Bài giảng Quản lý nhà nước về kinh tế gồm 3 chương, cung cấp cho người học những kiến thức như: Tổng quan về quản lý nhà nước về kinh tế; Quy luật và nguyên tắc trong quản lý nhà nước về kinh tế; Công cụ và phương pháp quản lý của nhà nước về kinh tế. Mời các bạn cùng tham khảo!
TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ
Sự cần thiết khách quan của quản lý nhà nước về kinh tế
Từ khi con người xuất hiện, cuộc sống cộng đồng đã hình thành và phát triển từ quy mô nhỏ đến lớn hơn Trong quá trình này, các va vấp và xung đột giữa con người là điều không thể tránh khỏi, dẫn đến nhu cầu cần có cơ chế và tổ chức để giải quyết những vấn đề này Qua thời gian, các quy tắc ứng xử chung được hình thành và được hầu hết cộng đồng chấp nhận và tuân thủ.
Trong xã hội Cộng sản nguyên thủy, với lực lượng sản xuất chưa phát triển và không có của cải dư thừa, chưa tồn tại tư hữu hay giai cấp, các quy tắc ứng xử chung được thể hiện qua phong tục tập quán và quy tắc lễ nghi tôn giáo Những quy tắc này được thực hiện tự giác bởi mỗi cá nhân và dựa vào uy tín của các thủ lĩnh, lãnh tụ trong cộng đồng.
Sau khi chế độ Cộng sản nguyên thủy tan rã, xã hội loài người phân chia thành giai cấp, dẫn đến sự đối lập về lợi ích kinh tế giữa các nhóm và tập đoàn Để duy trì trật tự xã hội, giai cấp thống trị nắm giữ tư liệu sản xuất và công cụ bạo lực, từ đó hình thành thiết chế Nhà nước Nhà nước xuất hiện khi sản xuất và văn minh xã hội phát triển đến một mức độ nhất định, cùng với chế độ tư hữu và sự xuất hiện của giai cấp Thực chất, Nhà nước là thiết chế quyền lực chính trị, thống trị một hoặc nhóm giai cấp đối với các giai cấp khác, nhằm duy trì và phát triển xã hội Nhà nước thực hiện quản lý xã hội thông qua sự tác động có tổ chức và pháp quyền, kết hợp với sự ảnh hưởng của các chủ thể xã hội khác, nhằm đạt được các mục tiêu đã định.
Trong các đặc trưng về chất, vấn đề sản xuất và lợi ích kinh tế là yếu tố quan trọng nhất, vì hoạt động kinh tế ngày càng trở thành cốt lõi của xã hội Các nhà nước trước chủ nghĩa tư bản chủ yếu đại diện cho quyền lực thiểu số giai cấp thống trị, nhằm bóc lột đại đa số nhân dân lao động Nhà nước tư sản, thông qua luật pháp và chính sách, chi phối hoạt động kinh tế và xã hội để duy trì lợi ích của các nhà tư bản Dù có nhiều hình thức khác nhau, bản chất giai cấp của nhà nước không thể bị phủ nhận Nhà nước là "lính canh" cho chế độ sở hữu tư sản, như Karl Marx đã chỉ trích, với tư tưởng và pháp quyền phản ánh ý chí của giai cấp thống trị Nhà nước vừa là cơ quan thống trị giai cấp, vừa đại diện cho lợi ích chung của xã hội, nhằm duy trì và phát triển xã hội qua lịch sử Do đó, nhà nước có hai thuộc tính cơ bản: thuộc tính giai cấp và thuộc tính xã hội, liên kết và biến đổi cùng với sự phát triển của xã hội.
1.1.2 Quản lý nhà nước về kinh tế
Quản lý nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân là sự tác động có tổ chức và theo pháp luật của nhà nước nhằm tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước Mục tiêu của quản lý này là đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế Quản lý kinh tế không chỉ là một phần quan trọng của quản lý xã hội mà còn phải liên kết chặt chẽ với các hoạt động quản lý khác Các chức năng kinh tế và quản lý kinh tế của nhà nước chính là biểu hiện cụ thể của quản lý nhà nước về kinh tế.
Để khắc phục những nhược điểm của cơ chế thị trường và tạo điều kiện thuận lợi cho sự hoạt động hiệu quả của nó, vai trò của nhà nước là không thể thiếu trong nền kinh tế quốc dân Nhà nước thực hiện chức năng quản lý kinh tế như một nhu cầu khách quan, trong khi nền kinh tế thị trường vận động theo cơ chế thị trường Việc điều tiết và định hướng các hoạt động kinh tế của các thành phần kinh tế phụ thuộc vào bản chất của các hình thức nhà nước và con đường phát triển mà quốc gia lựa chọn.
1.1.2.2 Các kết luận cần lưu ý
Từ định nghĩa đã nêu có thể rút ra các kết luận cơ bản sau :
Quản lý nhà nước về kinh tế là quá trình tổ chức và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước nhằm xây dựng và phát triển đất nước Một yếu tố then chốt trong quản lý này là khả năng nắm bắt con người, tổ chức và tạo động lực cho họ hoạt động tích cực trong xã hội.
Quản lý nhà nước về kinh tế phản ánh đặc trưng thể chế chính trị của mỗi quốc gia, xác định nhà nước là công cụ phục vụ cho giai cấp hoặc lực lượng chính trị, xã hội nào Nó đặt ra câu hỏi về nguồn lực mà nhà nước dựa vào và đối tượng mà nhà nước hướng tới để phục vụ Điều này tạo nên sự khác biệt cơ bản trong quản lý nhà nước về kinh tế giữa các chế độ xã hội khác nhau.
Quản lý nhà nước về kinh tế là một lĩnh vực khoa học độc lập, nghiên cứu các quy luật và vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa các chủ thể trong hoạt động kinh tế xã hội Nhiệm vụ của quản lý nhà nước là thực hiện các quy định và chính sách nhằm điều chỉnh các mối quan hệ này, đảm bảo sự phát triển bền vững và hiệu quả trong nền kinh tế.
Quản lý nhà nước về kinh tế không chỉ là một lĩnh vực chuyên môn mà còn là một nghệ thuật, phụ thuộc vào trình độ, nhân cách và bản lĩnh của đội ngũ quản lý Ngoài ra, phong cách làm việc, phương pháp tổ chức quản lý và khả năng thích nghi của bộ máy quản lý cũng đóng vai trò quan trọng trong hiệu quả quản lý kinh tế của nhà nước.
1.1.3 Quản lý nhà nước về kinh tế ở Việt Nam hiện nay
1.1.3.1 Bảo đảm lãnh đạo của Đảng trên mặt trận kinh tế và quản lý kinh tế
- Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội:
- Đảng vạch đường lối, chiến lược, con đường xây dựng kinh tế nói riêng, xây dựng đất nước nói chung:
Phát triển nền kinh tế đa dạng với nhiều hình thức sở hữu là cần thiết, bao gồm: 1) Kinh tế Nhà nước; 2) Kinh tế hợp tác; 3) Kinh tế cá thể - tiểu chủ; 4) Kinh tế tư bản tư nhân; 5) Kinh tế tư bản nhà nước; và 6) Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Sự kết hợp này sẽ thúc đẩy sự phát triển bền vững và tạo ra cơ hội cho mọi thành phần kinh tế.
+ Kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
+ Phát triển kinh tế nhanh và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường
+ Lấy công nghiệp hóa là trọng tâm của thời kỳ quá độ
Đẩy mạnh công cuộc đổi mới nhằm phát huy tối đa mọi nguồn lực, xây dựng nền kinh tế độc lập và tự chủ, đồng thời chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Hơn nữa, cần kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế, xã hội với quốc phòng và an ninh để đảm bảo sự phát triển bền vững.
Đảng phải kiên định với định hướng xã hội chủ nghĩa, bao gồm 6 đặc trưng cơ bản: xã hội do nhân dân lao động làm chủ; nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu; văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, có cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc; các dân tộc bình đẳng; và quan hệ hữu nghị, hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
- Kiên quyết chống lại bốn nguy cơ đe dọa đất nước:
Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế
Nguy cơ diễn biến hòa bình;
Nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa (cả về đường lối lãnh chỉ đạo thực hiện);
Nguy cơ của tệ quan liêu, tham nhũng và suy thoái về phẩm chất, đạo đức
- Đảng phải làm tốt công tác nhân sự, đặc biệt là việc bố trí cán bộ chủ chốt tại các cơ quan kinh tế đầu não
- Xây dựng và thực hiện các chính sách kinh tế xã hội
1.1.3.2 Nhà nước phải thực hiện tốt vai trò quản lý của mình đối với nền kinh tế nói riêng, kinh tế - xã hội nói chung
- Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế, giữ vững trật tự, kỷ cương, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng
Để quản lý kinh tế hiệu quả, cần sử dụng đồng bộ các công cụ như pháp luật, kế hoạch và chương trình phát triển kinh tế, cùng với các chính sách kinh tế phù hợp Bên cạnh đó, bộ máy hành chính và đội ngũ cán bộ công chức nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc thực thi các chính sách này Ngoài ra, việc quản lý tài sản nhà nước và các công cụ chuyên chính như quân đội, công an, phương tiện truyền thông và tài sản văn hóa cũng cần được chú trọng để đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế.
