Bài giảng Dạy học Ngữ Văn theo định hướng đổi mới cung cấp cho người học những kiến thức như: Những vấn đề chung về dạy học tích cực và tích hợp; Dạy học Ngữ văn theo định hướng đổi mới; Đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá trong môn NV theo định hướng đổi mới.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG
KHOA SƯ PHẠM XÃ HỘI
Bài giảng học phần
DẠY HỌC NGỮ VĂN THEO ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI Chương trình đại học ngành Sư phạm Ngữ văn
Giảng viên: HUỲNH THỊ NGỌC KIỀU Khoa: Sư phạm Xã hội
QUẢNG NGÃI, THÁNG 4/2021
Trang 2Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DẠY HỌC TÍCH CỰC
VÀ TÍCH HỢP
1.1 Dạy học tích cực
Phương pháp dạy học (PPDH) tích cực là một thuật ngữ rút gọn được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học PPDH tích cực hướng đến việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy Tuy nhiên, để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy học theo phương pháp thụ động
1.1.1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học
VII (tháng 01/1993) và Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (tháng 12/1996), được thể chế hóa trong luật Giáo dục, được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ GD – ĐT, đặc biệt là chỉ thị
số 15 (tháng 4/1999)
- Dạy và học tích cực thực sự có hiệu quả khi GV thực hiện tốt 5 yếu tố tăng cường sự tham gia của học sinh:
+ Không khí học tập và các mối quan hệ trong nhóm/lớp
+ Sự phù hợp với mức phát triển của học sinh
và sự hứng thú trong học tập
Những định hướng này sẽ làm thay đổi vai trò của người dạy và người học, trong đó, Giáo viên chủ yếu giữ vai trò là người tạo môi trường học tập thân thiện, phong phú, đa dạng,
Trang 3là người tư vấn, chỉ dẫn, động viên, kèm cặp, đưa đến những thông tin phản hồi cần thiết, định hướng quá trình lĩnh hội tri thức và cuối cùng là người thể chế hóa kiến thứuc
1.1.2 Những dấu hiệu và cấp độ biểu hiện tính tích cực học tập
1.1.2.1 Những dấu hiệu của tính tích cực học tập:
câu trả lời của bạn, thích được phát biểu ý kiến của mình về vấn đề nêu ra
1.1.2.2 Cấp độ biểu hiện của tính tích cực học tập
- Bắt chước: Học sinh bắt chước hành động, thao tác của giáo viên, của bạn bè Trong hoạt động bắt chước cũng phải có sự cố gắng của thần kinh và cơ bắp
- Tìm tòi: học sinh tìm cách độc lập, tự lực giải quyết bài tập nêu ra, mò mẫm những cách giải khác nhau để tìm cho được lời giải hợp lý nhất
quả, có sáng kiến lắp đặt những thí nghiệm để chứng minh bài học Dĩ nhiên, mức độ sáng tạo của học sinh là có hạn nhưng đó là mầm mống để phát triển trí sáng tạo về sau này
1.1.3 Mối quan hệ giữa tích cực học tập và hứng thú nhận thức
- Từ lâu, các nhà sư phạm đã quan tâm đến vai trò của hứng thú nhận thức trong quá trình học tập
- Lý luận dạy học xem hứng thú là yếu tố có ý nghĩa to lớn không chỉ trong quá trình dạy học mà cả đối với sự phát triển toàn diện, sự hình thành nhân cách của trẻ
đảm tính tích cực và độc lập, sáng tạo trong học tập
sau:
+ Phát huy tối đa hoạt động tư duy tích cực của học sinh
+ Tiến hành dạy học ở mức độ thích hợp nhất đối với trình độ phát triển của học sinh
Trang 4+ Tạo ra không khí thuận lợi cho lớp học, làm cho học sinh thích thú được đến lớp, mong đợi đến giờ học
1.1.4 Mối quan hệ giữa tư duy tích cực và sáng tạo
- Trí sáng tạo thường được hiểu là khả năng sản sinh những ý tưởng mới, độc đáo, hữu ích, phù hợp với hoàn cảnh Việc đánh giá tính sáng tạo được căn cứ vào số lượng, tính mới
mẻ, tính độc đáo, tính hữu ích của các đề xuất
- Tính sáng tạo thường liên quan tới tư duy tích cực, chủ động, độc lập, tự tin Người
có trí sáng tạo không chịu suy nghĩ theo lề lối chung, không bị ràng buojc bởi những quy tắc hành động cứng nhắc đã học được, ít chịu ảnh hưởng của người khác
- Muốn phát triển trí sáng tạo của học sinh phải áp dụng kiểu dạy học tích cực – phân hóa
1.1.5 Mối quan hệ giữa phát huy tính tích cực học tập với dạy học lấy học sinh làm trung tâm
- Có thể xem dạy học lấy học sinh làm trung tâm là một tư tưởng, một quan điểm, một cách tiếp cận mới về hoạt động dạy học Người ta tập trung vào người học, dạy học căn cứ vào người học, dạy học hướng vào người học
- Chuyển từ dạy học lấy giáo viên làm trung tâm snag dạy học lấy học sinh làm trung tâm là một xu hướng tất yếu, có lý do lịch sử
- Nhìn theo quan điểm lịch sử thì dạy học lấy học sinh làm trung tâm là sự trả lại vị trí vốn có từ thuở ban đầu cho người học
- Đã coi trọng vị trí của người học và vai trò của người học thì đương nhiên phải phát huy tính tích cực học tập của người học tuy nhiên, dạy học lấy học sinh làm trung tâm không phải là một phương pháp dạy học cụ thể đặt ngang tầm với các phương pháp dạy học đã có
Đó là một tư tưởng, một quan điểm giáo dục chi phối tất cả các thành tố của quá trình dạy học
từ mục tiêu, nội dung, phương pháp đến phương tiện, tổ chức, đánh giá
- Tư tưởng lấy học sinh làm trung tâm của quá trình dạy học đề cao vai trò tích cực của chủ thể người học nhưng không coi nhẹ vai trò chỉ đạo của người dạy
1.1.6 Ý nghĩa của vấn đề phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
(Sinh viên tự nghiên cứu và thuyết trình trên lớp)
1.1.7 Những dấu hiệu đặc trưng của dạy và học tích cực
Trang 51.1.7.1 Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
Trong dạy và học tích cực, người học – đối tượng của hoạt động dạy, đồng thời là chủ thể trong hoạt động học – được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo Tham gia vào các hoạt động học tập, người học được đặt vào những tình huống, được trực tiếp quan sát, thảo luận, trao đổi, làm thí nghiệm, được khuyến khích đưa ra các giải pháp giải quyết vấn đề theo cách của mình, được động viên trình bày quan điểm riêng của mỗi cá nhân Qua đó người học không những chiếm lĩnh kiến thức và kĩ năng mới mà còn làm chủ cách thức xây dựng kiến thức, từ đó tính chủ động và sáng tạo có cơ hội được bộc lộ, rèn luyện.Tổ chức các hoạt động học tập của học sinh phải trở thành trung tâm của quá trình giáo dục Giáo viên cần biết lập kế hoạch dạy học để hướng dẫn học sinh phát triển các năng lực cần thiết trong cuộc sống, trong và ngoài nhà trường, ở hiện tại cũng như trong tương lại
Phương pháp dạy và học tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học Nếu người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen và ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng say mê học tập, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi người học và kết quả học tập sẽ được tăng lên Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, vấn đề phát triển tự học phải được quan tâm ngay từ bậc phổ thông, không chỉ trong các tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên mà cả ở nhà, trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp
1.1.7.3 Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Trong dạy và học tích cực, giáo viên cần quan tâm đến sự phân hóa về trình độ nhận thức, cường độ, tiến độ hoàn thành các nhiệm vụ học tập của mỗi học sinh Trên cơ sở đó, xây dựng các nhiệm vụ/ bài tập, mức độ hỗ trợ phù hợp với khả năng của mỗi cá nhân nhằm phát huy khả năng tối đa của người học
Lớp học là môi trường giao tiếp thày – trò, trò – trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Tuy nhiên, để học tập hợp tác có hiệu quả, giáo viên cần hình thành cho người học thói quen học tập tự giác, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau Đồng thời nhiệm
vụ được giao phải rõ ràng, cụ thể, mỗi thành viên trong nhóm đều được phân công, xác định
Trang 6rõ nhiệm vụ, trách nhiệm của mình để tránh tình trạng dựa dẫm, ỷ lại hoặc có những biểu hiện không hợp tác
Phổ biến trong dạy và học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung
Trong thời hội nhập đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia, năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho học sinh
lợi ích xã hội
Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh được chủ động lựa chọn vấn đề mà mình quan tâm ham thích, tự lực tiến hành nghiên cứu giải quyết vấn đề và trình bày kết quả Việc nghiên cứu có thể tiến hành theo cá nhân hoặc theo nhóm nhỏ
Các chủ đề/ nội dung tìm hiểu, nghiên cứu có thể do học sinh tự đề xuất hoặc lựa chọn trong các chủ đề/ nội dung do giáo viên giới thiệu, định hướng Các chủ đề/ nội dung này cần gắn với nhu cầu, lợi ích của người học cũng như của thực tiễn xã hội Thông qua dạy học rèn luyện cho học sinh cách làm việc độc lập, phát triển tư duy sáng tạo, kĩ năng tổ chức công việc, trình bày kết quả Giáo viên cần thiết kế các tình huống học tập sao cho kích thích lôi cuốn được sự tham gia tích cực, tự chủ của người học và đảm bảo nguyên tắc phân hóa trong dạy học Cần động viên, khuyến khích, hỗ trợ kịp thời để đảm bảo tất cả học sinh đều chủ động tham gia một cách tích cực
Việc coi trọng hướng dẫn, tìm tòi là giúp học sinh phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề
và nhấn mạnh rằng học sinh có thể học được phương pháp học thông qua hoạt động Dấu hiệu đặc trưng này có thể áp dụng ngay cho học sinh nhỏ tuổi nếu có tài liệu cụ thể và có sự giúp
đỡ của giáo viên, đặc biệt có hiệu quả với những học sinh ở các lớp cao hơn vì học sinh đã có khả năng làm việc độc lập, tự giác, tư duy logic, khả năng phân tích, tổng hợp, đánh giá đã phát triển Dạy và học coi trọng hướng dẫn tìm tòi đòi hỏi về phía người học sự học tập tích cực để tìm lời giải đáp cho vấn đề đặt ra và về phía người dạy cần có hướng dẫn kịp thời giúp cho sự tìm tòi của người học đạt kết quả
Mối quan hệ giữa các mức độ hỗ trợ của Giáo viên với nhu cầu của Học sinh
Mức độ hỗ trợ
Trang 7Nhu cầu Nhiều Ít Không có
Nhiều Cân bằng Tích cực Thiếu thốn (bị bỏ rơi)
Ít Nhàm chán Cân bằng Tích cực
Không có Không tích cực Nhàm chán Cân bằng
Một nhiệm vụ học tập tốt là nhiệm vụ đặt ra thách thức đối với người học Nhiệm vụ không nên quá dễ cũng không quá khó để tránh tình trạng nhàm chán hoặc tâm lí sợ thất bại đối với học sinh Để đạt được sự cân bằng cần đa dạng và thiết kế cho từng đối tượng, từng trình độ học sinh trong điều kiện cho phép Một nhiệm vụ thách thức sẽ đặt ra nhu cầu cần hỗ trợ đối với học sinh Giáo viên cần quan sát để có sự hỗ trợ kịp thời, đó những can thiệp tích cực như đưa ra các câu hỏi gợi mở, giải thích rõ ràng hơn hoặc hướng dẫn học sinh đi vào trọng tâm của vấn đề…
1.1.7.6 Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trước đây, giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh Đánh giá tập trung vào kết quả học tập của học sinh qua điểm số của các bài kiểm tra, thi cử Trong dạy và học tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để điều chỉnh cách học
Tự đánh giá là một hình thức đánh giá mà học sinh tự liên hệ phần nhiệm vụ đã thực hiện với các mục tiêu của quá trình học tập Tự đánh giá không chỉ đơn thuần là tự cho điểm
số mà là sự đánh giá những nỗ lực, quá trình và kết quả hoặc có thể phản hồi lại quá trình học của mình Học sinh nhìn lại quá trình học tập của mình và biết được mức độ hoàn thành đã đạt yêu cầu chưa Tự đánh giá giúp cho học sinh có thể ý thức hơn về quá trình học tập, đồng thời cũng ý thức rõ hơn về điểm mạnh, điểm yếu và cách học của mình để tiến bộ trong giai đoạn sau
Cùng với tự đánh giá, giáo viên cần tổ chức cho học sinh đánh giá lẫn nhau hay còn gọi
là đánh giá đồng đẳng, là một quá trình trong đó các nhóm học sinh cùng độ tuổi hay cùng lớp
sẽ đánh giá công việc/ kết quả học tập lẫn nhau dựa trên các tiêu chí đã được định sẳn do giáo viên cung cấp Việc đánh giá đồng đẳng vừa giúp học sinh đánh giá kết quả học tập của bạn vừa thông qua đó để so sánh, nhìn nhận lại kết quả của chính mình, từ đó có sự điều chỉnh cách giải quyết vấn đề, cách học, chia sẻ kinh nghiệm từ kết quả của mình và của bạn, thúc đẩy kết quả học tập ngày một tốt hơn
Trang 8Kết hợp đánh giá của thầy và đánh giá của trò không những giúp cho học sinh nhìn nhận chính mình và điều chỉnh cách học mà giáo viên cũng có điều kiện để nhìn nhận chính mình
mà điều chỉnh cách dạy
Dạy và học tích cực nhằm đáp ứng mục tiêu đào tạo người lao động năng động, sáng tạo sớm thích nghi với đời sống xã hội, do vậy, kiểm tra – đánh giá không chỉ dừng ở yêu cầu ghi nhớ, tái hiện kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải phát triển ở người học tư duy lô-gic, tư duy phê phán, khả năng phân tích, tổng hợp, đánh giá, giải quyết các vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đặt ra
