Biện pháp 1: Tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vai trò, ý nghĩa của hoạt động tự học dối với sinh viên năm cuối tại trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Thành Phố Hồ Chí Minh .... Giả thuyế
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM
VIỆN SƯ PHẠM KỸ THUẬT
- -
Tên đề tài
TÌM HIỂU HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN NĂM CUỐI TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
TP HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
TIỂU LUẬN MÔN
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP
Tên nhóm sinh viên thực hiện:
Đỗ Thị Xuân Đào 17116162
Tp Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM
KHOA CÔNG NGHỆ HÓA HỌC VÀ THỰC PHẨM
- -
Tên đề tài
TÌM HIỂU HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN NĂM CUỐI TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
TP HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
TIỂU LUẬN MÔN
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP
Người hướng dẫn:
TS NGUYỄN NGỌC PHƯƠNG
Tp Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Nhóm tác giả xin cam đoan đây là tiểu luận của riêng nhóm chúng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong tiểu luận là trung thực được công khai khảo sát, chưa từng được công bố trong công trình, tiểu luận nào trước đó
Các thông tin tham khảo trong tiểu luận đều được trích dẫn đầy đủ chính xác từ các sách báo, tạp chí, luận án
TP Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 07 năm 2020
Ký tên
Đại diện nhóm tác giả
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Nhóm nghiên cứu chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS Nguyễn Ngọc Phương, người thầy đã không ngại mùa dịch bệnh COVID-19 mà tận tình hướng dẫn nhóm chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện, hoàn thiện tiểu luận Nhóm cũng gửi lời cảm ơn đến các phòng ban, các giảng viên Viện Sư Phạm và khoa Hóa Học
và Thực Phẩm, các anh chị sinh viên năm cuối tại Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Thành Phố Hồ Chí Minh đã giành thời gian thực hiện khảo sát cung cấp số liệu cho nhóm nghiên cứu chúng tôi
Do kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế, nên mặc dù trong quá trình thực hiện
và hoàn thành tiểu luận có sai sót là điều khó tránh khỏi Nhóm chúng tôi rất mong nhận được những lời nhận xét, góp ý quý báu từ thầy cô, các bạn sinh viên và những người quan tâm đến vấn đề được đề cập tới trong bài tiểu luận này
Một lần nữa, nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn!
TP Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 07 năm 2020
Ký tên
Đại diện nhóm tác giả
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC HÌNH ẢNH vii
DANH MỤC BẢNG viii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
3.1 Khách thể nghiên cứu 2
3.2 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết nghiên cứu 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
6 Phạm vi nghiên cứu 2
7 Phương pháp nghiên cứu 3
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 3
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 3
7.3 Phương pháp sử dụng một số thuật toán để xử lí thông tin 3
8 Cấu trúc của tiểu luận 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC 4
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở ngoài nước 4
1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam 5
1.2 Các khái niệm cơ bản của tiểu luận 7
Trang 61.2.1 Hoạt động tự học 7
1.2.2 Sinh viên năm cuối đại học 9
1.3 Lý luận về hoạt động tự học trong sinh viên trường đại học 9
1.3.1 Ý nghĩa của hoạt động tự học đối với sinh viên năm cuối đại học 9
1.3.2 Động cơ, kỹ năng và thói quen tự học của sinh viên năm cuối đại học 10
1.3.3 Các điều kiện thực hiện hoạt động tự học của sinh viên năm cuối đại học 12
1.3.4 Nội dung, phương pháp và hình thức tự học của sinh viên năm cuối đại học 15
1.3.5 Đánh giá kết quả hoạt động tự học của sinh viên năm cuối đại học 17
1.3.6 Những đặc điểm về hoạt động tự học của sinh viên năm cuối đại học 18
1.4 Hoạt động tự học của sinh viên năm cuối đại học 20
1.4.1 Sự cần thiết phải tự học của sinh viên năm cuối đại học 20
1.4.2 Lập kế hoạch phát triển hoạt động tự học đối với sinh viên năm cuối đại học 20
1.4.3 Lãnh đạo việc phát triển hoạt động tự học của sinh viên trường đại học 21
1.4.4 Kiểm tra/ đánh giá việc phát triển kĩ năng làm việc nhóm của sinh viên trường đại học 21
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự học của sinh viên trường đại học 22
1.5.1 Các yếu tố khách quan 22
1.5.2 Các yếu tố chủ quan 22
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN NĂM CUỐI TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT 24
2.1 Khái quát khảo sát thực trạng 24
2.1.1 Mục đích khảo sát 24
2.1.2 Nội dung khảo sát 24
Trang 72.1.3 Đối tượng khảo sát 24
2.1.4 Phương pháp khảo sát 24
2.2 Kết quả khảo sát thực trạng 25
2.2.1 Khái quát về trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh 25
2.2.2 Thực trạng về hoạt động học tập của sinh viên tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh 28
2.3 Thực trạng về hoạt động tự học của sinh viên năm cuối tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh 31
2.3.1 Thực trạng nhận thức về sự cần thiết phải tự học của sinh viên năm cuối tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh 31
2.3.2 Thực trạng xây dựng kế hoạch phát triển hoạt động tự học đối với sinh viên năm cuối tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh 32
2.3.3 Thực trạng lãnh đạo việc phát triển hoạt động tự học trong sinh viên năm cuối tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh 34
2.3.4 Thực trạng kiểm tra, đánh giá việc phát triển hoạt động tự học của sinh viên năm cuối tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh 35
2.4 Đánh giá chung về thực trạng 36
2.4.1 Mặt mạnh 36
2.4.2 Mặt hạn chế 36
2.4.3 Nguyên nhân 36
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 37
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN NĂM CUỐI TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 38
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 38
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 38
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 38
Trang 83.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 38
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 39
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 39
3.2 Các biện pháp phát huy hoạt động tự học của sinh viên năm cuối tại trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Thành Phố Hồ Chí Minh hiện nay 39
3.2.1 Biện pháp 1: Tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vai trò, ý nghĩa của hoạt động tự học dối với sinh viên năm cuối tại trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Thành Phố Hồ Chí Minh 39
3.2.2 Biện pháp 2: Tổ chức quán triệt tầm quan trọng của quản lý hoạt động tự học đối với sinh viên năm cuối trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Thành Phố Hồ Chí Minh cho mọi cá nhân, phòng ban có trách nhiệm đào tạo 41
3.2.3 Biện pháp 3: Nâng cao vai trò chỉ đạo của nhà trường về hoạt động tự học của sinh viên năm cuối tại trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Thành Phố Hồ Chí Minh 43
3.2.4 Biện pháp 4: Kế hoạch hóa hoạt động tự hoc̣ của sinh viên năm cuối tại trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Thành Phố Hồ Chí Minh 45
