Bài giảng Phong cách học tiếng Việt dành cho sinh viên bậc đại học, chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn. Nội dung gồm có 3 chương, cung cấp cho người học những kiến thức như: Khái quát về phong cách và phong cách học; Các phong cách chức năng trong tiếng Việt; Các phương tiện và biện pháp tu từ trong tiếng Việt.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG
KHOA SƯ PHẠM XÃ HỘI
BÀI GIẢNG HỌC PHẦN PHONG CÁCH HỌC TIẾNG VIỆT
( BẬC ĐẠI HỌC)
Người biên soạn: PHẠM THỊ QUYÊN
Trang 2L ỜI NÓI ĐẦU
Bài giảng Phong cách học tiếng Việt dành cho sinh viên bậc đại học, chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn Tác giả đã kết hợp trình bày những nội dung cơ bản và nâng cao về Phong cách học Những nội dung đó được trình bày qua 3 chương như sau:
- Chương 1: Khái quát về phong cách và phong cách học
Ở chương này, bài giảng trình bày những lý thuyết chung soi đường cho việc nghiên cứu Phong cách học hiện nay như: đối tượng nghiên cứu, các khái niệm và phương pháp nghiên cứu Phong cách học, …
- Chương 2: Các phong cách chức năng trong tiếng Việt
Trong chương này, bài giảng trình bày hệ thống phong cách tiếng Việt, lần lượt miêu tả đặc điểm của từng phong cách, chú ý phân tích các đặc điểm về ngôn ngữ của chúng
- Chương 3: Các phương tiện và biện pháp tu từ trong tiếng Việt
Chương này tập trung miêu tả đặc điểm tu từ của từng loại đơn vị tiếng Việt và chỉ ra quy luật sử dụng chúng trong phong cách
Vài chục năm qua, ngành Phong cách học được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nhưng nó vẫn là một ngành học rất non trẻ Vì vậy, trong quá trình học tập, sinh viên cần nghiên cứu các tài liệu tham khảo có liên quan, đưa ra những ý kiến, đóng góp mới
mẻ để bài giảng được hoàn thiện hơn
Trang 3
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ PHONG CÁCH VÀ PHONG CÁCH HỌC 1.1 Phong cách và phong cách học
1.1.1 Phong cách
Theo “Từ điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học (Hoàng Phê chủ biên):
- Phong cách: những lối, những cung cách sinh hoạt, làm việc, hoạt động, xử sự tạo nên cái riêng của một người hay một loại người nào đó (nói tổng quát) Ví dụ: Phong cách lao động, phong cách lãnh đạo,
- Phong cách: những đặc điểm có tính chất hệ thống về tư tưởng và nghệ thuật, biểu hiện trong sáng tác của một nghệ sĩ hay trong sáng tác nói chung thuộc cùng một thể loại (nói tổng quát) Ví dụ: Phong cách của một nhà văn, phong cách nghệ thuật,
- Phong cách: dạng của ngôn ngữ sử dụng những yêu cầu chức năng điển hình nào đó, khác với những dạng khác về từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm Ví dụ: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, phong cách ngôn ngữ chính luận,
Theo quan điểm của chúng tôi:
- Phong cách: là nét riêng của một đối tượng, có tính ổn định, lặp đi lặp lại, tạo thành đặc trưng riêng, bản sắc riêng của đối tượng đó
- Phong cách ngôn ngữ: là nét riêng về sử dụng ngôn ngữ của một chủ thể (một
cá nhân, một tầng lớp, một dân tộc, một thời đại, …) hoặc của một lĩnh vực giao tiếp (hành chính, báo chí, khoa học, …)
1.1.2 Phong cách học
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “Phong cách học”:
- Phan Ngọc: “Phong cách học là khoa học khảo sát các kiểu lựa chọn và tính biểu cảm của các lựa chọn ấy”
- Nguyễn Nguyên Trứ: Phong cách là “một khoa học về khả năng và hiệu lực của ngôn ngữ trong hoạt động biểu đạt”
- Phong cách học: “là một bộ phận của ngôn ngữ học nghiên cứu các nguyên tắc
và quy luật lựa chọn và hiệu quả lựa chọn sử dụng toàn bộ các phương tiện ngôn ngữ
Trang 4nhằm biểu hiện một nội dung tư tưởng và tình cảm nhất định trong những phong cách chức năng ngôn ngữ nhất định”
- Theo chúng tôi: “Trên những nét chung nhất, phong cách học được hiểu là khoa học về các quy luật nói và viết có hiệu lực cao”
Tóm lại: Phong cách học là một thuật ngữ dùng để chỉ một bộ môn khoa học nghiên cứu về nghệ thuật diễn đạt
1.2 Đối tượng nghiên cứu của phong cách học
Với tư cách là một bộ môn khoa học độc lập, Phong cách học tập trung nghiên cứu về hai đối tượng sau:
1.2.1 Phong cách chức năng ngôn ngữ
Quan điểm của các nhà ngôn ngữ học Tiệp Khắc: B Havranek, A Jedlicka, J Dolezel “Phong cách học là khoa học về các phong cách chức năng ngôn ngữ” [Rozental]
Đây là một nội dung hết sức quan trọng mà phong cách học cần phải đi sâu Phong cách thường được nhận diện trước hết trên những yếu tố hình thức và những yếu
tố này, sở dĩ được lựa chọn và kết hợp như vậy đều do sự chi phối của các nhân tố nội dung Từ cách hiểu chung nhất về phong cách, chúng ta nhận thức phong cách ngôn ngữ chính là những dạng vẻ riêng biệt của ngôn ngữ toàn dân Nói một cách khác, đó là những biến thể của ngôn ngữ toàn dân Những dạng vẻ riêng biệt này được nhận diện trước hết, ở sự lựa chọn và kết hợp các phương tiện biểu đạt của ngôn ngữ được quan niệm như những yếu tố hình thức Và sở dĩ những yếu tố trên được sử dụng theo quy luật như vậy là do sự quy định của những nhân tố mang tính nội dung nằm bên ngoài ngôn ngữ Những nhân tố mang tính nội dung đang nói có thể quy về hai loại lớn: Một
là những nhân tố thuộc về bản chất tâm sinh lý và bản chất xã hội của người dùng; Hai
là những nhân tố thuộc về chức năng xã hội của ngôn ngữ Từ những nhân tố thứ nhất,
sẽ hình thành các phong cách ngôn ngữ lứa tuổi, phong cách ngôn ngữ giới tính, phong cách ngôn ngữ cá tính, phong cách ngôn ngữ xã hội, v.v Từ những nhân tố thứ hai, sẽ hình thành các phong cách chức năng ngôn ngữ Ngành Phong cách học tiếng Việt hiện
Trang 5nay mới tự hạn chế trong việc nghiên cứu các phong cách chức năng ngôn ngữ
1.2.2 Phương tiện tu từ và biện pháp tu từ
Trong cuốn “Giản yếu về phong cách”, Sác-lơ Ba-ly – nhà phong cách học nổi tiếng người Thụy Sĩ, người có công lao đáng trân trọng trong việc đặt nền móng cho khoa học Phong cách học hiện đại, đã xác định đối tượng của phong cách học như sau:
“ Phong cách nghiên cứu những sự kiện biểu đạt của hoạt động ngôn ngữ (tiếng Pháp:
Le langage) theo quan điểm của nội dung biểu cảm của chúng; nghĩa là sự biểu đạt những sự kiện của cảm xúc bằng hoạt động ngôn ngữ và tác động của những sự kiện của hoạt động ngôn ngữ đối với sự cảm xúc”
Như vậy, theo S Ba-ly, trong hoạt động ngôn ngữ, mọi ý tưởng được thể hiện trong môi trường biểu cảm dưới một dáng vẻ nhất định Và thứ tạo ra “môi trường biểu cảm” cho các hoạt động hành chức của ngôn ngữ chính là các phương tiện tu từ và biện pháp tu từ