1.1.8 Biểu hiện của dạy học theo hướng phát huy tính tích cực.
Dạy học là cách giáo viên tổ chức hoạt động học tập để đạt được mục tiêu bài học Trong dạy và học tích cực giáo viên là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập nhằm phát huy mọi năng lực, sở trường của mỗi học sinh, tạo niềm tin và niềm vui trong học tập; học sinh là người chủ động tìm tòi, khám phá, phát hiện các tình huống có vấn đề trong học tập và trong đời sống, tự mình hoặc cùng bạn trong nhóm, trong lớp lập kế hoạch, cho phương thức hợp lí để giải quyết vấn đề và chiếm lĩnh kiến thức Các biểu hiện cụ thể của dạy và học tích cực như sau:
- Giáo viên di chuyển trong lớp, quan sát và hỗ trợ học sinh khi cần thiết
- Giáo viên tổ chức, hướng dẫn học sinh hoạt động chiếm lĩnh nội dung tri thức
- Giáo viên huy động vốn kiến thức và kinh nghiệm đã có của học sinh để xây dựng bài, khai thác nội dung dạy học trong sách giáo khoa phù hợp với nhu cầu và khả năng nhận thức của học sinh
trong quá trình giải quyết nhiệm vụ
- Giáo viên khuyến khích, tạo cơ hội để học sinh nêu ý kiến, suy nghĩ cá nhân về vấn đề đang học, nêu thắc mắc trong khi nghe giảng, trả lời theo nhiều phương án khác nhau
- Giao tiếp đa chiều giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh với học sinh
tiếp, hợp tác của học sinh Giáo viên quan tâm đến phong cách học, trình độ và nhịp độ của mỗi cá nhân
các giác quan và hình thức học tập khác nhau để lĩnh hội kiến thức
Trang 9- Giáo viên đánh giá khuyến khích cách giải quyết sáng tạo, ghi nhớ trên cơ sở tư duy lô –gic
1.1.9 Các yếu tố thúc đẩy dạy và học tích cực.
Dạy và học tích cực đòi hỏi một số điều kiện, trong đó quan trọng nhất là người giáo viên Giáo viên phải được đào tạo chu đáo để thích ứng với những thay đổi chức năng, nhiệm
vụ đa dạng, phức tạp của mình Giáo viên phải vừa có tri thức chuyên môn sâu rộng, có trình
độ sư phạm lành nghề, biết ứng xử tinh tế, biết sử dụng các công nghệ thông tin vào dạy học, biết định hướng sự phát triển của học sinh theo mục tiêu giáo dục nhưng cũng đảm bảo sự tự
do của học sinh trong hoạt động nhận thức
Dưới sự chỉ đạo của giáo viên, học sinh phải dần dần có được những phẩm chất và năng lực thích ứng với phương pháp tích cực như giác ngộ mục đích học tập, tự giác trong học tập,
có ý thức và trách nhiệm về kết quả học tập của mình và kết quả chung của lớp, biết tự học và phát triển các loại hình tư duy
Chương trình và sách giáo khoa phải giảm bớt khối lượng kiến thức, tạo điều kiện cho thầy và trò tổ chức những hoạt động học tập tích cực, giảm bớt các thông tin buộc học sinh phải ghi nhớ máy móc, tăng cường các bài toán nhận thức, giảm bớt các câu hỏi tái hiện, những kết luận áp đặt, tăng cường gợi ý để học sinh tự nghiên cứu phát triển bài học Cần có các phương tiện thiết bị dạy học thuận tiện cho học sinh thực hiện các hoạt động độc lập hoặc hoạt động nhóm Hình thức tổ chức phải dễ thay đổi phù hợp với hình thức dạy học
Bổ sung, thay đổi cách đánh giá: việc kiểm tra đánh giá phải chuyển biến theo hướng phát triển trí thông minh, sáng tạo của học sinh, khuyến khích vận dụng linh hoạt kiến thức, kĩ năng đã học vào những tình huống thực tế
Đặt vấn đề đổi mới phương pháp dạy và học ở tầm quan trọng đúng mức ở mỗi trường Giáo viên cần được khuyến khích, tạo điều kiện để áp dụng các phương pháp tích cực trong dạy và học đạt hiệu quả
1.2 Dạy học tích hợp
1.2.1 Khái niệm
Tiến sĩ Hoàng Thị Tuyết, nhận định: “Dạy tích hợp là dạy học theo hình thức đa môn
hoặc liên môn, đưa nhiều nội dung trong cùng một hoạt động nào đó… giúp học sinh nắm bắt tốt kiến thức, hiểu được mối liên hệ then chốt giữa các thành tố trong cùng một lĩnh vực”.
Trang 10Theo Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) trong cuốn Hỏi – đáp về dạy học Tiếng Việt 2, khi
nói về quan điểm biên soạn sách giáo khoa Tiếng Việt có đề cập đến khái niệm này như sau:
“Tích hợp nghĩa là tổng hợp trong một đơn vị học, thậm chí một tiết học, một bài học nhiều
mảng kiến thức và kĩ năng liên quan với nhau nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục, tiết kiệm thời gian học tập cho người học.”
Thực chất của dạy học tích hợp là vừa dạy nội dung lí thuyết và thực hành trong cùng một bài dạy Với cách hiểu đơn giản như vậy là chưa đủ mà đằng sau nó là cả một quan điểm giáo dục theo mô hình năng lực Tích hợp đề cập đến các yếu tố sau:
- Nội dung chương trình đào tạo được thiết kế theo mô-đun định hướng năng lực
hướng hoạt động Phương pháp dạy học định hướng giải quyết vấn đề là cách thức, con đường mà giáo viên áp dụng trong việc dạy học để làm phát triển khả năng tìm tòi khám phá độc lập của học sinh bằng cách đưa ra các tình huống có vấn đề và điều khiển hoạt động của học sinh nhằm giải quyết các vấn
1.2.2 Đặc điểm của dạy học tích hợp
1.2.2.1 Lấy người học làm trung tâm
Dạy học lấy người học làm trung tâm được xem là phương pháp đáp ứng yêu cầu cơ bản của mục tiêu giáo dục nhất là đối với giáo dục nghề nghiệp, có khả năng định hướng việc tổ chức quá trình dạy học thành quá trình tự học, quá trình cá nhân hóa người học Dạy học lấy người học là trung tâm đòi hỏi người học là chủ thể của hoạt động học, họ phải tự học, tự nghiên cứu để tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình, người học không chỉ được đặt trước những kiến thức có sẵn ở trong bài giảng của giáo viên mà phải tự đặt mình vào tình huống có vấn đề của thực tiễn, cụ thể và sinh động của nghề nghiệp rồi từ đó tự mình tìm ra cái chưa biết, cái cần khám phá, học để hành, hành để học Trong dạy học lấy người học làm trung tâm đòi hỏi người học tự thể hiện mình, phát triển năng lực làm việc nhóm, hợp tác với nhóm, với lớp Sự làm việc theo nhóm này sẽ đưa ra cách thức giải quyết đầy tính sáng tạo, kích thích các thành viên trong nhóm hăng hái tham gia vào giải quyết vấn đề
Sự hợp tác giữa người học với người học là hết sức quan trọng nhưng vẫn chỉ là ngoại lực, điều quan trọng nhất là cần phải phát huy nội lực là tính tự chủ, chủ động nổ lực tìm kiếm kiến thức của người học Còn người dạy chỉ là người tổ chức và hướng dẫn quá trình học tập, đạo diễn cho người học tự tìm kiếm kiến thức và phương thức tìm kiếm kiến thức bằng hành
Trang 11động của chính mình Người dạy phải dạy cái mà người học cần, các doanh nghiệp đang đòi hỏi để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực có chất lượng cao cho nền kinh tế- xã hội chứ không phải dạy cái mà người dạy có Quan hệ giữa người dạy và người học được thực hiện dựa trên
cơ sở tin cậy và hợp tác với nhau Trong quá trình tìm kiếm kiến thức của người học có thể chưa chính xác, chưa khoa học, người học có thể căn cứ vào kết luận của người dạy để tự kiểm tra, đánh giá rút kinh nghiệm về cách học của mình Nhận ra những sai sót và biết cách sửa sai đó chính là biết cách học
1.2.2.2 Định hướng chuẩn đầu ra
Đặc điểm cơ bản nhất, có ý nghĩa trung tâm của đào tạo nghề theo năng lực thực hiện là định hướng chú ý vào kết quả đầu ra của quá trình đào tạo xem người học có thể làm được cái
gì vào những công việc thực tiễn để đạt tiêu chuẩn đầu ra Như vậy, người học để làm được cái gì đó đòi hỏi có liên quan đến chương trình, còn để làm tốt công việc khác trong thực tiễn như mong đợi thì liên quan đến đánh giá kết quả học tập Người học đạt được những đòi hỏi
đó còn tùy thuộc vào khả năng của mỗi người Trong đào tạo, việc định hướng kết quả đầu ra nhằm đảm bảo chất lượng trong quá trình đào tạo, cho phép người sử dụng sản phẩm đào tạo tin tưởng và sử dụng trong một thời gian dài
Dạy học tích hợp chú ý đến kết quả học tập của người học để vận dụng vào công việc tương lai nghề nghiệp sau này, đòi hỏi quá trình học tập phải đảm bảo chất lượng và hiệu quả
để thực hiện nhiệm vụ Từ những kết quả đầu ra đi đến xác định vai trò của người có trách nhiệm tạo ra kết quả đầu ra này, một vai trò tập hợp các hành vi được mong đợi theo nhiệm
vụ, công việc mà người đó sẽ thực hiện thật sự Do đó, đòi hỏi người dạy phải dạy được cả lí thuyết chuyên môn nghề nghiệp vừa phải hướng dẫn quy trình công nghệ, thao tác nghề nghiệp chuẩn xác, phổ biến được kinh nghiệm, nêu được các dạng sai lầm, hư hỏng, nguyên nhân và biện pháp khắc phục, biết cách tổ chức hướng dẫn luyện tập
1.2.2.3 Dạy và học các năng lực thực hiện
Dạy học tích hợp có thể hiểu là một hình thức dạy học kết hợp giữa dạy lí thuyết và dạy thực hành, qua đó ở người học hình thành một năng lực nào đó hay kĩ năng hành nghề nhằm đáp ứng được mục tiêu giáo dục Dạy học phải làm cho người học có các năng lực tương ứng với chương trình Do đó, việc dạy kiến thức lí thuyết không phải ở mức độ hàn lâm mà chỉ ở mức độ cần thiết nhằm hỗ trợ cho sự phát triển các năng lực thực hành ở mỗi người học Trong dạy học tích hợp, lí thuyết là hệ thống tri thức khoa học chuyên ngành về những vấn đề
Trang 12cơ bản, về những quy luật chung của lĩnh vực chuyên ngành đó Hơn nữa, việc dạy lí thuyết thuần túy sẽ dẫn đến tình trạng lí thuyết suông, kiến thức sách vở không mang lại lợi ích thực tiễn Do đó, cần gắn lí thuyết với thực hành trong quá trình dạy học Thực hành là hình thức luyện tập để trau dồi kĩ năng, kỹ xảo hoạt động giúp cho người học hiểu rõ và nắm vững kiến thức lí thuyết Đây là khâu cơ bản để thực hiện nguyên lígiáo dục học đi đôi với hành, lí luận gắn với thực tiễn Thực hành phải có đủ phương tiện, kế hoạch, quy trình luyện tập gắn ngay với vấn đề lí thuyết vừa học Để hình thành cho người học một kĩ năng thì cần phải dạy cho