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 47
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48
1 Kết luận 48
1.1 Về lí luận 48
1.2 Về thực tiễn 48
2 Kiến nghị 49
2.1 Đối với ban lãnh đạo trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh 49
2.2 Đối với giảng viên Đại học Sư phạm kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh 49
2.3 Đối với sinh viên Đại học Sư phạm kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC 52
Trang 9DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Quan hệ giữa thời gian tự học và các nhân tố khác 15 Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức của Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh 26
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Kết quả khảo sát thực trạng nhận thức về sự cần thiết phải tự học của sinh viên năm cuối tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh 31 Bảng 2.2: Kết quả khảo sát thực trạng xây dựng kế hoạch phát triển hoạt động tự học đối với sinh viên năm cuối tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh 32 Bảng 2.3: Kết quả khảo sát thực trạng lãnh đạo việc phát triển hoạt động tự học trong sinh viên năm cuối tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh 34 Bảng 2.4: Kết quả khảo sát thực trạng kiểm tra, đánh giá việc phát triển hoạt động tự học của sinh viên năm cuối tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh 35 Bảng 2.5: Kết quả khảo sát về kết quả tự học của sinh viên tại trường Đại học Sư phạm
Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh 35
Trang 11Tự học và học tập suốt đời là luận điểm quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh
về giáo dục Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, tự học có vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những nhân tố quyết định tạo nên trí tuệ Tự học sẽ giúp mỗi cá nhân thấy được cái hay, cái đẹp của tri thức từ đó trở nên say mê khám phá, học hỏi nhiều điều mới lạ hơn nữa Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, lượng thông tin ngày càng gia tăng Theo tính toán của các chuyên gia trong lĩnh vực xã hội học, thì lượng thông tin tăng gấp đôi cứ sau khoảng 5-6 năm Bên cạnh đó, chương trình đào tạo tín chỉ được thiết kế theo hướng ngày càng tinh gọn Số tiết truyền đạt trực tiếp trên lớp giảm còn hai phần ba so với trước đây, trong khi yêu cầu đối với người học ngày càng cao Do vậy, hơn lúc nào hết, tầm quan trọng của tự học tăng nhanh Trong điều kiện như vậy thì những gì sinh viên tiếp thu được từ nhà trường sẽ kém phong phú hơn rất nhiều những điều họ tiếp thu được ở gia đình và xã hội Dạy học trong nhà trường không phải là cung cấp một khối lượng tri thức hàn lâm kinh điển mà dạy cho người học phương pháp tiếp cận thông tin, phương pháp tư duy để họ có thể tiếp tục học sau khi rời ghế nhà trường Dạy học Đại học thực chất là dạy cách học, cách tự học để học tập suốt đời Trong điều kiện học tập đổi mới như vậy, sinh viên cần phải trang bị cho mình những kĩ năng cần thiết, hết sức nỗ lực, giành nhiều thời gian cho tự học và xác định được phương pháp học tập đúng đắn, hiệu quả Việc tìm ra một phương pháp học tập hiệu quả, phù hợp và phát huy khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân là vần đề hết sức quan trọng và cấp thiết
Hiện nay, vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu về hoạt động tự học của sinh viên năm cuối tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh
Trang 12Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Tìm hiểu hoạt động tự học của sinh viên năm cuối tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh hiện nay” làm nội dung nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua việc tìm hiểu về cơ sở lý luận về hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học, cùng với thực trạng hoạt động tự học của sinh viên năm cuối tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh hiện nay, từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm giúp nâng cao chất lượng hoạt động tự học của sinh viên năm cuối tại trường Đại học
Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động học tập của sinh viên tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động tự học của sinh viên năm cuối tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật
TP Hồ Chí Minh
4 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu đề xuất được các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tự học của sinh viên năm cuối đúng hướng, phù hợp thì sẽ nâng cao được chất lượng giáo dục – đào tạo của nhà trường, cũng như chất lượng học tập của sinh viên năm cuối tại trường Đại học
Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Cơ sở lý luận về hoạt động tự của học sinh viên năm cuối tại trường Đại học
- Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên năm cuối tại trường Đại học Sư phạm
Trang 137 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Sưu tầm, thu thập tài liệu xây dựng cơ sở lí luận và các kết quả nghiên cứu thực tiễn (sách, tạp chí, bài báo khoa học, các công trình nghiên cứu…) có liên quan đến đề tài Các tư liệu này được nghiên cứu, phân tích, hệ thống hóa, sử dụng trong đề tài và sắp xếp thành thư mục tham khảo cho đề tài nghiên cứu
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra bằng bảng hỏi với đối tượng là: sinh viên năm cuối tại trường Đại học
Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh hiện nay
- Sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân khi có kết quả khảo sát, nhằm thu thập những thông tin làm sáng tỏ kết quả điều tra bằng bảng hỏi và kết quả quan sát Nghiên cứu các hồ sơ về hoạt động tự học của sinh viên năm cuối trên địa bàn khảo sát
Phương pháp được thực hiện dựa trên thảo luận lấy ý kiến của các chuyên gia về các kết quả thực hiện nghiên cứu lý luận và thực tiễn
7.3 Phương pháp sử dụng một số thuật toán để xử lí thông tin
Các dữ liệu định tính thu được từ phiếu điều tra, phỏng vấn được lọc ra theo từng tiêu chí dưới dạng trích dẫn dùng kết hợp với số liệu định lượng và định tính
8 Cấu trúc của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo Nội dung chính của tiểu luận được triển khai trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động tự của sinh viên năm cuối tại trường Đại học
Chương 2: Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên năm cuối tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh
Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tự học của sinh viên năm cuối tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh hiện nay
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRONG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở ngoài nước
Trong lịch sử giáo dục, tự học là một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm Song, trong từng giai đoạn lịch sử nhất định, tự học được đề cập dưới các góc độ và hình thức khác nhau Các tác giả đã làm rõ vai trò của hoạt động tự học, tự nghiên cứu tìm tòi, khám phá của bản thân người học, đó là cơ sở cho mọi sự thành công trong học tập
Cách đây hàng ngàn năm trước công nguyên các nhà triết học, các nhà giáo dục
vĩ đại ở phương Tây đã khẳng định vai trò của giáo dục, tự học, tự rèn luyện tri thức như Heraclitus (530-475 TCN); Socrate (470-399 TCN); Theo Platon (427-384 TCN)… Theo các nhà tư tưởng này thì giáo dục sẽ là ngọn đuốc soi sáng để con người có thể tự nhận ra con đường của mình tự bước đi trên con đường đó Giáo dục cũng giúp con người tự nhận ra mình ở giữa đám đông mà không tách biệt mình ra khỏi đám đông hay
