1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Từ góc độ lý luận về lượng giá trị hàng hóa của c mác hãy đưa ra các giải pháp để tăng năng lực cạnh tranh về giá của một mặt hàng tiêu dùng ở việt nam hiện nay

18 81 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI ------BÀI TẬP NHÓM MÔN: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin Đề tài 04: Từ góc độ lý luận về lượng giá trị hàng hóa của C.Mác hãy đưa

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

- -BÀI TẬP NHÓM MÔN: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin

Đề tài 04:

Từ góc độ lý luận về lượng giá trị hàng hóa của C.Mác hãy đưa

ra các giải pháp để tăng năng lực cạnh tranh về giá của một mặt

hàng tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay.

NHÓM: 01 LỚP: N11-TL1

Hà Nội, 2018

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Trang 3

MỞ ĐẦU

Việt Nam đang phấn đấu mục tiêu để trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 Trong quá trình phát triển như hiện nay, đời sống của mỗi người dân đang ngày càng được nâng cao, vì vậy thị trường cũng trở nên khó tính và khắt khe hơn Không những chỉ đáp ứng những nhu cầu trong nước, muốn nền kinh tế hùng mạnh Việt Nam còn cần chú trọng đến xuất khẩu ra nước ngoài Hiện nay, Việt Nam vẫn còn là một nước nông nghiệp, các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là nông phẩm và các sản phẩm may mặc Tuy nhiên vấn đề đặt ra là thị trường thế giới ngày càng khắt khe, bên cạnh những thuận lợi, cơ hội, các doanh nghiệp Việt Nam cũng gặp không ít khó khăn, thách thức về thị trường tiêu thụ đòi hỏi phải nâng cao năng lực cạnh tranh để xác lập thị trường vững chắc Nắm bắt được lí luận của C.Mác về lượng giá trị hàng hóa sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam tìm ra những giải pháp nhằm tăng chất lượng của sản phẩm và hạ giá thành của sản phẩm làm ra, nói cách

khác là tăng năng lực cạnh tranh về giá cả của sản phẩm Từ góc độ lí luận của

C.Mác về lượng giá trị hàng hóa, nhóm em xin đưa ra giải pháp để tăng năng lực cạnh tranh về giá của mặt hàng may mặc ở Việt Nam hiện nay

NỘI DUNG

I Lý luận của C Mác về lượng giá trị hàng hóa

1 Hàng hóa và lượng giá trị của hàng hóa

1.1 Khái niệm hàng hóa

Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán

Qua khái niệm ta thấy :

Thứ nhất, hàng hóa phải là sản phẩm của lao động còn những sản phẩm không do

lao động tạo ra mặc dù còn rất cần thiết cho con người như nước, gió,… nhưng

Trang 4

không phải là hàng hóa.

Thứ hai, hàng hóa phải được tiêu dùng, nếu nó vô dụng thì cũng không phải là

hàng hóa

1.2 Lượng giá trị của hàng hóa

Giá trị hàng hóa được xét về mặt chất và mặt lượng “Chất” giá trị hàng hóa là

lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Còn

“lượng” giá trị của hàng hoá là lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó

quyết định

2 Cơ cấu lượng giá trị hàng hóa và thước đo lượng giá trị hàng hóa

2.1 Cơ cấu lượng giá trị của hàng hóa

Cơ cấu lượng giá trị của hàng hoá gồm 2 bộ phận:

Bộ phận giá trị tái hiện : hao phí lao động quá khứ sản xuất ra TLSX - tồn tại trong TLSX được chuyển vào sản phẩm (c)

Bộ phận giá trị mới : hao phí lao động sống của người lao động trong quá trình sản xuất ra sản phẩm (v + m)

2.2 Thước đo lượng giá trị hàng hóa

Lượng lao động hao phí để tạo ra hàng hóa được đo bằng thước đo như: một giờ lao động, một ngày lao động,… Do đó, lượng giá trị của hàng hóa cũng do thời gian lao động quyết định Trong thực tế, một loại hàng hóa đưa ra thị trường là do rất nhiều người sản xuất ra, nhưng mỗi người sản xuất do điều kiện sản xuất, trình