Phương tiện ngôn ngữ bao gồm các phương tiện ngữ âm, phương tiện từ vựng, phương tiện ngữ pháp Trong cấu trúc của những phương tiện trên, chứa đựng những tiềm năng biểu đạt Những tiềm năng ấy sẽ bộc lộ thành những khả năng khi đặt trong hoạt động ngôn ngữ, và nếu được lựa chọn, kết hợp tốt trong ngôn từ, tiềm năng ấy sẽ đạt được hiệu quả thực tế cao
1.3 Các bình diện nghiên cứu của phong cách học
1.3.1 Phong cách học đại cương và phong cách học cụ thể
1.3.1.1 Phong cách học đại cương
Có nhiệm vụ khảo sát các vấn đề chung, các lý thuyết của phong cách học
1.3.1.2 Phong cách học cụ thể
Có nhiệm vụ khảo sát các vấn đề phong cách của một ngôn ngữ dân tộc
1.3.2 Phong cách học tổng quát và phong cách học bộ phận
1.3.2.1 Phong cách học tổng quát
Có nhiệm vụ khảo sát, nghiên cứu những vấn đề mang tính phổ quát về phong cách của mọi ngôn ngữ
Trang 61.3.2.2 Phong cách học bộ phận
Có nhiệm vụ nghiên cứu, khảo sát từng bộ phận hợp thành của phong cách học
1 3.3 Phong cách học ngôn ngữ và phong cách học lời nói
1.3.3.1 Phong cách học ngôn ngữ
Có đối tượng nghiên cứu là toàn bộ các yếu tố được đánh dấu về tu từ học (các phương tiện tu từ) Đồng thời, nó cũng nghiên cứu các tiểu hệ thống của ngôn ngữ: ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết, ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ phi nghệ thuật
1.3.3.2 Phong cách học lời nói
Còn được gọi là phong cách học của các phát ngôn và văn bản, nghiên cứu các kiểu văn bản, các thể loại văn bản, các phong cách của các văn bản riêng lẻ
1.3 4 Phong cách học lịch đại và phong cách học đồng đại
1.4.1 Phong cách học và các phân ngành khác của Việt ngữ học
- Mỗi chuyên ngành của Ngôn ngữ học đều có một phần tu từ học nhưng chỉ giới hạn trong phạm vi nghiên cứu các quy tắc và hiệu quả của đơn vị ngôn ngữ và lời nói, ít chú trọng đến việc lựa chọn, đánh giá các giá trị diễn đạt trong những môi trường giao tiếp cụ thể
- Sự ra đời của Ngữ dụng học đã hoàn thiện những chỗ thiếu sót kể trên Ngữ dụng học nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng và giao tiếp gắn liền với ngữ cảnh, lấy hoạt động hành chức của ngôn ngữ làm đối tượng nghiên cứu trung tâm Tuy nhiên, Phong cach học không vì thế mà mất đi những mảnh đất màu mỡ Phong cách học đi sâu nghiên cứu những phong cách ngôn ngữ khác nhau, cả các phong cách cá nhân lẫn các phong cách
Trang 7thể loại; nghiên cứu các thuộc tính biểu cảm và bình giá các phương tiện ngôn ngữ khác nhau trong hệ thống ngôn ngữ lẫn trong quá trình sử dụng chúng ở những phạm vi giao tiếp khác nhau
- Phong cách học là khoa học liên ngành, là cầu nối giữa Văn học và Ngôn ngữ học
1.4.2 Phong cách học và Văn học
Mỗi chuyên ngành của khoa học văn học đều có mỗi phần miêu tả tu từ học Tuy
nhiên, nó chỉ bó hẹp trong chừng mực nhất định như trong phạm vi nghiên cứu các tác phẩm văn chương, không mở rộng phạm vi đến cách diễn đạt trong mọi môi trường, hoàn cảnh giao tiếp xã hội
1.5 Các phương pháp phân tích và nghiên cứu phong cách học
1.5.1 Phương pháp thử nghiệm tu từ (phép thế tu từ)
- Phép thế tu từ là cách thay những từ ngữ nhất định bằng những từ ngữ có mối liên hệ hoặc tương đương nhau ở một phương diện nào đó Sau đó rút ra nhận xét về tính thẩm mĩ của từ ngữ được lựa chọn
- Phương pháp này đòi hỏi người sử dụng phải có những yếu tố sau:
+ Sự nhạy cảm cần thiết với tiếng nói
+ Vốn ngôn ngữ phong phú
+ Vốn văn hóa, vốn sống cần thiết
Ví dụ:
Trên dòng Hương Giang
Em buông mái chèo
Trời trong veo
Nước trong veo
Ta có thể thay thế từ xưng hô “em” với cách xưng hô cùng nghĩa khác như “tôi”
để thấy rõ giá trị của từ “em” Từ “em” làm ta nhận ra thái độ khiêm nhường của cô gái, nó cũng phù hợp với thân phận và lòng tự trọng của cô
1.5.2 Phương pháp đối chiếu- so sánh
Trang 8- So sánh, đối chiếu hình thức biểu đạt đã được sử dụng với những cách diễn đạt tương đương để được thấy hiệu lực, giá trị biểu đạt của hình thức đó
- Cơ sở thực hiện phương pháp: đi ngược lại quá trình chọn lựa của người lập mã
để tìm ra lý do lựa chọn
- Các thao tác
+ Xác định nội dung cơ sở của sự biểu đạt
+ Tìm các cách diễn đạt tương đương
+ So sánh, đối chiếu các hình thức diễn đạt + Kết luận về hiệu lực, giá trị biểu đạt (hay hoặc dở)
- Trong một cấp độ ngôn ngữ, vì mỗi yếu tố ngôn ngữ vừa có đặc trưng đồng nhất vừa có đặc trưng khu biệt với các yếu tố khác, cho nên các yếu tố ngôn ngữ có thể quan
hệ thay thế trên trục dọc hoặc quan hệ tổ hợp trên trục ngang với các yếu tố khác Từ khả năng này của ngôn ngữ, người nói/viết có thể lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ và kết hợp chúng theo các cách khác nhau để biểu hiện ý tưởng của mình Chọn lựa là quá trình cơ bản cuả hoạt động giao tiếp, do đó đối với người nghe/ đọc, khi tiếp nhận một văn bản cũng diễn ra quá trình so sánh, phân tích để hiểu đúng thông báo của người nói,viết Đây chính là cơ sở để xác định phương pháp nghiên cứu phong cách học: phương pháp đối chiếu- so sánh
1.5.3 Phương pháp thống kê tu từ
- Tính toán tỷ lệ xuất hiện của một hình thức biểu đạt trên một độ dài văn bản (diễn ngôn) nhất định để khẳng định về đặc trưng phong cách của một đối tượng nào
đó
Trang 9- Cơ sở thực hiện phương pháp: sự lặp đi lặp lại có tính ổn định của một phong cách
- Có thể thực hiện thống kê về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, cấu trúc, phép tu từ + Thống kê ngữ âm: các loại phụ âm, nguyên âm, âm tiết xuất hiện nhiều, các loại vần, cách gieo vần, nhịp điệu (trong thơ), …
+ Thống kê từ vựng: khuynh hướng sử dụng từ ngữ, từ ngữ thích được lặp đi lặp lại, …
+ Thống kê ngữ pháp: câu ngắn hay dài, đơn giản hay phức tạp, thích dùng dạng cấu trúc Việt Nam hay theo lối văn Tây, lối văn bình dân hay bác học
+ Thống kê tu từ: thích dùng phép tu từ gì, mang tính chất cổ điển, dân gian hay sáng tạo mới, …
- Các thao tác:
+ Chọn văn bản/ diễn ngôn khảo sát (tiêu biểu, điển hình, )
+ Định độ dài khảo sát và cách thống kê (ngẫu nhiên hay có định hướng, …) + Thu thập kết quả
+ Xử lý kết quả
+ Kết luận về đặc trưng phong cách
+ Lý giải
1.5.4 Phương pháp phân tích định tính (phép bình giá các giá trị)
Là phương pháp đưa những bình giá chính xác về các giá trị:
- Giá trị biểu đạt: dựa vào phép thế, phép đối chiếu và phép thống kê tu từ
- Giá trị sử dụng: dựa vào hoàn cảnh giao tiếp
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG
1 Trình bày đối tượng nghiên cứu và nhiệm vụ của Phong cách học
2 Phân tích mối quan hệ giữa Phong cách học và Văn học
3 Trình bày các phương pháp nghiên cứu Phong cách học Cho ví dụ cụ thể