xã hội Hơn nữa họ cũng khẳng định rằng mọi người đều phải học và học đến nơi đến chốn Đặc biệt là người thầy, để dạy người, thì phải được giáo dục đến nơi đến chốn Để làm được như vậy, ở thời cổ đại con đường chủ yếu vẫn là tự học, tự học thường xuyên,
tự học lâu dài
Cùng thời gian đó, các nhà triết học, tư tưởng lớn phương Đông như Mặc Tử (475-390 TCN) và ông đã phân biệt ba loại tri thức: Thân tri, văn tri, trí tri, thì ngoài văn tri - nghe mà biết, còn thân tri - tự nhận biết và trí tri - tự suy luận mà biết đều do tự chiêm nghiệm, tức là do tự học vậy
Ở thế kỷ XVIII-XIX, các nhà giáo dục lỗi lạc như Jan Jac Rousseau (1712-1778), J.H.Pestalozzi (1746-1827), A.Distervers (1790-1866), K.D.Usinxki (1824-1870) đã đi sâu nghiên cứu về sự phát triển trí tuệ, tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của người học trong dạy học Các tác giả trên đã cho rằng đây chính là cơ sở duy nhất để sự học
có hiệu quả Vì thế, cần giáo dục cho sinh viên khả năng định hướng trong môi trường xung quanh, biết hoạt động một cách linh hoạt, sáng tạo, biết tự mình nâng cao kiến thức
để phát triển bản thân một cách tốt nhất, phải định hướng người học suy nghĩ, tìm tòi trong quá trình dạy học của mình Các nhà giáo dục lỗi lạc khi xây dựng quan điểm dạy
Trang 15học cũng cho rằng cần hướng cho sinh viên tự nắm lấy kiến thức bằng cách tự tìm hiểu,
1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam
1.1.2.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về tự học
Hồ Chí Minh là lãnh tụ kiệt xuất, là nhà giáo dục vĩ đại của dân tộc Việt Nam Người đã để lại cho chúng ta nhiều lời khuyên về tự học Năm 1947, trong tác phẩm
“Sửa đổi lề lối làm việc”, khi nói về công tác huấn luyện cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã chỉ dẫn như sau: “Lấy tự học làm cốt, do thảo luận và chỉ đạo giúp vào”
Thứ nhất, vai trò của tự học đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định “làm cốt”
Tự học chính là yếu tố cốt lõi của hoạt động học tập, là bộ khung, là nội lực quyết định chất lượng hoạt động học tập của người học và các yếu tố khác chính là ngoại lực tác động
Thứ hai, vai trò của hoạt động thảo luận tập thể, hội thảo, seminar… ngày càng được đề cao vì hoạt động này huy động được trí tuệ của tập thể, thúc đẩy sự sáng tạo, tính chủ động của người học Tuy nhiên, muốn hoạt động thảo luận đạt được hiệu quả tích cực thì người tham gia thảo luận phải thực hiện phương châm “dự hội phải thảo” và những người có nội lực tự học lớn thì mới đóng góp tích cực cho hoạt động thảo luận được
Thứ ba, “Chỉ đạo giúp vào” là ngoại lực tác động thêm vào bên cạnh nội lực, là hoạt động tự họcvà nhà quản lý giỏi là người biết kích thích người học biết tự quản, tự học, thúc đẩy học sáng tạo
Tóm lại, với lời dạy chỉ có 13 từ của Người về tự học nhưng hàm chứa một nội dung sâu sắc về tự học là điều kiện cho hoạt động tự họcđược diễn ra thành công trong thực tiễn “Lấy tự học làm cốt”- Người muốn khuyên mỗi người phải có động lực cho
sự tiến bộ của bản thân qua tự học và “Có thảo luận” nghĩa là cùng với nội lực là tự học thì phải có môi trường để trao đổi, chia sẻ những suy nghĩ, ý tưởng của bản thân, đồng thời có thể học hỏi thêm những kinh nghiệm và tiếp thu kiến thức mới Đặc biệt, môi
Trang 16trường thảo luận sẽ tạo nên trạng thái “Học thầy không tày học bạn” giúp sinh vi dễ dàng trao đổi và chia sẻ tự tin hơn “Chỉ đạo thêm vào” nghĩa là phải có nhân tố quản lý
để gắn nội lực với ngoại lực Nội lực tốt nhưng ngoại lực không tốt thì cũng không mang lại kết quả cao trong học tập và ngược lại ngoại lực tốt mà nội lực yếu thì cũng không thành công Nhân tố quản lý thúc đẩy cho sự phát triển của nội lực và ngoại lực trong việc tự học Có thể thấy, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự học đã xác định rõ vai trò của người học Họ vừa là đối tượng của hoạt động tự họcđồng thời họ cũng là chủ thể của hoạt động tự học Họ có thể thực hiện hoạt động tự họctự học nhằm phát huy nội lực, điều khiển hoạt động thảo luận nhằm phát huy tinh thần tập thể, huy động được sự sáng tạo của tập thể và qua đó họ tham mưu cho các chủ thể khác nhằm có những chỉ đạo đúng đắn, sát thực tế cho hoạt động tự học
Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: “Phải biết tự động học tập” tức là không phải dựa vào ai mà phải tự mình biến báo xoay sở, tự mình biết thực hành công tác theo nhiều hình thức mới mẻ phong phú Người cũng khẳng định tự học
là phải mọi lúc, mọi nơi: “Còn sống thì phải học” hay “Không phải chỉ ở tại nhà trường,
có lên lớp, mới học tập, tu dưỡng, rèn luyện và tự cải tạo được”
Người cũng cho rằng, tự học để phát triển bản thân, phát triển nhân cách và tự khẳng định mình: “Phải ra sức học tập, tu dưỡng, tự cải tạo để tiến bộ mãi” tức là mục đích của tự học là phát triển bản thân và có tiến bộ không ngừng thì mới hoàn thiện nhân cách
1.1.2.2 Các quan điểm khác về tự học
Các tác giả có truyền thống và bề dày nghiên cứu về vấn đề tự học của người học phải kể đến Đặng Vũ Hoạt, Lê Khánh Bằng và Hà Thị Đức Họ đã có nhiều công trình nghiên cứu, đặc biệt là những giáo trình về lý luận dạy học đã đề cập khá cụ thể và chi tiết về vấn đề tự học Tuy nhiên, các tác giả này chủ yếu tập trung nghiên cứu vấn đề tự học của sinh viên đại học, chưa đề cập đến đối tượng học sinh trung học phổ thông và các bậc học thấp hơn Song, các kết quả nghiên cứu của họ có giá trị là cơ sở để tham khảo khi nghiên cứu vấn đề tự học của các đối tượng khác
Một số tác giả khác cũng đi sâu nghiên cứu vấn đề tự học của sinh viên là Nguyễn
Kỳ và Nguyễn Cảnh Toàn với các công trình như: “Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học” của Nguyễn Kỳ và “Phương pháp luận, phương pháp tự học” của Nguyễn Cảnh Toàn Nếu như tác giả Nguyễn Kỳ đi sâu phân tích vai trò, ý nghĩa và cách thức
Trang 17dạy tự học cho sinh viên thì tác giả Nguyễn Cảnh Toàn lại đề cập đến những vấn đề có tính học thuật và hàn lâm rất cao của lý luận dạy học, trong đó tự học vừa được xem như một hoạt động tự thân, vừa là mục đích của quá trình dạy học Các kết quả nghiên cứu của hai tác giả này là cơ sở rất quan trọng để các tác giả sau này sử dụng, kế thừa trong các đề tài, công trình nghiên cứu khoa học của mình
Tuy có sự khác biệt trong cách định nghĩa của các tác giả nêu trên, song các tác giả đều chỉ ra vai trò rất quan trọng của tính chủ động, tích cực và sáng tạo của người học Đó là nhân tố quyết định đến kết quả tự học nói riêng và kết quả học tập nói chung
1.2 Các khái niệm cơ bản của tiểu luận
Theo Võ Quang Phúc: “Tự học là một bộ phận của học, nó được tạo thành bởi những thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của người học trong hệ thống tương tác của hoạt động dạy học Tự học phản ánh rõ nhu cầu bức xúc về học tập của người học, phản ánh tính tự giác và nỗ lực của người học, phản ánh năng lực tổ chức và tự điều khiển của người học nhằm đạt được kết quả nhất định trong hoàn cảnh nhất định với nội dung học tập nhất định” Theo tác giả Vũ Văn Tảo: “Học cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển nội tại, trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá
Trang 18trị con người bằng cách thu nhận, xử lý và điều chỉnh thông tin từ môi trường sống của chủ thể”
Theo tác giả Thái Duy Tuyên: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức,
kỹ năng, kỹ xảo… và kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung và của chính bản thân người học”
Tác giả Nguyễn Văn Đạo định nghĩa: “Tự học là công cụ tự giác của mỗi người
do nhận thức được đúng đắn vai trò quyết định của nó đến sự tích lũy kiến thức cho bản thân cho chất lượng công việc mình đảm nhiệm, cho sự tiến bộ xã hội”
Theo tác giả Lưu Xuân Mới: “Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính sinh viên tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp theo hoặc không ttheo chương trình và sách giáo khoa đã quy định”
Tiếp thu và kế thừa những quan niệm trên, chúng tôi đưa ra khái niệm tự học như sau: Tự học là quá trình tự giác, tích cực, độc lập chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng,
kỹ xảo của chính bản thân người học Trong quá trình đó, người học thực sự là chủ thể của quá trình nhận thức, nỗ lực huy động các chức năng tâm lý, tiến hành hoạt động nhận thức nhằm đạt được mục tiêu đã định Tự học là “nội lực” quyết định chất lượng học tập, sáng tạo cho hôm nay và mai sau
1.2.1.2 Hoạt động tự học
Hoạt động tự học được coi là hoạt động tự tổ chức để chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo diễn ra dưới nhiều hình thức, mức độ khác nhau
Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, tự học được diễn ra theo 3 hình thức:
Hình thức 1: Tự học có điều khiển (tự học giáp mặt)
Hình thức 2: Tự học không có sự điều khiển (tự học không giáp mặt)
Hình thức 3: Người học tự tìm kiếm tri thức để thoả mãn nhu cầu hiểu biết của mình bằng cách tự tìm tài liệu, tự rút kinh nghiệm về tư duy, tự phân tích, tự đánh giá… coi đó là tự học ở mức độ cao
Trong tác phẩm “Luận bàn về kinh nghiệm tự học”, tác giả Nguyễn Cảnh Toàn
đã viết: “Hệ phương pháp dạy-học tích cực lấy người học làm trung tâm gọi tắt theo đúng thực chất của nó là hệ phương pháp dạy-tự học đã được xem như là một hệ thống phương pháp có thể đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của mục tiêu giáo dục thời kỳ đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa và có khả năng định hướng cho việc tổ chức quá
Trang 19trình dạy-học kết hợp với quá trình tự học, quá trình kết hợp cá nhân hóa và xã hội hóa việc học”
Theo tác giả Nguyễn Hiến Lê, “Tự học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm Có thầy hay không, ta không cần biết Người tự học hoàn toàn làm chủ mình, muốn học môn nào tùy ý, muốn học lúc nào cũng được, đó mới là điều kiện quan trọng”
Theo tác giả Lưu Xuân Mới: “Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính sinh viên tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp theo hoặc không ttheo chương trình và sách giáo khoa đã quy định”
1.2.2 Sinh viên năm cuối đại học
Điều 59 của luật giáo dục đại học quy định: Sinh viên là người tham gia chương trình đào tạo cao đẳng hoặc đại học Hay nói cách khác “Sinh viên” là khái niệm chỉ những người đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp
Sinh viên năm cuối là những sinh viên chỉ cần hoàn thành năm học mà họ đang học là có thể hoàn thành chương trình đào tạo cao đẳng hoặc đại học
1.3 Lý luận về hoạt động tự học trong sinh viên trường đại học
1.3.1 Ý nghĩa của hoạt động tự học đối với sinh viên năm cuối đại học
Trong thời đại mà khoa học công nghệ phát triển nhanh như vũ bão, cùng với đó
là sự bùng nổ về thông tin, việc học tập, tiếp thu kiến thức của con người ngày càng trở nên dễ dàng Phương thức học tập của sinh viên cũng có sự thay đổi, giáo viên không còn đóng vai trò chính mà dần trở thành người hướng dẫn cho người học Chính vì vậy, khả năng tự học của sinh viên đại học nói chung và sinh viên năm cuối đại học nói riêng ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hội nhập giáo dục hiện đại như hiện nay Cụ thể như sau:
Thứ nhất, tự học giúp cho sinh viên đại học tự lực nắm vững tri thức cơ bản, kỹ năng, kỹ xảo để tự trau dòi kiến thức sau khi đã tốt nghiệp và đi làm
Thứ hai, tự học giúp sinh viên đại học có được những động cơ và thói quen cần thiết để tự học suốt đời, không ngừng làm phong phú, hoàn thiện hơn vốn hiểu biết của mình, tránh bị lạc hậu trước sự “bùng nổ thông tin” của khoa học, kỹ thuật trong thời đại ngày nay
Thứ ba, tự học giúp sinh viên đại học rèn luyện tính độc lập, sáng tạo, phát huy trí thông minh vì tự học là quá trình mình tự đào sâu, suy nghĩ
Trang 20Thứ tư, tự học còn giúp sinh viên đại học hình thành niềm tin khoa học, rèn luyện
ý chí phấn đấu, đức tính kiên trì, óc phê phán, bồi dưỡng hứng thú học tập, say mê nghiên cứu khoa học
Tóm lại, tự học là một hoạt động tất yếu của mọi đối tượng người học nói chung, của sinh viên đại học nói riêng Đặc biệt, đối với sinh viên năm cuối đại học, thời gian học tập ở trường, lớp còn rất ít nên càng cấp thiết phải có được năng lực tự học trước khi ra trường đi làm
1.3.2 Động cơ, kỹ năng và thói quen tự học của sinh viên năm cuối đại học
1.3.2.1 Động cơ hoạt động tự học của sinh viên
Hoạt động tự học của sinh viên được thúc đẩy bởi động cơ học tập nói chung và động cơ tự học nói riêng Các biện pháp quản lý tự học nói chung chỉ đạt được hiệu quả khi và chỉ khi sinh viên có động cơ học tập đúng đắn, tức là bản thân mỗi sinh viên cảm thấy được thỏa mãn nhu cầu học tập Có động cơ học tập sẽ giúp cho sinh viên có hứng thú và niềm tin trong học tập, từ đó sẽ tạo nên tính chủ động, tự giác trong học tập của mỗi sinh viên Xác định được nhiệm vụ học tập là do chính mình mà không phải ai khác, nên bản thân họ sẽ nỗ lực hết mình, say mê trong quá trình học tập và khi đã có kết quả trong học tập sẽ thúc đẩy việc tự học của sinh viên
Động cơ tự học của sinh viên có nhiều cấp độ khác nhau, bắt đầu từ sự thỏa mãn nhu cầu phải hoàn thành nhiệm vụ tự học, tự khẳng định mình, mong muốn thành thạo nghề nghiệp tương lai cho tới cấp độ cao là thỏa mãn nhu cầu hiểu biết, lòng khao khát tri thức được nảy sinh trong quan hệ với đối tượng học Muốn cho hoạt động tự học được thực hiện, động cơ tự học phải được cụ thể hóa thành nhiệm vụ tự học Thông qua việc thực hiện các hành động tự học để sinh viên hoàn thành các nhiệm vụ tự học đó Động cơ tự học chỉ được xem là sâu sắc khi đạt tới sự nỗ lực ý chí, quyết tâm không ngừng vươn lên thực hiện bằng được những mục tiêu tự học đã xác định Ý chí tự học được biểu hiện rõ nhất ở tính độc lập, kiên trì khắc phục mọi khó khăn trong học tập Theo quan điểm tâm lý học thì có hai loại động cơ tác động đến hoạt động nói chung và hoạt động tự học nói riêng là động cơ bên ngoài và động cơ bên trong Các chủ thể quản lý hoạt động tự học phải thúc đẩy hình thành cả hai loại động cơ này nhằm bồi dưỡng tinh thần tự học của sinh viên, vì sự tự giác học tập phải bắt nguồn từ năng lực nội sinh của người học và tác động từ các động cơ bên ngoài nhằm tạo ra các điều
Trang 21kiện để sinh viên phát huy được tính chủ động, tích cực và sáng tạo trong hoạt động học tập cũng như tự học của mình
Động cơ bên ngoài là những động lực, yếu tố tác động từ phía bên ngoài để thúc đẩy người học cố gắng vươn lên trong học tập, chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng,
kỹ xảo và động cơ bên trong là những động lực, yếu tố tác động từ phía bên trong người học Đó là những yếu tố tâm lý và nhân cách của người học thúc đẩy người học thực hiện nhiệm vụ tự học với hiệu quả cao nhất, ý chí và nỗ lực mạnh mẽ nhất
1.3.2.2 Kỹ năng tự học của sinh viên
Hiện nay, có nhiều cách phân loại kỹ năng tự học khác nhau Có thể phân thành hai quan niệm khác nhau:
Quan niệm thứ nhất: Nhìn nhận kỹ năng tự học trên phương diện giải quyết vấn
đề Tức là, nhìn nhận nó như một khả năng thực hiện đầy đủ, thuần thục một hành động khi phải giải quyết vấn đề cụ thể
Quan niệm thứ hai: Nhìn nhận kỹ năng tự học dưới góc độ quản lý thì có thể phân thành các loại sau:
+ Kỹ năng lập kế hoạch hoạt động tự học: Nhóm kỹ năng này bao gồm: phân tích, xác định mục tiêu tự học, nội dung tự học, sắp xếp thứ tự những việc cần làm
+ Kỹ năng tổ chức thực hiện kế hoạch: Nhóm kỹ năng này bao gồm: kỹ năng đọc sách, kỹ năng tra cứu tài liệu, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng khái quát…
+ Kỹ năng tự kiểm tra đánh giá: Nhóm kỹ năng này bao gồm: kỹ năng đánh giá, xây dựng thang điểm, đối chiếu, so sánh… Hai quan niệm này không mâu thuẫn với nhau Quan niệm thứ nhất đi sâu vào chi tiết, các yếu tố bên trong, thì quan niệm thứ hai phản ánh các dấu hiệu có tính chất bên ngoài của hoạt động tự học Quan niệm thứ hai giúp nhà quản lý giáo dục thuận lợi trong việc tổ chức HĐTH cho người học
1.3.2.3 Thói quen tự học của sinh viên năm cuối đại học
Theo tâm lý học, thói quen là những hành vi lặp đi lặp lại nhiều lần; diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định và trở thành nhu cầu không thể thiếu của mỗi cá nhân Thói quen rất khó hình thành (qua thời gian dài) và cũng rất khó phá vỡ Thói quen của con người ít khi có sự tham gia của ý thức, mang tính tự động hóa rất cao Đối với việc
tự học của sinh viên năm cuối đại học, mỗi cá nhân cần tự mình nâng cao ý thức và dần hình thành nhu cầu tự học một cách tự giác, biến các hành động và kỹ năng học tập trở thành những thói quen bền vững
Trang 22Trong thực tế, khi còn là học sinh, tại các gia đình, phụ huynh thường yêu cầu con em của mình học tập vào buổi tối và cùng học với các em Phụ huynh vừa hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá vừa khích lệ các em học tập Qua một thời gian dài, việc học tập vào mỗi buổi tối trở thành một nhu cầu, thói quen học tập và nếu không thực hiện sẽ làm cho các em cảm thấy mình đã quên một việc gì đó
Bên cạnh đó, một số phụ huynh cũng chú trọng tới việc hình thành thói quen tự học vào mỗi buổi sáng cho con em mình Nhìn dưới góc độ quản lý, việc hình thành thói quen tự học cho sinh viên đại học là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của lãnh đạo, đội ngũ cán bộ, giáo viên
Thói quen tự học là điều kiện có tính chất quyết định đến kết quả học tập của sinh viên Một số thói quen tự học cụ thể cần hình thành ở sinh viên đại học là: Thói quen tự học vào buổi tối và buổi sáng sớm; Thói quen tự đọc sách báo, tích lũy thêm kiến thức; Thói quen làm bài tập, vận dụng lý thuyết sau những giwof học; Thói quen tự kiểm tra,
tự đánh giá; …
Tóm lại, sinh viên năm cuối đại học cần tự mình thúc đẩy hình thành động cơ tự học, kỹ năng tự học và thói quen tự học, dần dần hình thành văn hóa tự học cho chính bản thân mình
1.3.3 Các điều kiện thực hiện hoạt động tự học của sinh viên năm cuối đại học
1.3.3.1 Các điều kiện chủ quan và khách quan
Để hoạt động tự học của sinh viên đại học được triển khai và triển khai có hiệu quả thì cần có các điều kiện cơ bản sau:
Thứ nhất, Điều kiện có tính chất chủ quan:
Đây là những điều kiện ở bên trong thuộc về bản thân sinh viên năm cuối đại học
Cụ thể gồm: Nhận thức của sinh viên năm cuối đại học về hoạt động tự học; Thái độ học tập và thái độ tự học của sinh viên năm cuối đại học; Những kỹ năng tự học của sinh viên năm cuối đại học; Động cơ, thói quen tự học của sinh viên năm cuối đại học; Khả năng tổ chức, sắp xếp và tự quản lý hoạt động tự học của sinh viên năm cuối đại học; Các đặc điểm về tâm, sinh lý, lứa tuổi và văn hóa, phong tục tập quán của sinh viên năm cuối đại học; Thế giới quan, nhân sinh quan của sinh viên năm cuối đại học Các điều kiện nêu trên sẽ tác động đến trực tiếp đến sinh viên năm cuối đại học trong quá trình tổ chức hoạt động tự học, và chúng có mối quan hệ đan xen vào nhau, rất khó tách bạch Bản thân sinh viên phải ý thức được những tác động của các điều kiện đó để tiếp
Trang 23nhận những tác động có tính chất tích cực và hạn chế các tác động tiêu cực, ảnh hưởng không tốt đến quá trình tổ chức hoạt động tự học
Thứ hai, điều kiện có tính chất khách quan:
Đây là những điều kiện ở môi trường bên ngoài, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến hoạt động tự học của sinh viên năm cuối Cụ thể, bao gồm: Quá trình
tổ chức các hoạt động tự học của nhà trường; Khả năng lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức, điều hành của lãnh đạo nhà trường và lãnh đạo của các bộ phận trong nhà trường; Trình độ, năng lực, đặc điểm nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên và chuyên viên trong nhà trường; Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động tự học; Môi trường xã hội nơi nhà trường đóng trên địa bàn; Các tổ chức đoàn thể, chính trị, xã hội trong và ngoài nhà trường Các điều kiện khách quan nêu trên có ảnh hưởng, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động tự học của sinh viên nói chung và sinh viên năm cuối đại học nói riêng Các chủ thể quản lý (hiệu trưởng và lãnh đạo các bộ phận của nhà trường)
sẽ phải thực hiện tốt vai trò tổ chức và chỉ đạo hoạt động tự học cho sinh viên; phát huy những tác động tích cực và hạn chế các tác động tiêu cực; làm cho hoạt động tự học của sinh viên diễn ra một cách thuận lợi và hiệu quả
Việc phân chia thành các điều kiện chủ quan, khách quan, bên trong và bên ngoài chỉ có tính chất tương đối Bởi vì các điều kiện nêu trên sẽ hình thành mối quan hệ đan xen với nhau và nhiều khi rất khó tách bạch Việc phân chia để phân định
rõ trách nhiệm của các lực lượng tham gia vào hoạt động tự học và để làm nổi bật vai trò của các chủ thể quản lý - vai trò kiến tạo cho hoạt động tự học
1.3.3.2 Thời gian thực hiện hoạt động tự học của sinh viên năm cuối đại học
Thời gian thực hiện hoạt động tự học của sinh viên năm cuối đại học được hiểu
là thời lượng mà sinh viên năm cuối dành cho hoạt động tự học ngoài thời gian học tập chính khóa Đặc thù của thời gian thực hiện thực hiện hoạt động tự học của sinh viên năm cuối đại học là không có sự quản lý, hướng dẫn trực tiếp của giáo viên; chủ yếu được sinh viên thực hiện một cách chủ động và tự giác
Lý luận dạy học khẳng định: Thời gian thực hiện hoạt động tự học là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả tự học nói riêng và kết quả học tập của người học nói chung Thực tế cho thấy: Thời lượng phải được người học sử dụng đủ lớn mới có thể đem lại kết quả tự học khả quan Với thời lượng quá ít thì không thể có được
Trang 24kết quả tự học cao được Thời gian thực hiện hoạt động tự học là khoảng thời gian mà sinh viên sử dụng để giải quyết một số nội dung công việc sau đây:
Thứ nhất, học và ôn tập lại bài giảng trên lớp của giáo viên Nếu sinh viên
đã nắm được và thuộc bài ngay trên lớp thì khoảng thời gian này sẽ giảm xuống, thậm chí là không cần thiết
Thứ hai, làm bài tập liên quan đến lý thuyết đã học Thông thường người học dành khá nhiều thời gian cho việc giải quyết công việc này Kết thúc khoảng thời gian này sẽ giúp người học hoàn thành được những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết và hiểu rõ hơn
về lý thuyết đã được học tập
Thứ ba, nâng cao kiến thức và tìm kiếm kiến thức nâng cao Thông thường, chỉ
có người học có kết quả học tập khá, giỏi và đam mê mới dành nhiều thời gian cho việc này Đa số người học ở mức trung bình ít hoặc không dành thời gian cho hoạt động này
Thứ tư, chuẩn bị cho bài học tiếp theo: Đa số người học đều dành thời gian cho việc đọc trước bài mới, tìm kiếm tài liệu học tập cần thiết cho bài học tiếp theo Hoạt động này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp thu bài mới
Tâm lý học dạy học cho rằng: Thời gian thực hiện hoạt động tự học của sinh viên liên quan trực tiếp đến một trạng thái tâm lý rất điển hình là khả năng tập trung chú ý của con người Nếu một sinh viên có khả năng tập trung chú ý tốt sẽ nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ tự học Do đó, thời gian dành cho tự học sẽ giảm đi Ngược lại, sinh viên bị phân tán chú ý sẽ phải dành nhiều thời gian tự học để hoàn thành nhiệm vụ tự học Bên cạnh đó, thời gian thực hiện hoạt động tự học còn liên quan đến ý thức và thái
độ học tập của sinh viên Thông thường, sinh viên có ý thức và thái độ học tập tốt thì sẽ tận dụng mọi thời gian, mọi nơi, mọi lúc để học và thỏa mãn đam mê tri thức Với sinh viên lười biếng thì việc tự học diễn ra trong một khoảng thời gian có tính chất đối phó
và hình thức Có thể mô tả mối quan hệ của yếu tố thời gian thực hiện hoạt động tự học với hai yếu tố phân tích nêu trên qua mô hình sau:
Trang 25Hình 1.1: Quan hệ giữa thời gian tự học và các nhân tố khác
1.3.4 Nội dung, phương pháp và hình thức tự học của sinh viên năm cuối đại học
1.3.4.1 Nội dung tự học của sinh viên năm cuối đại học
Nội dung tự học, về bản chất là những vấn đề mà người học tự lập kế hoạch học tập, tự tổ chức triển khai hoạt động học tập đối với những vấn đề đó Cụ thể hơn, nội dung tự học bao gồm hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ mà người tự học tự chiếm lĩnh (tự học) có sự hướng dẫn, tư vấn, quản lý gián tiếp từ phía giáo viên
Nội dung tự học được xây dựng qua hai giai đoạn:
Giai đoạn 1: Sinh viên cần lĩnh hội được những kiến thức mới, những bài học trên lớp cũng như trong cuộc sống (Tích lũy lý thuyết, lý luận…)
Giai đoạn 2: Sinh viên cần vận dụng được các kiến thức đã học, đã tích lũy thông qua việc hoàn thành tốt các bài tập về nhà để có cơ sở tiếp thu các kiến thức mới
Hai giai đoạn này sẽ tạo thành một vòng tuần hoàn khép kín, giúp sinh viên không ngừng tiếp thu và vận dụng các kiến thức được học
Nội dung tự học của sinh viên có thể được xây dựng dựa trên sự hướng dẫn của giáo viên hoặc sinh viên tự xây dựng
Thứ nhất, sau khi các giáo viên giảng dạy cho sinh viên những bài học trên lớp, giáo viên sẽ đưa ra các nội dung tự học và yêu cầu sinh viên tự học để hoàn thành các nội dung tự học dưới dạng bài tập về nhà là phổ biến nhất Nội dung tự học thường là các bài tập có tính chất minh họa phần học lý thuyết trên lớp hoặc thực hành các kỹ
Trang 26năng, kỹ xảo mà trên lớp không có đủ thời gian để thực hiện Thông thường, nội dung
tự học do giáo viên đưa ra có tính phổ biến (phù hợp với đa số sinh viên) và sẽ được giáo viên kiểm tra, đánh giá trong buổi học tiếp theo hoặc ở cuối kỳ đối với các bài tiểu luận, báo cáo
Thứ hai, sau khi lĩnh hội được kiến thức và bài học mới ở trên lớp, sinh viên chủ động tự xác định các nội dung tự học của mình Nội dung tự học này thể hiện tính chủ động, tích cực và sáng tạo của sinh viên Đặc biệt, nó thể hiện ý thức, thái độ và trách nhiệm của sinh viên trong quá trình học tập Việc tự xác định nội dung tự học sẽ làm thỏa mãn nhu cầu cần học tập, khám phá, tìm tòi của sinh viên Tuy nhiên, đối với sinh viên có năng lực học tập tốt, thái độ học tập nghiêm túc thì cần được giáo viên khuyến khích, động viên và hỗ trợ kịp thời
1.3.4.2 Phương pháp tự học của sinh viên năm cuối đại học
Phương pháp tự học là những cách thức, con đường mà sinh viên lựa chọn, thực hiện để giải quyết và chiếm lĩnh các nội dung tự học để hoàn thành mục đích và nhiệm vụ tự học Phương pháp tự học thể hiện rất rõ vai trò chủ thể của sinh viên Về thực chất sinh viên chính là người đưa ra quyết định cuối cùng về việc lựa chọn phương pháp tự học, dĩ nhiên có sự định hướng và tư vấn của giáo viên Việc lựa chọn phương pháp tự học được sinh viên đưa ra trên cơ sở tính đến năng lực thực tế của bản thân; sở thích và sở trường của sinh viên; quỹ thời gian của sinh viên; mối quan hệ bạn bè (nếu
tự học cùng bạn); đặc thù của môn học; bài học và các căn cứ khác Tuy nhiên, vai trò của giáo viên vẫn được xác định là rất quan trọng Họ là người cố vấn, định hướng, giám sát, kiểm tra, đánh giá việc lựa chọn phương pháp tự học của sinh viên dựa trên kết quả
tự học và kết quả học tập cuối cùng của bản thân
Phương pháp tự học là yếu tố trực tiếp tác động đến kết quả hoạt động tự học của sinh viên Nó sẽ chỉ ra, quy định cụ thể cách thức, con đường mà chủ thể của nó (sinh viên) sẽ giải quyết và chiếm lĩnh các nội dung tự học đã được xác định Thông thường, với mỗi cấp học khác nhau, việc lựa chọn phương pháp tự học cũng có sự khác biệt Càng lên những bậc học cao hơn, tính chất tự học càng chiếm vị trí, vai trò quan trọng hơn, mục đích và nhiệm vụ tự học khó khăn và phức tạp hơn; nội dung tự học đa dạng, phong phú hơn thì việc lựa chọn phương pháp tự học sẽ rất khác biệt so với các bậc học thấp hơn Tức là tính chủ động, tích cực và sáng tạo cũng thể hiện đậm nét hơn
Trang 271.3.4.3 Hình thức tự học của sinh viên
Hình thức tự học có thể diễn ra ở hai mức:
Thứ nhất, tự học theo sách mà không có sự hướng dẫn của giảng viên: Trường hợp này người học tự học để hiểu, để thẩm thấu các kiến thức trong sách, qua đó sẽ phát triển về tư duy, tự học hoàn toàn với sách là cái đích mà mọi người phải đạt đến để xây dựng một xã hội học tập suốt đời
Thứ hai, tự học có giảng viên hướng dẫn từ xa: Mặc dù thầy ở xa nhưng vẫn có các mối quan hệ trao đổi thông tin giữa thầy và trò bằng các phương tiện trao đổi thông tin thô sơ hay hiện đại dưới dạng phản ánh và giải đáp các thắc mắc, làm bài, kiểm tra, đánh giá,
Thứ ba, tự học có sách, có gặp giảng viên trực tiếp ở một số tiết trong ngày, sau
đó sinh viên về nhà tự học dưới sự hướng dẫn gián tiếp của giảng viên Trong quá trình học tập trên lớp, giảng viên có vai trò là nhân tố hỗ trợ, chất xúc tác thúc đẩy và tạo điều kiện để trò tự chiếm lĩnh tri thức
Trong quá trình tự học ở nhà, tuy người học không trực tiếp trao đổi với giảng viên, nhưng dưới sự hướng dẫn gián tiếp của giảng viên, người học phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động tự sắp xếp kế hoạch huy động mọi trí tuệ
và kỹ năng của bản thân để hoàn thành những yêu cầu do giảng viên viên đề ra
1.3.5 Đánh giá kết quả hoạt động tự học của sinh viên năm cuối đại học
Hoạt động kiểm tra đánh giá trong quá trình học tập nói chung và hoạt động tự học nói riêng có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình giáo dục - đào tạo sinh viên đại học Việc thực hiện kiểm tra, đánh giá hoạt động học tập thường xuyên giúp sinh viên đại học hình thành kỹ năng, kỹ xảo từ đó nhận biết rõ ưu khuyết điểm của bản thân nhất là phương pháp tự học để tìm cách khắc phục
Thứ nhất, về mặt nhận thức, kiểm tra đánh giá hoạt độngt ự học của sinh viên tạo nên mối liên hệ ngược trong quá trình giáo dục - đào tạo sinh viên, giúp sinh viên có cơ