họ biết cách kết hợp và huy động hợp lícác nguồn nội lực (kiến thức, khả năng thực hiện và thái độ) và ngoại lực (tất cả những gì có thể huy động được nằm ngoài cá nhân) Như vậy, người dạy phải định hướng, giúp đỡ, tổ chức, điều chỉnh và động viên hoạt động của người học Sự định hướng của người dạy góp phần tạo ra môi trường sư phạm bao gồm các yếu tố cần có đối với sự phát triển của người học mà mục tiêu bài học đặt ra và cách giải quyết chúng Người dạy vừa có sự trợ giúp vừa có sự định hướng để giảm bớt những sai lầm cho người học ở phần thực hành; đồng thời kích thích, động viên người học nẩy sinh nhu cầu, động cơ hứng thú để tạo ra kết quả mới, tức là chuyển hóa những kinh nghiệm đó thành sản phẩm của bản thân
tế, họ phải trực tiếp quan sát, thảo luận, làm bài tập, giải quyết nhiệm vụ đặt ra theo cách nghĩ của mình, tự lực tìm kiếm nhằm khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp xếp Người học cần phải tiếp nhận đối tượng qua các phương tiện nghe, nhìn, và phân tích đối tượng nhằm làm bộc lộ và phát hiện ra các mối quan hệ bản chất, tất yếu của sự vật, hiện tượng Từ đó, người học vừa nắm được kiến thức vừa nắm được phương pháp thực hành Như vậy, người dạy không chỉ đơn thuần truyền đạt kiến thức mà còn hướng dẫn các thao tác thực hành
1.2.3 Tích hợp – nguyên tắc dạy học hiện đại
- Tích hợp là điều nổi bật nhất của chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn, chi phối cách xây dựng chương trình dạy học, chỉ đạo nội dung và phương pháp dạy học Một cách chung nhất có thể hiểu tích hợp là phương pháp phối hợp một cách tốt nhất các quá trình học tập của nhiều môn học cũng như các phân môn như Văn, Tiếng Việt, Làm văn trong một môn như Ngữ văn
Trang 13- Tích hợp là tư tưởng, là nguyên tắc, là quan điểm hiện đại trong giáo dục Hiểu đúng
và làm tốt quá trình tích hợp có thể đem lại những hiệu quả cụ thể đối với từng phân môn trong một thể thống nhất của môn Ngữ văn
- Tích hợp trong nhà trường sẽ giúp học sinh học tập thông minh và vận dụng sáng tạo kiến thức, kỹ năng và phương pháp của khối lượng tri thức toàn diện và hợp lý
- Tích hợp là quan điểm hòa nhập được hình thành từ sự nhất thể hóa những khả năng, một sự quy tụ tối đa tất cả các đặc trưng chung vào một chỉnh thể duy nhất
chung để thực hiện tích hợp thuận lợi hơn các môn học khác
1.2.4 Phát triển chương trình theo hướng tích hợp
Việc phát triển một chương trình theo hướng tích hợp có những cấp độ sau:
- Tích hợp trong nội bộ môn học: các môn, các phần vẫn học riêng lẻ, nhưng trong quá
trình giảng dạy, tích hợp được thực hiện thông qua việc loại bỏ những nội dung trùng lặp và khai thác sự hỗ trợ giữa các bộ môn, giữa các phần
- Tích hợp đa môn: Các môn có liên quan với nhau có chung một định hướng về nội
dung và PPDH nhưng mỗi môn lại có chương trình riêng Tích hợp được thực hiện ở những
đề tài, dự án đòi hỏi người học vận dụng tổng hợp những kiến thức của các môn học có liên quan
- Tích hợp liên môn: kết hợp vài môn học liên quan thành một môn và nội dung môn
học tích hợp được phân bố theo chủ đề có liên quan đến những môn học ấy
- Tích hợp xuyên môn: nhiều môn học liên quan được kết lại thành một môn học mới
với một hệ thống những chủ đề nhất định xuyên suốt qua nhiều cấp lớp Ví dụ Địa lí, Lịch sử, Sinh học, Xã hội, Giáo dục công dân, Hóa học, Vật lí được tích hợp thành môn “Nghiên cứu
xã hội và môi trường” ở Anh, Úc, Thái Lan, Singapore
Tích hợp liên môn và xuyên môn là hai kiểu tích hợp khá phổ biến của các chương trình của các nước hiện nay Cả hai kiểu tích hợp này đều có chung một cấu trúc hình thức đó là các bài học được liên kết với nhau theo chủ đề Vì vậy, thuật ngữ tích hợp theo chủ đề còn được dùng thay thế cho hai kiểu tích hợp liên môn và xuyên môn
Trang 14CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1 Phân tích các định hướng đổi mới phương pháp dạy học
quả
3 Phân tích các dấu hiệu và cấp độ biểu hiện tính tích cực học tập ở học sinh
4 Tại sao nói tích hợp là một nguyên tắc dạy học hiện đại?
5 Phân tích các dấu hiệu đặc trưng của dạy và hõ tích cực
6 Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực như thế nào?
Trang 15Chương 2 DẠY HỌC NGỮ VĂN THEO ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI
2.1 Dạy học Ngữ văn theo định hướng tích cực
2.1.1 Phương pháp dạy - học tích cực
Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc tích cực hóa hoạt động học tập, nhận thức và phát triển sáng tạo của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, mặc dù để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nổ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động
Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy Có khi cách dạy chỉ đạo cách học, nhưng cũng có lúc thói quen học tập của trò có ảnh hưởng tới cách dạy của thầy Có trường hợp học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng giáo viên chưa đáp ứng được Cũng
có trường hợp giáo viên hăng hái áp dụng phương pháp tích cực nhưng thất bại vì học sinh chưa thích ứng, vẫn quen lối học tập thụ động Trong đổi mới phương pháp phải có sự hợp tác của thầy và trò, sự phối hợp giữa hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công Theo tinh thần đó, thuật ngữ rút gọn “Phương pháp tích cực” hàm chứa cả phương pháp dạy và phương pháp học
Phương pháp dạy và học tích cực là các hoạt động dạy và học nhằm tích cực hóa hoạt động học tập và phát triển tính sáng tạo của người học Trong đó, các hoạt động học tập được tổ chức, được định hướng bởi giáo viên, người học không thụ động, chờ đợi mà tự lực, tích cực tham gia vào quá trình tìm kiếm, khám phá, phát hiện kiến thức, vận dụng kiến thức
để giải quyết vấn đề trong thực tiễn, qua đó lĩnh hội nội dung học tập và phát triển năng lực sáng tạo.
Phương pháp dạy học tích cực không phải là một phương pháp dạy học cụ thể, mà là một khái niệm, bao gồm nhiều phương pháp, hình thức, kĩ thuật cụ thể khác nhau nhằm tích cực hóa, tăng cường sự tham gia của người học, tạo điều kiện cho người học phát triển tối đa khả năng học tập, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề Người học là chủ thể của hoạt động, được tạo điều kiện để chủ động khám phá, tìm kiếm kiến thức thông qua những tình huống, những nhiệm vụ thực tiễn cụ thể, đa dạng, sinh động Thay cho học thiên về lí thuyết, người học được trải nghiệm, khám phá kiến thức qua hành động, học qua làm, kiến thức sẽ được khắc sâu và bền vững Giáo viên là người định hướng, tổ chức và là trọng tài trong các hoạt động thảo luận, đồng thời là người đưa ra các kết luận và đánh giá trên cơ sở tự
Trang 16đánh giá, đánh giá lẫn nhau của người học Mối quan hệ tương tác này là động lực cho sự chủ động tích cực của người học, người học được phép sáng tạo, phát triển cái mới, được thể hiện chính kiến và chia sẻ kinh nghiệm trong mối quan hệ hợp tác thân thiện Đồng thời cả người dạy và người học đều có cơ hội nhìn nhận lại chính mình để điều chỉnh cách dạy, cách học cho phù hợp thúc đẩy kết quả dạy học ngày một tốt hơn
2.1.2 Dạy học Ngữ văn theo quan điểm tích cực
- Môn Ngữ văn không những không nằm ngoài quan điểm dạy học tích cực mà còn là nơi thể hiện phong phú nhất các sắc thái của quan điểm dạy học này
- Ở phân môn Văn, các văn bản Ngữ văn trong sách giáo khoa chủ yếu là văn bản nghệ thuật, do đó đối tượng đọc hiểu tập trung vào các tác phẩm văn học Đọc văn là hoạt động tiếp nhận văn học Văn bản nghệ thuật chỉ thực sự có đời sống khi nó vận động trong sự cảm thụ của người đọc
- Với phân môn Tiếng Việt, quan điểm giao tiếp trong dạy học cho thấy mục đích của dạy học tiếng Việt không dừng lại ở việc học sinh tiếp nhận các cấp độ cụ thể của kiến thức tiếng Việt (cho dù học sinh là chủ thể tiếp nhận kiến thức) mà còn là các khả năng của chúng trong nhận diện chính xác các tín hiệu ngôn ngữ trong văn bản, nhất là vận dụng hợp lý các kiến thwusc đã học để nói và viết trong các hoàn cảnh giao tiếp cụ thể ngày một phức tạp với yêu cầu thông tin cao Trong hoạt động thực tiễn, thời hiện đại, người ta không thể nói hoặc viết hộ nhau, cũng như ít còn cơ hội nhại lại lời của người khác Do vậy, dạy học tích cực là cách tốt nhất để đáp ứng các yêu cầu này
hiện thực hóa quan điểm thực hành và giao tiếp của phân môn này Học Làm văn, người học không chỉ chủ động nắm kiến thức về các kiểu văn bản tương ứng với các phương thức biểu đạtu và mục đích giao tiếp của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống, mà từ đó tự mình biết đọc (bao gồm cả thưởng thức và đánh giá) các thông tin (bao gồm cả thông tin thẩm mỹ)
và cuois cùng biết tạo lập văn bản theo các yêu cầu riêng của mỗi kiểu văn bản Mặt khác, dạy học tích cực Làm văn còn là hành động chứng minh khi nó đột phá vào cách dạy học lỗi thời nhưng đã trở thành thói quen trong nhà trường chúng ta, đó là dạy học theo các khuôn mẫu cứng nhắc, có sẵn và thủ tiêu mọi sáng tạo của người làm văn để cho ra lò những sản phẩm văn nhại hoặc nhái văn mẫu của thầy
Trang 17Tóm lại: trong mỗi phân môn của môn học Ngữ văn, quan điểm dạy học tích cực sẽ chi phối các mặt hoạt động, từ khâu thiết kế giáo án, chuẩn bị bài học ở nhà đến tổ chức dạy học trên lớp của cả hai chủ thể dạy và học
2.2 Dạy học Ngữ văn theo định hướng tích hợp
2.2.1 Phương hướng vận dụng nguyên tắc tích hợp trong dạy học Ngữ văn
hợp nhất, hòa trộn trong nhau, học cái này thông qua cái kia và ngược lại Như thế sẽ tránh được những vướng mắc, dư thừa, chồng chéo nội dung trong quá trình dạy văn, tiếng Việt và Làm văn như trước đây
- Việc thực hiện tích hợp trong môn Ngữ văn sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi hơn ở cả
ba phân môn vì chúng đều hướng tới mục tiêu chung là hình thành và rèn luyện 4 kỹ năng cho học sinh và đều dựa vào một văn bản là chính
- Văn bản được gọi chung cho các sản phẩm viết, không phân biệt văn bản hư cấu hay không hư cấu Chúng đều có tính chỉnh thể về ngữ nghĩa, đem lại sự trọn vẹn về chủ đề, còn cấu trúc lại biểu thị phương thức biểu đạt và cách tạo lập văn bản