4 Dùng phép thế tu từ phân tích giá trị của các từ được gạch chân dưới đây:
a Chiều mộng hòa thơ trên nhánh duyên
Trang 10(Xuân Diệu)
b Ngoài thềm rơi chiếc lá đa
Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng
Trang 11Ch ương 2 CÁC PHONG CÁCH CHỨC NĂNG TRONG TIẾNG VIỆT 2.1 Lý thuyết giao tiếp và phong cách chức năng
2 1.1 Lý thuyết giao tiếp
2.1.1.1 Quan niệm về giao tiếp
- Khi có ít nhất hai người gặp nhau và bày tỏ với nhau một điều gì đấy như niềm vui, nỗi buồn, mong muốn hay nhận xét nào đó về sự vật xung quanh thì giữa họ đã diễn
ra một hoạt động giao tiếp
- Con người giao tiếp với nhau bằng nhiều phương tiện: ánh mắt, nụ cười, cử chỉ, hình vẽ, tiếng còi…Tuy nhiên, giao tiếp bằng những phương tiện trên rất hạn chế về nội dung Phổ biến, thuận tiện và hiệu quả hơn cả vẫn là giao tiếp bằng ngôn ngữ
Như vậy: Giao tiếp là hành vi ngôn ngữ nhằm đạt đến một mục đích nào đó như: trao đổi những cảm xúc, ý nghĩ, truyền đạt thông tin giữa con người trong cộng đồng xã hội
- Căn cứ vào phượng tiện sử dụng trong quá trình giao tiếp mà có hai cách hiểu về khái niệm này
+ Theo nghĩa rộng: Giao tiếp là sự trao đổi giữa người này với người khác, giữa cộng đồng này với cộng đồng khác về một điều nào đấy, nhằm để hiểu biết lẫn nhau Theo cách hiểu này, con người dùng rất nhiều phương tiện khác nhau để giao tiếp
+ Theo nghĩa hẹp: Giao tiếp là sự trao đổi giữa người này với người khác, giữa cộng đồng này với cộng đồng khác về một điều nào đấy bằng phương tiện ngôn ngữ Theo cách hiểu này, Ăngghen cho rằng: “Loài người phát triển đến một mức độ nào đấy cần phải nói với nhau một cái gì đấy” thì “cái cần phải nói ra với nhau” làm thành ngôn ngữ, còn sự “cần phải nói ra với nhau” làm thành chức năng giao tiếp của nó
2.1.1.2 Các yếu tố của hoạt động giao tiếp
Yếu tố giao tiếp là các yếu tố có mặt trong hoạt động giao tiếp và ảnh hưởng đến hoạt động giao tiếp
Phong cách ngôn ngữ là do hai loại yếu tố tạo nên : yếu tố ngôn ngữ và yếu tố ngoài
Trang 12ngôn ngữ Muốn hiểu rõ nội dung bên trong của khái niệm phong cách chức năng ngôn ngữ cần hiểu rõ các loại nhân tố đó
Các yếu tố bên ngoài ngôn ngữ, gồm có :
a Nhân vật giao tiếp
- Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào hoạt động giao tiếp Trong cuộc giao tiếp, các nhân vật luân phiên đảm nhận các vai giao tiếp khác nhau: người nói (người viết), người nghe (người đọc)
- Những đặc điểm về lứa tuổi, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, tầng lớp xã hội, tâm lí của những người tham gia giao tiếp cũng góp phần tạo nên vẻ riêng của phong cách chức năng ngôn ngữ
- Mặt khác, có những cuộc giao tiếp trong đó vai nghe có thể vắng mặt hay có mặt,
có thể là một người hay nhiều người, có thể đảm nhiệm cả vai nói hay chỉ đơn thuần ngồi nghe…
- Vai và quan hệ vai giữa những người tham gia giao tiếp là nhân tố quan trọng nhất, có tác dụng đến việc lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ trong giao tiếp
b Hoàn cảnh giao tiếp
- Hoàn cảnh giao tiếp là những yếu tố ngoài ngôn ngữ có ảnh hưởng đến việc sử dụng ngôn ngữ
- Như vậy, nơi chốn, thời gian và những đặc điểm của chúng chính là hoàn cảnh giao tiếp Có hoàn cảnh giao tiếp rộng và có hoàn cảnh giao tiếp hẹp
+ Hoàn cảnh giao tiếp rộng bao gồm hoàn cảnh địa lí, xã hội, lịch sử, kinh tế chung của cả dân tộc
+ Hoàn cảnh giao tiếp hẹp là nơi chốn cụ thể, thời gian cụ thể trực tiếp, trong đó cuộc giao tiếp đang xảy ra
- Khi giao tiếp, cần xác định hoàn cảnh giao tiếp mang tính chính thức xã hội hay không mang tính chính thức xã hội, mang tính chất trang nghiêm thì đòi hỏi phải có sự chuẩn bị, gọt giũa lời nói; mang tính chất thân mật thì không phải chuẩn bị trước, được tự
do, thoải mái
Trang 13c Nội dung giao tiếp
Nội dung giao tiếp tức là hiện thực được nói tới, bao gồm những sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan, những tâm trạng, tình cảm…được đưa vào nội dung lời nói Tùy theo hiện thực được nói tới, các vai giao tiếp lựa chọn cách thức giao tiếp cho phù hợp
d Mục đích giao tiếp
- Giao tiếp mang bản chất hành động nên giao tiếp bao giờ cũng hướng tới mục đích
cụ thể như làm quen, bày tỏ niềm vui, nỗi buồn, thông báo một tin tức, đưa ra một nhu cầu đòi hỏi người nghe thực hiện….Trong một cuộc giao tiếp có thể có nhiều mục đích được đặt ra, có thể có mục đích chính và mục đích phụ
- Tuy nhiên, ta cần hiểu mục đích ở đây là mục đích thực tiễn, mục đích cuối cùng
Đó chính là “mục đích tác động làm cho người nhận phải có những biến đổi nhất định trong trạng thái tâm lí, trong tình cảm… và có hành động tương ứng với hành động mà người phát yêu cầu.”
e Ph ương tiện, cách thức giao tiếp
Ngôn ngữ là phương tiện quan trọng bậc nhất để giao tiếp Ngoài ngôn ngữ ra, con người còn có thể giao tiếp với nhau bằng các phương tiện phi ngôn ngữ Tuy nhiên, các phương tiện này có khả năng biểu đạt hạn chế một số nội dung trong phạm vi nhất định
* Các yếu tố ngôn ngữ gồm có : các phương tiện ngữ âm, từ vựng- ngữ nghĩa, ngữ pháp Chúng giữ vai trò là phương tiện biểu hiện, tức là làm rõ diện mạo, cụ thể hóa diện mạo của PCCNNN
2.1.2 Định nghĩa phong cách chức năng
2.1.2.1 Ngôn ngữ cá nhân và phong cách chức năng
- Ngôn ngữ cá nhân: Lê-nin cho rằng: “ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người” Cho nên, khi giao tiếp, mỗi người vận dụng cái vốn ngôn ngữ
đã có trong kí ức của mình để tạo ra những phát ngôn (những văn bản), tức là những phương tiện giúp người nói đạt đến những thực tiễn nhất định trong đời sống Chính vì vậy, mặc dù ngôn ngữ có tính cộng đồng nhưng sự vận dụng ngôn ngữ là tùy thuộc cá
Trang 14nhân
- Mỗi người khi nói năng, trong sinh hoạt có cách phát âm, dùng từ, đặt câu, cách kết cấu đoạn mạch riêng, không ai giống ai Kết quả là phát ngôn, ngoài những cái chung còn mang đậm những dấu hiệu ngôn ngữ riêng của từng người
- Mỗi cá nhân, khi nói và viết, tự giác hay không tự giác đều phải nói, viết theo phong cách chức năng ngôn ngữ nhất định Đây là một tất yếu khách quan Còn mức độ tuân theo phong cách chức năng ngôn ngữ như thế nào là còn phù thuộc vào trình độ thành thạo tiếng nói dân tộc của mỗi cá nhân Lời nói của cá nhân là kêt quả của việc thực hiện phong cách chức năng ngôn ngữ của mỗi cá nhân ở trong thực tế Lời nói cá nhân vừa bao hàm cái chung của phong cách chức năng, vừa chứa đựng cái riêng do cá nhân sử dụng
- Phong cách chức năng là khái niệm chỉ sự phân loại ngôn ngữ thành các phong cách khác nhau dựa vào chức năng xã hội mà chúng thực hiện trong phạm vi giao tiếp đó
Có ba quan niệm khác nhau về phong cách chức năng:
+ Phong cách chức năng là biến thể của ngôn ngữ dân tộc ( Cù Đình Tú, Nguyễn Nguyên Trứ)
+ Phong cách chức năng là khuôn mẫu xây dựng lớp văn bản (hay phát ngôn) (Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hoà)
+ Phong cách chức năng là kiểu diễn đạt
Lưu ý: Mối quan hệ giữa ngôn ngữ cá nhân và phong cách chức năng:
- Mối quan hệ giữa ngôn ngữ cá nhân và phong cách chức năng là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, cái trừu tượng và cái cụ thể, cái có tính logic và cái có tính lịch sử
- Chỉ có thể khảo sát phong cách chức năng ngôn ngữ qua các sự kiện lời nói của cá nhân Ngược lại, cơ sở để khảo sát, đánh giá ngôn ngữ cá nhân là phong cách chức năng ngôn ngữ Phong cách chức năng ngôn ngữ không chỉ quy định ngôn ngữ cá nhân mà nó còn được ngôn ngữ cá nhân nuôi dưỡng Mọi biến đổi của phong cách chức năng ngôn ngữ đều bắt đầu ở những ngôn ngữ cá nhân
Xét cho cùng, mối quan hệ giữa ngôn ngữ cá nhân và phong cách chức năng ngôn
Trang 15ngữ được xây dựng và xác định trên cơ sở của mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ và lời nói
2.1.2.2 Vấn đề chuẩn phong cách chức năng
- Chuẩn mực ngôn ngữ không gắn với một phạm vi đặc trưng nào của hoạt động lời nói, nó được ứng dụng trong tất cả các phạm vi của hoạt động lời nói
b Chuẩn phong cách
- Trước khi nói và viết, chúng ta cần xác định rõ: đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp Từ đó, xây dựng một nội dung giao tiếp và lựa chọn ngôn
ngữ sao cho đạt hiệu quả cao nhất
Ví dụ: mất mạng, chết, mất, qua đời, tạ thế, hi sinh…đều thuộc chuẩn ngôn ngữ và
cùng có một nghĩa cơ bản nhưng với từng phong cách chức năng (PCCN), từng hoàn cảnh và đối tượng giao tiếp mà người ta cần lựa chọn từ sao cho phù hợp nhất Vấn đề này thuộc về chuẩn phong cách
- Chuẩn phong cách là toàn bộ những chỉ dẫn thể hiện những tính quy luật bắt buộc
ở một thời kì nhất định của một ngôn ngữ trong việc lựa chọn và kết hợp những chuẩn mực ngôn ngữ sao cho phù hợp với phong cách của hoạt động lời nói và các kiểu văn bản, các thể loại văn bản
- Chuẩn phong cách gắn với một phạm vi đặc trưng của hoạt động lời nói và với các kiểu văn bản, một thể loại văn bản cụ thể
Lưu ý:
- Đúng chuẩn ngôn ngữ nhưng không đúng chuẩn phong cách cũng không được sử dụng
Trang 16- Đúng chuẩn phong cách nhưng không đúng chuẩn ngôn ngữ: có thể dùng nhưng không được lạm dụng Phần lớn đều do các nhà văn, nhà thơ sử dụng trong các sáng tác văn học
Ví dụ:
Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người (Hồ Chí
Minh)
Nắng xuống trời lên sâu chót vót (Huy Cận)
- Đúng ở thể loại văn bản này nhưng không đúng ở thể loại văn bản khác
Ví dụ: Lời thoại của một diễn viên trong một bộ phim: “Mẹ ơi con nhớ mẹ vô ngần
Mẹ là mặt trời của con, là vị thần kì diệu suốt đời chia sẻ cùng con cả những niềm vui, những nỗi khổ đau nhất Ôi mẹ thân yêu!” Lời thoại này sẽ không phù hợp trong PCNN
PCNNHC là khuôn mẫu thích hợp để xây dựng nên lớp văn bản, phát ngôn trong
đó thể hiện vai của người tham gia giao tiếp trong lĩnh vực hành chính
(Nói cụ thể hơn, đó là vai, tư cách của nhà pháp luật, người quản lý, người làm đơn, người ký hợp đồng, …tất cả những ai tham gia vào guồng máy tổ chức, quản lý, điều hành các mặt của đời sống xã hội)
b Dạng thức ngôn ngữ
- Hình thức ngôn ngữ viết: là hình thức tiêu biểu, phổ biến
Các loại văn bản được viết theo phong cách ngôn ngữ ngôn ngữ hành chính:
+ Văn bản hành chính – pháp luật: hiến pháp, luật, sắc lệnh, pháp lệnh, nghị định, điều lệ, quy chế, nội quy, quy định,
+ Văn bản hành chính – ngoại giao: hiệp định, hiệp ước, thông cáo, quốc thư,
Trang 17công hàm (công văn ngoại giao của nước này gửi cho nước khác), giác thư (thư ngoại giao của chính phủ nước này gửi cho chính phủ nước khác), bị vong lục (văn bản ngoại giao do chính phủ hoặc bộ ngoại giao công bố),
+ Văn bản hành chính quân sự: lệnh, điều lệnh, chỉ thị,
+ Văn bản văn thư: đơn từ, biên bản, hợp đồng, báo cáo, thông tư, công văn, quyết định,
- Hình thức ngôn ngữ nói:
+ Lời phát biểu, trình bày của các thành viên của một tổ chức hành chính trong
một cuộc họp, một hội nghị, trong buổi xử án, …
+ Lời đối thoại giữa một cá nhân với đại diện của một cơ quan tổ chức trong một buổi làm việc có tính chất hành chính,
2.2.1.2 Đặc trưng của PCNNHC
a Tính nghiêm túc – khách quan
- Giao tiếp trong phong cách hành chính là dạng điển hình nhất của hình thức giao tiếp chính thức, nghi thức
- Phong cách giao tiếp: nghiêm túc, trịnh trọng, trang trọng
- Cách nhìn nhận vấn đề, giải quyết vấn đề trong ngôn ngữ hành chính phải xuất phát từ cách nhìn nhận chung của cả một tập thể, một tổ chức Ngôn ngữ hành chính nói chung phải trung hòa về sắc thái biểu cảm, không tỏ ra khinh hay trọng, tán dương hay chê ghét, ngoại trừ những văn bản có tính chất hành chính ngoại giao, hoặc những lời nói hành chính có tính chất công thức lễ tân
b Tính chính xác – minh bạch
- Ngôn ngữ hành chính luôn yêu cầu có tính chính xác, chặt chẽ ở mức độ cao nhất Vì điều này liên quan đến hiệu lực pháp lý của văn bản hành chính Từ ngữ trong văn bản hành chính phải đơn nghĩa Câu văn cũng phải đơn nghĩa Các cách thức hạn định để làm cho từ ngữ, hoặc câu văn của ngôn ngữ hành chính được chính xác luôn được đề cao
Ví dụ: (1) Nhà xuất bản không được xuất bản, tái bản tác phẩm nếu không được
Trang 18sự đồng ý của tác giả hoặc người được thừa kế hợp pháp theo quy định của pháp luật
về quyền tác giả (Luật xuất bản (1993), điều 8)
(2) Thẩm phán ra quyết định đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp và phải đăng báo địa phương và báo hàng ngày của trung ương trong ba
số liên tiếp về quyết định này (Luật phá sản doanh nghiệp (1993), điều 35) (Dùng định
ngữ mở rộng để hạn định khái niệm)
(3) Báo chí nói trong Luật này là báo chí Việt Nam, bao gồm: báo in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn), báo nói (chương trình phát thanh), báo hình (chương trình truyền hình, chương trình nghe – nhìn thời sự được thực hiện bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau), báo điện tử (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, tiếng nước ngoài (Luật xuất bản, 1999, điều 3) (Dùng thành phần giải thích, chú thích để xác định khái niệm) Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội; là diễn đàn của nhân dân (Luật báo chí
(1999), điều 1) (Dùng dấu chấm phẩy để chính xác hóa cấu trúc)