sở thực tế với độ tin cậy cao để đánh giá kết quả học tập của mình cũng như khắc phục các sai lầm, thiếu sót Nó góp phần củng cố vững chắc các kiến thức đã lĩnh hội ở trên lớp của sinh viên
Thứ hai, khi nhà trường và giảng viên để sinh viên tự kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động tự học của mình thì sẽ tạo động lực để sinh viên khẳng định được mình,
Trang 28tự mình đề xuất được biện pháp thỏa đáng để điều khiển và thúc đẩy hoạt động tự học của bản thân vận động đi lên
Thứ ba, kiểm tra đánh giá hoạt dộng tự học của nhà trường và hoạt động tự kiểm tra đánh giá của sinh viên sẽ góp phần hình thành động cơ, kỹ năng và thói quen
tự học như nhận thức về các vấn đề đặt ra, nhạy bén, biết vận dụng kiến thức, kỹ năng vào các hoạt động thực tiễn…
Thứ tư, kiểm tra, đánh giá hoạt động tự học của sinh viên sẽ nhìn nhận kết quả học tập qua quá trình tự học của sinh viên được thực hiện bằng nhiều hình thức: dùng các thang đo mức độ đáp ứng yêu cầu bài học của giảng viên, bản thân tự đánh giá, sự đánh giá nhận xét của tập thể thông qua thảo luận, tự đối chiếu so sánh với mục tiêu đặt
ra ban đầu… Tất cả các hình thức này đều mang ý nghĩa tích cực, cần được quan tâm thực hiện thường xuyên Thông qua nó, sinh viên tự đối thoại để thẩm định mình, hiểu được cái gì làm được, điều gì chưa thỏa mãn nhu cầu học tập nghiên cứu để từ đó có hướng khắc phục hay phát huy, góp phần rèn luyện các thao tác dư duy nhanh, sâu, độc lập, sáng tạo Việc đánh giá kết quả hoạt động tự học có ý nghĩa rất quan trọng đối với bản thân sinh viên Nó đòi hỏi, bản thân sinh viên sẽ phải tự đánh giá chính xác về toàn
bộ hoạt động tự học mà chính họ là chủ thể Sinh viên sẽ phải khách quan nhìn nhận về bản thân, từ đó điều chỉnh hoạt động tự học của bản thân sao cho đạt được hiệu quả cao nhất, hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập Bên cạnh đó, sinh viên có thể đề đạt với giảng viên, chủ thể quản lý về các điều kiện đảm bảo cho hoạt động tự học của bản thân diễn
ra thuận lợi và hiệu quả hơn; được phép thể hiện quan điểm, thái độ, tâm tự nguyện vọng của bản thân về toàn bộ các hoạt động của nhà trường nói chung, hoạt động tự học của mình nói riêng
1.3.6 Những đặc điểm về hoạt động tự học của sinh viên năm cuối đại học
1.3.6.1 Một số đặc điểm về hoạt động tự học của sinh viên năm cuối đại học
Thứ nhất, động cơ và thái độ học tập, tự học: Đa số các sinh viên năm cuối đại học có động cơ học tập rất cụ thể và giản đơn: Học để có thể tốt nghiệp đại học đúng hạn và đủ các điều kiện và kiến thức để có một công việc ổn định, lương cao sau khi ra trường Một số sinh viên năm cuối đại học đã đi làm và có địa vị xã hội mong muốn cải thiện vị trí việc làm và thăng tiến trong công việc, sự nghiệp Đa số các sinh viên năm cuối đại học có thái độ học tập rất nghiêm túc, thể hiện ở sự cần cù, chăm chỉ trong học tập; thực hiện đúng những yêu cầu của giảng viên đặt ra trong quá trình học trên lớp
Trang 29cũng như ngoài giờ lên lớp Tuy nhiên, một bộ phận nhỏ có thái độ chưa tích cực, học tập có tính chất đối phó, hoặc học cho xong nhiệm vụ chứ không xuất phát từ hứng thú học tập hoặc trách nhiệm trong học tập
Thứ hai, kỹ năng và thói quen học tập: Đa số sinh viên đã hình thành được kỹ năng tự học ở mức độ cơ bản: kỹ năng xác định nhiệm vụ học tập: kỹ năng tìm kiếm thông tin và kỹ năng giải quyết tình huống có vấn đề Sinh viên năm cuối đại học đã hình thành được những thói quen tự học chủ yếu, bao gồm: Thói quen tự học vào buổi tối và sáng sớm, thói quen tự ôn tập, tự truy bài; thói quen làm bài tập sau khi học lý thuyết; thói quen tự kiểm tra, đánh giá; thói quen chuẩn bị bài và tài liệu học tập Tuy nhiên, thực tế cho thấy: Tốc độ hình thành các thói quen này khá chậm, mất nhiều thời gian; thói quen chưa hoàn toàn bền vững (mới ở giai đoạn mới được hình thành); thói quen tự học chưa phát huy được thế mạnh trong hoạt động tự học và hoạt động học tập của các sinh viên năm cuối đại học
Thứ ba, tính chủ động, tích cực và sáng tạo trong hoạt động tự học: Tính chủ động, tích cực và sáng tạo là một trong những nhân tố có vai trò quyết định đối với kết quả của hoạt động tự học và hoạt động học tập Việc giáo dục và hình thành những phẩm chất tâm lý này là trách nhiệm của nhà trường, cán bộ giảng viên và bản thân mỗi sinh viên Các sinh viên năm cuối đại học dành nhiều thời gian hơn cho hoạt động tự học và hoạt động học tập; chủ động sắp xếp, bố trí lịch sinh hoạt và các hoạt động khác để thuận lợi cho hoạt động học tập Một số sinh viên còn chủ động đầu tư tài liệu, tìm kiếm thông tin, tri thức để làm phong phú thêm bài giảng của giảng viên Song, một số sinh viên năm cuối đại học vẫn mải chơi, chưa tự giác học tập, tỏ ra khó chịu khi bị quản lý, thúc
ép học tập Nhiều sinh viên vẫn giữ phương pháp tự học theo lối học vẹt, học không hiểu bản chất vấn đề; việc học máy móc, dập khuôn, chưa thể hiện được sự sáng tạo; hoặc không biết vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các bài tập và vấn đề mới phát sinh Nhiều sinh viên chưa tích cực, ỷ lại vào thầy, cô giáo; trông chờ vào bạn bè; thậm chí có biểu hiện thiếu trung thực trong học tập và thi cử Chính vì lý do này, hiệu quả tự học và kết quả học tập học tập chưa đạt như mong muốn của các chủ thể quản lý
Thứ tư, kỹ năng làm việc nhóm và tính phối hợp trong hoạt động tự học: Đây là những kỹ năng rất cần thiết cho hoạt động tự học, là sự thể hiện cao độ của trình độ tự học của người học Mặc dù hứng thú với phương thức “Đôi bạn cùng tiến” nhưng khi vào nhóm có từ 3 người trở lên, các sinh viên rất lúng túng và hiệu quả tự học rất thấp
Trang 30Điều này biểu hiện ở chỗ: Các sinh viên chưa biết tổ chức, dẫn dắt hoạt động tự học theo nhóm, theo tổ; ít sinh viên có khả năng lãnh đạo nhóm học tập; chưa biết cách tạo nên
sự phối hợp để nâng cao hiệu quả tự học; chưa biết phân công và giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ tự học; kỹ năng kiểm tra, đánh giá trong hoạt động còn nhiều hạn chế
Thứ năm, hình thức tự học: sinh viên rất hứng thú và yêu thích những hình thức
tự học và học tập mang tính trực quan sinh động, vui nhộn có tính chất tập thể
Thứ sáu, trong quá trình tự học và học tập, đa số các sinh viên rất mong muốn được thầy, cô giáo động viên, khích lệ, đánh giá và biểu dương kịp thời
1.4 Hoạt động tự học của sinh viên năm cuối đại học
1.4.1 Sự cần thiết phải tự học của sinh viên năm cuối đại học
Có nhiều lý do tại sao chúng ta cần phát triển năng lực tự học của người học Những lý do này liên quan đến các yếu tố chính trị, văn hoá xã hội và giáo dục Trong bài viết này, tác giả tập trung phân tích những lý do liên quan đến yếu tố giáo dục
Theo lý thuyết xây dựng kiến thức (social constructivism), cách giảng dạy theo
mô hình truyền tải kiến thức đã thể hiện nhiều tồn tại, vì tri thức loài người luôn phát triển nhanh chóng Theo lý thuyết này, kiến thức phải được xây dựng dựa trên nền tảng
cá nhân và giao tiếp với xã hội (social interaction) Học tập là một quá trình năng động
và mang tính giao tiếp mà tự bản thân người học phải thực hiện cho chính mình
Ở trường, người học không thể được cung cấp đầy đủ tất cả các kiến thức để có thể sử dụng cả đời Ngược lại, họ cần được trang bị những kỹ năng cần thiết để có thể
tự học tập suốt đời Những kỹ năng này được hình thành và phát triển nếu người học được tạo các cơ hội để tự hiểu mình, ý thức về thế giới xung quanh và hiểu được qui luật phát triển của cuộc sống (Trim, 1998 trích dẫn theo Dam, 2000) Những cơ hội học tập như thế sẽ giúp sinh viên tăng cường năng lực điều chỉnh bản thân mình với cuộc sống luôn thay đổi và học tập một cách tích cực cũng như thể hiện trách nhiệm xã hội đối với việc học của mình Hay nói một cách khác, mục tiêu của giáo dục là đạt được phát triển năng lực tự học của người học (Ho & Crookall, 1995)
1.4.2 Lập kế hoạch phát triển hoạt động tự học đối với sinh viên năm cuối đại học
Sinh viên muốn việc học thật sự có hiệu quả thì mục đích, nhiệm vụ và kế hoạch học tập phải được xây dựng cụ thể, rõ ràng Trong đó kế hoạch học tập phải được xác định với tính hướng đích cao Sinh viên lên lớp đầy đủ, tích cực tham gia xây dựng bài Cần chuẩn bị bài mới kĩ càng Sau giờ lên lớp cần ôn tập kiến thức đã học và vận dụng
Trang 31vào thực tế Sinh viên cần tăng cường hoạt động làm việc theo nhóm, trao đổi với bạn
bè theo chủ đề Hoạt động này giúp người học có thể hình thành và phát triển kĩ năng trình bày cho người học Giúp người học chủ động, tự tin trong giao tiếp ứng xử, phát triển năng lực hợp tác và làm việc nhóm tốt Sinh viên phải tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập Thông qua việc tự kiểm tra, đánh giá, người học tự đối thoại để thẩm định mình, hiểu được cái gì làm được, điều gì chưa thỏa mãn nhu cầu học tập nghiên cứu để từ đó
có hướng khắc phục hay phát huy Hoạt động học tập của sinh viên phải được gắn liền với hoạt động dạy của giáo viên Những hoạt động này muốn thực hiện tốt phải có sự phối hợp thống nhất giữa thầy và trò Trong đó thầy đóng vai trò chủ đạo trong việc hướng dẫn tổ chức còn trò với tư cách là chủ thể tích cực, chủ động, sáng tạo trong lĩnh hội tri thức, rèn luyện kĩ năng và bộc lộ quan điểm, thái độ
1.4.3 Lãnh đạo việc phát triển hoạt động tự học của sinh viên trường đại học
Nhà trường cần đầu tư trang thiết bị nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tự học của sinh viên trong đó cần đầu tư các trang thiết bị, nguồn sách tham khảo cho thư viện Biên soạn và giới thiệu đầy đủ giáo trình và tài liệu tham khảo cho sinh viên, tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên tiếp cận với nguồn tài liệu (đặc biệt là nguồn tài liệu học thuật nước ngoài có bản quyền, khó khăn để truy cập) dễ dàng qua thư viện hoặc các cổng thông tin điện tử Cần áp dụng các hình thức khen thưởng các cá nhân có thành tích học tập tốt; Tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề, các diễn đàn, các hoạt động ngoại khóa, tổ chức hướng dẫn và luyện tập cho sinh viên các kỹ năng tự học: Kỹ năng lập kế hoạch tự học; kỹ năng nghiên cứu tài liệu, phân tích thông tin, kỹ năng khái quát hóa, hệ thống hóa kiến thức; kỹ năng tự kiểm tra đánh giá việc học tập của bản thân
1.4.4 Kiểm tra/ đánh giá việc phát triển kĩ năng làm việc nhóm của sinh viên trường đại học
Nội dung kĩ năng xây dựng chuẩn tự kiểm tra, đánh giá hoạt động tự học: xác định mục đích và các nội dung cụ thể cần phải kiểm tra, đánh giá; xác định các chuẩn tương ứng với từng nội dung dự kiến kiểm tra, đánh giá; cụ thể với ba loại chuẩn: nội dung, quá trình, giá trị (chuẩn nội dung: những tuyên bố mô tả điều SV phải biết hoặc
có thể làm được trên cơ sở đơn vị một nội dung chủ đề/ môn học/ liên môn; chuẩn quá trình: những tuyên bố mô tả các kĩ năng SV phải rèn luyện để cải thiện quá trình học tập; chuẩn giá trị: những tuyên bố mô tả các phẩm chất SV phải đạt trong quá trình học
Trang 32tập); đối chiếu từng nội dung kiểm tra, đánh giá với các chuẩn tương ứng của nó để kiểm tra mức độ phù hợp và hoàn thiện bộ chuẩn
Các hành động tự kiểm tra, đánh giá hoạt động tự học gồm: dựa trên mục tiêu cụ thể của việc đánh giá, SV lựa chọn công cụ đánh giá cho phù hợp, thường có bài trắc nghiệm, câu hỏi tự luận hay các nhiệm vụ thực hiện khác; thực hiện các nhiệm vụ tự kiểm tra, đánh giá theo yêu cầu của công cụ đo; đối chiếu kết quả hoàn thành nhiệm vụ với chuẩn đặt ra để xác định mức độ giá trị (thang bậc) của từng nội dung đánh giá; khái quát hóa kết quả đánh giá cho toàn bộ nhiệm vụ với một giá trị chung; đưa ra nhận xét
và kết luận chung về nhiệm vụ tự học đã hoàn thành, mức độ năng lực tự học được phát triển
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự học của sinh viên trường đại học
1.5.1 Các yếu tố khách quan
- Ảnh hưởng của phương pháp dạy học: Phương pháp dạy học là cách thức giảng viên tạo nên những hoạt động và giao lưu cần thiết giữa giảng viên và sinh viên hoặc/và sinh viên với sinh viên nhằm đạt được mục tiêu truyền đạt kiến thức Có thể thế rằng: phương pháp dạy học của giảng viên có ảnh hưởng cực kỳ quan trọng đến sự hình thành
và phát triển năng lực của người học
- Ảnh hưởng từ bạn bè xung quanh: Một sinh viên sẽ học tập tốt hơn khi có mối quan hệ tốt với bạn bè Trước hết, nếu có quen biết với những người bạn tốt, có năng lực học tập sẽ tạo tính cạnh tranh, thúc đẩy quá trình học tập của cá nhân Đồng thời cũng tạo môi trường học tập tốt cho bản thân Chúng ta cũng học được rất nhiều điều tốt
từ bạn bè
- Ảnh hưởng từ cơ sở vật chất phục vụ hoạt động tự học cho sinh viên: một cơ sở vật chất tốt, đáp ứng được nhu cần tự học của sinh viên là yếu tố không thể thiếu để phát triển hoạt động tự học của sinh viên đặt biệt là trong các quá trình tự học theo nhóm sinh viên
1.5.2 Các yếu tố chủ quan
- Ảnh hưởng của động cơ, ý thức học tập: Ý thức học tập có ý nghĩa quyết định trong quá trình hình thành và phát triển năng lực tự học của sinh viên Vì chất lượng học tập là kết quả trực tiếp của sự nỗ lực bản thân người học Nếu người học không xác định được vai trò của mình trong sự thành bại của việc học, thì học khó thành công
Trang 33- Ảnh hưởng của năng lực, trí tuệ: Là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng nắm bắt trí thức khoa học nhanh hay chậm của mỗi sinh viên Yếu tố này ảnh hưởng rất lớn, đôi khi là quyết định đến khả năng học tập nói chung và năng lực tự học nói riêng Những người có năng lực trí tuệ tốt thường có khả năng tự học rất cao, khi có đủ vốn tri thức tối thiểu khi cần họ có thể độc lập làm việc một mình mà không cần tới sự hướng dẫn của giảng viên
- Ảnh hưởng của phương pháp học tập của sinh viên: Phương pháp tự học là cách thức hoạt động của người học trong quá trình lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng, tìm tòi tri thức mới Trong tự học, yếu tố quan trọng để đảm bảo thành công là phương pháp
tự học Nếu người học rèn luyện được thói quen, phương pháp, kỹ năng tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có trong mỗi người, làm cho kết quả học tập được tăng lên, thích ứng quá trình học tập của sinh viên và phương pháp dạy học của giảng viên
- Ảnh hưởng từ việc đi làm thêm: hiện giờ đãn ảnh hưởng đến thời gian tự học của sinh viên, những sinh viên có đi làm thêm, thời gian tự học hẳn sẽ ít hơn sinh viên không đi làm thêm
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Đã tìm hiểu được lịch sử của vấn đề nghiên cứu, nêu ra được những khái niệm chủ chốt có liên quan đến hoạt động tự học, các lý luận về hoạt động tự học, nội dung chủ chốt và các yếu tố ảnh hưởng đến “hoạt động tự học của sinh viên năm cuối tại trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM”
Từ những nội dung đã đạt được ở Chương 1, nhóm chúng em xin chuyển nội dung sang Chương 2