- Hai năng lực cơ bản mà môn Ngữ văn cần phải hình thành và phát triển ngày càng tốt hơn là năng lực tiếp nhận văn bản, trong đó đọc hiểu văn bản là then chốt và năng lực tạo lập văn bản trong đó tính chỉnh thể và liên kết là chủ yếu Những năng lực này sẽ được củng cố trong quá trình tích hợp
- Chương trình Ngữ văn THPT lấy đọc văn và làm văn làm trục tích hợp
2.2.2 Cách thức tích hợp
- Phối hợp tích hợp ngang và tích hợp hợp dọc (tích hợp song hành)
Tiếng Việt và Làm văn
- Cách thức tích hợp môn học khi dạy một văn bản văn học là giúp học sinh khai thác triệt để các đơn vị ngôn ngữ như từ, cụm từ, câu, đoạn, văn bản với các bình diện ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, tu từ để lý giải tác dụng thẩm mỹ và sự hấp dẫn nghệ thuật của những yếu tố ngôn ngữ này trong chức năng tạo hình và biểu hiện của tác phẩm văn học Ngoài việc khai thác các yếu tố ngôn ngữ cần kết hợp phat triển năng lực cảm nhận, phân tích, bình giá tác phẩm
Trang 18- Khi dạy học phần Tiếng Việt, muốn hình thành tri thức về một đơn vị ngôn ngữ nào
đó, giáo viên cần liên hệ với các tác phẩm văn học và những văn bản khác cũng như những tình huống giao tiếp trong đời sống
- Làm văn là phân môn được sắp xếp dạy sau cùng trong mỗi bài học Làm văn là loại văn bản ứng dụng và thực hành tổng hợp Dạy học một kiểu văn bản nào đó trong làm văn, người giáo viên cần căn cứ vào văn bản đọc hiểu và các văn bản khác, coi đó là những mô hình để nhận dạng, phân tích và vận dụng sáng tạo cho Làm văn
chung của nghiên cứu khoa học liên ngành Bản thân của sự phát triển khoa học hiện đại đang tạo ra các quá trình tích hợp
2.2.3 Tích hợp với hiệu quả dạy học Ngữ văn
- Quan điểm tích hợp mang đến hiệu quả rèn luyện cho học sinh cách vận dụng tri thức
ba phân môn trong một bài làm cụ thể
duy tích hợp cho học sinh
luyện 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh
- Dạy học Ngữ văn theo quan điểm tích hợp còn đem đến hiệu quả là học sinh sẽ chủ động và linh hoạt giải quyết các vấn đề nẩy sinh trong học tập, trong cuộc sống hàng ngày
- Dạy học Ngữ văn theo hướng tích hợp phải đem lại những hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, trong đó có việc phát huy tính tích cực độc lập, sáng tạo và vai trò chủ thể của học sinh
2.2.4 Tích hợp với vấn đề mục tiêu giáo dục
- Mục tiêu giáo dục trong thời đại mới không những là đào tạo và làm tròn trách nhiệm môn học về trang bị kiến thức cho học sinh mà mục tiêu phải luôn gắn kết trong mối quan hệ hữu cơ giữa các môn học với nhau
- Mục tiêu giáo dục trong thời đại mới yêu cầu giáo viên cung cấp những kiến thức cơ bản nhất để học sinh hiểu được thế giới xung quanh mình, hòa nhập cùng cộng đồng, thích nghi với sự biến đổi không ngừng của cuộc sống hiện đại
Trang 19- Sử dụng quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn không những không ảnh hưởng đến mục tiêu giáo dục chung mà còn đạt được những mục tiêu cụ thể do yêu cầu tích hợp đề ra:
+ Mục tiêu tích hợp là đào tạo ra những con người biết sử dụng kiến thức gắn với thực
2.2.5 Tích hợp trong phương pháp dạy học Ngữ văn
- Chương trình môn Ngữ văn của Bộ GD và ĐT khẳng định: “lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo tổ chức nội dung chương trình, biên soạn sách giáo khoa và lựa chọn các phương pháp dạy học”:
+ Nội dung chương trình của môn học không còn là nội dung riêng rẽ của các phân môn Văn – Tiếng Viêt – Làm văn như trước mà phối kết trong một chỉnh thể nội dung của môn học mang tên Ngữ văn, xoay quanh trục đồng quy là 6 kiểu văn bản, điều này có nghĩa là phải làm thế nào cho học sinh thành thạo bốn kỹ năng, năng lực thẩm mỹ và tạo lập sáu kiểu văn bản
+ Sách giáo khoa và sách giáo viên mang tên gọi của một môn học – môn Ngữ văn, trong đó là sự tích hợp ba phân môn Văn – Tiếng Việt – Làm văn Nội dung kiến thức và kỹ năng Ngữ văn được tổ chức lần lượt theo các cụm bài, mỗi cụm bài xoay quanh một kiểu văn bản Cấu trúc nội dung một bài học Ngữ văn gồm 4 phần chính của hoạt động dạy học, đó là:
* Văn bản (ngữ liệu chung để dạy học Ngữ văn)
* Bài học phần Văn (đọc hiểu)
* Bài học phần tiếng Việt
* Bài học phần Làm văn
Trang 20Do yêu cầu tích hợp, nói chung, bài học nào cũng phải dạy cả văn học, tiếng Việt, Làm văn Sách giáo khoa bố trí mỗi bài học dạy gọn trong một tuần
+ Nếu tích hợp trong dạy học Ngữ văn là sự quy tụ và soi sáng lẫn nhau giữa ba phân môn Văn – Tiếng Việt – Làm văn để tạo nên các hiệu quả của bài học Ngữ văn thì yêu cầu cảu dạy học tích hợp ở môn học này sẽ là phối kết các tri thức và kỹ năng gần (tích hợp ngang, trong cùng một thời điểm) và xa (tích hợp theo vấn đề, tích hợp với các kiến thức và
kỹ năng đã học hoặc sẽ học) của ba phân môn đó trong môn học Cụ thể là phát hiện và tìm nghĩa của các kiến thức và kỹ năng chung (đồng quy) của Văn – Tiếng Việt – Làm văn nhằm tăng hiệu quả dạy học của từng phân môn, từ đó là hiệu quả của cả bài học Ngữ văn Khai thác điểm đồng quy này trong dạy học mỗi phân môn có tác dụng vừa làm nổi bật kiến thức,
kỹ năng của mỗi phần bài học, lại vừa hỗ trợ các phân môn khác làm thành kiến thức, kỹ năng tổng thể của bài học Ngữ văn tích hợp
+ Tích hợp trực tiếp trong dạy học Ngữ văn thường được hiểu là hoạt động dạy học phối kết ba phân môn sao cho đạt tới các mục tiêu kiến thức và kỹ năng chung của bài học Ngữ văn Nhưng trong một quan niệm rộng rãi hơn, tích hợp trong dạy học Ngữ văn còn là sự gắn kết có chủ định các môn học có quan hệ gần gũi với môn học Ngữ văn như Mỹ thuật, âm nhạc, lịch sử, địa lý, lý luận văn học, ngôn ngữ học; thậm chí, tích hợp trong dạy học phân môn Văn còn là sự gắn kết đọc hiểu văn bản với các đặc điểm tiểu sử và sáng tác của tác giả, đặc điểm của thể loại văn học trong mỗi thời kỳ và hiện thực đời sống liên quan đến văn bản như là đối tượng nhận thức và phản ánh của nhà văn; cho đến cả công nghệ hiện đại được sử dụng vào dạy học như multimedia và phần mềm dạy học cũng là hoạt động tích hợp khi chúng được sử dụng như là phương tiện hỗ trợ có hiệu quả cho việc thực hiện các mục tiêu dạy học của môn học Ngữ văn
Như vậy, Ngữ văn trở thành môn học mở với nhiều hoạt động gắn kết trực tiếp hay gián tiếp, gần hay xa của nhiều lĩnh vực Nói cách khác, Ngữ văn là môn học đắc địa cho mọi
ý đồ tích hợp phong phú của hoạt động dạy và học trong nhà trường trong thời kỳ đổi mới giáo dục
+ Trong khi coi trọng gắn kết các tri thức và kỹ năng Ngữ văn chung, dạy học tích hợp không triệt tiêu đặc trưng của mỗi phân môn trong môn học Ngữ văn Theo đó, Văn, Tiếng
Trang 21Việt, Làm văn sẽ có những yêu cầu riêng về phương pháp dạy học phù hợp với đặc thù của mỗi phân môn
+ Việc coi trọng nguyên tắc dạy học tích hợp nhưng không xem nhẹ phương pháp đặc thù của mỗi phân môn cho thấy môn học Ngữ văn có thể đạt tới mục tiêu ké, đó là: đáp ứng mục tiêu (kiến thức, kỹ năng, thái độ, năng lực) cụ thể của mỗi phần bài học, đồng thời thỏa mãn mục tiêu chung của cả bài học Ngữ văn Và đó là hiệu quả tích hợp của bài học Ngữ văn chưa xuất hiện trong các bài học Văn – Tiếng Việt – Làm văn trước đó
- Tuy nhiên, trong thực tế dạy học Ngữ văn, có thể xuất hiện hai sắc thái tích hợp: tích hợp hình thức và tích hợp bản chất Tích hợp là sự gắn kết các môn học, các phân môn học nhưng không phải sự gắn kết nào cũng thuộc về bản chất tích hợp Chỉ có sự gắn kết xuất phát
từ đặc thù của mỗi môn học và do những đòi hỏi liên kết tự thân của chúng để tạo thành hiệu quả bài học thì đó mới là bản chất của dạy học tích hợp Lạm dụng sự gắn kết hoặc gắn kết một cách khiên cưỡng cho có vẻ đổi mới sẽ tạo ra hiệu quả tích hợp giả tạo làm nhiễu loạn bài học, đó sẽ là tích hợp bề ngoài, tích hợp hình thức Và đó là biểu hiện của sự bất lực trong dạy học tích hợp Điều này rất đúng với cách nói của một nhà giáo dục rằng: hiểu lơ mơ về phương pháp là cách tốt nhất để vô hiệu hóa phương pháp
2.3 Dạy học Ngữ văn theo hướng đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học 2.3.1 Hình thức dạy học
Theo dõi quá trình đổi mới phương pháp dạy học ở bậc THPT ta sẽ nhận thấy sự xuất hiện của nhiều khái niệm phản ánh các hình thức cụ thể của hoạt động dạy học như: các biện pháp dạy học, các cách tổ chức hoạt động dạy học, các phương tiện dạy học Các khái niệm
này có thể đặt trong một phạm trù khái quát hơn, tạm quy ước là các hình thức dạy học
Nếu hiểu là các biện pháp thì hình thức dạy học sẽ là các biện pháp cụ thể của các phương pháp dạy học bộ môn, ở đó mỗi môn học sẽ được dạy học bằng các phương pháp riêng với vô số các biện pháp dạy học tương ứng Chẳng hạn: độc diễn cảm và lời bình là những biện pháp của phương pháp Đọc sáng tạo – một trong những phương pháp đặc thù trong dạy học văn
Nếu hiểu là các cách tổ chức hoạt động dạy học thì hình thức dạy học là các kiểu tổ chức hoạt động dạy học để vận hành một bài học theo quan điểm tương tác và tích cực Ví dụ: hình thức đàm thoại bằng câu hỏi và thảo luận nhóm (hợp tác học tập) là những cách tổ chức dạy học thường gặp trong các bài học thời kỳ đỏi mới
Trang 22Nếu hiểu là các phương tiện dạy học thì hình thức dạy học là các yếu tố vật chất kỹ thuật hỗ trợ hoạt động dạy học trong nhà trường nhằm tăng hiệu quả và hứng thú dạy học Chẳng hạn như sách giáo khoa, bảng, các phương tiện điện tử như Overhead, projector, multimedia, phần mềm dạy học trên máy vi tính … là các phương tiện được dùng trong dạy học hàng ngày hiện nay
Từ đó, đa dạng hóa các hình thức dạy học sẽ là sự sáng tạo trong lựa chọn và liên kết các biện pháp dạy học, các cách tổ chức hoạt đọng dạy học, các phương tiện dạy học nhằm tạo hiệu quả tích cực cho bài học trên các phương diện kiến thức, kỹ năng và hứng thú
Theo cách hiểu trên thì đa dạng hóa các hình thức dạy học đang là xu hướng tích cực trong dạy học các môn phổ thông, phản ánh nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
2.3.2 Đa dạng hóa các hoạt động dạy học Ngữ văn bao gồm những nội dung gì?