- Thực hiện tốt các chức năng quản lý kinh tế vĩ mô
Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
1.2.1 Đối tƣợng của môn học
Quản lý nhà nước về kinh tế là một lĩnh vực khoa học giao thoa giữa kinh tế học, khoa học quản lý và khoa học về nhà nước pháp quyền Đối tượng nghiên cứu của nó bao gồm các quy luật và vấn đề liên quan đến sự hình thành và tác động qua lại giữa các thực thể trong các hoạt động kinh tế và quản lý kinh tế của một quốc gia.
Hình 1.1 minh họa bốn thực thể quan trọng liên quan đến hoạt động kinh tế và quản lý kinh tế của mỗi quốc gia Các thực thể này không chỉ có mối quan hệ với nhau mà còn tồn tại các mối quan hệ nội bộ, ảnh hưởng đến sự biến đổi của nền kinh tế Để quản lý hiệu quả, Nhà nước cần hiểu rõ các quy luật và vấn đề quy luật hình thành từ những mối quan hệ này trong bối cảnh không gian và thời gian cụ thể của sự biến đổi kinh tế - xã hội, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp.
Các cơ quan quyền lực nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý kinh tế và chi phối các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế, bao gồm cá nhân và đơn vị thuộc 6 thành phần kinh tế Quyền hạn và mức độ tác động của các cơ quan này phụ thuộc vào khung pháp lý của chế độ xã hội, sự tương tác với các thực thể khác, cũng như mối quan hệ giữa các cơ quan và cá nhân trong hệ thống.
Hình 1.1 Các thực thể có liên quan đến các hoạt động kinh tế
Các chủ thể tham gia trực tiếp vào hoạt động kinh tế đóng vai trò quan trọng trong hệ thống kinh tế quốc dân Sự phát triển của các chủ thể này yêu cầu thực thể thứ nhất phải thường xuyên điều chỉnh và quản lý hiệu quả Các chủ thể thuộc thực thể thứ hai bao gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình, nhóm liên kết kinh tế và cá nhân từ mọi thành phần kinh tế.
Các quốc gia, thông qua doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức và các thực thể xã hội khác, đóng vai trò quan trọng trong hệ thống hoạt động kinh tế Những thực thể này, bao gồm cả các tổ chức chính quyền không được công nhận là nhà nước, có ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động kinh tế của mỗi quốc gia Điều này đặc biệt rõ ràng trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, liên quan đến kinh tế, công nghệ thông tin, vũ trụ, biển cả và môi trường tự nhiên.
Các thiết chế xã hội như văn hóa, tôn giáo, gia đình, dân tộc và giáo dục đào tạo đóng vai trò quan trọng trong hệ thống hoạt động kinh tế, ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế của mỗi quốc gia theo những quy luật nhất định.
1.2.2 Nội dung của môn học
Quản lý nhà nước về kinh tế bao gồm rất nhiều nội dung, các nội dung này có thể gộp thành các nhóm lớn:
Cơ sở lý luận và phương pháp luận của môn học nhằm giải đáp câu hỏi tại sao cần quản lý nhà nước về kinh tế Để quản lý thành công, cần dựa vào các nguyên tắc và chiến lược cụ thể, đồng thời xác định những hành động thiết thực cần thực hiện.
+ Đối tượng và phương pháp, nôi dung môn học
+ Thực chất và bản chất quản lý nhà nước về kinh tế
+ Nhà nước và vai trò của nhà nước trong quản lý kinh tế
+ Các học thuyết quản lý nhà nước về kinh tế
+ Vận dụng các quy luật và các nguyên tắc trong quản lý nhà nước về kinh tế
Để quản lý kinh tế thành công, Nhà nước cần tổ chức bộ máy quản lý một cách hiệu quả và thực hiện các hoạt động quản lý một cách đồng bộ Các vấn đề quan trọng bao gồm cấu trúc tổ chức, quy trình hoạt động và các biện pháp kiểm soát nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững và ổn định của nền kinh tế.
+ Các chức năng quản lý nhà nước về kinh tế
+ Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý kinh tế
+ Cán bộ viên chức nhà nước trong quản lý kinh tế
+ Quyết định và mục tiêu quản lý kinh tế
+ Phương pháp, hình thức, nghệ thuật quản lý kinh tế
+ Các công cụ và phương tiện sử dụng trong quản lý kinh tế …
Cơ sở đổi mới và đánh giá quản lý nhà nước về kinh tế nhằm xác định hiệu quả của sự quản lý này và tìm ra giải pháp cho sự phát triển bền vững Các câu hỏi quan trọng cần được trả lời bao gồm mức độ hiệu quả của quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh tế và những biện pháp cần thiết để thúc đẩy sự phát triển bền vững Nội dung này tập trung vào việc phân tích các vấn đề liên quan đến quản lý kinh tế và đưa ra các khuyến nghị nhằm cải thiện tình hình hiện tại.
+ Phân tích kết quả quản lý kinh tế
+ Hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế
+ Đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế …
1.2.3 Phương pháp nghiên cứu của môn học
Quản lý nhà nước về kinh tế là một lĩnh vực khoa học xã hội có sự ảnh hưởng mạnh mẽ từ ý thức xã hội và các phương pháp chung Hiện nay, phương pháp luận trong quản lý nhà nước về kinh tế tại Việt Nam chủ yếu dựa trên triết học Mác – Lênin, bao gồm phương pháp duy vật lịch sử và phương pháp duy biện chứng, kết hợp với các quan điểm đổi mới hiện đại của Đảng và Nhà nước.
Trong tiến trình thực hành quản lý, quản lý nhà nước về kinh tế được sử dụng rất nhiều phương pháp thông dụng:
+ Các phương pháp điều tra xã hội học
+ Các phương pháp thống kê toán
+ Các phương pháp phân tích hệ thống
+ Các phương pháp lịch sử
+ Các phương pháp của dịch học
+ Các phương pháp mô phỏng toán học …
Một phương pháp quan trọng trong quản lý nhà nước về kinh tế là phân tích hệ thống, giúp xem xét các yếu tố liên quan một cách toàn diện Phương pháp này cho phép đánh giá hiệu quả và tính liên kết giữa các thành phần trong nền kinh tế.
Quản lý nhà nước về kinh tế xét trên quan điểm hệ thống
1.3.1 Tổng quan về lý thuyết hệ thống trong quản lý kinh tế
Lý thuyết hệ thống, ra đời vào cuối những năm 70 thế kỷ 20, đã trở thành công cụ quan trọng cho nghiên cứu và quản lý kinh tế Nó bao gồm nhiều cách tiếp cận khác nhau như sinh học (L.Z Bertalanffy), toán học (M Mesarovic, L Zadeh), ngôn ngữ học (F de Saussure), kinh tế và triết học.
Khoảng cách giữa mong muốn và khả năng thực hiện của con người phản ánh thực tế mà họ chưa đạt tới Nếu không có vấn đề thực sự nhưng con người lại chủ quan tạo ra vấn đề, thì sẽ không thể tìm ra giải pháp, dẫn đến tình trạng "không định nghĩa được vấn đề" Ví dụ, mọi người có thể thử nghiệm với nhiều mặt hàng khác nhau hoặc học các nghề khác nhau, nhưng không ai có thể thử nghiệm với sự sống và cái chết.
Là quan điểm nghiên cứu giải quyết vấn đề một cách có căn cứ khoa học, hiệu quả và hiện thực
Quan điểm toàn thể, được các nhà lý luận kinh điển của chủ nghĩa Mác – LêNin nhấn mạnh, là một phần quan trọng trong phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Khi nghiên cứu sự vật, cần đặt vật chất lên hàng đầu và tinh thần ở vị trí thứ hai Trong quản lý kinh tế, nếu người lao động không thể sống đủ với đồng lương lương thiện của mình, theo mức quy định trong từng giai đoạn phát triển xã hội, thì không thể coi đó là một sự quản lý thành công.
- Sự vật luôn luôn tồn tại trong mối liên hệ qua lại với nhau, có tác động chi phối, khống chế lẫn nhau
Doanh nghiệp A và B đều mong muốn phát triển mạnh mẽ, tương tự như các quốc gia đều khao khát sự thịnh vượng Mỗi gia đình cũng đều ước ao có cuộc sống sung túc và hạnh phúc Do đó, để đạt được sự phát triển bền vững trong hành vi kinh tế, chúng ta cần từ bỏ quan điểm lợi ích cá nhân mà gây hại cho người khác.
