Tại khoản 1 Điều 25 BLDS năm 2015 quy định: “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợ
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I Khái quát chung về quyền nhân thân 1
1 Khái niệm 1
2 Đặc điểm quyền nhân thân 1
3 Đánh giá các quyền nhân thân cá nhân trong luật dân sự 3
II Định hướng hoàn thiện pháp luật 10
KẾT LUẬN 11
TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 2MỞ ĐẦU
Con người luôn là trung tâm, là mục tiêu hướng đến đầu tiên của quá trình phát triển, do đó, song song với việc phát triển về mọi mặt của xã hội thì vấn đề con người cũng ngày càng được tôn trọng và bảo vệ Tương tự các quốc gia khác trên thế giới, tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến yếu tố con người, theo đó, ghi nhận các quyền con người bao gồm: quyền về kinh tế, quyền
về chính trị, quyền về dân sự, trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Một trong những bộ phận quan trọng của quyền dân sự và được
cụ thể hóa tại các Bộ luật dân sự đó là quyền nhân thân của cá nhân Vì vậy e
chọn đề số 03 để làm rõ vấn đề này: “đánh giá các quy định của BLDS 2015
về quyền nhân thân của cá nhân”
NỘI DUNG
I Khái quát chung về quyền nhân thân
1 Khái niệm
Quyền nhân thân (personality rights) là thuật ngữ pháp lý để chỉ những quyền gắn liền với bản thân mỗi con người, gắn liền với đời sống riêng tư của mỗi cá nhân
Tại khoản 1 Điều 25 BLDS năm 2015 quy định: “Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác” Quy định này phần nào làm rõ khái niệm quyền nhân thân với hai đặc điểm cơ bản: là quyền dân sự gắn liền với cá nhân và không thể chuyển giao cho người khác
2 Đặc điểm quyền nhân thân
Thứ nhất: Quyền nhân thân là một quyền dân sự và là quyền dân sự đặc biệt.
Trang 3Cá nhân là chủ thể chủ yếu, thường xuyên quan trọng và phổ biến của quan
hệ dân sự Các quyền mà pháp luật quy định cho cá nhân là vì con người và hướng tới con người, trong đó có các quyền nhân thân Sở dĩ nói quyền nhân thân là quyền dân sự đặc biệt và các quyền này chỉ thuộc về cá nhân, trong khi
đó các quyền khác (quyền tài sản) có thể thuộc về chủ thể khác (pháp nhân, hộ gia đình)
Thứ hai: Mọi cá nhân đều có sự bình đẳng về quyền nhân thân.
Mọi người đều có quyền nhân thân kể từ khi họ được sinh ra, không phân biệt giới tính, tôn giáo, giai cấp Nguyên tắc bình đẳng về mặt dân sự có nghĩa là mọi cá nhân đều có những quyền như nhau, đó không phải là một khả năng trừu tượng mà là một thực tế
Thứ ba: Quyền nhân thân có tính chất phi tài sản.
Quyền nhân thân không bao giờ là tài sản, chỉ có quyền nhân thân gắn với tài sản hay không gắn với tài sản mà thôi Vì không phải là tài sản nên quyền nhân thân không bao giờ trị giá được thành tiền Về mặt pháp lí, chúng ta cần phân định rõ tính chất phi tài sản của quyền nhân thân
Thứ tư: Quyền nhân thân luôn gắn liền với cá nhân, không thể chuyển giao cho chủ thể khác.
Pháp luật dân sự thừa nhận quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân mà không thể chuyển dịch cho chủ thể khác, trừ trường hợp do pháp luật qui định Về mặt nguyên tắc, cá nhân không thể chuyển dịch quyền nhân thân cho chủ thể khác, nói cách khác thì quyền nhân thân không thể là đối tượng trong các giao dịch dân sự giữa các cá nhân Tuy nhiên, tính chất không thể chuyển giao của quyền nhân thân chỉ mang tính chất tương đối Bởi trong một số trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật thì quyền nhân thân có thể chuyển giao cho chủ thể khác Mặc dù vậy thì có những yếu tố luôn gắn liền với chủ thể mà không thể thay đổi được, ví dụ: Quyền đứng tên tác giả, quyền bảo
vệ sự toàn vệ của tác phẩm
Thứ năm: Quyền nhân thân là một quyền dân sự do luật định.
Trang 4Quyền nhân thân là một quyền nằm trong nội dung năng lực pháp luật dân
sự của cá nhân Pháp luật dân sự quy định cho các cá nhân có các quyền nhân thân là một sự tuyên bố chính thức về các quyền con người cụ thể được pháp luật thừa nhận Việc pháp luật quy định cho các cá nhân có các quyền nhân thân khác nhau là dựa vào các điều kiện kinh tế xã hội
3 Đánh giá các quyền nhân thân cá nhân trong luật dân sự
3.1 Nhóm các quyền cá biệt hóa chủ thể ( quyền xác định, xác định lại
dân tộc; quyền xác định lại giới tính)
Thứ nhất, đối với quyền xác định, xác định lại dân tộc, quy định tại điều 29
BLDS 20151
Xác định dân tộc tức là việc xác định lần đầu tiên dân tộc cho một cá nhân (áp dụng đối với trẻ sơ sinh khi làm thủ tục đăng ký khai sinh); còn xác định lại dân tộc là việc xác định dân tộc cho những cá nhân đã được thừa nhận một dân tộc trước đó Quyền xác định dân tộc của cá nhân phát sinh từ khi cá nhân được sinh ra, điều đó được hiện thực hoá trên giấy tờ nhân thân đó là giấy khai sinh và quyền xác định, xác định lại dân tộc là một quyền nhân thân được ghi nhận từ các BLDS trước đó Quyền xác định lại dân tộc là quyền nhân thân cơ bản của cá nhân, có từ khi cá nhân sinh ra và được áp dụng cho lần xác định dân tộc đầu tiên của một cá nhân (cá nhân chưa có dân tộc nào trước đó) Theo BLDS 2005 thì dân tộc của một cá nhân được xác định theo dân tộc của cha hoặc mẹ, trong trường hợp cha đẻ và mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì con sinh ra được xác định theo tập quán hoặc theo thoả thuận Căn cứ xác định dân tộc theo tập quán hoặc theo thoả thuận được đặt ngang hàng nhau mà không có sự ưu tiên áp dụng trước, sẽ gây ra sự phức tạp nếu có tranh chấp liên quan đến viêc xác định lại
1 “1 Cá nhân có quyền xác định, xác định lại dân tộc của mình;
2 Cá nhân khi sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộc của cha đẻ,mẹ đẻ Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ theo sự thoả thuận của cha đẻ, mẹ đẻ; trường hợp không có thoả thuận thì dân tộc của con được xác định theo tập quán của dân tộc ít người hơn.
Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo dân tộc của cha nuôi hoặc mẹ nuôi theo thoả thuận của cha mẹ nuôi Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì dân tộc của trẻ em được xác định theo dân tộc của người đó.
Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được nhận làm con nuôi thì được xác định theo dân tộc theo đề nghị của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị của người đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em vào thời điểm đăng ký khai sinh cho trẻ em…”.
Trang 5dân tộc cho con trong những trường hợp sau này, khắc phục những điểm hạn chế
đó, Điều 29 BLDS 2015 đã bổ sung thêm khoản 2 về việc xác định dân tộc đối với trẻ em được ghi nhận làm con nuôi và trẻ em bị bỏ rơi mà chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ
Thứ hai, đối với quyền xác định lại giới tính, quy định tại điều 36 BLDS
20152
Giới tính là những điểm riêng biệt tạo nên sự khác biệt giữa nam và nữ Cá nhân có quyền xác định lại giới tính nếu thoả mãn điều kiện: (1) giới tính của cá nhân bị khuyết tật bẩm sinh; hoặc (2) giới tính của cá nhân chưa định hình chính xác cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính
Theo các văn bản hướng dẫn chi tiết này thì khuyết tật bẩm sinh về giới tính là những bất thường ở bộ phận sinh dục của một người này từ khi mới sinh
ra, biểu hiện ở một trong những dạng như nữ lưỡng tính giả nam, nam lưỡng tính giả nữ hoặc lưỡng giới thật Giới tính chưa được định hình chính xác là những trường hợp chưa thể phân biệt được một người là nam hay là nữ xét về cả bộ phận sinh dục và nhiễm sắc thể giới tính
Nguyên tắc xác định lại giới tính, bảo đảm mỗi người đều được sống đúng với giới tính thật của mình, việc xác định lại giới tính phải được thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện, khách quan, trung thực, khoa học và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc xác định lại giới tính; giữ bí mật về các thông tin liên quan đến người được xác định lại giới tính, trừ trường hợp có văn bản của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu cung cấp hồ sơ phục vụ cho việc kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố, xet xử liên quan đến việc xác định lại giới tính BLDS 2015 đã tạo điều kiện cho việc ổn định và hoà nhập cuộc sống của những người xác định lại giới tính thông qua việc quy định họ có quyền, nghĩa
vụ đăng ký thay đổi hộ tịch, có quyền nhân thân phù hơp với giới tính đã được
2 “1 Cá nhân có quyền xác định lại giới tính.
Việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ giới tính.
2 Việc xác định lại giới tính được thực hiện theo quy định của pháp luật.
3 Cá nhân đã thực hiện việc xác định lại giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch, có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được xác định lại theo quy định của Bộ luật này và pháp luật khác có liên quan”.
Trang 6xác định lại Ví dụ, cá nhân sau khi xác định lại giới tính thì giới tính thật là nam hoặc nữ có quyền thay đổi tên hiện có là nam giới hoặc nữ giới để phù hợp với cuộc sống, sinh hoạt, có quyền kết hôn với người nam hoặc người nữ khác theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình
3.2 Nhóm các quyền liên quan đến thân thể, cá nhân.( Quyền sống,
quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể; Quyền hiến bộ phận cơ thể; Quyền nhận bộ phận cơ thể người)
Thứ nhất, đối với quyền sống, quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể, điều 33 BLDS 2015 quy định: “Cá nhân có quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể quyền được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật…”.
Tính mạng, sức khoẻ, thân thể của cá nhân là những yếu tố quan trọng hàng đầu và vô giá đối với mỗi con người Do đó, quyền sống, quyền được bảo đảm
an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể của cá nhân là quyền nhân thân cơ bản, được ưu tiên quan tâm bảo vệ từ phía nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền Quyền sống là một quyền nhân thân đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm
2013, điều 19 “Mọi người có quyền sống Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ Không ai bi tước đoạt tính mạng trái luật” Thể chế hoá tinh thần của Hiến pháp năm 2013, BLDS 2015, điều 33 đã quy định “Cá nhân có quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật” Giữa quyền
sống và quyền bất khả xâm phạm về tính mạng có mối liên quan mật thiết với nhau Một cá nhân có quyền sống thì đương nhiên loại trừ các hành vi xâm phạm đến tính mạng, vi phạm đến quyền sống của cá nhân; ngược lại, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng là cơ sở, điều kiện quan trọng để cá nhân được bảo đảm quyền sống Trong trường hợp hành vi gây thiệt hại có tính chất nguy hiểm cho
xã hội, đã đủ các yếu tố cấu thành tội phạm thì người gây thiệt hại còn phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình
Trang 7Thứ hai, đối với quyền hiến bộ phận, quyền nhận bộ phận cơ thể người,
quy định tại điều 35 BLDS 20153
Cá nhân được quyền tự quyết đối với cơ thể mình và thi thể của họ sau khi chết Bên cạnh đó, cá nhân cũng có quyền nhận mô, bộ phận cơ thể của người khác để chữa bệnh cho mình Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, pháp nhân có thẩm quyền về nghiên cứu khoa học có quyền nhận bộ phận cơ thể người, lấy xác để chữa bệnh, thử nghiệm y học, dược học và các nghiên cứu khoa học khác Nhận
mô, bộ phận cơ thể của người khác là quyền nhân thân thể hiện việc cá nhân được quyền chữa bệnh và quyền được sống Đây còn là quyền nhân thân của cơ
sở khám, chữa bệnh, pháp nhân có thẩm quyền về nghiên cứu khoa học Các tổ chức này nhận bộ phận cơ thể người, lấy xác để thực hiện các hoạt động với mục đích: chữa bệnh, thử nghiệm y học, dược học và các nghiên cứu khoa học khác Việc hiến, lấy mô, bộ phận cơ thể người, hiến, lấy xác phải tuân thủ theo các điều kiện và được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác và pháp luật khác có liên quan Tuy nhiên, thực tế hiện nay, việc thực hiện quyền hiến mô, bộ phận cơ thể cả khi
cá nhân còn sống hay khi đã chết đều gặp phải rất nhiều khó khăn, vướng mắc liên quan đến tình cảm gia đình, các quan niệm truyền thống của nhân dân
3.3 Nhóm các quyền liên quan đến giá trị tinh thần của chủ thể (Quyền
được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín; Quyền bí mật đời tư)
Thứ nhất, đối với quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, quy định
tại điều 34 BLDS năm 20154
3 “1 Cá nhân có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể của mình khi còn sống hoặc hiến mô, bộ phận cơ thể, hiến xác của mình sau khi chết vì mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu y học, dược học và các nghiên cứu khoa học khác.
2 Cá nhân có quyền nhận mô, bộ phận cơ thể của người khác để chữa bẹnh cho mình Cơ sở khám, chữa bệnh, pháp nhân có thẩm quyền về nghiên cứu khoa học có quyền nhận bộ phận cơ thể người, lấy xác để chữa bệnh, thử nghiệm y học, dược học và các nghiên cứu khoa học khác.
3 Việc hiến, lấy mô, bộ phận cơ thể người, hiến, lấy xác phải tuân thủ theo các điều kiện và được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác và luật khác có liên quan”.
4 “1 Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.
2 Cá nhân có quyền yêu cầu Toà án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.
Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được thực hiện sau khi cá nhân chết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con chưa thành niên; trường hợp không có những người này thì theo yêu cầu của cha, mẹ của người đã chết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
Trang 8Danh dự, nhân phẩm, uy tín là những yếu tố nhân thân (quyền nhân thân) phi tài sản gắn liền với mỗi cá nhân cụ thể, con người cụ thể, thể hiện phẩm chất, nhân cách, đạo đức và giá trị của mỗi cá nhân Danh dự, nhân phẩm, uy tín của mỗi cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ Khi danh dự, nhân phẩm, uy tín của một cá nhân cụ thể nào đó bị xâm phạm thì cá nhân đó có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố bác các thông tin đã gây ảnh hưởng xấu đến cá nhân Cá nhân không chỉ được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín khi còn sống
mà ngay cả khi cá nhân đã chết thì pháp luật vẫn duy trì sự bảo hộ, điều đó được thể hiện bằng việc vợ, chồng hoặc con đã thành niên của người bị xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín; hoặc cha, mẹ của cá nhân này trong trường hợp cá nhân không có vợ, chồng, con đã thành niên
Với sự phát triển mạnh mẽ như vũ bão của khoa học, công nghệ thông tin như hiện nay như mạng xã hội facebook, zalo…thì những thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải nhanh chóng và trên bình diện rộng Tuy nhiên không phải trong trường hợp nào cũng xác định được người đưa tin chẳng hạn như có những người đã lập facebook ảo… thì đối với những trường hợp này, cá nhân bị đưa tin sẽ căn cứ vào phương thức yêu cầu Toà án tuyên bố thông tin đó là không đúng, trái với sự thật để bảo vệ quyền nhân thân của mình
Thứ hai, đối với quyền bí mật đời tư, quy định tại điều 38 BLDS năm 20155
3 Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được huỷ bỏ.
4 Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố thông tin đó là không đúng.
5 Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại”.
5 “1 Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.
2 Việc thu thập, lưu trữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác.
3 Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.
Việc bóc, mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp luật định.
4 Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thoả thuận khác”.
Trang 9Quyền riêng tư là quyền của cá nhân đối với đời sống của mình mà không chịu bất kỳ sự can thiệp nào từ những người xung quanh khác; còn “bí mật cá nhân, bí mật gia đình” là những thông tin, tư liệu mà cá nhân không muốn công khai, bộc bạch, được giữ kín bằng các biện pháp thông thường hoặc biện pháp kỹ thuật khác nhau
Việc thu thập, lưu trữ, sử dụng công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được bản thân cá nhân đó đồng ý Quy định này hoàn toàn phù hợp với mọi cá nhân trong đời sống, xã hội thể hiện sự tôn trọng pháp luật đối với đời sống riêng tư, bí mật đời tư của cá nhân
3.4 Nhóm các quyền liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình.
(Quyền kết hôn, quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình, quyền ly hôn)
Điều 39 BLDS 2015 quy định:
“1 Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn, quyền bình đẳng của vợ chồng, quyền xác định cha, mẹ, con, quyền được nhận làm con nuôi, quyền nuôi con nuôi và các quyền nhân thân khác trong quan hệ hôn nhân, quan hệ cha mẹ và con và quan
hệ giữa các thành viên gia đình.
Con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha, mẹ đều có quyền
và nghĩa vụ như nhau đối với cha, mẹ của mình.
2 Cá nhân thực hiện quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình theo quy định của Bộ luật này, Luật Hôn nhân và gia đình và luật khác có liên quan”.
Đối với quan hệ hôn nhân, cá nhân có quyền kết hôn và quyền ly hôn Trong đời sống gia đình, cá nhân có quyền bình đẳng của vợ chồng; quyền xác định cha, mẹ, con; quyền nuôi con nuôi…
Thứ nhất, quyền kết hôn, là quyền nhân thân của cá nhân được pháp luật
thừa nhận, là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết.Việc kết hôn phải được đăng ký và
do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện
Ở nước ta, trước đây, theo khoản 5 Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000 đã quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính Quy định này đã
Trang 10dẫn đến những phản ứng gay gắt của nhóm người đồng tính, trong quá trình thực thi đã có nhiều quan điểm khác nhau đối với trường hợp chung sống như vợ chồng giữa những người cùng giới tính Hiện nay, khoản 2 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính, mà đặt ra “điều kiện kết hôn” là: các bên kết hôn phải tuân thủ các điều kiện kết hôn, trong đó hai bên kết hôn phải khác giới tính,
đó cũng là điều kiện để việc kết hôn là hợp pháp
Thứ hai, quyền ly hôn: vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà
án giải quyết ly hôn Quyền yêu cầu ly hôn là quyền nhân thân của vợ, chồng, chỉ với tư cách là vợ, chồng mới có quyền ly hôn Pháp luật thừa nhận và bảo hộ quyền ly hôn của vợ và chồng Tuy nhiên, quyền này cũng bị hạn chế trong một
số trường hợp cụ thể nhằm bảo vệ quyền lợi của người vợ và người con là trẻ sơ sinh Quy định này xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
bà mẹ, trẻ em, phụ nữ có thai và thai nhi
Thứ ba, quyền được nhận làm con nuôi và quyền nuôi con nuôi: Nuôi con
nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận nuôi và người được nhận làm con nuôi (khoản 1 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi năm 2010) Việc thực hiện quyền này trên thực tế phải tuân theo các điều kiện, trình tự, thủ tục do Luật Nuôi con nuôi quy định Luật cũng quy định các nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi, thứ tự ưu tiên lựa chọn gia đình thay thế, hệ quả của việc nuôi con nuôi
và những căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi
3.5. Nhóm các quyền đối với hình ảnh (Quyền của cá nhân đối với hình
ảnh)
Điều 32 BLDS 2015 quy định:
“ Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.
Việc sử dụng hình ảnh cuả cá nhân phải được người đó đồng ý.
Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác….”.