1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phân tích, đánh giá những điểm mới bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về khởi kiện vụ án dân sự

16 83 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 838,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

khái niệm của khởi kiện vụ án dân sự Khởi kiện vụ án dân sự là một thủ tục có tính truyền thống lâu đời của tố tụng dân sự, tuy nhiên trước khi khởi kiện đến Tòa án nhằm để bảo vệ tối đa

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TẬP HỌC KÌ MÔN: LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

ĐỀ TÀI SỐ 22: Phân tích, đánh giá những điểm mới BLTTDS năm

2015 về khởi kiện vụ án dân sự

HỌ VÀ TÊN: NGUYỄN LINH TRANG LỚP: N06 – TL1

MSSV: 422106

Hà Nội, tháng 4 năm 2020

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 3

1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ THEO BLTTDS 2015 3

1.1 khái niệm của khởi kiện vụ án dân sự 3

1.2 Đặc điểm: 3

2 NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA BLTTDS NĂM 2015 VỚI BLTTDS 2004 VỀ KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ 4

2.1 Chủ thể có quyền khởi kiện 4

2.2 Hình thức khởi kiện vụ án dân sự 7

2.3 Phương thức nộp đơn khởi kiện 9

2.4 Nội dung khởi kiện vụ án dân sự 9

2.5 Thủ tục nhận đơn và xử lý đơn khởi kiện 10

2.6 Trả lại đơn khởi kiện, hậu quả của việc trả lại đơn khởi kiện 10

2.7 Khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện 11

3 THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHỊ 12

3.1 Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về khởi kiện vụ án dân sự 12

3.1.1 Những kết quả đạt được 12

3.1.2 Những hạn chế, bất cập về khởi kiện vụ án dân sự 12

3.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả khởi kiện vụ án dân sự 13

KẾT LUẬN 14

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 3

MỞ ĐẦU

Với trình độ phát triển của cuộc cách mạng 4.0, mối quan hệ giữa con người với con người càng phát sinh nhiều hơn, mà càng nhiều mối quan hệ làm thì tranh chấp, xâm hại lợi ích của nhau càng lớn, mâu thuẫn càng nhiều Mỗi một chủ thể

có thể tự lựa chọn cách giải quyết vấn đề cho bản thân mình tự mình hòa giải, thương lượng hoặc có thể nhờ đến cơ quan tòa án giải quyết theo yêu cầu của mình Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền đưa ra yêu cầu của mình đến Tòa án giải quyết để buộc người có hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích của mình chấm dứt hành vi vi phạm, bồi thường một khoản thiệt hại (nếu có) Như vậy ta có thể thấy rằng cơ sở làm phát sinh thủ tục giải quyết vụ án dân sự đó là từ việc có yêu cầu của đương sự - việc đưa ra yêu cầu này gọi là khởi kiện vụ án dân sự theo thủ tục giải quyết Tòa án tại cấp sơ thẩm Trong phạm vi bài làm của em, em xin chọn đề

tài “Phân tích, đánh giá những điểm mới BLTTDS năm 2015 về khởi kiện vụ án

dân sự” , để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề khởi kiện vụ án dân sự ở từng giai đoạn có

sự khác nhau hay không? Lý giải tại sao lại phải thay đổi so với luật cũ? Thay đổi như vậy mang lại ý nghĩa gì? , Bài làm của em còn nhiều thếu sót, mong quý thầy cô góp ý kiến để bài làm được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn !

Trang 4

NỘI DUNG

1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ THEO

BLTTDS 2015

1.1 khái niệm của khởi kiện vụ án dân sự

Khởi kiện vụ án dân sự là một thủ tục có tính truyền thống lâu đời của tố tụng dân sự, tuy nhiên trước khi khởi kiện đến Tòa án nhằm để bảo vệ tối đa quyền

và lợi ích hợp pháp của đương sự, thì đòi hỏi người khởi kiện phải là người có quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật nhằm để tránh tình trạng một người không có quyền khởi kiện nhưng vẫn khởi kiện xâm phạm đến quyền và lợi ích của chủ thể khác

Theo Hiến pháp 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tại Chương II Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã quy định tại Điều 14(1) Như vậy chúng ta thấy Hiến pháp đã ghi nhận quyền dân sự có ý nghĩa rất quan trọng, theo đó công dân được phép xử sự theo một cách nhất định, được yêu cầu người khác thực hiện những hành vi nhất định để bảo vệ quyền và lợi ích cho mình

Khởi kiện vụ án dân sự là hoạt động tố tụng của các cá nhân, tổ chức, cơ quan có quyền, tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp của mình đưa vấn đề tranh chấp ra tòa án có thẩm quyền giải quyết thèo trình tự, thủ tục pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hặc của người khác, lợi ích công cộng hoặc lợi ích nhà nước

1.2 Đặc điểm:

Là hoạt động tố tụng làm tiền đề phát sinh những giai đoạn tiếp theo, hoạt động khởi kiện vụ án dân sự có những đặc điểm cụ thể sau:

Thứ nhất, là cơ sở phát sinh thủ tục sơ thẩm giải quyết vụ án dân sự tại Tòa.