Sự biến động và thay đổi của sự vật, như suy thoái hay phát triển, đòi hỏi việc quản lý kinh tế phải gắn liền với môi trường xung quanh Chính sách và giải pháp kinh tế mới thường gặp phải lực cản do tính mới mẻ, nhưng sau khi mọi người thích nghi, chúng có thể đạt hiệu quả cao Tuy nhiên, nếu không điều chỉnh kịp thời, chính sách sẽ trở nên lạc hậu khi môi trường thay đổi, dẫn đến sự đình trệ và cần phải được thay thế để khởi động một vòng đời mới.
Động lực chính cho sự phát triển nằm ở bên trong mỗi quốc gia, mặc dù việc tận dụng lợi thế môi trường cũng đóng vai trò quan trọng Điều này nhấn mạnh rằng, để một quốc gia trở nên giàu có, chính người dân của quốc gia đó phải nỗ lực làm giàu, thay vì chỉ mong đợi sự thịnh vượng từ việc người khác trở nên nghèo đi.
Sự tác động giữa các sự vật và hiện tượng luôn mang tính đối ngẫu và nhân quả Khi sự vật A tác động lên sự vật B, thì B cũng sẽ tác động ngược lại lên A hoặc lên các sự vật khác Hành động tham nhũng của viên chức nhà nước sẽ dẫn đến những hậu quả không chỉ cho bản thân họ mà còn cho xã hội, như sự giàu có gia tăng, con cái sống sung túc, và người khác phải gánh chịu thiệt hại Điều này cho thấy rằng mọi sự vật đều có nguyên nhân và kết quả, không có gì tồn tại một cách ngẫu nhiên.
Ngành này bao gồm nhiều bộ môn khoa học như sử học, kinh tế học, sinh học, logic học, toán học và tin học, nhằm nghiên cứu và giải quyết các vấn đề từ góc độ toàn diện.
Lý thuyết hệ thống bao gồm hàng loạt các phạm trù khái niệm như phần tử, hệ thống, môi trường
Là tế bào có tính độc lập tương đối tạo nên hệ thống
Trong hệ thống kinh tế quốc dân, các chủ thể kinh doanh với tư cách pháp nhân là phần tử chính, hoạt động trong khuôn khổ tài sản quy định Nhiều nước xã hội chủ nghĩa trước đây đã sai lầm khi đơn giản hóa các phần tử kinh tế, chỉ coi doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tập thể là thành phần duy nhất trong hệ thống Hành động này đã vi phạm quy luật rằng quan hệ sản xuất cần phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất.
Là quy tắc ràng buộc giữa phần tử này với phần tử kia nhằm liên kết các phần tử lại với nhau
Phần có rất nhiều cách phân loại khác nhau tùy theo đặc tính mà người nghiên cứu hệ thống sử dụng để phân tích:
Bậc của một phần tử được xác định bởi số kênh truyền dẫn đến nó; cụ thể, nếu phần tử Ei có m phần tử kết nối, thì bậc của Ei là m Phần tử có bậc 0 được coi là phần tử cô lập, nghĩa là không có mối liên hệ nào với các phần tử khác Đặc biệt, phần tử có bậc cao hơn thường thể hiện hành vi phức tạp hơn.
Theo chức năng của phần tử, chúng được phân loại khác nhau dựa trên cách thức và mức độ tác động của chúng đối với các phần tử khác Sự phân loại này phụ thuộc vào phần tử tiếp nối theo kênh truyền được phát sinh từ chúng, cũng như mức độ và cách thức tác động tương ứng.
Hình 1.2 : Các mức độ tác động của một phần tử
Phần tử Ei được gọi là phần tử trên dương của Ei+1,a khi nó có kênh truyền dẫn xuống phần tử Ei+1,a và có khả năng chi phối, khống chế hành vi của Ei+1,a, dù là một phần hay toàn bộ.
Phần tử Ei có kênh truyền ảnh hưởng đến phần tử Ei+1,a, nhưng lại cản trở phần tử Ei+1,b Do đó, Ei được xem là phần tử trên âm của Ei+1,b.
Hai phần tử Ei và Ej có mối quan hệ tương tác qua lại, trong đó Ei tác động lên Ej và ngược lại, do đó chúng được gọi là hai phần tử cung cấp.