- Nói chung, về nguyên tắc, ngôn ngữ hành chính phải hướng tới đại chúng là những người tiếp cận và thực hiện nó Vì vậy ngôn ngữ hành chính phải rõ ràng, minh bạch để đại đa số quần chúng đọc và hiểu được Để làm được như vậy, từ ngữ và cách đặt câu của ngôn ngữ hành chính phải tương đối giản dị, dễ hiểu Các thuật ngữ khó hiểu phải được giải thích, định nghĩa một cách rõ ràng Từ Hán Việt phải dùng hạn chế, nếu có thể thì thay hoặc bổ sung bằng từ ngữ thuần Việt tương đương
Ví dụ : Quản chế là buộc người bị kết án phạt tù phải cư trú, làm ăn, sinh sống và
cải tạo ở một địa phương nhất định, có sự kiểm soát, giáo dục của chính quyền và nhân dân địa phương (Bộ luật hình sự (1999), điều 38)
c Tính khuôn mẫu
- Cách trình bày, diễn đạt của ngôn ngữ hành chính phải tuân theo những quy định nhất định mang tính chất thể thức hành chính Cách đặt câu của ngôn ngữ hành
Trang 19chính phải theo những khuôn mẫu câu hành chính
- Văn bản hành chính thường xây dựng theo những kiểu cấu trúc có sẵn, với hai dạng : (1) dạng mẫu có sẵn, người viết chỉ cần điền vào; (2) dạng theo mẫu hướng dẫn chung
2.2.1.3 Đặc điểm ngôn ngữ trong PCNNHC
a Ngữ âm, chữ viết, hình thức trình bày
Phải tuân theo những quy định có tính chất chuẩn mực chính thức
- Ngữ âm: Phải phát âm theo chuẩn, hướng theo chuẩn, tránh cách phát âm địa phương và những lỗi phát âm
- Chữ viết: Phải theo những quy định chính tả của cơ quan có thẩm quyền (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ, Quốc hội)
- Hình thức trình bày: Phải tuân theo những quy định về thể thức trình bày do các
cơ quan nhà nước quy định
b Từ ngữ
- Phong cách ngôn ngữ hành chính có một lớp từ ngữ riêng gọi là lớp từ ngữ hành chính Đây là lớp từ ngữ tương đối phong phú, đơn nghĩa, trung hòa về sắc thái biểu cảm
Ví dụ : theo đề nghị, căn cứ vào, nay ban hành, chịu trách nhiệm, vấn đề thứ nhất
là, vấn đề thứ hai là, , Uỷ ban nhân dân, Viện Kiểm sát, Chánh thanh tra, Giám đốc, Vụ trưởng, …
- Từ ngữ hành chính chủ yếu là lớp từ Hán – Việt, chiếm tỷ lệ khoảng 75% đến 85%, vì lớp từ này đảm bảo tính chính xác, chặt chẽ, nghiêm túc
- Từ ngữ trong phong cách hành chính phải được sử dụng tuyệt đối chính xác; không (hoặc hạn chế tối đa) sử dụng từ ngữ địa phương, những cách nói mang tính chất khẩu ngữ
- Xuất hiện nhiều từ ngữ mang tính chất cầu khiến (sai khiến, cấm đoán) do đòi
hỏi yêu cầu phải thực hiện (hoặc không được thực hiện), như: đề nghị, yêu cầu, phải,
cần, nên, thi hành, thực hiện, …
Trang 20- Sử dụng nhiều loại câu theo khuôn mẫu định sẵn (“khuôn câu hành chính”)
- Trong văn bản hành chính thường xuất hiện những cách xuống dòng đặc biệt Câu văn thường trải rộng, có khi hầu như bao quát cả văn bản (toàn văn bản thực chất chỉ có một câu văn)
d Tu từ
Phong cách ngôn ngữ hành chính không sử dụng các phép tu từ vì phong cách ngôn ngữ này không có nhu cầu diễn đạt hình ảnh, biểu cảm Phong cách hành chính đối lập với cách diễn đạt của phép tu từ
2.2.2 Phong cách ngôn ngữ khoa học (PCNNKH)
b Dạng thức ngôn ngữ
Ngôn ngữ trong PCNNKH tồn tại ở cả hai dạng:
- Dạng nói: các bài thuyết trình khoa học, lời giảng bài, …
- Dạng viết: các công trình khoa học, các tạp chí khoa học, sách giáo khoa, giáo trình, …
Trang 212.2.2.2 Đặc trưng của PCNNKH
a Tính trừu tượng – khái quát
Phong cách khoa học tiếp cận và trình bày vấn đề từ góc độ khái quát và trừu tượng nhằm chỉ ra các quy luật và đặc điểm bản chất của đối tượng nhận thức (khác với cách tiếp cận cụ thể và cảm tính của khẩu ngữ và ngôn ngữ văn chương)
Ví dụ: (ngôn ngữ không hợp với phong cách khoa học) Cho một đường tròn tâm
O nhỏ xíu và kẻ một cát tuyến thẳng băng cắt ngang qua đường tròn tại hai điểm A và
B
Đối với phong cách ngôn ngữ khoa học mang tính chuyên sâu, chỉ những người trong lĩnh vực chuyên môn mới hiểu một cách tường tận thông tin của văn bản (diễn ngôn)
b Tính chính xác
- Phong cách khoa học đòi hỏi tính chính xác ở mức độ cao Thông tin đưa ra trong văn bản khoa học phải được khảo cứu, phân tích, chứng minh một cách cẩn trọng, nghiêm túc và phải được kiểm chứng bởi những nhà khoa học khác
- Phong cách khoa học không chấp nhận (trừ một số trường hợp đặc biệt) những
cách diễn đạt không chắc chắn, xác định như: có lẽ, có thể, hình như, phỏng chừng, …
Tuy nhiên, vì chân lý khoa học mang tính tương đối theo hướng tiếp cận gần nhất với chân lý, nên trong một số trường hợp, cùng một vấn đề, giữa các nhà khoa học có thể chấp nhận những quan niệm khác nhau, cách giải quyết khác nhau, đặc biệt là trong lĩnh vực khoa học xã hội – nhân văn
Trang 222.2.2.3 Đặc điểm ngôn ngữ trong PCNNKH
a Ngữ âm, chữ viết
- Khi phát âm ở phong cách này, người ta thường có ý thức tuân theo các chuẩn mực ngữ âm Ngữ điệu có thể được dùng hạn chế để tăng sức thuyết phục cho sự lập luận
- Có thể sử dụng những cách phát âm xa lạ với hệ thống ngữ âm dân tộc (thuật ngữ nước ngoài, từ ngữ quốc tế)
- Ngoài kênh chữ viết, còn sử dụng những hệ thống ký hiệu, sơ đồ, bảng biểu, công thức, theo yêu cầu của từng ngành khoa học
b Từ ngữ
- Có một hệ thống thuật ngữ riêng, chuyên dùng trong từng lĩnh vực chuyên môn sâu
Ví dụ: vật chất, ý thức, duy tâm, giá trị thặng dư, điển hình văn học, …
- Từ ngữ mang tính chất trừu tượng, khái quát ở mức độ cao
- Từ ngữ đơn nghĩa, chỉ dùng với nghĩa đen, trung hòa về sắc thái biểu cảm
c Cú pháp
- Thường sử dụng các hình thức câu hoàn chỉnh, kết cấu chặt chẽ, rõ ràng để đảm bảo tính chính xác, rõ ràng, mạch lạc về tư duy lôgic (cú pháp tiêu chuẩn – standard syntax)
- Sử dụng nhiều loại câu ghép, câu phức để diễn đạt đầy đủ, súc tích các vấn đề cần bàn luận, phân tích
- Hay sử dụng các loại câu khuyết chủ ngữ và chủ ngữ không xác định (phiếm chỉ) Tác dụng: giúp cho việc trình bày được mang tính khái quát hoặc tính khách quan
- Sử dụng nhiều các hình thức liên kết giữa các thành phần câu, giữa các câu, các đoạn để đảm bảo tính chặt chẽ, chính xác
d Tu từ
- Phong cách ngôn ngữ khoa học, nói chung, không dùng phép tu từ vì không có nhu cầu diễn đạt hình ảnh, bóng bẩy, biểu cảm như phong cách văn chương hay phong
Trang 23cách chính luận
- Tuy nhiên có sự khác biệt giữa các biến thể của phong cách khoa học về việc dùng phép tu từ Trong các văn bản khoa học xã hội nhân văn và trong các thể loại văn bản phổ biến khoa học, người ta có thể sử dụng các phép tu từ theo những mức độ khác nhau nhằm làm cho sự diễn đạt hấp dẫn, sinh động, gần gũi với đối tượng độc giả
2.2.3 Phong cách ngôn ngữ báo chí (PCNNBC)
b Tính hấp dẫn
Báo chí muốn tồn tại và phát triển phải gắn liền với độc giả Số lượng độc giả là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá uy tín của một tờ báo hoặc một kênh phát thanh, truyền hình Đặc biệt là những tờ báo (hoặc kênh phát thanh, truyền hình)