độ tay nghề là không giống nhau nên thời gian lao động cá biệt để sản xuất ra hàng hóa của họ khác nhau Thời gian lao động cá biệt quyết định lượng giá trị cá biệt của hàng hóa mà từng người sản xuất ra Vậy phải chăng thời gian lao động cá biệt nhiều thì hàng hóa đó càng có nhiều giá trị ? C.Mác viết: "Chỉ có lượng lao động xã

Trang 5

hội cần thiết, hay thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một giá trị sử dụng, mới quyết định đại lượng giá trị của giá trị sử dụng ấy"

Như vậy, thước đo lượng giá trị của hàng hóa được tính bằng thời gian lao

động xã hội cần thiết Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để

sản xuất ra một hàng hóa trong điều kiện bình thường của xã hội, tức là với một trình độ kỹ thuật trung bình, trình độ khéo léo trung bình và cường độ lao động trung bình so với hoàn cảnh xã hội nhất định Trong một xã hội có hàng triệu người

sản xuất hàng hóa, với thời gian lao động cá biệt hết sức khác biệt nhau thì thông thường thời gian lao động xã hội cần thiết gần sát với thời gian lao động cá biệt của những người sản xuất và cung cấp đại bộ phận một loại hàng hóa nào đó trên thị trường

3 Các yếu tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa

Do thời gian lao động xã hội cần thiết luôn thay đổi nên lượng giá trị của hàng hóa cũng là một đại lượng không cố định Sự thay đổi lượng giá trị của hàng hóa tùy thuộc vào những nhân tố sau:

Thứ nhất là năng suất lao động.

Năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động, được tính bằng số lượng sản phấm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian cần thiết đế sản xuất ra một đơn vị sản phẩm

Có hai loại năng suất lao động: năng suất lao động cá biệt và năng suất lao động xã hội Trên thị trường, hàng hóa được trao đổi không phải theo giá trị cá biệt

mà là giá trị xã hội Vì vậy, năng suất lao động có ảnh hưởng đến giá trị xã hội của hàng hóa chính là năng suất lao động xã hội

Năng suất lao động xã hội càng tăng, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa càng giảm, lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng ít

Trang 6

Ngược lại, năng suất lao dộng xã hội càng giảm thì thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa càng tăng và lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng nhiều Lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa tỷ lệ thuận với số lượng lao động kết tinh và tỷ lệ nghịch với năng suất lao động xã hội Như vậy, muốn giảm giá trị của mỗi đơn vị hàng hóa xuống, thì ta phải tăng năng suất lao động xã hội Năng suất lao động lại tùy thuộc vào nhiều nhân tố như: trình độ khéo léo của người lao động, sự phát triển của khoa học - kỹ thuật và trình độ ứng dụng tiến

bộ kỹ thuật vào sản xuất, sự kết hợp xã hội của sản xuất, hiệu quả của tư liệu sản xuất và các điều kiện tự nhiên

Tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động tác động khác nhau đối với lượng giá trị hàng hóa Cường độ lao động là khái niệm nói lên mức độ khẩn trương, là sự căng thẳng mệt nhọc của người lao động Vì vậy, khi cường độ lao động tăng lên, thì lượng lao động hao phí trong cùng một đơn vị thời gian cũng tăng lên và lượng sản phẩm được tạo ra cũng tăng lên tương đương, còn lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm thì không đổi

Thứ hai là mức độ phức tạp của lao động.

Mức độ phức tạp của lao động cũng ảnh hưởng nhất định đến số lượng giá trị của hàng hóa Theo mức độ phức tạp của lao động có thể chia lao động thành lao động giản đơn và lao động phức tạp

Lao động giản đơn là lao động mà bất kỳ một người bình thường nào có khả năng lao động cũng có thể thực hiện được Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện thành lao động chuyên môn lành nghề mới có thể tiến hành được Trong cùng một đơn vị thời gian lao động như nhau, lao động phức tạp tạo ra được nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn Lao động phức tạp là lao