Nằm trong hệ thống các môn học của nhà trường phổ thông và chịu ảnh hưởng của các yếu tố sư phạm tương tác, môn Ngữ văn sẽ sử dụng các hình thức dạy học chung trong hoạt động riêng của nó
Đó có thể là hình thức học cá nhân, bằng nỗ lực riêng, mỗi học sinh sẽ tự mình học tập
để tiếp nhận tri thức và kỹ năng của bài học theo cách bàn tay nặn bột hoặc nhúng tay vào như một phương pháp dạy học tích cực đã được nói đến Đó có thể là hình thức học theo nhóm, mỗi nhóm là một tập hợp liền kề từ 2 đến 4 học sinh nhằm hợp tác giải quyết nhiệm vụ
do giáo viên giao và kết quả sẽ được đại diện nhóm thông báo trước tập thể lớp Hình thức đàm thoại được thực hiện bằng hệ thống câu hỏi khai thác các tri thức của bài học Các trò chơi dạy học cũng không hề xa lạ với cách giáo viên tổ chức việc học cho học sinh trong quá trình dạy học Ngữ văn Hoạt động phân tích mẫu theo cách quy nạp; các hình thức luyện tập nhận diện và sáng tạo; các phương tiện dạy học như sách giáo khoa, bảng, vở, phim ảnh, bài hát minh họa qua phương tiện điện tử thậm chí cả phần mềm dạy học trên vi tính được thiết
kế trong giáo án điện tử … là các hình thức dạy học kết hợp truyền thống với hiện đại đang được sử dụng trong các môn học phổ thông cũng không hề xa lạ với môn học Ngữ văn
Tóm lại: Đa dạng hóa các hình thức dạy học Ngữ văn sẽ là sự sáng tạo trong lựa chọn
và liên kết mọi hình thức dạy học thông dụng với các hình thức dạy học đặc thù chuyên biệt của môn học Ngữ văn để tạo ra bài học thỏa mãn cao nhất các mục tiêu kiến thức và kỹ năng Ngữ văn đồng thời tăng hứng thú cho người học môn học này
2.3.3 Vì sao cần đa dạng hóa các hình thức dạy học Ngữ văn?
Trang 23- Hiểu một cách rộng rãi, nếu tích hợp là hoạt động lựa chọn và phối kết hợp nhiều lĩnh vực vào một lĩnh vực nhằm đạt hiệu quả tối ưu trong việc chiếm lĩnh đối tượng, thì đa dạng hóa các hình thức dạy học sẽ là một hoạt động tích hợp trong dạy học, trong đó có dạy học Ngữ văn
học Ngữ văn chẳng những không nằm ngoài bản chất của dạy học tích hợp mà còn thể hiện tinh thần hòa đồng với xu thế hiện đại hóa chương trình, sách giáo khoa và phương pháp dạy học tiên tiến ngày nay
diện và triệt để hơn so với quan điểm “dạy học lấy học sinh làm trung tâm” hoặc dạy học hướng vào học sinh Dạy học tích cực đề cao cả hai chủ thể, ở đó các năng lực tự học của học sinh kết hợp với khả năng tổ chức hướng dẫn của giáo viên sẽ tạo nhiều cơ hội nhất cho hoạt động chiếm lĩnh tri thức và kỹ năng của bài học Năng lực tự học của mỗi học sinh không phải là một khái niệm trừu tượng, mơ hồ mà luôn được bộc lộ trong các hoạt động học bằng các hình thức học tập tương ứng nào đấy Cũng như thế, sự lựa chọn và tổ chức một cách sáng tạo các hình thức dạy học trong các biểu hiện cụ thể của nó sẽ thuộc về khả năng mới của người giáo viên biết hướng hoạt động dạy của mình vào hoạt động học tập của học sinh
Nhìn ở góc độ này thì đa dạng hóa các hình thức dạy học Ngữ văn sẽ là cách cụ thể hóa, vật chất hóa quan điểm dạy học tích cực trong tiến trình một bài học, một môn học Bằng các hình thức dạy học đa dạng, quan điểm dạy học tích cực trở nên có hình hài và sức sống
Và nếu dạy học tích cực là một định hướng sư phạm không thể cưỡng lại thì việc đa dạng hóa các hình thức dạy học sẽ là tất yếu của mọi hoạt động dạy học, trong đó có dạy học Ngữ văn
dạy (giáo viên) đã chỉ ra một yếu tố không kém phần quan trọng trong giáo dục, đó là môi trường Cơ sở vật chất kỹ thuật tham gia vào hoạt động giáo dục như trường lớp, bàn ghế, sách vở, vi tính, phòng thí nghiệm …là các yếu tố môi trường nhìn thấy, nhưng môi trường dạy học còn là các yếu tố không dễ nhìn thấy như không khí, nhà trường, xã hội, lớp học, giao tiếp thầy trò, không khí trong từng bài học … Hoạt động dạy học khia thác mối quan hệ tương giao của ba yếu tố Giáo viên – Học sinh – Môi trường được gọi là phương pháp sư phạm tương tác – một xu hướng dạy học đang được quan tâm hiện nay
Trang 242.3.4 Vận dụng các hình thức dạy học như thế nào để tạo hiệu quả đích thực cho bài học Ngữ văn?
Nếu cần nêu nguyên tắc cho việc đa dạng hóa các hình thức dạy học Ngữ văn thì đó sẽ
là lựa chọn tương ứng và phối kết hài hòa các hình thức dạy học
Sự đa dạng của các hình thức dạy học là cơ sở để giải phóng tiềm năng dạy học tương tác, tích cực và tích hợp Nhưng sẽ chỉ là hình thức dạy học của của một phân môn, một bài học cụ thể khi các hình thức dạy học đó đáp ứng các mục tiêu cụ thể của bài học thuộc phân môn đó
Có thể hình dung theo hai cấp độ lựa chọn tương ứng sau: cấp độ lựa chọn tương ứng
từ các hình thức dạy học chung (tạm gọi là hình thức dạy học đa dùng) và cấp độ lựa chọn tương ứng từ hình thức dạy học riêng (tạm gọi là hình thức dạy học chuyên dùng)
- Cấp độ lựa chọn các hình thức dạy học đa dùng cho bài học đọc hiểu văn bản sẽ được hình dung từ các hình thức dạy học tương tác và tích cực như học cá nhân và học theo nhóm, giảng bài, ghi bẳng và nghe giảng cùng với ghi vở, đàm thoại bằng câu hỏi, trò chơi dạy học cùng các phương tiện dạy học như bảng, sách giáo khoa, băng đĩa hình, máy chiếu qua đầu, phầm mềm dạy học trên vi tính
Tuy nhiên, sự lựa chọn hình thức dạy học nào là tương ứng và với độ đậm nhạt ra sao
sẽ phụ thuộc vào đặc trưng nội dung và hình thức của kiểu loại văn bản được tiếp nhận nhất là các văn bản nghệ thuật
giống nhau
Nhiệm vụ dạy học của phân môn Văn trong sách giáo khoa Ngữ văn là dạy học Đọc hiểu văn bản Sự xuất hiện phong phú đa dạng của hệ thống các kiểu loại văn bản trong sách giáo khoa Ngữ văn đòi hỏi sự đa dạng, phong phú của các hình thức dạy học, vừa đa dùng (như mọi môn học) lại vừa chuyên dùng (cho phân môn Văn), có thể sẽ tạo thành sự đa dạng vượt trội của các hình thức dạy học đọc hiểu
Từ đây sẽ đặt ra yêu cầu kết hợp các hình thức dạy học như thế nào trong dạy học đọc hiểu văn bản? Yêu cầu đó sẽ là đảm bảo sự liên kết tương hợp và tương tác các hình thức dạy học với đặc trưng của kiểu văn bản thuộc các phương thức biểu đạt Theo đó, các hình thức dạy học tương hợp và tương tác trong đọc hiểu văn bản tự sự sẽ có những điểm khác biệt so
Trang 25với các hình thức dạy học văn bản biểu cảm, hoặc đọc hiểu văn bản nghị luận sẽ khác với đọc hiểu văn bản kịch xét từ góc độ lựa chọn hình thức dạy học
2.4 Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh
2.4.1 Về mục tiêu môn học theo chương trình sách giáo khoa Ngữ văn mới
Do yêu cầu chuyển đổi từ chương trình theo định hướng nội dung sang chương trình theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực nên mục tiêu mỗi môn học cũng phải thay đổi Mục tiêu môn Ngữ văn không xác định theo ba bình diện (kiến thức, kỹ năng, thái độ)
mà được xác định trên hai bình diện (năng lực và phẩm chất):
viết, nói, nghe và năng lực giao tiếp đa phương thức thông qua nội dung những tri thức phổ thông nền tảng về tiếng Việt và Văn học, góp phần phát triển vốn tri thức căn bản của một người có văn hóa Ở cấp THPT, chương trình còn trang bị thêm cho học sinh những tri thức theo định hướng nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu phân hóa, chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng Ngoài ra, chương trình môn Ngữ văn còn góp phần giúp học sinh phát triển các năng lực khác nhưu năng lực tự chủ và tự học, năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực thẩm mỹ, năng lực tư duy, đặc biệt là năng lực lập luận, phản biện, năng lực tưởng tượng
yêu quê hương, đất nước, con người, chăm học, chăm làm, sống trung thực và có trách nhiệm Qua những tác phẩm văn học chọn lọc và đặc sắc, giúp học sinh có cơ hội khám phá bản thân
và thế giới xung quanh, thấu hiểu con người, biết đồng cảm sẻ chia, có lòng trắc ẩn, vị tha; có
cá tính và đời sống tâm hồn phong phú, có quan niệm sống và ứng xử nhân văn Bồi dưỡng cho học sinh tình yêu đối với Tiếng Việt và văn học, ý thức về cội nguồn và bản sắc của dân tộc để góp phần giữ gìn, phát triển các giá trị văn hóa Việt Nam; thấy rõ vai trò và tác dụng của môn học đối với đời sống mỗi con người; giúp học sinh có thói quen và niềm vui đọc sách; có tinh thần tiếp thu tinh hoa văn hóa c ủa nhân loại, có khả năng hội nhập quốc tế, có ý thức, thái độ, thói quen và phong cách của một công dân toàn cầu
2.4.2 Về phương pháp dạy học
Tất cả các môn học nói chung và môn Ngữ văn nói riêng đều phải trả lời câu hỏi lớn: cách dạy học theo hướng tiếp cận năng lực khác gì so với cách dạy học theo hướng tiếp cận nội dung? Với môn Ngữ văn, chương trình chủ trương:
Trang 26- Dạy cho học sinh cách đọc, cách viết, cách nói và nghe để các em sử dụng mo0ojt cách thành thạo, làm công cụ học suốt đời Thông qua đọc, nói, viết và nghe mà hình thành, phát triển năng giao tiếp và những phẩm chất năng lực liên quan Cũng thông qua đó mà trang
