ và đúng giờ Đây chính là tác động củachuẩn mực đạo đức lên hành vi của con người
+ Sự tự nguyện, tự giác của mỗi con người trong việcthực hiện hành vi đạo đức phù hợp với các quy tắc củachuẩn mực đạo đức Nếu như pháp luật được tuân thủ
và thực hiện chủ yếu nhờ vào sức mạnh cưỡng bức củacác chế tài thì chuẩn mực đạo đức chủ yếu dựa vào sự
tự nguyện, tự giác của mỗi cá nhân
Ví dụ: Khi ta đi trên đường quanh nhà và nhìn thấyngười già người lớn tuổi sẽ luôn chào hỏi họ một cách
lễ phép Không có quy phạm pháp luật nào quy địnhviệc ta phải chào những người lớn tuổi ta gặp trênđường nhưng ta vẫn luôn làm việc này với một trạng
Trang 9thái rất vui vẻ không chút gò bó hay khó chịu Đóchính là do ta thực hiện hành vi đó bằng sự tự nguyện,
tự giác, không cần ai nhắc nhở mà cũng không cầnđến sự cưỡng chế của pháp luật
- Các yếu tố khách quan là những yếu tố tồn tại bên ngoài
ý thức của mỗi người, nhưng lại luôn giữ vai trò chi phối,điều chỉnh hành vi đạo đức của họ; hoặc ít nhất cũng tácđộng đến việc tuân thủ chuẩn mực đạo đức, gồm: một làảnh hưởng của các thuần phong mỹ tục trong xã hội,hành vi hợp đạo đức của những người xung quanh tới ýthức và hành vi đạo dức của mõi cá nhân; hai là sứcmạnh của dư luận trong việc định hướng và điều chỉnhhành vi đạo đức của con người
+ Sự tác động, ảnh hưởng của các thuần phong mĩ tục
trong xã hội, hành vi hợp đạo đức của những người xungquanh tới ý thức và hành vi đạo đức của mỗi cá nhân.Đây là biểu hiện của quá trình tâm lí bắt chước Tâm líbắt chước có tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy cánhân thực hiện các hành vi đạo đức đã được định hình
Trang 10đúng đắn, đã trở nên rõ ràng, phù hợp với chuẩn mựcđạo đức xã hội.
+ Sức mạnh của dư luận xã hội trong việc định hướng và
điều chỉnh hành vi đạo đức của con người Dư luận xã hội
là một cơ chế đặc biệt điều chỉnh hành vi đạo đức củacon người Nó được coi là “búa rừu” của xã hội, một thứ
“luật bất thành văn”, tác động lên hành vi đạo đức củacon người bằng cách biểu dương, khen ngợi những hành
vi đạo đức đúng đắn, tạo áp lực, gây sức ép chống cácbiểu hiện tiêu cực, phê phán và lên án các hành vi saitrái, vô đạo đức
Trang 11thông qua quá trình xã hội hóa cá nhân, được củng cố, tiếpthu và lưu truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ nàysang thế hệ khác Trong lịch sử xã hội, chuẩn mực đạo đứcđược hình thành từ rất sớm trong xã hội nguyên thủy, khi
mà các hiện tượng nhà nước và pháp luật còn chưa xuấthiện Trong xã hội này, cùng với các tập quán, chuẩn mựcđạo đức là nhân tố chủ yếu chi phối và điều chỉnh hành vicủa con người
Ví dụ: Khi đang đi đường nhìn thấy một bà cụ muốn quađường nhưng trên đường có quá nhiều xe, bà đứng mãi màkhông qua được Nhiều người nhìn thấy như vậy sẽ ngoảnhmặt quay đi Tất nhiên không có bất kì điều luật nào quyđịnh nhìn thấy cảnh tượng như vậy ta phải quay lại đỡ bà
cụ qua đường và cũng không có tòa án nào xử vụ việc nếukhông đỡ bà cụ qua đường ta sẽ nhận một mức án ngồi tùhay bị phạt tiền Có chăng tòa án ở đây chỉ là tòa án lươngtâm và hình phạt mà ta nhận lấy chính là sự cắn dứt lươngtâm của bản thân Chuẩn mực đạo đức là một loại chuẩnmực bất thành văn nhưng nó lại có tác động to lớn đến việc
Trang 12con người sẽ hành xử như thế nào trong một vài trường hợp
cụ thể như trong hoàn cảnh như trên chẳng hạn
Đặc điểm thứ ba:
Chuẩn mực đạo đức mang tính giai cấp, mặc dù tính giai
cấp của nó không thể hiện mạnh mẽ, rõ nét như tính giaicấp của chuẩn mực pháp luật Tính giai cấp của chuẩn mựcđạo đức thể hiện ở chỗ nó được sinh ra cũng là nhằm củng
cố, bảo vệ hay phục vụ cho các nhu cầu, lợi ích vật chất,tinh thần của giai cấp này hay giai cấp khác trong một xãhội nhất định
3 Phân tích mối quan hệ giữa chuẩn mực đạo đức
và pháp luật hình sự
Pháp luật hình sự và chuẩn mực đạo đức đều có chung
mục tiêu Chúng đều là phương tiện điều chỉnh quan trọng bậc nhất đối với quan hệ xã hội và các hành vi của con
người Pháp luật hình sự và chuẩn mực đạo đức đều đảm
bảo cho xã hội phát triển một cách ổn định và trật tự, qua
đó bảo vệ và định hướng những quan hệ xã hội phù hợp với
ý chí và lợi ích chung của cộng đồng xã hội và giai cấp
thống trị Chúng hỗ trợ đan xen, ảnh hưởng lẫn nhau trong
Trang 13việc bảo đảm trật tự xã hội, điều chỉnh hành vi của con người cho phù hợp với pháp luật và lợi ích của cộng đồng Nếu hành vi nào trái đạo đức thì sẽ bị pháp luật trừng trị
hoặc bị lên án bởi dư luận xã hội Mặt khác, hành vi trái
pháp luật, bên cạnh chế tài của pháp luật, cũng sẽ bị xã hội trừng trị bằng dư luận xã hội, bài xích xã hội… Pháp
luật hình sự và chuẩn mực đạo đức là hai công cụ chính và
mạnh mẽ nhất để đảm bảo trật tự xã hội.
Chuẩn mực đạo đức trong xã hội đã thực sự hỗ trợ, bổsung, hoàn thiện cho pháp luật hình sự, tạo điều kiện chopháp luật được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống Khipháp luật chưa được ban hành kịp thời, không đầy đủ, đạođức giữ vai trò bổ sung, thay thế cho pháp luật Nhà nước
ta thừa nhận tập quán có thể thay thế pháp luật trongnhững trường hợp pháp luật chưa quy định và nội dung tậpquán không trái với quy định của pháp luật Chuẩn mựcđạo đức còn tạo điều kiện để pháp luật hình sự được thựchiện nghiêm minh trong đời sống xã hội Gia đình, nhàtrường, các thiết chế xã hội đã thực sự phát huy vai trò tíchcực của mình trong vấn đề giáo dục nhân cách, lối sống
Trang 14Chính vì vậy, về cơ bản, tuyệt đại đa số các thành viêntrong xã hội đều có ý thức đạo đức tốt, có lối sống lànhmạnh, tôn trọng mọi người, tôn trọng các quy tắc sốngchung của cộng đồng.
Trong Bộ luật hình sự có thể thấy tư tưởng nhân đạo đượcphản ánh rõ nét, là tư tưởng bao trùm, xuyên suốt trongquan điểm, đường lối đấu tranh phòng chống tội phạm Tưtưởng này cũng được xác định là kim chỉ nam trong suốtlịch sử lập pháp qua các thời kỳ khác nhau và trong Bộ luậthình sự tư tưởng nhân đạo một lần nữa được thể hiện rõ nét
và sâu sắc, thể hiện được bản chất giai cấp của nhà nước
ta trong từng chế định pháp luật cụ thể Chính sách hình sự
là một bộ phận của chính sách pháp luật thể hiện tư tưởng,quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong đấu tranhphòng, chống tội phạm trong từng thời kỳ nhất định Tưtưởng nhân đạo trong chính sách hình sự của Đảng và nhànước ta thể hiện đường lối xử lý đối với các tội phạm đượcxác định trên cơ sở coi trọng cả mục đích trừng trị và giáodục, phòng ngừa tội phạm, trong đó mục đích giáo dục
Trang 15người phạm tội, đề cao tính “hướng thiện” luôn được đặtlên hàng đầu.
Tội phạm là hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội so vớicác hành vi vi phạm pháp luật khác Việc xác định và ghinhận một hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm
và đưa nó vào Bộ luật hình sự là kết quả của sự đánh giátính nguy hiểm cho xã hội của hành vi và sự cần thiết phải
xử lý hành vi đó trước pháp luật Biểu hiện của chuẩn mứcđạo đức nhân đạo trong việc quy định một hành vi nguyhiểm cho xã hội bị coi là tội phạm không phải là sự áp đặt ýchí của Nhà nước mà về bản chất hành vi đó vốn dĩ đã hội
đủ những yếu tố tiêu cực tồn tại một cách khách quan,người làm luật quy định tội phạm nhằm mục đích để bảo vệcác giá trị xã hội quan trọng khác Có thể thấy chuẩn mựcđạo đức nhân đạo không chỉ được truyển tải trong chínhsách pháp luật hình sự nói chung mà nó còn được cụ thểhóa trong từng chế định tội phạm cụ thể
Trang 16a Tác động của chuẩn mực đạo đức tới pháp luật hình sự
Chuẩn mực đạo đức là nền tảng tinh thần để thực hiệncác quy định của pháp luật Trong nhiều trường hợp, các cánhân trong xã hội thực hiện một hành vi pháp luật hợppháp không phải vì họ hiểu các quy định của pháp luật, màhoàn toàn xuất phát từ các quy tắc của đạo đức Nhiều quytắc, yêu cầu, đòi hỏi các chuẩn mực đạo đức được nhà nước
sử dụng và nâng lên thành quy phạm pháp luật Khi xâydựng và ban hành pháp luật, nhà nước không thể khôngtính tới các quy tắc chuẩn mực đạo đức Ví dụ như “Tộikhông tố giác tội phạm” (Điều 314 BLHS năm 1999), nếutội phạm đó không phải là tội xâm phạm an ninh quốc giahoặc tội đặc biệt nghiêm trọng thì nhà nước không truy cứutrách nhiệm hình sự đối với ông, bà, cha, mẹ, con, cháu,anh, chị, em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội vì vềmặt đạo đức và tâm lý, không ai muốn người thân mìnhdính vào vòng tù tội
- Đối với việc hình thành pháp luật:
Trang 17+ Nhiều quan điểm đạo đức được thể chế hoá trong phápluật, nhiều quy tắc đạo đức phù hợp với ý chí của nhànước được thừa nhận trong pháp luật qua đó góp phầntạo nên pháp luật Ví dụ như quan niệm, quy tắc đạo đức
về mối quan hệ thầy trò được thừa nhận trong giáo dục.+ Những quan niệm, quy tắc đạo đức trái với ý chí củanhà nước sẽ trở thành tiền đề để hình thành nên nhữngquy phạm thay thế chúng, từ đó cũng góp phần hìnhthành nên pháp luật Ví dụ quan niệm “cha mẹ đặt đâucon ngồi đấy” trong hôn nhân trước đây trở thành tiền đề
để hình thành nên quy định hôn nhân là tự nguyện trên
cơ sở giữ tình yêu nam và nữ trong luật hôn nhân và giađình
- Đối với việc thực hiện pháp luật:
+ Những quan niệm, quy tắc đạo đức được thừa nhậntrong pháp luật góp phần làm cho pháp luật được thựchiện một cách nghiêm chỉnh, tự giác hơn, bởi vì chúng đãngấm sâu vào tiềm thức của nhân dân nên ngoài nhữngbiện pháp của nhà nước, chúng còn được đảm bảo thựchiện bằng thói quen, bằng lương tâm và niềm tin của mỗi
Trang 18người, bằng dư luận của xã hội Ngược lại, những quanniệm, quy tắc đạo đức trái với ý chí của nhà nước sẽ cảntrở thực hiện pháp luật trong thực tế Ví dụ quan niệmtrọng nam khinh nữ dẫn đến tình trạng một số người cố
đẻ đến con thứ ba, thứ tư, tức là vi phạm chính sách vàpháp luật về dân số của nhà nước
+ Ý thức đạo đức cá nhân có tác động mạnh mẽ đến việcthực hiện pháp luật Người có ý thức đạo đức cao trongmọi trường hợp đều nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật.Ngay cả trường hợp pháp luật có những “khe hở” thì họcũng không vì thế mà có hành vi “lợi dụng”, để làm điềubất chính Đối với nhiều trường hợp “đã trót” thực hiệnhành vi vi phạm pháp luật, ý thức đạo đức giúp chủ thể
ăn năn, hối cải, sửa chữa lỗi lầm Tình cảm đạo đức còn
có thể khiến các chủ thể thực hiện hành vi một cách hàohứng, nhiệt tình, tận tâm, triệt để Ngược lại, đối vớinhững người có ý thức đạo đức thấp thì thái độ tôn trọngpháp luật, ý thức tuân thủ pháp luật cũng không cao, họ
dễ có các hành vi vi phạm pháp luật