động giản đơn được nhân gấp bội lên C.Mác viết: "Lao động phức tạp chỉ là lao

động giản đơn được nâng lên lũy thừa, hay nói cho đúng hơn là lao động giản đơn

Trang 7

được nhân lên ” Như vậy, lượng giá trị của hàng hóa được đo bằng thời gian lao

động xã hội cần thiết, giản đơn trung bình

4 Giá cả của hàng hóa và các yếu tố ảnh hưởng tới giá cả hàng hóa

4.1 Giá cả của hàng hóa

Giá trị của hàng hóa được biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả của hàng hóa

4.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới giá cả hàng hóa

Giá cả của hàng hóa phụ thuộc vào các yếu tố sau:

Thứ nhất, giá trị của hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất kết tinh

trong hàng hóa Giá trị hàng hóa tỉ lệ thuận với giá cả của hàng hóa

Thứ hai, giá trị của tiền tệ là giá trị của tiền tệ là 1 lượng vàng nguyên chất

nhất định làm đơn vị tiền tệ Giá trị tiền tệ tỉ lệ nghịch với giá cả hàng hóa

Thứ ba, quan hệ cung cầu về hàng hóa trên thị trường Khi cung lớn hơn cầu

làm giá cả xuống thấp hơn giá trị hàng hóa và ngược lại

Ngoài ra, giá cả hàng hóa còn chịu sự tác động của quan hệ cạnh tranh Sự cạnh tranh càng cao thì giá cả hàng hóa càng được hạ thấp và ngược lại Trong số những yếu tố trên thì giá trị của hàng hóa là yếu tố quyết định nhất đến giá cả của hàng hóa

II Năng lực cạnh tranh về giá của mặt hàng dệt may của Việt Nam hiện nay 2.1 Tổng quan ngành dệt may Việt Nam

Ngành dệt may Việt Nam là một trong những ngành sản xuất có bề dày lịch

sử trong nhiều năm qua ngành luôn có những đóng góp tích cực trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may năm 2017 là 31 tỉ USD, tăng trưởng 10,23% so với năm 2016 Hiện nay, ngành dệt may thuộc top 10 quốc gia trong số 153 nước xuất khẩu dệt may trên

Trang 8

thế giới Ngành có vị trí thứ 2 của kim ngạch xuất khẩu Việt Nam( sau dầu thô)

Tuy nhiên chất lượng và tốc độ tăng trưởng của ngành vẫn còn hết sức đáng

lo ngại do công nghệ nhuộm và công nghệ may các sản phẩm cao cấp còn kém và chậm được cải tiến, trình độ công nghệ sản xuất vẫn ở mức trung bình Dẫu ngành dệt may giúp giải quyết một lượng đáng kể lao động (2,2 triệu lao động) nhưng phần lớn số lao động có tay nghề cao còn ít, trình độ lao động chưa cao, những người có kỹ năng kỹ xảo không nhiều Hơn nữa, một yếu tố quan trọng bậc nhất chính là công nghệ phụ trợ chưa phát triển

Ngành dệt may hiện nay còn phụ thuộc khá nhiều vào nguồn nguyên vật liệu nhập khẩu, tỉ suất nhập khẩu ngày càng tăng Năm 2017, nhập khẩu bông các loại tăng 25% về lượng và 47,1% về giá trị; nhập khẩu xơ, sợi, dệt tăng 15,1%về lượng

và 8,2% về giá trị, so với năm 2016 Đây là một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh ngành dệt may còn khá thấp Giá trị gia tăng (VA), tỷ suất giá trị gia tăng trên giá trị sản xuất công nghiệp (VA/GO) có xu hướng giảm, tỷ suất lợi nhuận có được khoảng 5 – 10% nhưng chủ yếu số lợi nhuận đó tập trung ở khâu gia công Đồng thời việc phân bố công gian các khu vực sản xuất chưa hợp lý đang là sức ép lớn cho xã hội, kinh tế và môi trường Ngoài ra còn là thách thức khi Việt nam vẫn còn là “công xưởng” của thế giới, đặc biệt là khi chúng ta mới tham gia sản xuất chủ yếu ở khâu gia công nên giá trị kinh tế mang lại chưa cao

Từ khi Việt Nam gia nhập WTO, ngành cũng được tạo những cơ hội và điều kiện thuận lợi nhất định, trước tiên chính là cơ hội chủ động hơn trong quá trình phát triển thị trường nước ngoài, đặc biệt giảm áp lực từ các nhà cung cấp nguyên phụ liệu nước ngoài, phần nào giúp giảm chi phí sản xuất và tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm thông qua công cụ giá cả cùng với sự phát triển của công nghệ kĩ thuật, đội ngũ lao động có tay nghề ngày càng chiếm tỉ lệ lớn và sự ưu đãi từ các chính sách nhà nước, ngành dệt may đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ, vừa tạo ra giá trị hàng hòa, vừa đảm bảo nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu

Trang 9

2.2 Một số nguyên nhân chính khiến ngành dệt may chưa thực sự mang lại giá trị kinh tế cao

2.2.1Thiết bị công nghệ lạc hậu

Thiết bị ngành công nghiệp dệt may hiện nay vẫn còn lạc hậu và thiếu đồng

bộ, sản phẩm làm ra chưa có năng lực cạnh tranh Máy móc thiết bị ngành dệt phần lớn là cũ kỹ, lâu năm, có gần 50% số máy móc đã qua sử dụng được khoảng 25 năm nên hư hỏng khá nhiều, dẫn đến năng suất, chất lượng sản phẩm thấp, giá thành cao Phần lớn doanh nghiệp đều sử dụng nguồn vốn tự huy động như tự có, vay trung hạn, dài hạn để mua sắm trang thiết bị và vật tư sản xuất góp phần nâng cao chất lượng công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm Hàng ngàn máy dệt không thoi,

có thoi khổ rộng, bộ đồ mắc mới hiện đại đã được nhập về dần thay thế các thiết bị

cũ kĩ để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm các mặt hàng dệt may xuất khẩu

và nội địa Ngành liên tục đầu tư mở rộng sản xuất và đổi mới thiết bị đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường Một số doanh nghiệp đã đầu tư dây chuyền đồng

bộ, sử dụng nhiều máy chuyên dùng sản xuất theo hướng chuyên môn hóa như dây chuyền may sơ mi, quần áo, quần jean, complet, hệ thống giặt là,…tuy nhiên cũng chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất của thị trường khó tính hiện nay

2.2.2 Nguyên vật liệu kém chất lượng, phải nhập khẩu nhiều

Theo số liệu thống kê cho thấy ngành dệt may xuất khẩu hàng hóa có giá trị 5,83 tỷ USD thì dệt may phải chi tới 5,65 tỷ USD cho nhập khẩu, chủ yếu là vải (52,5%), nguyên phụ liệu (34%), sợi (10%), bông xơ(4%) Các mặt hàng này chủ yếu nhập từ Trung Quốc, Đài Loan và các nước Asean Theo đó kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu dệt may gồm bông sợi, xơ đã tăng 32% so với cùng kì năm trước đó

Hiện nay, nhu cầu về nguyên liệu nhập khẩu để đảm bảo sản xuất cần đến 95% xơ bông, 70% sợi tổng hợp, 40% xơ ngắn, 40% vải dệt kim và 60% vải dệt

Trang 10

thoi Qua đó, có thể thấy rằng cả một ngành công nghiệp dệt may gần như hoàn toàn phụ thuộc vào nước ngoài Vì vậy để sản xuất ổn định hầu như các doanh nghiệp đều phải chấp nhận gia công cho đối tác nước ngoài dù lợi nhuận thấp Bởi khi gia công đối tác sẽ cung ứng kịp thời, đầy đủ nguyên phụ liệu

Còn với kiểu sản xuất dứt khoát, độc lập, tự chủ sẽ có thể mang lại lợi nhuận cao hơn nhưng sẽ phải chủ động tìm nguồn nguyên liệu từ bên ngoài bằng con đường nhập khẩu

Ngành dệt may chỉ có thể đáp ứng được 30% nhu cầu nguyên phụ liệu và nguyên liệu nội địa có thể đáp ứng đến 70% nhu cầu sản xuất, nhưng do yếu tố về thành phẩm của thị trường xuất khẩu khắt khe, nguyên phụ liệu Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được, chất lượng chưa đảm bảo đòi hỏi phải nhập khẩu từ bên ngoài

Hầu hết các quốc gia đều phải nhập khẩu nguyên liệu, kể cả Trung Quốc vì nhu cầu trên thế giới rất đa dạng, không thể cùng lúc đáp ứng hết được Vấn đề là tập trung nội lực phát triển sâu, mạnh, có định hướng vào loại nguyên liệu nhất định để nó trở thành nguồn cung cấp chính cho thị trường thế giới

Nguyên nhân quan trọng làm nước ta phải nhập khẩu phần lớn nguyên liệu cho ngành dệt may là do sản lượng lẫn diện tích trồng bông của nước ta còn ít Trong khi một số nguyên phụ liệu khác trong nước đã sản xuất được thì giá thành lại cao hơn nhập khẩu tới 5%, chất lượng lại không được ổn định

2.2.3 Nguồn nhân lực dồi dào, giá rẻ nhưng trình độ chưa cao đặc biệt là thiếu các thiết kế chuyên nghiệp

Hiện nay ngành dệt may là một trong những ngành sử dụng nhiều lao động nhất( hơn 20%) lao động trong khu vực công nghiệp Gần 80% là lao động nữ hiện nay đã tương đối cao chủ yếu là đã tốt nghiệp THPT, THCS lao động trực tiếp của ngành đa số tuổi đời còn khá trẻ, tỷ lệ chưa có gia đình cao, lợi thế cho việc đào tạo

Trang 11

và nâng cao năng suất lao động Người lao động khéo léo, có tinh thần học hỏi và tiếp thu nhanh nhưng do chưa được đào tạo bài bản nên trình độ còn hạn chế

Ngoài ra ngành cũng còn đang thiếu đội ngũ nhân lực quản lý và kỹ thuật, thiếu các nhà thiết kế tài năng, chuyên nghiệp nên khả năng gắn kết thời trang sản xuất với thời trang quốc tế còn kém Hầu như cán bộ chủ chốt trong ngành đều có trình độ đại học, cao đẳng, chuyên môn khá nhưng trình độ quản lý theo phong cách công nghiệp còn yếu Cán bộ kỹ thuật chủ yếu trưởng thành từ công nhân bậc cao nên chỉ giỏi về chuyên môn của sản phẩm cụ thể còn như việc thiết kế mẫu, kiểu dáng sản phẩm còn rất kém Do đó sản phẩm làm ra sức cạnh tranh không cao

2.2.4 Mạng lưới phân bố còn hạn chế, maketing chưa chuyên nghiệp

Hiện nay hệ thống bán hàng dệt may trong nước chưa có hệ thống, hầu như vẫn để thả nổi thả trôi trên thị trường, thậm chí còn có việc nhái hàng các thương hiệu nổi tiếng Bản thân các doanh nghiệp Việt Nam chưa mở rộng quản lý tốt các kênh tiêu thụ ngay ở thị trường trong nước Bên cạnh đó ngành còn phải đối mặt với những đối thủ cạnh tranh rất mạnh như Trung Quốc, Hoa Kỳ, EU

Có lẽ do chi phí cho các hoạt động ở khâu này không phải là nhỏ, chúng ta phải thường xuyên có các thương nhân có kinh nghiệm, tham gia nhiều các cuộc trình diễn thời trang hay hội chợ triển lãm quốc tế để có thể học hỏi được từ các nhà thiết kế khác nhau, đi chào hàng, tìm các mối làm ăn, kí hợp đồng Tất cả những công việc của khâu này không những khó khăn về tài chính, mà còn khó cả

về nghiệp vụ , kinh nghiệm, kinh doanh, mà đi kèm với nó là mức độ rủi ro cao trong quá trình vạn chuyển và bảo quản hàng hóa đến các địa điểm phân phối

3 Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh về giá của mặt hàng dệt may do Việt Nam sản xuất

Ngày đăng: 19/08/2021, 17:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w