bị kiến thức và giáo dục nhân cách cho học sinh Do yêu cầu dạy cách học nên giáo viên cần chú ý hình thành cho học sinh quy trình và luyện tập vận dụng trong nhiều dạng thức, tình huống khác nhau để sau khi rời nhà trường các em có thể tiếp tục học suốt đời và không lúng túng trước hiện thực cuộc sống
người tổ chức việc học tập cho học sinh thông qua các hoạt động đọc, viết, nói và nghe đa dạng, thiết thực, gần gũi đời thực, liên quan nhiều đến cuộc sống của học sinh trước mắt cũng như lâu dài Giáo viên cần tận dụng vốn hiểu biết đã có của học sinh về vấn đề đang học, từ
đó tổ chức cho các em tìm hiểu, khám phá để tự mình bổ sung, điều chỉnh, hoàn thiện những hiểu biết ấy Tập cho học sinh tham gia, theo dõi nhưng tự ghi chép những nội dung theo cách hiểu của mình, sau khi đã trao đổi, tranh luận với bạn bè, thầy cô Khuyến khích học sinh hỏi
và tranh luận, biết cách đặt câu hỏi cho mình và cho nguời khác khi đọc, viết, nói và nghe
- Chú ý dạy học phân hóa bằng nhiều cách: nêu các câu hỏi bài tập theo nhiều mức độ khác nhau; yêu cầu tất cả mọi học sinh đều làm việc và lựa chọn vấn đề phù hợp với mình; khuyến khích sự mạnh dạn, tự tin trong trao đổi tranh luận và thể hiện; động viên và khen ngợi kịp thời các học sinh có ý sáng tạo, mới mẻ, độc đáo … trong đọc, viết, nói và nghe
- Đa dạng hóa các hình thức học tâp, tận dụng công nghệ thông tin một cách phù hợp hiệu quả trong dạy học Ngữ văn theo yêu cầu phát triển phẩm chất, năng lực Theo định hướng này, giáo viên chú ý sử dụng các trò chơi ngôn ngữ, nhất là đói với học sinh tiểu học, hướng dẫn học sinh cách dụng sơ đồ để thể hiện một công việc …khuyến khích học sinh tự tìm đọc hay thu thập tài liệu trong thư viện và trên mạng Internet để thực hiện các nghiên cứu
cá nhân hay theo nhóm, sau đó trình bày, thảo luận kết quả nghiên cứu trước lớp; rèn luyện kỹ năng sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin để hỗ trợ cho việc trình bày
- Mở rộng không gian dạy và học, không chỉ trong lớp học mà còn có thể ở thư viện, sân trường, nhà bảo tàng, khhu triển lãm Có thể cho học sinh đi tham quan, dã ngoại, yêu cầu các em ghi chép, chụp hình, quay phim … những gì quan sát, trải nghiệm và viết bản báo cáo, thuyết minh… Kết hợp các hoạt động dạy học trong lớp học với hoạt động trải nghiệm
2 4.3 Về kiểm tra – đánh giá
Trang 27Đánh giá theo yêu cầu phát triển phẩm chất và năng lực trong môn Ngữ văn là rất khó, đòi hỏi người đánh giá phải nhiệt tình, có phương pháp và nắm chắc kỹ thuật đánh giá Đánh giá phẩm chất chủ yếu là bằng định tính, cần thông qua quan sát, ghi chép, nhận xét về hành
vi, cách ứng xử, các biểu hiện về thái độ, tình cảm của học sinh khi đọc, viết, nói và nghe văn bản cũng như sinh hoạt giao tiếp hàng ngày
Đánh giá năng lực với môn Ngữ văn chủ yếu bằng định lượng, cần thông qua các bài kiểm tra (nói, viết, trình bày) với nhiều hình thức và mức độ khác nhau Tuy nhiên, điều quan trọng cần xác lập được câu hỏi, bài tập, nhiệm vụ một cách rõ ràng, dễ đo lường và minh bạch trong đáp án Muốn thế nên kết hợp cả hai hình thức trắc nghiệm và tự luận Để hạn chế tsinh chủ quan trong đánh giá bài viết luận của học sinh, câu hỏi và đáp án cần rất rõ yêu cầu về ý
vì thế nên tách vấn đề ra thành các câu hỏi, mỗi câu một ý để dễ kiểm soát và đánh giá thống nhất Năng lực diễn đạt và cảm thụ thưởng thức văn học không cần viết dài, chủ yếu chỉ ở mức độ đoạn văn hoàn chỉnh
CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP
1 Phan tích dạy học Ngữ văn theo định hướng tích cực
2 Phân tích các phương hướng vận dụng nguyên tắc tích hợp trong dạy học Ngữ văn
3 Phân tích các cách thức tích hợp trong dạy học Ngữ văn
4 Phân tích hiệu quả dạy học Ngữ văn khi thực hiện định hướng tích hợp
Cho ví dụ minh họa
6 Phân tích các hình thức dạy học Ngữ văn Đa dạng hóa các hình thức dạy học Ngữ văn bao gồm những nội dung gì?
8 Vận dụng các hình thức dạy học như thế nào để tạo hiệu quả đích thực cho bài học Ngữ văn?
9 Phân tích việc dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh
Trang 28Chương 3 ĐỔI MỚI ĐỒNG BỘ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC, KIỂM TRA,
ĐÁNH GIÁ TRONG MÔN NGỮ VĂN THEO HƯỚNG TIẾP CẬN NĂNG LỰC
3.1 Một số phương pháp dạy học tích cực sử dụng trong dạy học Ngữ văn
3.1.1 Dạy học đặt và giải quyết vấn đề
3.1.1.1 Thế nào là dạy học đặt và giải quyết vấn đề?
Đây không phải là phương pháp hoàn toàn mới đối với giáo viên Nó đã xuất hiện từ những năm 60 của thế kỷ XX Tuy nhiên, cho đến nay đa số giáo viên chưa có sự vận dụng thành thạo và chưa áp dụng phổ biến cho tất cả các môn học Nét đặc trưng chủ yếu của dạy học đặt và giải quyết vấn đề là sự lĩnh hội tri thức diễn ra thông qua việc tổ chức cho học sinh hoạt động đặt và giải quyết các vấn đề Sau khi giải quyết vấn đề học sinh sẽ thu nhận được kiến thức mới, kĩ năng mới hoặc thái độ tích cực
Nêu và giải quyết vấn đề, đặt và giải quyết vấn đề, giải quyết vấn đề, phát hiện và giải quyết vấn đề…là các thuật ngữ được dùng trong lí luận dạy học các môn học khác nhau Tuy khác nhau về tên gọi nhưng đặt điểm chung của phương pháp là đặt và giải quyết được các vấn đề và kết luận vấn đề để rút ra kiến thức cần lĩnh hội hoặc áp dụng kiến thức vào thực tiễn
Phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề phải đảm bảo được các yêu cầu sau:
- Phải có một tình huống cụ thể cho phép ta đặt ra được một vấn đề
người học và sẵn sàng phục vụ người học
nghiên cứu, đánh giá, tư duy…
tính liệt kê)
- Phải có khoảng cách thời gian giữa làm việc trong nhóm và làm việc độc lập mang tính
cá nhân
1 Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức
a Tạo tình huống có vấn đề
b Phát triển và nhận dạng vấn đề nảy sinh
Trang 29c Phát biểu vấn đề cần giải quyết
2 Giải quyết vấn đề đặt ra
a Đề xuất các giả thuyết
b Lập kế hoạch giải quyết vấn đề
c Thực hiện kế hoạch giải quyết
3 Kết luận
a Thảo luận kết quả và đánh giá
b Khẳng định hay bác bỏ giả thiết đã nêu
c Phát biểu kết luận
d Đề xuất vấn đề mới
3.1.1.3 Các mức độ tham gia của người học trong dạy – học đặt và giải quyết vấn đề Trong dạy học đặt và giải quyết vấn đề có thể phân biệt bốn mức độ tham gia của người học như sau:
Giải quyết vấn đề Kết luận
Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề, đồng thời giáo viên giải quyết
vấn đề Học sinh là người quan sát và tiếp nhận kết luận do giáo viên thực hiện Đây là mức thấp nhất và thường áp dụng cho học sinh nhỏ tuổi
Mức 2: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề, đồng thời giáo viên giải quyết
vấn đề Sau đó giáo viên và học sinh cùng rút ra kết luận Mức độ tham gia của học sinh cao hơn mức độ 1 Học sinh qua sát rút ra kết luận với sự gợi ý của giáo viên
Mức 3: Giáo viên gợi ý để học sinh tìm ra vấn đề, hướng dẫn học sinh tìm cách giải
quyết vấn đề, học sinh tiến hành giải quyết vấn đề, giáo viên và học sinh cùng đánh giá kết quả rút ra kết luận
Mức 4: Học sinh tự phát hiện vấn đề cần nghiên cứu, nêu giả thuyết, lập kế hoạch và giải
quyết vấn đề, tự rút ra kết luận, giáo viên nhận xét đánh giá
Trang 303.1.1.3 Cách tiến hành dạy học đặt và giải quyết vấn đề
a Chọn nội dung phù hợp
Thực tế đã chỉ ra rằng có rất nhiều kiểu vấn đề, chủ đề có thể lựa chọn, phụ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể, từng cách xây dựng vấn đề và các hoạt động đề ra cho người học Tuy nhiên, đặc trưng bề nổi của một vấn đề thì không bao giờ rời xa nhu cầu của người học cũng như không bao giờ rời xa mục tiêu học tập
Vấn đề phải được xây dựng xung quanh một tình huống có thực trong cuộc sống và cần phải cụ thể, có tính chất vấn, phải dễ cho người học diễn đạt và triển khai các hoạt động liên quan Một vấn đề hay là một vấn đề không quá phức tạp cũng không quá đơn giản, phải có nhiều cách thể hiện và giải quyết vấn đề Vấn đề đặt ra cần phải có nhiều tài liệu tham khảo nhưng trọng tâm nhằm giúp người học có thể tự tìm tài liệu, tự khai thác thông tin và tự trao dồi kiến thức
Giáo viên cần căn cứ vào đặc điểm của phương pháp, dựa vào nội dung cụ thể để áp dụng phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề cho phù hợp Giáo viên cần lựa chọn mức
độ phù hợp với đối tượng học sinh và nội dung bài học Đối với học sinh nhỏ tuổi hoặc đối với các bài học kiến thức mới, giáo viên có thể áp dụng mức độ 1,2 Đối với học sinh ở độ tuổi lớn hơn hoặc các bài áp dụng kiến thức kĩ năng vào thực tiễn có thể áp dụng mức độ 3 hoặc 4
b Thiết kế kế hoạch bài học
Sau khi chọn được nội dung phù hợp, giáo viên thiết kế kế hoạch bài học, tổ chức các hoạt động dạy học sao cho phù hợp với đặc trưng phát huy được tính hiệu quả của phương pháp đặt và giải quyết vấn đề (chú ý đến lựa chọn các mức độ cho phù hợp với nội dung và trình độ của học sinh.)