có khuynh hướng thương mại Vì vậy, báo chí phải đề cao yếu tố hấp dẫn độc giả về
Trang 24ngôn từ diễn đạt, về hình thức trình bày Trong đó, đầu đề các bài báo là một yếu tố rất
+ Khuôn khổ tờ báo (4 trang – 12 trang) và thời lượng phát tin có hạn
+ Người đọc, người nghe của báo chí hiện đại chỉ có nhu cầu thông tin và họ tự suy nghĩ, phán xét, không muốn nghe người khác phân tích, bình luận dài dòng với dụng ý tuyên truyền, giáo dục
Thể hiện:
+ Câu văn báo chí ngày càng ngắn gọn Một câu dài nên tách ra thành nhiều câu ngắn để thông tin được rõ ràng
+ Khuôn khổ một bài báo ngày càng nhỏ lại, hình nhiều, chữ ít hơn Báo mạng
đề cao hình thức truyền tải đa phương tiện (chữ, hình (tĩnh và động – video), tiếng nói,
- Tin tức của báo chí phải chú trọng số liệu, hình ảnh kèm theo để chứng thực cho
độ tin cậy của tin
2.2.2.3 Đặc điểm ngôn ngữ PCCNBC
a Ngữ âm
- Ngữ âm chuẩn mực, hướng về chuẩn mực (phát thanh viên, bình luận viên, biên tập viên, MC của đài phát thanh và đài truyền hình)
Trang 25- Ngữ âm phải mang tính chân thực của cuộc sống, của nhân chứng, sự kiện, tránh dàn dựng, lạm dụng kỹ thuật
b Từ ngữ
- Có một lớp từ vựng thuộc về nghề báo được sử dụng lặp đi lặp lại như: phóng
viên, bạn đọc, cộng tác viên, đặc phái viên, thông tấn, hãng thông tấn, theo nguồn tin,
+ Câu có đề ngữ làm nổi bật thông tin, thường dùng trong các đầu đề tin tức
+ Câu có nhiều thành phần tách biệt được in thành từng dòng riêng bằng những con chữ khác nhau, để nhấn mạnh các nội dung thông tin, thường dùng trong các đầu đề tin tức
+ Những câu đơn phát triển kết hợp lời nói trực tiếp với lời nói gián tiếp để cô đúc thông tin và tăng sức thuyết phục của thông tin
- Có những khuôn câu theo phong cách báo chí
Trang 26(Nói cụ thể hơn, đó là vai, tư cách của nhà lãnh đạo, nhà hoạt động chính trị xã hội, đảng viên, đoàn viên, hội viên, … tất cả những ai tham gia các hoạt động động viên, tuyên truyền, giáo dục về mặt chính trị- xã hội)
b Dạng thức ngôn ngữ
Ngôn ngữ trong PCNNCL tồn tại ở cả hai dạng nói và viết
- Dạng nói: diễn thuyết, phát biểu trong mittinh, đón tiếp ngoại giao, …
- Dạng viết: các báo cáo chính trị, các bài xã luận, bình luận, …
c Tính đại chúng
Ngôn ngữ chính luận phải hướng tới đông đảo quần chúng, đặc biệt là các tầng lớp lao động, nên ngôn ngữ từ phải giản dị, dễ hiểu Cách dùng từ, cách đặt câu của ngôn ngữ chính luận phải mang tính chất phổ thông Lời lẽ diễn đạt phải gần gũi với quần chúng
2.2.4.3 Đặc điểm ngôn ngữ PCNNCL
a Ngữ âm
- Phát âm chuẩn mực, thân mật, biểu cảm, hùng hồn
- Giọng điệu, ngữ điệu và những yếu tố phi lời kèm theo trong dạng nói của phong cách chính luận đặc biệt quan trọng Âm sắc, màu sắc của lời nói luôn thay đổi phù hợp với nội dung, tình cảm của từng đoạn văn Tình cảm, niềm tin của người nói phải thể hiện qua giọng nói, lời nói và truyền đến người nghe bằng sự lay động của trái tim và nhận thức
Trang 27b Từ ngữ
- Sử dụng lớp từ ngữ thuật ngữ chính trị – xã hội tùy thuộc vào từng loại văn bản
- Từ ngữ giàu màu sắc biểu cảm, hình tượng
- Sử dụng khẩu ngữ linh hoạt
tu từ, trường cú (câu tuần hoàn),
- Các phép tu từ gần như là yếu tố không thể thiếu được của ngôn ngữ chính luận, đặc biệt là loại ngôn ngữ chính luận thiên về phương diện hùng biện
2.2.5 Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
2.2.5.1 Khái quát về PCNNSH
a Định nghĩa
- Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (phong cách hội thoại, phong cách khẩu ngữ) là dấu hiệu đặc trưng khái quát chức năng và sự lựa chọn các phương tiện ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa, cú pháp trong lời ăn tiếng nói tự nhiên hàng ngày
- Có hai biến thể phong cách ngôn ngữ sinh hoạt:
+ Phong cách khẩu ngữ tự nhiên
+ Phong cách khẩu ngữ văn hóa
b Dạng thức ngôn ngữ
Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt tồn tại ở cả hai dạng:
Trang 28- Dạng nói: hội thoại hàng ngày giữa con người với nhau Đây là dạng tồn tại cơ bản của phong cách này
- Dạng viết: tin nhắn, nhật ký, thư,
2.2.5.2 Đặc trưng của PCNNSH
a Tính cá thể
- Trong nói năng hàng ngày, mỗi người ít nhiều đều có phong cách, sắc thái riêng Ngoài giọng nói thì cách dùng từ, cách lựa chọn kiểu câu, cách trình bày, diễn đạt của mỗi người cũng thể hiện tính cá thể
- Qua giọng nói, qua từ ngữ và cách nói quen dùng, ta có thể biết được lời nói của
ai, thậm chí đoán được tuổi tác, cá tính, địa phương, của họ
- Để hiểu đúng ý tưởng của ngôn ngữ khẩu ngữ, nhiều khi phải nắm được sắc thái, thần thái riêng của người nói
b Tính cụ thể
- PNNSH tránh lối nói trừu tượng, chung chung Vì lẽ đó, tính cụ thể là đặc điểm nổi bật của PCNNSH
- Tính cụ thể của PCNNSH biểu hiện ở các mặt:
+ Có địa điểm, thời gian cụ thể
+ Có người nói, người nghe cụ thể
+ Có đích lời nói cụ thể
+ Có cách diễn đạt cụ thể qua việc dùng từ ngữ phù hợp với đối thoại
Ví dụ: Phân tích tính cụ thể của PCNNSH qua đoạn hội thoại sau:
Buổi trưa, tại khu tập thể A, ba bạn Hùng, Duyên, Nga nói chuyện với nhau Hùng: Nhanh lên đi, chậm như rùa ấy! Cô phê bình chết thôi!
Duyên: Hôm nào cũng chậm Lạch bà lạch bạch như vịt bầu!
Nga: Thôi, càu nhàu nó vừa thôi, đi trễ một chút có chết ai đâu mà lo!
Tính cụ thể trong đoạn hội thoại thể hiện như sau:
- Có thời gian, địa điểm cụ thể: buổi trưa, tại khu tập thể A
- Có người nói, người nghe cụ thể: Hùng, Duyên, Nga (cả ba có sự luân phiên
Trang 29- Ngôn ngữ khẩu ngữ tiếng Việt thường có khuynh hướng sắc thái biểu cảm âm tính
2.2.5.3 Đặc điểm ngôn ngữ PCNNSH
a Ngữ âm
- Không mang tính chuẩn mực, không theo chuẩn mực
- PCNNSH tồn tại chủ yếu ở dạng nói nên ta có thể nhận thấy tất cả các biến thể ngữ âm mang tính địa phương
- Thường sử dụng các hình thức lược âm, biến âm
Ví dụ: Ba mươi lăm -> Ba lăm, phải không -> phỏng, ký lô gam-> ký, cân, …
- Hay sử dụng các yếu tố ngữ điệu như kéo dài, nhấn giọng, ngắt giọng, … để tạo
Trang 30ngữ của PCNNSH là ưa dùng những từ ngữ mang tính cụ thể, giàu hình ảnh và màu sắc cảm xúc
Ví dụ: Chỉ cái đẹp, PCNNSH có những kiểu diễn đạt như: đẹp hết sảy, đẹp hết
chỗ chê, đẹp như tiên, đẹp mê li rụng rốn, …
- Thường dùng từ láy, thành ngữ, tục ngữ như một công cụ diễn đạt sắc bén, tế nhị, giàu hình ảnh
Ví dụ: U rõ khéo tính toán, so kè chẻ măng
(Đào Vũ) Cái gì mà lăng nha lăng nhăn lặng nhặn thế này
c Cú pháp
- Thường dùng loại câu rút gọn, câu đặc biệt, câu không đầy đủ cấu trúc
Ví dụ: - Anh đến thăm bác Quế bao giờ?