Được thực hiện thông qua hành vi nộp đơn khởi kiện đến tòa án có thẩm quyển để giải quyết, nếu không có hành vi này sẽ không có các giai đoạn tiếp theo

Trang 5

Thứ hai, là hoạt động do các chủ thể có quyền thực hiện theo quy định của pháp luật

Quy định như vậy hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc tự định đoạt trong TTDS, không cho phép người khác không phải là chủ thể có quan hệ pháp luật lợi dụng quyền khởi kiện để xâm phạm quyền và lợi ích của người khác

Thứ ba, là hoạt động tố tụng mà các đương sự tự do định đoạt trong việc bảo vệ mình

Xuất phát từ việc khởi kiện là sự tự nguyện, tự do của mỗi người, tự do thỏa thuận của mỗi người

Thứ tư, được thực hiện theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng dân sư quy định

2 NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA BLTTDS NĂM 2015 VỚI BLTTDS 2004 VỀ KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ

Quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự là một trong những quyền tố tụng quan trọng nhằm tới mục đích bảo vệ quyền con người liên quan đến lĩnh vực dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, thương mại quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự là quyền tự định đoạt, từ quyết định của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc yêu cầu tòa án nhân danh quyền lực nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân , BLTTDS năm 2015 đã có sự sửa đổi, bổ sung BLTTDS năm 2004 theo hướng hoàn thiện, chặt chẽ hơn

2.1 Chủ thể có quyền khởi kiện

Cở sở pháp lý : khoản 2, khoản 3, khoản 4 điều 187 BLTTDS năm 2015 ,

khoản 2 điều 162 BLTTDS năm 2004

Thứ nhất, tại khoản 2 điều 162 BLTTDS 2004 quy định “Công đoàn cấp

trên công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể lao động do pháp luật quy định” Tại

Trang 6

BLTTDS 2015 quy định chủ thể trong lĩnh vực này có sự thay đổi về mặt tên gọi

của chủ thể khởi kiện, cụ thể “Tổ chức đại diện tập thể lao động có quyền khởi

kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động hoặc khi được người lao động ủy quyền theo quy định của pháp luật” Sự thay đổi này trước tiên nhằm đảm bảo sự thống nhất, chặt chẽ với

quy định của Bộ luật Lao động 2012

Khoản 4 điều 3 Bộ luật Lao Động năm 2012 quy định : Tổ chức đại diện tập

thể lao động tại cơ sở là Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở Theo quy

định mới này, ta có thể hiểu rằng Ban chấp hành công đoàn cơ sở được thừa nhận

là tổ chức đại diện tập thể của người lao động và là chủ thể có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho tập thể người lao động, cho từng cá nhân người lao động khi được ủy quyền hợp pháp Còn trong tinh thần của BLTTDS

2004 ta có thấy rằng Ban chấp hành công đoàn trực tiếp chỉ được đại diện khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho tập thể lao động trong trường hợp tại nơi người lao động làm việc chưa thành lập công đoàn cơ sở

Ý nghĩa của việc thay đổi:

Có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn áp dụng để xác định chủ thể nào có quyền khởi kiện và quyền tham gia tố tụng của chủ thể khởi kiện Cơ sở đánh giá tính hợp pháp của quá trình tố tụng của các vụ án dân sự giải quyết tranh chấp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động

So với chủ thể trong BLTTDS “ Công đoàn cấp trên của Công đoàn cơ sở” thì “Tổ chức đại diện tập thể lao động” - thể hiện gần gũi với tập thể người lao động, nắm rõ các quyền cũng như lợi ích, nhu cầu của người lao động từ đó có điều kiện tốt hơn trong việc khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho tập thể người lao động