- Xác định mục tiêu của bài học:
Ngoài mục tiêu chung về kiến thức, kĩ năng, thái độ của bài học theo chuẩn kiến thức
và kĩ năng, cần chú ý đến kĩ năng phát hiện, đặt và giải quyết vấn đề cần được hình thành ở bài học dạy theo phương pháp này
- Phương pháp dạy học chủ yếu:
Cần nêu rõ phương pháp đặt và giải quyết vấn đề kết hợp với một số phương pháp và
kỹ thuật dạy học khác, ví dụ như phương pháp dạy học hợp tác, sơ đồ tư duy, phương pháp thí nghiệm
Trang 31a Phát hiện vấn đề
Tùy theo nội dung bài học và đối tượng học sinh ở các cấp học, giáo viên có thể tạo cơ hội để học sinh tham gia phát hiện tình huống có vấn đề (xây dựng bài toán nhận thức), phát biểu và nhận dạng vấn đề nảy sinh và nêu vấn đề cần giải quyết ở các mức độ khác nhau (mức 1 đến 4) cho phù hợp
Tình huống có vấn đề phải kích thích hứng thú nhận thức, tính tò mò ham hiểu biết, thích khám phá của học sinh Tình huống có vấn đề phải phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh Học sinh có thể tự phát hiện và giải quyết vấn đề dựa vào vốn kiến thức liên quan đến vấn đề đó, bằng hoạt động tư duy, bằng cách tiến hành thí nghiệm, thu thập và xử lí thông tin…
Vấn đề đặt ra cần được phát biểu dưới dạng câu hỏi nêu vấn đề Câu hỏi nêu vấn đề cần đảm bảo các yêu cầu sau:
các kiến thức đã có
điều kiện làm xuất hiện giả thuyết, tạo điều kiện tìm ra con đường giải quyết
vấn đề
b Giải quyết vấn đề
Vấn đề đặt ra theo các hướng khác nhau và đề xuất cách kiểm tra giả thuyết Sau khi phát hiện và nêu vấn đề cần giải quyết, cần tổ chức hướng dẫn để học sinh giải quyết vấn đề như sau:
Trang 32- Đề xuất các giả thuyết: Tùy thuộc vào vấn đề cụ thể và mức độ phù hợp với năng lực, điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị và thời lượng dạy học, có thể xây dựng các giả thuyết về vấn
đề đó
vấn đề cần nghiên cứu bằng cách làm thí nghiệm, điều tra, phỏng vấn, tìm thông tin trên mạng hay các tài liệu sách báo có nội dung liên quan Phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong nhóm cùng tham gia thu thập, xử lí tổng hợp thông tin, báo cáo kết quả
đề xuất có sự hỗ trợ cần thiết của giáo viên
c Kết luận vấn đề
Từ kết quả kiểm chứng các giả thuyết đã nêu, học sinh thảo luận:
- Phân tích, đánh giá các kết quả thu được khẳng định hay bác bỏ giả thuyết đã nêu, tìm
ra giả thuyết đúng
- Phát biểu kết luận, rút ra vấn đề mới về kiến thức, kĩ năng, thái độ
Quy trình thực hiện phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề không nhất thiết lúc nào cũng tuân thủ theo các bước mà cần vận dụng linh hoạt Trong một bài học, giáo viên cần phối hợp linh hoạt các phương pháp khác nhau kết hợp với phương pháp đặt và giải quyết vấn
sinh một cách sâu sắc, vững chắc, học sinh biết cách chủ động chiếm lĩnh kiến thức và đánh giá được kết quả học tập của bản thân mình và của người khác
Trong thực tế, để thực hiện theo đúng quy trình, giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian Học sinh cần có thói quen và khả năng tự học và học tập tự giác tích cực thì mới đạt hiệu quả cao Trong một số trường hợp cần có thiết bị dạy học và các điều kiện cần thiết đi kèm thì
Trang 33phương pháp đặt và giải quyết vấn đề mới có hiệu quả (Ví dụ: phương pháp thực hành thí nghiệm)
3.1 2 Phương pháp dạy học hợp tác
3.1.2.1 Thế nào là dạy học hợp tác?
Ở nhiều môn học khác nhau, phương pháp dạy học hợp tác có một số tên gọi khác nhau như: học tập hợp tác, học theo nhóm, thảo luận nhóm…Thuật ngữ tiếng Anh “cooperative learning” có nghĩa là học tập hợp tác, nhấn mạnh vai trò chủ thể của học sinh trong dạy học
và được coi là một phương pháp dạy học
Trong dạy học hợp tác, giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động trong những nhóm nhỏ
để học sinh cùng thực hiện một nhiệm vụ nhất định trong một thời gian nhất định Trong nhóm, dưới sự chỉ đạo của nhóm trưởng, học sinh kết hợp giữa làm việc cá nhân, làm việc theo cặp, chia sẻ kinh nghiệm và hợp tác cùng nhau để giải quyết nhiệm vụ được giao
Để giúp người học tham gia vào đời sống xã hội một cách tích cực, tránh tính thụ động,
ỷ lại thì phương pháp dạy học hợp tác là một trong những phương pháp tích cực hướng tới mục tiêu trên Với phương pháp này, người học được làm việc cùng nhau theo các nhóm nhỏ
và mỗi thành viên trong nhóm đều có cơ hội tham gia vào nhiệm vụ được phân công sẳn Những nhiệm vụ học tập giao cho học sinh cần phải khuyến khích sự phối hợp của các thành viên trong nhóm (nhóm trưởng, thư ký, người quản lí thời gian ) Cần hình thành thói quen học tập hợp tác cho học sinh Một nhiệm vụ mang tính cộng tác là nhiệm vụ mà người học không thể giải quyết một mình mà cần thiết phải có sự cộng tác thực sự giữa các thành viên trong nhóm, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo tính độc lập giữa các thành viên Trong học tập hợp tác, học sinh học cách chia sẻ, giúp đỡ và tôn trọng lẫn nhau, tăng cường sự tham gia và nâng cao hiệu quả học tập
Trong học tập hợp tác, người dạy cần có nhiệm vụ rõ ràng và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác giữa người học Tầm quan trọng của nhiệm vụ được phân công và vai trò của nhiệm vụ sẽ quyết định động cơ học tập của người học Người học sẽ có động cơ thực hiện nhiệm vụ của mình nếu họ biết rõ được vai trò của các nguồn thông tin ban đầu, của các nguồn lực sẳn có, biết được ý nghĩa của vấn đề, của các yếu tố đầu vào
Phương pháp học tập hợp tác sẽ hiệu quả hơn đối với việc giải quyết các vấn đề đòi hỏi
sự sáng tạo, ý tưởng đa dạng Một nhiệm vụ càng gần với kinh nghiệm cá nhân hoặc với công
Trang 34việc sau này của người học sẽ có nhiều cơ hội khích lệ người học tham gia hơn Đối với người học, hoạt động hợp tác trong nhóm cần thể hiện 5 yếu tố sau:
- C ó sự phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực: kết quả của cả nhóm chỉ có được khi có
sự hợp tác làm việc, chia sẻ của tất cả các thành viên trong nhóm Mỗi thành viên hoặc cặp thành viên được giao một phần nhiệm vụ chung của nhóm Kết quả của nhóm được tạo ra khi kết hợp tất cả các kết quả của các thành viên
- Thể hiện trách nhiệm cá nhân: Mỗi cá nhân đều được phân công trách nhiệm thực hiện
một phần của công việc và tích cực làm việc để đóng góp vào kết quả chung Tránh tình trạng chỉ nhóm trưởng và thư ký làm việc và ý kiến được tôn trọng còn các thành viên khác đứng ngoài cuộc, quan sát không làm việc hoặc không được sử dụng kết quả
- Khuyến khích sự tương tác: Trong quá trình hợp tác cần có sự trao đổi, chia sẻ giữa các
thành viên trong nhóm để tạo thành ý kiến chung của nhóm
- Rèn luyện các kĩ năng xã hội: Tất cả các thành viên đều có cơ hội rèn luyện kĩ năng
như: lắng nghe tích cực, đặt câu hỏi, đưa thông tin phản hồi tích cực, thuyết phục, ra quyết định…
- Kĩ năng đánh giá: Cả nhóm học sinh thường xuyên rà soát công việc đang làm “chúng
ta đang làm như thế nào?” và kết quả ra sao? Học sinh có thể đưa ra ý kiến nhận định đúng hoặc sai, tốt hoặc chưa tốt để góp phần hoàn thiện các nhiệm vụ được giao và kết quả của nhóm
3.1.2.2 Quy trình dạy học hợp tác
Dạy học hợp tác sẽ có hiệu quả khi:
- Có đủ thời gian để thực hiện nhiệm vụ
- Nhiệm vụ học tập có tính chất tương đối khó hoặc rất khó
Để thực hiện được các nhiệm vụ như thế, cần huy động kinh nghiệm của nhiều người, thảo luận để thống nhất một vấn đề có nhiều cách hiểu khác nhau hoặc có ý kiến đa dạng, phong phú Giáo viên cần căn cứ vào đặc điểm dạy hợp tác để lựa chọn nội dung cho phù hợp, không nên lạm dụng, áp dụng một cách máy móc, mang tính hình thức sẽ ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh và thời gian của giờ học
Trang 35Xuất phát từ mục tiêu, nội dung của bài học, giáo viên cần thiết kế các hoạt động dạy học trong đó xác định hoạt động nào cần tổ chức hoạt động theo nhóm
- Xác định rõ tiêu chí thành lập nhóm: Theo trình độ học sinh, theo ngẫu nhiên, theo sở
trường của học sinh hoặc một tiêu chí xác định nào đó
- Xác định phương pháp dạy học chủ yếu: dạy và học hợp tác cần kết hợp với phương
pháp, kĩ thuật dạy học khác, ví dụ như phương pháp thí nghiệm, đặt vấn đề giải quyết vấn đề,
kĩ thuật khăn phủ bàn, kĩ thuật mảnh ghép…
- Chuẩn bị thiết bị, dụng cụ: đưa ra danh mục các thiết bị, dụng cụ do giáo viên chuẩn bị
hay cần huy động học sinh chuẩn bị hoặc tự làm hoặc khai thác từ các nguồn khác
- Thiết kế hoạt động của giáo viên và học sinh:
+ Cần thiết kế hoạt động nhóm một cách cụ thể.Ví dụ hoạt động của giáo viên là: giao
nhiệm vụ phù hợp với khả năng của học sinh, nêu mục đích, nhiệm vụ của nhóm, cách chia nhóm, phân công nhóm trưởng, thư kí và nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên trong nhóm + Thiết kế các phiếu giao việc tạo điều kiện cho học sinh có thể đễ dàng hiểu rõ nhiệm vụ
và thể hiện rõ kết quả hoạt động của cá nhân hoặc của cả nhóm
+ Chú ý xác định thời gian phù hợp cho hoạt động nhóm để thực hiện có hiệu quả, tránh hình thức (giao nhiệm vụ trong thời gian quá ngắn không đủ thời gian để học sinh thảo luận) + Cần thiết kế các hoạt động kết hợp cá nhân, theo cặp, theo nhóm để thay đổi hoạt động, tạo hứng thú và nâng cao kết quả học tập của học sinh
+ Thiết kế nhiệm vụ củng cố, đánh giá: giáo viên cần dự kiến cách tổ chức đánh giá: tổ
chức đánh giá kết quả hoạt động của nhóm qua việc đại diện các nhóm trình bày kết quả, các nhóm khác nhận xét bổ sung
+ Giáo viên có thể thiết kế thêm một số bài tập củng cố chung hoặc dưới hình thức trò chơi học tập theo nhóm, khuyến khích học sinh tích cực và thoải mái nhưng cần chú ý tới thời gian của lớp học