- Hôm qua
- Câu trong PCNNSH thường lược bớt các quan hệ từ, thêm nhiều từ chêm xen, đưa đẩy, nhiều trợ từ, thán từ
Ví dụ: Em thì chả biết chủ nghĩa chủ nghiếc gì cả! Em chỉ muốn làm phó thường
dân (…) Tối nằm nghe cải lương Lan Điệp là hết ý
- Câu văn bị giãn ra, nhiều từ ngữ bị dư, lượng thông tin ý niệm thấp
Ví dụ: Thì giá anh không há đã làm sao? Mà tôi cũng không hiểu anh nghĩ thế
nào anh lại há mồm cho nó xem
Lượng thông tin của câu trên thực chất chỉ là: “Hãy nói rõ vì sao anh há mồm cho
nó xem” Câu chứa nhiều yếu tố dư phù hợp với tính chất tự nhiên, tự phát của PCNNSH
- Độ dài câu thường ngắn (5-25 âm tiết)
- Cấu trúc câu đơn giản, thiên về cấu trúc đề- thuyết
d Tu từ
Trang 31Dùng rất nhiều phép tu từ khác nhau, sinh động và đặc sắc Những phép tu từ mà PCNNSH hay sử dụng là ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, nói quá, nhân hóa, vật hóa, …
Ví dụ: Chú mày nói năng phải cẩn thận, coi chừng có ngày mất chỗ đội nón!
(Hoán dụ)
Chuyện gì nó cũng hót lại với bố mẹ Nam (Vật hóa)
2.2.6 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
2.2.6.1 Khái quát về PCNNNT
a Định nghĩa
PCNNNT là toàn bộ những biến thể sử dụng ngôn ngữ trong các chuỗi câu hay văn bản có chức năng thông báo thẩm mĩ, tức là vừa thông tin một nội dung nào đó vừa thỏa mãn nhu cầu thưởng thức cái đẹp của con người bằng chính ngôn ngữ của mình
b Dạng thức ngôn ngữ
Ngôn ngữ trong PCNNNT tồn tại ở cả hai dạng:
- Dạng nói: ca dao, dân ca, …
- Dạng viết: các tác phẩm văn chương thuộc các thể loại như: truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, …
2.2.6.2 Đặc trưng của PCNNNT
a Tính hình tượng
Theo “Từ điển văn học”, thì:
Hình tượng là sự phản ánh hiện thực một cách khái quát bằng nghệ thuật dưới những hiện tượng cụ thể, sinh động, điển hình, được nhận thức trực tiếp bằng cảm tính (chung cho các loại hình nghệ thuật)
Hình tượng văn học là bức tranh sinh động nhất của cuộc sống được xây dựng bằng ngôn ngữ nhờ có trí tưởng tượng và óc sáng tạo và cách đánh giá của nhà nghệ sĩ Cũng như các ngành nghệ thuật khác, văn chương thực hiện các chức năng của mình thông qua các hình tượng được xây dựng trong các tác phẩm Do đó, ngôn ngữ văn chương phải làm thế nào để dựng nên được các hình tượng trong tác phẩm
Ngôn ngữ có tính hình tượng là ngôn ngữ có khả năng tái hiện hiện thực, làm
Trang 32xuất hiện ở người đọc những biểu hiện thị giác, xúc giác, khứu giác, những biểu tượng vận động của con người, vật, cảnh đời…
Ngôn ngữ văn chương dựng lên trước mắt người đọc một bức tranh cụ thể, sống động về hiện thực, làm cho họ có cảm giác như có thể dùng các giác quan để tiếp nhận trực tiếp về nó
“Ngôn ngữ văn chương khác với lới nói thông thường ở chỗ nó gợi ra một tập hợp không sao kể xiết những ý tưởng, những tình cảm, những sự giải thích” (Lep Tônxtôi)
b Tính truyền cảm
Tác phẩm văn chương là sản phẩm của cảm xúc của người nghệ sĩ trước cảnh đời, cảnh người, trước thiên nhiên Bởi vậy, ngôn ngữ văn chương phải biểu hiện cho được cảm xúc của tác giả và truyền được cảm xúc của tác giả đến người đọc, dấy lên ở người đọc những cảm xúc như cảm xúc của tác giả
c Tính cá thể hóa (phong cách ngôn ngữ cá nhân)
Tính cá thể hóa là làm nổi bật lên cái vẻ riêng, cái đặc sắc riêng về ngôn ngữ tác giả Đó là lối phô diễn riêng (cái giọng riêng – tone) của nhà văn, nhà thơ “Mỗi nhà văn phải có lối nói riêng của mình Nếu tác giả nào không có lối nói riêng thì người đó
sẽ không bao giờ là nhà văn cả” (Sê-khốp)
Tính cá thể của ngôn ngữ văn chương thể hiện ở hai mặt:
+ Phong cách ngôn ngữ cá nhân tác giả trong tác phẩm
Ví dụ:
Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo,
Kìa đến thái thú đứng cheo leo
Ví đây đổi phận làm trai được,
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?
(Hồ Xuân Hương, Đề đền Sầm Nghi Đống)
Giọng thơ đầy cá tính, tự tin, bản lĩnh Giọng thơ đi trước thời đại hơn một thế kỷ + Kỹ thuật của tác giả làm rõ sự khác biệt giữa nhân vật này với nhân vật khác,
Trang 33giữa sự vật này với sự vật khác, giữa cảnh đời này với cảnh khác
d Tính tổng hợp
Ngôn ngữ văn chương có khả năng sử dụng yếu tố ngôn ngữ của tất cả các phong cách ngôn ngữ khác và “tái tạo lại” (Vinogradov) thành yếu tố riêng của mình Trong ngôn ngữ văn chương, ta thấy đầy đủ bóng dáng các phong cách khác
Ngôn ngữ văn chương tiêu biểu cho ngôn ngữ thời đại, đồng thời chứa đựng những yếu tố dự báo của ngôn ngữ dân tộc trong tương lai
Trong các phong cách ngôn ngữ, ngôn ngữ văn chương có quan hệ đặc biệt với khẩu ngữ Khẩu ngữ là cội nguồn tiếp sức cho ngôn ngữ văn chương
Tài năng của nhà văn về mặt ngôn ngữ trước hết và lớn nhất là về phương diện
sử dụng khẩu ngữ sống động, cảm xúc, giàu hình ảnh của thời mình đang sống
2.2.6.3 Đặc điểm ngôn ngữ PCNNNT
a Ngữ âm
Ngôn ngữ văn chương sử dụng tất cả các phương tiện ngữ âm của ngôn ngữ dân tộc phục vụ cho nhu cầu biểu đạt của tác phẩm văn chương: tiếng địa phương, tiếng nước ngoài, những cách nói biến âm, trại âm, những cách phát âm mang màu sắc riêng của cá nhân, Về phương diện này, ngôn ngữ văn chương rất giống với khẩu ngữ, nhưng trong văn chương, những yếu tố vừa nói được nghệ thuật hoá, cách điệu hoá Yếu tố ngữ âm được đặc biệt coi trọng trong thơ và các loại văn vần Ngữ âm là một phương diện thi pháp hàng đầu của thơ (vần, nhịp điệu, nhạc điệu, tiết tấu, niêm, luật, ) Yếu tố ngữ âm cũng được chú ý trong văn xuôi nghệ thuật (nhịp điệu, tiết tấu, sự luân phiên, hài hoà về bằng trắc, độ dài ngắn của câu văn, )
b Từ ngữ
- Phong cách ngôn ngữ văn chương có một lớp từ ngữ riêng gọi là từ ngữ văn chương
(hoặc từ ngữ thi ca) Ví dụ: phu quân, tân lang, tân nương, mẫu tử, hôn lễ, nơi chôn