Trang 7

Thứ hai, liên quan đến việc khởi kiện nhằm bảo vệ lợi ích cho người tiêu

dùng được quy định tại khoản 3 điều 187 BLTTDS 2015, đây là một điều khoản

mới mà trong BLTTDS 2004 không đề cập đến, theo quy định tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền đại diên cho người tiêu dùng khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích cho người tiêu dùng hoặc người tiêu dùng tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng theo quy định của Luật Bảo vệ người tiêu dùng Mặc

dù, quyền khởi kiện của tổ chức xã hội này đã được quy định trong luật bảo vệ người tiêu dùng năm 2010, song đây lại là một chủ thể có quyền khởi kiện mới được bổ sung vào BLTTDS năm 2015 nhằm phù hợp với điều kiện thực tế khi nhu cầu tiêu dùng của con người ngày càng gia tăng, sự biến động ngày càng phức tạp của thị trường cung cầu trong và ngoài nước dẫn đến quyền lợi của người tiêu dùng

có thể bị ảnh hưởng, từ đó đặt ra vấn đề cần được bảo vệ một cách nhanh chóng, kịp thời Trên thực tế, đại đa số các cá nhân tham gia quan hệ mua bán sản phẩm, tiêu thụ sản phẩm với tư cách là người tiêu dùng Do đó khi có trường hợp người tiêu dùng bị ảnh hưởng đến lợi ích, ngoài tự bản thân họ có quyền tự khởi kiện ra, còn được tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi cho mình Hơn nữa các tổ chức

xã hội này tự mình khởi kiện với mục đích nhằm đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng

Ý nghĩa của việc bổ sung:

Một là nhằm tạo tính nhất quán, chặt chẽ với quy định về người khởi kiện tại điều 41 của Luật bảo vệ người tiêu dùng 2010

Hai là quy định như vậy đáp ứng được nhu cầu thực tiễn cho người tiêu dùng về việc bảo vệ quyền và lợi ích cho họ lòng tin cho người tiêu dùng, làm cho người tiêu dùng an tâm trong việc sử dụng các sản phẩm trong đời sống sinh hoạt

Thứ ba, Trong lĩnh vực hôn nhân gia đình quy định tại khoản 5 điều 187

BLTTDS 2015, đây cũng là một điều khoản mới được bổ sung trong BLTTDS

Trang 8

2015, “cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình để bảo vệ quyền,

lợi ích hợp pháp của người khác theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.”

Cá nhân có quyền khởi kiện theo luật Hôn nhân và gia đình để bảo vệ quyền và lợi

ích hợp pháp được quy định tại: khoản 2 điều 51, khoản 5 điều 84, khoản 2 điều

86, điều 92, khoản 3 điều 102, khoản 2 điều 119 1 Chủ thể có quyền khởi kiện

trong trường hợp này cũng là sự bổ sung mới của BLTTDS 2015 với mục đích để đảm bảo quyền lợi của người vợ hoặc chồng bị mất NLHVDS chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của hành vi bảo lực gia đình mà từ các hành vi đó đe dọa trực tiếp đến tình mạng, sức khỏe, tinh thần của họ Các cá nhân có quyền khởi kiện ở đây còn được hiểu cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu tòa án giải quyết

* Ý nghĩa của việc bổ sung:

- Việc bổ sung thêm chủ thể có quyền khởi kiện trong BLTTDS đảm bảo quyền và lợi ích cơ bản con người, quyền công dân trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế

=> Việc mở rộng này đã đáp ứng được quyền tiếp cận công lý của các chủ thể tham gia quan hệ dân sự nói chung và các chủ thể quan hệ dân sự nói riêng, bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân quy định theo Hiến Pháp 2013

2.2 Hình thức khởi kiện vụ án dân sự

Cơ sở pháp lý: điều 189 BLTTDS 2015, điều 164 BLTTDS 2004 (sửa dổi bổ

sung 2011).

Thứ nhất, nếu như trong BLTTDS 2004, khoản 1 điều 164 “cá nhân, cơ

quan, tổ chức khởi kiện phải làm đơn khởi kiện” - ngoài quy định này ra ta thấy

không còn thấy điều khoản nào quy định thêm Nhưng đến BLTTDS 2015, hình thức khởi kiện vụ án hình sự được viết lại hoàn toàn theo cách mới theo hướng rõ ràng hơn, bằng cách tách bạch cách làm đơn khởi kiện của cá nhân với cách làm đơn khởi kiện của cơ quan, tổ chức đối với từng trường hợp cụ thể, lần lượt được

quy định tại khoản 2, khoản 3 điều 189 BLTTDS 2015, còn về phía BLTTDS

Trang 9

2004 ta thấy nhà làm luật không có sự tách và rõ ràng như BLTTDS hiện hành, cụ thể:

Đối với cá nhân: Cách làm đơn khởi kiện đối với cá nhân được quy định cụ

thể tại khoản 2 điều 189 BLTTDS 2015 => Hướng dẫn một cách cụ thể, rõ ràng

phân rõ từng trường hợp BLTTDS 2015 đã tạo điều kiện tốt nhất cho đương sự trong việc thực hiện việc khởi kiện của mình ngay cả trong trường hợp cá nhân chưa thành niên, khó khăn trong nhận thức, mất NLHVDS vẫn có thể được thực hiện quyền của mình qua người đại diện để được bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi có tranh chấp hoặc hành vi vi phạm

Đối với cơ quan, tổ chức: Cách làm đơn khởi kiện đối với tổ chức được quy

định cụ thể tại khoản 3 điều 189 BLTTDS 2015 Việc khởi kiện của cơ quan, tổ

chức được thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó, người đại diện có thể tự mình làm đơn khởi kiện hoặc nhờ người khác làm hộ cho, tuy nhiên sau cùng phải người đại diện phải ký tên và có dấu của cơ quan, tổ chức đó

Thứ hai, chúng ta thấy, theo đoạn 2 khoản 3 điều 164 BLTTDS 2004 (sửa đối bổ sung 2011) có một yêu cầu đặt ra đó là “Yêu cầu người làm chứng phải ký

xác nhận trước mặt người có thẩm quyền chứng thực của UBND cấp xã”, để từ đó

người có thẩm quyền chứng thực của UBND cấp xã chứng nhận trước mặt người khởi kiện và người làm chứng, tuy nhiên theo tinh thần của BLTTDS 2015 quy

định tại điểm c khoản 2 điều 189 BLTTDS 2015 chỉ quy định người làm chứng

phải ký xác nhận vào đơn khởi kiện, chứ không còn bắt buộc là người đó phải ký

xác nhận trước mặt người có thẩm quyền Sự thay đổi này, cho thấy đây là một

điểm hoàn toàn phù hợp với đặc trưng và hoàn toàn tôn trọng, đề cao “quyền tự

định đoạt” của cá nhân, tránh mất thời gian, thủ tục rườm rà trải qua nhiều bước từ

đó tạo điều kiện cho các chủ thể thực hiện quyền khởi kiện tại tòa

Trang 10

Thứ ba, Nếu trong BLTTDS 2004 (sửa đổi bổ sung 2011), người khởi kiện khi

nộp đơn khởi kiện phải gửi cho Tòa án tài liệu, chứng cứ “ban đầu” Đến BLTTDS

2015, khi nộp đơn khởi kiện phải gửi kèm cho tòa án tài liệu chứng cứ, “hiện có”

2.3 Phương thức nộp đơn khởi kiện

Cơ sở pháp lý: khoản 1 điều 166 BLTTDS 2004 (sửa đổi bổ sung 2011), khoản

1 điều 190 BLTTDS 2015

Khoản 1 điều 166 BLTTDS 2004 (sửa đổi bổ sung 2011), có hai phương thức khởi kiện là: nộp trực tiếp tại Tòa án và gửi đơn kiện đến Tòa án qua bưu điện thì đến BLTTDS 2015, đã bổ sung thêm 01 hình thức mới bên cạnh 02 hình thức

quy định tại BLTTDS 2004 đó là hình thức “gửi đơn kiện trực tiếp bằng hình thức

điện tử thông qua cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có)” , đây là điểm mới

nhằm tiến tới hiện đại hóa trong hoạt động của Tòa án và tạo mọi thuận lợi cho người khởi kiện Với sự bùng nổ của công nghệ thông tin như hiện nay, hầu hết các Tòa án đều có website riêng, nên việc bổ sung mới là điều kiện cần thiết

Tiết kiệm được thời gian, chí phi đi lại, cơ sở cho việc cải cách hành chính tại Tòa án theo hướng khởi kiện, cung cấp chứng cứ thông qua hộp thư điện tử Tùy thuộc và từng phương thức gửi đơn mà ngày khởi kiện cũng được xác định khác nhau

2.4 Nội dung khởi kiện vụ án dân sự

Cơ sở pháp lý: Khoản 2 điều 164 BLTTDS 2004 (sửa đổi bổ sung 2011), khoản

4 điều 189 BLTTDS 2015

Trình bày nội dung trong đơn khởi kiện theo luật hiện hành được trình bày

rõ hơn, chi tiết hơn, bên cạnh các thông tin cần phải ghi như: tên; nơi cư trú; nơi

làm việc hoặc trụ sở của người khởi kiện,, thì nay bổ sung thêm thông tin như: số

điện thoại, số fax, địa chỉ thư điện tử, đồng thời cho phép các bên có thể lựa chọn địa chỉ khác với địa chỉ cư trú hoặc địa chỉ nơi làm việc để tòa án có thể liên hệ.

Quy định mới này tạo ra sự thuận lợi cho Tòa án trong việc thực hiện thủ tục tống

Ngày đăng: 19/08/2021, 17:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w