c Tổ chức dạy học hợp tác Giáo viên nêu nhiệm vụ học tập hoặc nêu vấn đề cần tìm hiểu và phương pháp học tập cho toàn lớp
- Phân công nhóm học tập và bố trí vị trí hoạt động của nhóm phù hợp theo thiết kế:
nhóm trưởng, thư kí và các thành viên Tùy theo nhiệm vụ có thể có cách tổ chức khác nhau: cặp hai học sinh, nhóm ba học sinh hoặc nhóm đông hơn 4 – 8 học sinh…Các học sinh ngồi
Trang 36đối diện nhau để tạo ra sự tương tác trong quá trình học tập, tránh trường hợp chia hai dãy bàn một nhóm, học sinh bàn sau chỉ nhìn vào lưng của bàn trước Nên chú ý tạo điều kiện cho tất
cả học sinh đều có thể tham gia vai trò làm nhóm trưởng và thư kí nhằm phát triển kĩ năng
học tập và kĩ năng lãnh đạo điều khiển cho tất cả các học sinh
- Giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm học sinh: có thể giao cho mỗi nhóm học sinh một nhiệm
vụ riêng biệt trong gói nhiệm vụ chung hoặc tất cả các nhóm đều cùng thực hiện một nhiệm
vụ Giáo viên cần nêu rõ thời gian thực hiện và yêu cầu rõ sản phẩm của mỗi nhóm
- Hướng dẫn hoạt động của nhóm học sinh: Nhóm trưởng điều khiển hoạt động nhóm:
học sinh hoạt động cá nhân, theo cặp chia sẻ kinh nghiệm và thảo luận, thống nhất kết quả chung của nhóm, thư kí ghi kết quả của nhóm, phân công đại diện trình bày kết quả trước lớp
- Giáo viên theo dõi, điều khiển, hướng dẫn hỗ trợ các nhóm: Giáo viên cần quan sát bao
quát, đi tới các nhóm để hướng dẫn, hỗ trợ học sinh Khi học sinh thảo luận không đi vào trọng tâm hoặc tranh luận thiếu hợp tác thì rất cần có sự hỗ trợ, can thiệp kịp thời của giáo viên để định hướng điểu chỉnh hoạt động của nhóm
- Tổ chức học sinh báo cáo kết quả và đánh giá: Giáo viên yêu cầu mỗi nhóm sẽ hoàn
thiện kết quả của mỗi nhóm và cử đại diện nhóm báo cáo kết quả, chia sẻ kinh nghiệm với nhóm khác, yêu cầu học sinh khác lắng nghe, nhật xét, bổ sung
- Giáo viên hướng dẫn học sinh lắng nghe và phản hồi tích cực
- Giáo viên chốt lại kiến thức cơ bản: Tránh tình trạng giáo viên giảng lại toàn bộ các vấn
đề học sinh đã trình bày làm mất thời gian
3.1.2.3 Tác động tích cực của phương pháp dạy học theo nhóm
Phương pháp dạy học theo nhóm có những tác động tích cực đối với việc phát triển nhận thức và kĩ năng của người học:
nguyên lý, thông tin về sự việc vào giải quyết các tình huống khác nhau, nâng cao niềm tin vào việc học tập
- Tăng cường sự tham gia tích cực của học sinh Học sinh được chủ động tham gia, được bày tỏ ý kiến quan điểm, được tôn trọng…Thông qua đó người học cải thiện được mối quan
hệ xã hội của bản thân
- Nâng cao kết quả học tập
Trang 37- Phát triển năng lực lãnh đạo, tổ chức, năng lực hợp tác của học sinh
-Tăng cường đánh giá đồng đẳng và tự đánh giá trong nhóm
Dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ đạt hiệu quả cao khi có các điều kiện sau:
- Bàn ghế dễ di chuyển
- Nhiệm vụ học tập đủ khó để thực hiện dạy học hợp tác
hợt
chức và các kĩ năng xã hội
- Thời gian đủ để học sinh thảo luận nhóm và trình bày kết quả
3.1.3 Phương pháp dạy học theo góc
3.1.3.1 Thế nào là học theo góc?
Học theo góc là một phương pháp dạy học theo đó học sinh thực hiện các nhiệm vụ khác nhau tại các vị trí cụ thể trong không gian lớp học nhưng cùng hướng tới chiếm lĩnh một nội dung học tập theo các phong cách học khác nhau đảm bảo cho học sinh học sâu và học thoải mái
Phong cách học là cách thức chiếm lĩnh kiến thức của người học Có học sinh thích học qua phân tích (nghiên cứu tài liệu, đọc sách để rút ra kết luận hoặc thu nhận kiến thức); có học sinh thích học qua quan sát; có người học thích học qua trải nghiệm (khám phá, làm thử),
có học sinh thích học qua thực hành áp dụng (thông qua hành động để rút ra kết luận hoặc thu nhận kiến thức)
Khi được thực hiện nhiệm vụ tại các góc, học sinh sẽ bị cuốn hút vào việc học tập tích cực, không chỉ với việc thực hành các nội dung học tập mà còn khám phá các cơ hội học tập mới mẻ Học sinh sẽ có cảm giác gần gũi với tư liệu học tập và có cơ hội phát triển năng lực
cá nhân theo những cách khác nhau
Trang 38Với sự thể hiện đa dạng, học theo góc cho phép học sinh tự lựa chọn phong cách học phù hợp với năng lực và sở thích để thể hiện năng lực của mình Cũng đồng nghĩa giáo viên cần giải quyết các vấn đề học tập của học sinh một cách đa dạng Trong dạy học theo góc, giáo viên có thể tổ chức các góc học tập theo cách tích hợp kiến thức các môn học trong một nội dung/ chủ đề
Ví dụ: Với Chủ đề Bác Hồ, giáo viên tổ chức Góc đọc tài liệu về Bác Hồ, Góc vẽ tranh
về Bác Hồ, Góc kể chuyện về Bác Hồ, Góc viết (văn, thơ) về Bác Hồ
3.1.3.2 Quy trình thực hiện dạy học theo góc: gồm 3 bước
Bước 1: Chọn nội dung, không gian lớp học phù hợp
Lựa chọn nội dung bài học phù hợp: Căn cứ vào đặc điểm học theo góc cần chọn nội
dung bài học phù hợp theo phong cách học khác nhau hoặc theo các hình thức hoạt động khác nhau
- Lựa chọn địa điểm phù hợp: không gian lớp học là điều kiện chi phối việc tổ chức học
theo góc Không gian phải phù hợp với số học sinh để dễ dàng bố trí bàn ghế, đồ dùng học tập trong các góc và các hoạt động của học sinh tại các góc
Bước 2 Thiết kế kế hoạch bài học
- Xác định mục tiêu: ngoài mục tiêu cần đạt được của bài học theo chuẩn kiến thức, kĩ
năng cũng có thể nêu thêm mục tiêu về kĩ năng làm việc độc lập, khả năng làm việc chủ động của học sinh khi thực hiện học theo góc
- Xác định các phương pháp dạy học chủ yếu: Phương pháp học theo góc cần phối hợp
thêm một số phương pháp khác như: phương pháp thí nghiệm, học tập hợp tác theo nhóm, đặt
và giải quyết vấn đề, phương pháp trực quan, sử dụng đa phương tiện…
Trang 39- Xác định tên mỗi góc và nhiệm vụ phù hợp: Căn cứ vào nội dung bài học và điều kiện
thực tế, giáo viên có thể tổ chức 2, 3 hoặc 4 góc Nếu 2 góc có thể là góc phân tích, góc quan sát (hoặc thực hành) Nếu 3 góc có thể gồm góc phân tích, góc quan sát, góc thực hành Nếu 4 góc có thể gồm góc quan sát, góc phân tích, góc thực hành, góc trải nghiệm Tùy vào từng môn học xác định tên các góc cho phù hợp
- Chuẩn bị đồ dùng, thiết bị dạy học: Đồ dùng và thiết bị, tài liệu phù hợp với nhiệm vụ
hoạt động ở mỗi góc tạo điều kiện để học sinh tiến hành các hoạt động nhằm đạt mục tiêu dạy học Ví dụ SGK, tài liệu cho góc phân tích, ti vi, băng hình cho góc quan sát, giấy bút, đồ dùng cho góc trải nghiệm, góc thực hành…
- Thiết kế các nhiệm vụ và hoạt động ở mỗi góc
Căn cứ vào nội dung cụ thể của bài học, vào đặc trưng phương pháp và không gian lớp học, giáo viên cần
+ Xác định số góc và tên mỗi góc
+ Xác định nhiệm vụ ở mỗi góc và quy định thời gian tối đa dành cho học sinh ở mỗi góc Lưu ý nhiệm vụ ở mỗi góc phải rõ ràng, cụ thể Thời gian cần được quản lívà phân bổ phù hợp với nhiệm vụ của mỗi góc và quỹ thời gian của bài học
+ Xác định những thiết bị, đồ dùng, phương tiện cần thiết cho học sinh hoạt động Thiết
bị, đồ dùng phải đủ với số lượng học sinh để học sinh có thể hoàn thành nhiệm vụ trong thời gian quy định
+ Hướng dẫn học sinh chọn góc theo sở thích và luân chuyển qua đủ các góc Học sinh
có thể làm việc cá nhân hoặc theo cặp hoặc theo nhóm tại mỗi góc Giáo viên cần rèn luyện cho học sinh tính tự giác, tích cực, chủ động và kỉ luật trong học tập
Thiết kế hoạt động đánh giá và củng cố nội dung bài học:
Học theo góc chủ yếu là học sinh làm việc cá nhân hoặc theo nhóm, giáo viên là người điều khiển, trợ giúp do đó kết quả học tập của học sinh cần được tổ chức chia sẻ, đánh giá Sau khi học sinh đã luận chuyển qua đủ các góc, giáo viên tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả ở mỗi góc theo nhiệm vụ được giao Trên cơ sở ý kiến báo cáo và các ý kiến bổ sung của học sinh giáo viên nhận xét, đánh giá và chốt lại vấn đề trọng tâm, đảm bảo cho học sinh học sâu và học thoải mái Lưu ý, giáo viên không giảng lại toàn bộ kiến thức làm mất thời gian và hứng thú học tập của học sinh
Bước 3: Tổ chức hoạt động học tập theo góc
Trang 40Trên cơ sở kế hoạch bài học đã thiết kế, giáo viên tổ chức các hoạt động cho phù hợp với đặc điểm học theo góc
Cấu tạo của một tiết học theo góc có thể gồm các thao tác như sau:
gian tối đa để thực hiện nhiệm vụ tại các góc
học sinh quá đông tại một góc giáo viên có thể điều chỉnh
- Học sinh thực hiện nhiệm vụ tại các góc, giáo viên quan sát, hỗ trợ
học sinh luân chuyển sang góc khác sau khi đã hết thời gian Học sinh sẽ luân chuyển theo một trật tự, tránh tình trạng hỗn loạn gây mất thời gian lớp học Giáo viên có thể đưa ra sơ đồ luân chuyển để học sinh thực hiện
hoạt động học Mỗi nhóm học sinh sẽ chọn báo cáo kêt quả tại góc cuối cùng, có thể treo và trình bày tại góc hoạt động Các nhóm khác nhận xét, bổ sung ý kiến Cuối cùng là giáo viên nhận xét về kết quả học tập của học sinh, chốt lại kiến thức trọng tâm của bài học
nhiệm vụ nên học theo góc có khả năng tăng cường sự tham gia, nâng cao hứng thú và cảm giác thoải mái của học sinh
- Học sinh được tìm hiểu một nội dung theo các cách khác nhau như nghiên cứu lí thuyết, thí nghiệm, quan sát và áp dụng do đó học sinh được học sâu và có hiệu quả bền vững (nhớ lâu hơn)
3.1 4 Phương pháp dạy học theo sơ đồ
3.1.4.1 Thế nào là dạy học theo sơ đồ?
Trong dạy học tích cực, người học phải chủ động tham gia vào quá trình lĩnh hội kiến thức mới, do đó phương pháp dạy học của người giáo viên cần tạo cơ hội cho người học được tham gia hoạt động trong quá trình học Phương pháp dạy học theo sơ đồ mang lại hiệu quả dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của người học
Phương pháp dạy học theo sơ đồ hay theo mô hình là một phương pháp dạy học mang tính trực quan, thường được kết hợp với các phương pháp thuyết trình hay vấn đáp để mang