nhau cắt rốn, Số lượng lớp từ ngữ này tương đối ít
- Từ ngữ văn chương có tính cụ thể, hình ảnh, cảm xúc
- Từ ngữ được chọn lọc, trau chuốt hết sức công phu
Trang 34c Ngữ pháp
- Sử dụng nhiều loại câu khác nhau, linh hoạt, uyển chuyển, sinh động
- Câu văn thường đa nghĩa, sử dụng nhiệu phép tu từ cú pháp
- Câu văn thường mang đặc điểm cá nhân của từng tác giả
d Tu từ
Sử dụng đa dạng và giàu nghệ thuật các biện pháp tu từ khác nhau
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP THỰC HÀNH
1 Trình bày những đặc trưng của sáu loại Phong cách chức năng trong tiếng Việt
2 Vì sao khi nghiên cứu Phong cách chức năng cần chú trọng đến đặc điểm ngôn ngữ?
3 Phân tích đặc điểm tu từ trong Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt qua các đoạn dưới đây:
a Vân ơi, Vân cà chua ơi, Vân nhà văn tương lai, Vân Rút-xki-ia-dức ơi Cái bóng ma chia tay nó lù lù kia rồi, mình sợ cái bóng ma ấy quá! Vân ơi chúng mình lập một hội với nhau, năm nữa gặp nhau xem lúc ấy, mỗi đứa đã thế nào? Đứa nào trước được gọi là…bác
( Ma Văn Kháng)
b – Chao ôi! Không ưa thì ưa có dòi! Ghen vợ ghen chồng không nồng bằng ghen ăn Mình lười con trâu để gầy thành con dế con bò để tóp lại bằng cái que, thì công làm sao, điểm làm sao!
( Ghi chép của Chế Lan Viên)
4 Phân tích các biến thể ngữ âm trong các đoạn thoại sau:
a - Tao mét má nghen! Má ơi thằng Bình nó cởi truồng nè má!
- Chị Hai cho em đi với!
- Tao đi đái chứ đi đâu mà theo!
Trang 35chiện cái đã nào
- U đã về ạ!
- Kìa nhà tôi nó chào u! Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ Chúng tôi phải duyên phải kiếp với nhau… Chẳng qua nó cũng là cái số cả…
( Kim Lân)
c - Mày muốn ăn lợn của tao à? …
- Ừ quan về muốn mua lợn của mày Mày phải khiêng lợn cho quan đi với chúng tao
- … Con chó đẻ ra thằng Tây Tôi khiêng lợn xuống nó trói bắt tôi nằm hai ngày một chỗ với con lợn
( Tô Hoài)
5 Phân tích đặc điểm ngôn ngữ của PCNNNT thể hiện trong những đoạn thơ sau:
a Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi mu ốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi
b Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời
c Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
d Anh ngỏ lời yêu em
Vào một đêm trăng khuyết
Bởi tình yêu tha thiết
Biết tròn trước đêm rằm
Trang 36Chương 3
CÁC PHƯƠNG TIỆN VÀ BIỆN PHÁP TU TỪ TIẾNG VIỆT
3 1 Phương tiện tu từ và biện pháp tu từ ngữ âm
3.1.1 Phương tiện tu từ ngữ âm
- Âm vị là đơn vị cơ bản của cấp độ âm vị học Chức năng chính của nó là khu biệt các đơn vị ý nghĩa của ngôn ngữ Khác với những đơn vị thuộc các cấp độ khác của ngôn ngữ, các âm vị chỉ có bình diện biểu đạt, tức không phải là những kí hiệu hai mặt
Vì vậy, tất cả các âm vị đều có chức năng như nhau, đều có vai trò như nhau trong tổ chức mặt âm thanh của phát ngôn Chính vì lẽ đó mà không có một âm vị nào có thể được đánh dấu về tu từ học so với các âm vị khác Từ đó, dẫn đến hệ quả là trên cấp độ
âm vị học không tồn tại những phương tiện tu từ
- Mặc dù những hình thức ngữ âm tự thân nó không có nghĩa, nhưng khi ta nắm được, khai thác được những đặc tính âm học của chúng, đặt chúng vào trong những tương quan cụ thể nào đó với nội dung thì ta có thể tạo nên được những biểu tượng ngữ
âm góp phần làm tăng thêm sức mạnh cho sự diễn đạt Như vậy, ta có thể khai thác những đặc tính âm học của ngữ âm theo hướng này như sau:
3.1.1.1 Đặc tính âm học của nguyên âm
- Nguyên âm là âm khi phát ra, luồng hơi đi tự do, có nhiều tiếng thanh Nó là âm gốc không thể thiếu của bất cứ âm tiết nào trong tiếng Việt Khi nói đến vần điệu thì thực chất là nói về sự lặp lại các nguyên âm trong một dãy âm tiết
- Các nguyên âm của tiếng Việt có giá trị hai mặt đối lập: đối lập về âm sắc và đối lập về độ mở
+ Về mặt âm sắc, có những nguyên âm bổng (i, ê, e, ia), những nguyên âm trầm (u,
ô, o, ua) và những nguyên âm trung hòa (ư, ơ, â, a, ă, ưa)
Ngôn ngữ thơ ca thường khai thác sự đối lập về mặt âm sắc để tạo nên những biểu tượng ngữ âm Có khi các nguyên âm trầm, trung hòa được sử dụng kế tiếp nhau để tạo nên biểu tượng về một sự trầm lắng, bâng khuâng:
Bâng khuâng chuyện cũ, một chiều thu
Trang 37Mười chín năm xưa mấy bạn tù
Vượt ngục, băng rừng, tìm mối Đảng
Duyên may, dây nối, đất Hanh Cù
Có sự đối lập trầm bổng ở cuối mỗi dòng thơ được dùng để tạo nên biểu tượng về một sự nhịp nhàng, phù hợp với nhịp bước hành quân:
Hôm qua còn theo anh
Đi ra đường quốc lộ
Ngôn ngữ thơ ca thường khai thác sự đối lập sáng- tối này để tạo nên những biểu tượng ngữ âm Các nguyên âm có độ mở lớn tạo nên biểu tượng về một sự tươi sáng:
Những dầu say bát ngát
Đi giữa nắng mùa ngân nga
Lòng vui rung rung câu hát
Của chúng ta làm ca ngợi chúng ta
Các nguyên âm có độ mở hẹp tạo nên biểu tượng về một sự u ám:
Em không nghe mùa thu
Trang 383.1.1.2 Đặc tính âm học của phụ âm
- Phụ âm là âm khi phát ra, luồng hơi bị cản lại, có nhiều tiếng động, ít tiếng thanh
- Các phụ âm cuối của âm tiết tiếng Việt có những cặp đồng vị: m/p, n/t, ng/c (nh/ch) Sự đối lập của mỗi cặp này là dựa vào tính chất vang và không vang của chúng
Sự đối lập này cũng được sử dụng trong thơ ca để tạo nên những biểu tượng ngữ âm:
Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan
Đường bạch dương sương trắng nắng tràn
Nhận xét: Các phụ âm vang (n, ng) cùng với nguyên âm sáng (a) đã tạo nên biểu tượng về sự tươi sáng, ngân vang phù hợp với cảnh sắc tươi đẹp của đất nước Ba Lan Tài cao phận thấp chí khí uất
Giang hồ mê chơi quên quê hương
Nhận xét: các phụ âm cuối không vang (tắc, vô thanh: p, t) tạo nên biểu tượng về
sự nghẹn ngào; còn các phụ âm cuối mũi, vang (ng, n) cùng các âm tiết mở (hồ, mê, quê), nửa mở (chơi) lại tạo nên biểu tượng về một cái gì lâng lâng khó tả, phù hợp với một tâm hồn thoát tục
3.1.1.3 Đặc tính âm học của thanh điệu
- Thanh điệu là đơn vị không có tính âm đoạn, nhưng có đường nét, có độ cao, bao trùm cả phần vần, nghĩa là luôn luôn gắn với âm tiết, tồn tại trong âm tiết
- Giá trị biểu trưng của thanh điệu tiếng Việt dựa trên hai mặt đối lập: độ cao và đường nét
+ Về độ cao, có những thanh bổng và thanh trầm
+ Về đường nét, có những thanh bằng phẳng (ngang, huyền) và những thanh gấp khúc (sắc, nặng, hỏi, ngã)
Trong thơ, nhiều khi không gieo vần nhưng có sự đối lập về thanh điệu thì vẫn tạo nên âm hưởng: