Bài giảng Kinh tế chính trị Mác-Lênin cung cấp cho người học những kiến thức như: Đối tượng, phương pháp nghiên cứu và chức năng của kinh tế chính trị Mác – Lênin; Hàng hóa, thị trường và vai trò của các chủ thể tham gia thị trường; Giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG
(Dành cho b ậc Đại học - không chuyên lý luận chính
tr ị)
Qu ảng Ngãi, tháng 5 năm 2021
Trang 3Chương 1 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CHỨC NĂNG CỦA
KINH T Ế CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN
A M ục tiêu
1 V ề kiến thức:
- Nắm được lịch sử ra đời và phát triển của KTCT Mác – Lênin
- Nắm được đối tượng, phương pháp nghiên cứu và chức năng của KTCT Mác – Lênin
- Hiểu được sự cần thiết của việc học tập KTCT Mác – Lênin
Giai đoạn thứ nhất, từ thời cổ đại đến cuối thế kỷ XVIII
+ Tư tưởng kinh tế thời kỳ cổ, trung đại: từ thời cổ đại đến thế kỷ XV
Sự xuất hiện của tư tưởng kinh tế thời cổ, trung đại gắn liền với phân công lao động lần thứ nhất: chăn nuôi tách ra khỏi trồng trọt
Trong các công trình nghiên cứu của những nhà bác học thời cổ đại như Xenophon (430-345 tr.CN), Platon (427-347 tr.CN), Aristotle (384-322 tr.CN) và trong một số tác phẩm của những nhà tư tưởng thời phong kiến ở Trung Quốc, Ấn Độ,… đã đề cập đến những vấn đề kinh tế Tuy nhiên, do trình độ phát triển khách quan còn lạc hậu của các nền sản xuất nên nhìn chung, chưa tạo được những tiền đề cho sự xuất hiện mang tính chất chín muồi các lý luận chuyên về kinh tế Trong thời kỳ này chỉ xuất hiện số ít tư
Trang 4tưởng kinh tế mà không phải là những hệ thống lý thuyết kinh tế hoàn chỉnh với nghĩa bao hàm các phạm trù, khái niệm khoa học
Tư tưởng kinh tế thời kỳ cổ đại coi chế độ chiếm hữu nô lệ là hợp lý, đánh giá cao vai trò của kinh tế tự nhiên
Tư tưởng kinh tế thời kỳ trung đại gắn liền với chế độ phong kiến bảo vệ kinh tế tự nhiên, chủ yếu thông qua các bộ luật chịu ảnh hưởng của thần học
+ Ch ủ nghĩa trọng thương: từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVII
Chủ nghĩa trọng thương là hình thái đầu tiên của hệ tư tưởng tư sản trong lĩnh vực KTCT, xuất hiện trong giai đoạn tan rã của chế độ phong kiến và đây là thời kỳ tích lũy nguyên thủy tư bản Đây là học thuyết kinh tế đầu tiên về PTSX TBCN
Đây cũng là thời kỳ Chủ nghĩa duy vật đấu tranh chống Chủ nghĩa duy tâm, kinh tế hàng hóa và khoa học tự nhiên phát triển mạnh Đặc biệt là những phát kiến địa lý cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, việc tìm ra châu Mỹ, đường biển qua châu Phi, từ châu Âu sang Ấn Độ,… đã tạo điều kiện cho ngoại thương phát triển
Về mặt thuật ngữ, thuật ngữ KTCT (political economy) được xuất hiện vào đầu thế
kỷ thứ XVII trong tác phẩm “Chuyên luận về KTCT” (1615) của Antoni Montchrestien (1575-1621)
Đại biểu điển hình: Thomas Mun (Anh, 1571-1641), Antoni Montchrestien (Pháp,
1575-1621)
Đối tượng nghiên cứu: lĩnh vực lưu thông
Đặc điểm và những quan điểm kinh tế chủ yếu chủ nghĩa trọng thương:
Thứ nhất, đánh giá cao vai trò của tiền tệ, coi tiền tệ là tiêu chuẩn cơ bản của của cải, nhà nước càng nhiều tiền thì càng giàu Hàng hóa chỉ là phương tiện tăng khối lượng tiền tệ
Thứ hai, để có thể tích lũy được tiền tệ phải thông qua hoạt động thương mại,
mà trước hết là ngoại thương
Thứ ba, lợi nhuận do lĩnh vực lưu thông buôn bán, trao đổi sinh ra Nó là kết
quả của việc mua ít bán nhiều, mua rẻ bán đắt mà có
Thứ tư, tích lũy tiền tệ chỉ thực hiện được dưới sự giúp đỡ của nhà nước
Thứ năm, hệ thống quan điểm của chủ nghĩa trọng thương còn kém về tính lý luận, chưa biết đến quy luật kinh tế Những đề xuất trong chính sách của họ thiên về tổng kết kinh nghiệm thực tiễn
H ạn chế: chưa biết đến quy luật kinh tế; phương pháp nghiên cứu là sự khái quát có
tính chất kinh nghiệm những hiện tượng bề ngoài của đời sống kinh tế xã hội, họ chỉ mới
Trang 5+ Ch ủ nghĩa trọng nông: từ giữa thế kỷ XVII đến nữa đầu thế kỷ XVIII
Chủ nghĩa trọng nông xuất hiện chủ yếu ở Pháp do hoàn cảnh kinh tế đặc biệt của Pháp lúc bấy giờ là sự đình đốn của nền nông nghiệp
Trong bối cảnh đó, chủ nghĩa trọng nông ra đời nhằm giải phóng kinh tế nông nghiệp nước Pháp khỏi QHSX phong kiến, phát triển nông nghiệp theo kiểu TBCN
Đại biểu tiêu biểu: Francois Quesnay (Pháp, 1694-1774), Anne Robert Jacques
Turgot (Pháp, 1727-1771)
Đối tượng nghiên cứu: lĩnh vực sản xuất
Đặc điểm và những quan điểm kinh tế chủ yếu chủ nghĩa trọng nông:
Thứ nhất, tìm ra nguồn gốc của của cải và sự giàu có của xã hội từ lĩnh vực sản xuất
Thứ hai, coi lĩnh vực sản xuất nông nghiệp là lĩnh vực duy nhất tạo ra của cải Xem giá trị hàng hóa có trước khi đem trao đổi, còn lưu thông và trao đổi không tạo ra giá trị
Thứ ba, sản phẩm thuần túy chỉ được tạo ra trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, còn công nghiệp không sản xuất ra sản phẩm thuần túy Sản phẩm thuần túy (sản phẩm thặng dư) là số chênh lệch giữa tổng sản phẩm và chi phí sản xuất
Thứ tư, ủng hộ tự do kinh tế
Thứ năm, đặt nền móng cho việc nghiên cứu tái sản xuất xã hội thông qua quan điểm về “Biểu kinh tế”
H ạn chế: chưa thấy vai trò quan trọng của nông nghiệp; chưa thấy mối quan hệ giữa
sản xuất và lưu thông; chưa phân tích được các khái niệm cơ sở như hàng hóa, giá trị, tiền
tệ, lợi nhuận
+ KTCT tư sản cổ điển Anh: từ giữa thế kỷ thứ XVII đến cuối thế kỷ XVIII Vào thời kỳ này, sau khi tích lũy được khối lượng tiền tệ lớn, giai cấp tư sản tập trung phát triển lĩnh vực sản xuất Các công trường thủ công trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp và nông nghiệp phát triển mạnh mẽ Nhiều vấn đề kinh tế của CNTB đặt ra vượt quá giải thích của chủ nghĩa trọng thương, đòi hỏi phải có lý luận mới =>KTCT tư sản cổ điển đã ra đời và phát triển mạnh ở Anh và Pháp
Đại biểu tiêu biểu:
William Petty (Anh, 1623-1687) – người sáng lập ra KTCT tư sản cổ điển Anh Đặt nền tảng lý luận lao động
Adam Smith (Anh, 1723-1790) – nhà kinh tế của thời kỳ công trường thủ công Đặt cơ sở lý luận kinh tế thị trường
Trang 6 David Ricardo (Anh, 1772-2823) – nhà kinh tế của thời kỳ đại công nghiệp cơ khí của CNTB, đỉnh cao lý luận của KTCT tư sản cổ điển Anh Kế thừa phát triển yếu tố khoa học của KTCT
Đối tượng nghiên cứu: quá trình sản xuất, quy luật phân phối sản phẩm xã hội Phương pháp nghiên cứu: trừu tượng hóa
Đặc điểm và những quan điểm kinh tế chủ yếu:
Thứ nhất, đã phát triển một cách toàn diện các vấn đề lý luận kinh tế của trường phái cổ điển Đặc biệt là lý thuyết giá trị - lao động được xây dựng một cách hoàn thiện hơn cả về chất, lượng và cơ cấu giá trị của hàng hóa
Thứ hai, các nhà nghiên cứu này đã áp dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học để nghiên cứu các hiện tượng và quá trình kinh tế để vạch ra bản chất của quan hệ sản xuất TBCN
Thứ ba, đã xây dựng được hệ thống các phạm trù và quy luật kinh tế của xã hội
tư bản: giá trị, giá cả, tiền tệ, tư bản, lợi nhuận, lợi tức, địa tô, tiền lương, tái sản xuất xã
hội
Thứ tư, ủng hộ tự do cạnh tranh theo cơ chế thị trường tự điều chỉnh
H ạn chế: coi quy luật kinh tế của CNTB là quy luật tự nhiên, tuyệt đối, vĩnh viễn
Thiếu phương pháp duy vật lịch sử Không hiểu được tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa Giới hạn về lịch sử và lợi ích giai cấp
Giai đoạn thứ hai, từ sau thế kỷ thứ XVIII đến nay
- Dòng lý thuy ết KTCT Mác - Lênin: từ giữa thế kỷ XIX đến nay
KTCT Mác – Lênin kế thừa phát triển những thành tựu của KTCT tư sản cổ điển Anh, áp dụng những phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử vào nghiên cứu, đưa KTCT trở thành một môn khoa học thật sự
C.Mác xây dựng hệ thống lý luận KTCT một cách khoa học, toàn diện về nền sản xuất TBCN, tìm ra những quy luật chi phối sự hình thành, phát triển và luận chứng vai trò lịch sử của PTSX TBCN
Tác ph ẩm tiêu biểu: Bộ Tư bản
Sau khi C.Mác qua đời, Lênin tiếp tục kế thừa, bổ sung, phát triển lý luận KTCT theo phương pháp luận của C.Mác và có nhiều đóng góp đặc biệt quan trọng
Sau khi Lênin qua đời, các nhà nghiên cứu kinh tế của các Đảng Cộng Sản tiếp tục nghiên cứu và bổ sung, phát triển KTCT Mác – Lênin cho đến ngày nay
- Dòng lý thuy ết kinh tế kế thừa những luận điểm mang tính khái quát tâm lý, hành
vi c ủa KTCT tư sản cổ điển Anh (những nhà kinh tế chính trị tầm thường): từ thế kỷ XIX
Trang 7Đầu thế kỷ XIX, khi cuộc cách mạng công nghiệp đã hoàn thành, mâu thuẫn kinh tế
và giai cấp của CNTB đã bộc lộ rõ nét: năm 1825 mở đầu cho các cuộc khủng hoảng kinh
tế có chu kỳ, phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản ngày càng lớn mạnh đe dọa sự tồn tại của CNTB Vì vậy các nhà KTCT tư sản tầm thường xuất hiện nhằm bảo vệ lợi ích cho giai cấp tư sản, lợi dụng những yếu tố tầm thường để biện hộ cho CNTB
Đại biểu: Tomas Robert Mathus (Anh, 1766-1834), Jean Baptiste Say (Pháp,
1767-1823)
- Dòng lý thuy ết phê phán những khuyết tật của CNTB
+ Một số lý thuyết của các nhà tư tưởng XHCN không tưởng: thế kỷ XV đến
XIX (Thomas Moore, Robert Owen, Simon)
+ KTCT tiểu tư sản: cuối thế kỷ XIX (Sismondi, Proudon)
Nhìn chung các quan điểm này dựa trên cơ sở tình cảm cá nhân, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa nhân đạo, không chỉ ra được quy luật kinh tế cơ bản của nền KTTT TBCN và
do đó không luận chứng được vai trò lịch sử của CNTB trong quá trình phát triển của nhân loại
=> KTCT là một môn khoa học kinh tế có mục đích nghiên cứu là tìm ra các quy luật chi phối sự vận động của các hiện tượng và quá trình hoạt động kinh tế của con người tương ứng với những trình độ phát triển nhất định của xã hội
1.2 S ự hình thành và phát triển KTCT Mác - Lênin
Những năm 40 của thế kỷ XIX, quan hệ sản xuất TBCN đã được xác lập hoàn toàn trên các nước Tây Âu, những mâu thuẫn vốn có của CNTB ngày càng gay gắt đặc biệt là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản
Phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản chống chế độ áp bức bóc lột của giai cấp tư sản ngày càng cao và chuyển từ tự phát sang tự giác, từ đấu tranh kinh tế đến đấu tranh chính trị Thực tiễn đó đòi hỏi phải có lý luận cách mạng làm vũ khí tư tưởng cho giai cấp
vô sản – Chủ nghĩa Mác ra đời
Đại biểu điển hình: Karl Marx - C.Mác (Đức, 1818-1883), Friedrich Engels –
Ph.Ăngghen (Đức, 1820-1895), Vladimir Ilyich Lenin – V.I.Lênin (Nga, 1870-1924)
S ự phát triển của KTCT Mác – Lênin trải qua hai giai đoạn:
kinh tế chính trị của Mác nói riêng
C.Mác và Ăngghen đã xây dựng hệ thống KTCT một cách khoa học, toàn diện về nền sản xuất TBCN, tìm ra những quy luật chi phối sự hình thành, phát triển và luận chứng vai trò lịch sử của PTSX TBCN
Trang 8Lý luận KTCT của C.Mác và Ăngghen được thể hiện tập trung và cô đọng nhất trong bộ Tư bản Tác phẩm này đã trình bày một cách khoa học và chỉnh thể các phạm trù
cơ bản của nền kinh tế TBCN
Các lý luận kinh tế của C.Mác được khái quát thành các học thuyết kinh tế lớn như: học thuyết giá trị, học thuyết giá trị thặng dư, học thuyết tích lũy, học thuyết về lợi nhuận, học thuyết về địa tô,…
KTCT do Mác và Ăngghen sáng lập ra đã vạch rõ sự phát sinh, phát triển của CNTB với những tiến bộ, hạn chế, mâu thuẫn của nó và luận chứng khoa học về CNTB tất yếu
sẽ bị thay thế bởi một phương thức sản xuất mới, cao hơn và tiến bộ hơn, đó là PTSX Cộng sản chủ nghĩa
Lênin bảo vệ và phát triển học thuyết KTCT C.Mác
Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong điều kiện lịch sử mới, Lênin đã tiếp tục
kế thừa, bổ sung phát triển lý luận KTCT theo phương pháp luận của C.Mác và có nhiều đóng góp khoa học quan trọng Nổi bật là nghiên cứu chỉ ra đặc điểm kinh tế của CNTB giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, những vấn đề KTCT cơ bản của thời kỳ quá độ lên CNXH
Sau khi Lênin qua đời, các nhà nghiên cứu kinh tế của các Đảng Cộng sản tiếp tục nghiên cứu và bổ sung, phát triển KTCT Mác - Lênin cho đến ngày nay
Như vậy KTCT Mác - Lênin là một trong những dòng lý thuyết KTCT nằm trong dòng chảy phát triển tư tưởng kinh tế của nhân loại, được hình thành và đặt nền móng bởi C.Mác và Ăngghen, được Lênin kế thừa và phát triển Đây là một môn khoa học trong hệ thống các môn khoa học kinh tế của nhân loại
2 Đối tượng, mục đích và phương pháp nghiên cứu của KTCT Mác - Lênin 2.1 Đối tượng nghiên cứu của KTCT Mác - Lênin
Là các quan hệ xã hội của sản xuất và trao đổi, các quan hệ này được đặt trong sự liên hệ biện chứng với trình độ phát triển của LLSX và kiến trúc thượng tầng tương ứng của PTSX nhất định
2.2 M ục đích nghiên cứu
Để tìm ra những quy luật kinh tế chi phối sự vận động và phát triển của PTSX
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Trừu tượng hóa khoa học, logic kết hợp với lịch sử, quan sát thống kê, phân tích tổng hợp, hệ thống hóa, mô hình hóa,…
3 Ch ức năng của KTCT Mác - Lênin
3.1 Ch ức năng nhận thức
Trang 9- KTCTMác - Lênin cung cấp những tri thức lý luận về sự vận động của QHSX trong sự tác động qua lại với LLSX và kiến trúc thượng tầng, về các quy luật kinh tế, chi phối sự vận động của xã hội qua các giai đoạn lịch sử
- Dựa trên những tri thức khoa học đó để người học có nhận thức lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội nói chung, về chủ nghĩa tư bản nói riêng trong thực tiễn và xu hướng vận động, phát triển xã hội
- Giúp con người vận dụng các quy luật kinh tế một cách có ý thức vào hoạt động kinh tế nhằm đạt được hiệu quả kinh tế, xã hội cao
3.2 Ch ức năng thực tiễn
- Là công cụ để cải tạo thực tiễn, thúc đẩy văn minh xã hội
- Giải quyết hài hòa các lợi ích trong quá trình phát triển của xã hội, tạo động lực thúc đẩy từng cá nhân và toàn xã hội không ngừng sáng tạo từ đó cải thiện không ngừng đời sống vật chất và tinh thần của toàn xã hội
- Đối với sinh viên, KTCT Mác - Lênin là cơ sở khoa học lý luận để nhận diện và định vị vai trò, trách nhiệm sáng tạo của mình => xây dựng tầm nhìn, kỹ năng của bản thân
3.3 Ch ức năng tư tưởng
- Góp phần tạo lập nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin cho những người lao động tiến bộ và yêu chuộng tự do, yêu chuộng hòa bình, củng cố niềm tin cho những ai phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
- Góp phần xây dựng thế giới quan khoa học cho những chủ thể có mong muốn xây dựng một chế độ xã hội tốt đẹp, hướng tới giải phóng con người, xóa bỏ dần những áp bức, bất công giữa con người với con người
3.4 Ch ức năng phương pháp luận
- Đây là một môn khoa học cơ bản cung cấp cơ sở lý luận và phương pháp luận cho các khoa học kinh tế ngành, các khoa học kinh tế ngành cụ thể phát triển dựa trên nền tảng lý luận của KTCT
- KTCT Mác - Lênin mang tính đảng sâu sắc, nó được quán triệt trong các môn khoa học kinh tế ngành cụ thể
CÂU H ỎI ÔN TẬP
1 Anh/chị hãy trình bày khái quát lịch sử hình thành và phát triển môn KTCT?
2 Phân tích đối tượng của KTCT Mác – Lênin?
3 Trình bày khái quát những phương pháp nghiên cứu chủ yếu của KTCT Mác – Lênin Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề đó là gì?
Trang 10C hương 2 HÀNG HÓA, TH Ị TRƯỜNG VÀ VAI TRÒ
C ỦA CÁC CHỦ THỂ THAM GIA THỊ TRƯỜNG
A M ục tiêu
1 V ề kiến thức:
- Nhận thức được một cách có hệ thống về lý luận giá trị lao động của C.Mác thông qua các phạm trù cơ bản về hàng hóa, tiền tệ, giá cả, quy luật giá trị, tính hai mặt của lao động SXHH, năng suất lao động
- Hiểu được một cách căn bản cơ sở lý luận của các mối quan hệ kinh tế trong nền kinh tế thị trường
Trang 11SXHH ra đời từ cuối chế độ công xã nguyên thủy đầu chế độ chiếm hữu nô lệ gắn liền với sự ra đời của chế độ tư hữu, giai cấp, nhà nước Đó là SXHH nhỏ (SXHH giản đơn) – SXHH của những người nông dân và thợ thủ công cá thể dựa trên cơ sở tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và lao động cá nhân của họ
1.1.2 Điều kiện ra đời của SXHH
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin để SXHH ra đời phải có hai điều kiện:
Phân công lao động xã hội
- Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hóa sản xuất, phân chia lao động xã
hội vào các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau
- Vì có sự phân công lao động nên mỗi người, nhóm người chỉ sản xuất một hoặc một số sản phẩm dẫn đến kết quả:
+ Một là năng suất lao động tăng (do độ thuần thục của tay nghề, cải tiến máy móc, công cụ sản xuất) dẫn đến sản phẩm thặng dư ngày càng nhiều, trao đổi sản phẩm ngày càng phổ biến
+ Hai là sản phẩm làm ra chỉ một vài thứ nhất định, những nhu cầu của cuộc sống đòi hỏi họ phải có nhiều loại sản phẩm khác nhau, do đó họ cần đến sản phẩm của nhau
và phải trao đổi với nhau
=> Người sản xuất phụ thuộc vào nhau trong sản xuất và tiêu dùng
Như vậy phân công lao động xã hội là tiền đề, là cơ sở của nền SXHH, làm xuất hiện nhu cầu trao đổi sản phẩm Tuy nhiên chỉ có phân công lao động xã hội thôi chưa đủ
để SXHH ra đời và tồn tại
Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất
Những người sản xuất trở thành những chủ thể sản xuất, độc lập nhất định do đó sản phẩm làm ra thuộc người có quyền sở hữu tư liệu sản xuất hoặc do họ chi phối Điều kiện này quyết định tính chất của sự trao đổi là trao đổi mua bán hàng hóa
Sự tách biệt này là do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, mà khởi thủy là chế độ tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất, đã xác định người sở hữu tư liệu sản xuất là người sở hữu sản phẩm lao động
SXHH chỉ ra đời khi có đồng thời hai điều kiện nói trên, nếu thiếu một trong hai điều kiện ấy thì không có SXHH và sản phẩm lao động không mang hình thái hàng hóa
1.1.3 Mâu thuẫn của SXHH
- Do có phân công lao động xã hội nên sản phẩm của người này trở nên cần thiết với người khác, cần cho thị trường, cần cho xã hội => lao động SXHH có tính xã hội
Trang 12- Mặt khác,do có sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất nên
họ có quyền quyết định sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào lại, sản xuất cho ai => lao động của họ có tính chất tư nhân, cá biệt
Lao động tư nhân đó có thể phù hợp hoặc không phù hợp với lao động xã hội Lao động tư nhân chỉ trở thành lao động xã hội, được xã hội thừa nhận là lao động có ích khi hàng hóa được mua bán xong trên thị trường => Lao động SXHH là sự thống nhất giữa hai mặt đối lập này
=> Mâu thu ẫn cơ bản của nền SXHH là mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội, đây là cơ sở, mầm móng của khủng hoảng sản xuất thừa.
- Nhu cầu thỏa mãn có nhiều loại:
+ Nhu cầu cho cá nhân và xã hội về vật chất hoặc tinh thần
+ Nhu cầu cho tiêu dùng hay cho sản xuất
+ Nhu cầu trực tiếp trước mắt hay gián tiếp, lâu dài,
1.2.2 Thuộc tính của hàng hóa
Hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị
Giá tr ị sử dụng của hàng hóa: là công dụng của hàng hóa nhằm thỏa mãn một
nhu cầu nào đó của con người (tiêu dùng sản xuất, tiêu dùng cá nhân)
- Bất cứ một hàng hóa nào cũng có một hay một số công dụng nhất định
- Giá trị sử dụng của hàng hóa do những thuộc tính tự nhiên (lý học, hóa học) của yếu tố tham gia cấu thành nên hàng hóa đó quy định
- Lượng giá trị sử dụng phụ thuộc vào sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật
- Giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn vì không phụ thuộc vào sự sự thay đổi của phương thức sản xuất
- Muốn bán được sản phẩm thì người sản xuất hàng hóa luôn quan tâm đến nhu cầu của xã hội, làm cho sản phẩm của mình đáp ứng được với yêu cầu của xã hội
Trang 13- Những hình thái của giá trị sử dụng gồm: những vật phẩm tiêu dùng cá nhân và những vật phẩm cho tiêu dùng sản xuất Có hàng hóa vật thể, hữu hình, hàng hóa phi vật thể, vô hình
- Một vật khi đã là hàng hóa thì nhất thiết nó phải có giá trị sử dụng Nhưng không phải bất cứ vật gì có giá trị sử dụng đều là hàng hóa
Giá tr ị của hàng hóa: là lao động xã hội của người sản xuất đã hao phí để sản
xuất ra hàng hóa kết tinh trong hàng hóa ấy Theo C.Mác:
- Muốn hiểu được giá trị của hàng hóa phải thông qua giá trị trao đổi Giá trị trao đổi, trước hết biểu hiện là một quan hệ về số lượng, là tỷ lệ trao đổi với nhau giữa những giá trị sử dụng khác nhau
Ví dụ: 1 mét vải đổi lấy 10 kg thóc (tỷ lệ 1/10)
- Sở dĩ hai hàng hóa trên trao đổi được với nhau theo một tỷ lệ nhất định là vì: chúng đều là sản phẩm của lao động, có cơ sở chung là hao phí lao động của con người
- Hao phí lao động của con người kết tinh trong sản phẩm không phải lúc nào cũng
là giá trị Chỉ khi làm ra sản phẩm để trao đổi thì hao phí lao động mới mang hình thái giá trị
- Hàng hóa có lao động hao phí để sản sản xuất ra chúng càng nhiều thì giá trị của
nó càng cao
- Giá trị là phạm trù lịch sử, gắn liền với nền sản xuất hàng hóa
- Giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hóa
- Giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi, còn giá trị trao đổi chỉ là hình thức biểu hiện của giá trị
- Giá trị biểu hiện mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa, khi nào còn sản xuất và trao đổi hàng hóa thì những người sản xuất còn quan tâm đến giá trị
1.2.3 Lượng giá trị và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa
Lượng giá trị của hàng hóa:
- Lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa được đo bằng lượng thời gian hao phí lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng hoá nào đó mà được xã hội thừa nhận trong những điều kiện sản xuất bình thường của xã hội với một trình độ trang thiết bị trung bình, với một trình độ thành thạo trung bình và một cường độ lao đông trung bình trong xã hội đó
- Lưu ý: Lượng giá trị của hàng hóa được đo bằng chi phí xã hội để sản xuất ra hàng hóa đó chứ không phải chi phí cá biệt
Trang 14+ Giá trị cá biệt của hàng hóa là hao phí lao động cá biệt của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa đó, được đo bằng thời gian lao động cá biệt Thời gian lao động cá biệt là thời gian cần để sản xuất một đơn vị sản phẩm của một người sản xuất cụ thể Một loại hàng hóa có thể có nhiều thời gian lao động cá biệt khác nhau, do đó có nhiều giá trị cá biệt khác nhau Sản xuất và trao đổi trên toàn xã hội không thể căn cứ vào hao phí lao động cá biệt
+ Giá trị xã hội của hàng hóa: Giá trị của hàng hóa được xã hội thừa nhận gọi là giá trị xã hội chính là mức hao phí lao động cần để sản xuất ra hàng hoá được xã hội thừa
nhận, được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiêt
- Cấu thành lượng giá trị hàng hóa: hao phí lao động quá khứ (chứa trong các yếu
tố vật tư, nguyên nhiên liệu đã tiêu dùng để sản xuất ra hàng hóa đó) và hao phí lao động mới kết tinh thêm
Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa:
- Năng suất lao động:
+ Năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động được tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, hay số lượng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
+ Có 2 loại: năng suất lao động cá biệt và năng suất lao động xã hội
+ Khi năng suất lao động tăng: Số lượng sản phẩm sản xuất ra trong 1đơn vị thời gian tăng, thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra 1 đơn vị sản phẩm giảm
+ Khi xem xét về mối quan hệ giữa tăng năng suất lao động với lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa, C.Mác có chú ý thêm về mối quan hệ giữa tăng cường độ lao động với lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa Theo ông, khi tăng cường độ lao động thì tổng giá trị hàng hóa tạo ra trong một đơn vị thời gian tăng lên, nhưng lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa không thay đổi
Trang 151.2.4 Tính ch ất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa
Lao động cụ thể
- Khái ni ệm: là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của một nghề nghiệp
chuyên môn nhất định Mỗi lao động cụ thể có mục đích riêng, phương pháp, công cụ lao động, đối tượng lao động và kết quả lao động riêng
- Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa => Lao động cụ thể chính là một trong những nguồn gốc hình thành giá trị sử dụng của hàng hóa
- Lao động cụ thể hợp thành hệ thống phân công lao động xã hội
- Khoa học kỹ thuật càng phát triển các hình thức lao động cụ thể càng đa dạng, phong phú
- Lao động cụ thể là phạm trù vĩnh viễn
- Xã hội càng phát triển các hình thức của lao động cụ thể có thể thay đổi
Lao động trừu tượng
- Khái ni ệm: là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa đã gạt bỏ hình thức
biểu hiện cụ thể của nó để quy về cái chung đồng nhất, đó là sự tiêu phí sức lao động, tiêu hao sức cơ bắp, thần kinh của con người
- Lao động trừu tượng chỉ có trong sản xuất hàng hóa (do mục đích của sản xuất là
để trao đổi) => là phạm trù lịch sử, chỉ có sản xuất sản phẩm để bán thì lao động sản xuất hàng hóa đó mới có tính chất là lao động trừu tượng
- Lao động trừu tượng là nguồn gốc duy nhất tạo ra giá trị hàng hóa Đây là cơ sở để
so sánh, trao đổi các giá trị sử dụng khác nhau
Lưu ý:
- Ở đây không phải có hai thứ lao động khác nhau mà chỉ là lao động của người sản xuất hàng hóa, nhưng lao động đó lại mang tính hai mặt: vừa là lao động cụ thể, vừa là lao động trừu tượng
- Lao động cụ thể chỉ là một trong hai nhân tố tạo thành giá trị sử dụng, còn lao động trừu tượng là nhân tố duy nhất tạo ra giá trị của hàng hóa Giá trị của mọi hàng hóa
chỉ là sự kết tinh của lao động trừu tượng
Trang 16Tính chất tư nhân của lao động của người sản xuất hàng hóa biểu hiện: mỗi người sản xuất hàng hóa sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào là quyền của họ vì vậy lao động
đó mang tính chất tư nhân, lao động cụ thể của họ là biểu hiện của lao động tư nhân Tính chất xã hội của lao động sản xuất của người sản xuất hàng hóa biểu hiện: lao động của người sản xuất hàng hóa là một bộ phận của toàn bộ lao động xã hội trong hệ thống phân công lao động xã hội Căn cứ để trao đổi hàng hóa là lao động trừu tượng vậy lao động trừu tượng là biểu hiện của lao động xã hội
Giữa lao động tư nhân và lao động xã hội có mâu thuẫn, biểu hiện:
+ Sản phẩm do những người sản xuất hàng hóa riêng biệt tạo ra có thể không ăn khớp với nhu cầu của xã hội (thừa hoặc thiếu) Nếu sản xuất vượt quá nhu cầu của xã hội
sẽ có một số hàng hóa không bán được, không thực hiện được giá trị
+ Chi phí cá biệt của người sản xuất hàng hóa cao hơn so với chi phí xã hội cho phép, không bán được, không thu hồi được chi phí lao động bỏ ra
Mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội là mầm mống của mọi mâu thuẫn trong nền sản xuất hàng hóa Chính vì mâu thuẫn đó mà sản xuất hàng hóa vừa vận động phát triển, vừa tiềm ẩn khả năng khủng khoảng
1.3 Ti ền
1.3.1 Ngu ồn gốc và bản chất của tiền
Nguồn gốc của tiền:
Muốn hiểu nguồn gốc của tiền ta phải nghiên cứu quá trình phát triển của các hình thức giá trị trao đổi, hay nói cách khác nghiên cứu sự phát triển các hình thái biểu hiện của giá trị Có bốn hình thái biểu hiện của giá trị:
- Hình thái gi ản đơn hay ngẫu nhiên của giá trị
+ Xuất hiện vào thời kỳ cuối xã hội cộng sản nguyên thủy, khi đó sản xuất còn ở trình độ rất thấp, sản phẩm tạo ra chưa nhiều, các sản phẩm lao động biến thành hàng hóa trong những hành vi đơn nhất, ngẫu nhiên và trực tiếp
+ Việc trao đổi lúc này chỉ mang tính chất đơn lẻ, ngẫu nhiên, người ta trao đổi
trực tiếp từ hàng lấy hàng
+ Hạn chế: trao đổi mang tính chất ngẫu nhiên, trao đổi trực tiếp từ hàng hóa này lấy hàng hàng hóa khác
- Hình thái giá tr ị đầy đủ (mở rộng)
+ Hình thái này xuất hiện khi sản xuất phát triển hàng hóa nhiều hơn, trao đổi trở thành thường xuyên hơn một hàng hóa có thể trao đổi được với nhiều hàng hoá khác một cách thông thường, phổ biến
Trang 17+ Tỷ lệ trao đổi đã cố định hơn, tỷ lệ trao đổi không còn mang tính chất ngẫu nhiên nữa mà dần dần do lao động quy định
+ Hạn chế: trao đổi vẫn là trực tiếp hàng lấy hàng; giá trị hàng hoá được biểu hiện còn chưa hoàn tất, thống nhất mà bằng một chuỗi vô tận của các hàng hoá khác
- Hình thái chung c ủa giá trị
+ Với sự phát triển cao hơn nữa của LLSX và phân công lao động xã hội, hàng hóa được đưa ra trao đổi thường xuyên hơn, đa dạng và nhiều hơn Nhu cầu trao đổi do đó trở nên phức tạp hơn
+ Giá trị của mọi hàng hoá đều được biểu hiện ở một hàng hoá đóng vai trò làm vật ngang giá chung, “vật ngang giá phổ biến”
+ Hạn chế: Vật ngang giá chung chưa cố định ở một hàng hoá nào cả, tùy từng địa phương, từng thời kỳ mà người ta chọn lựa những vật ngang giá chung khác nhau
- Hình thái ti ền tệ
+ Giá trị của tất cả mọi hàng hoá đều được biểu hiện ở một hàng hoá đóng vai trò
tiền tệ
+ Khi muốn mua hàng hóa, người ta trao đổi gián tiếp từ tiền lấy hàng
Lúc đầu, có nhiều loại hàng hoá đóng vai trò tiền tệ, nhưng dần dần vai trò tiền tệ được chuyển sang các kim lại quý (tiền kim loại) như đồng rồi bạc và cuối cùng là vàng Khi bạc và vàng cùng làm chức năng tiền tệ thì chế độ tiền tệ gọi là chế độ song bản vị Khi chỉ còn vàng độc chiếm vị trí tiền tệ thì chế độ tiền tệ được gọi là chế độ bản
vị vàng
Tóm lại tiền ra đời do kết quả sự phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa Tiền
là sản phẩm do con người tạo ra
Bản chất của tiền
- Tiền là một hàng hoá đặc biệt, là kết quả của quá trình phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa, tiền xuất hiện là yếu tố ngang giá chung cho thế giới hàng hóa
- Tiền là hình thái biểu hiện giá trị của hàng hóa
- Tiền phản ánh lao động xã hội và mối quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất
và trao đổi hàng hoá
- Tiền tệ xuất hiện thì thế giới hàng hóa phân làm hai loại:
+ Là hàng hóa thông thường đại biểu cho những giá trị sử dụng
+ Là hàng hóa tiền tệ đại biểu cho giá trị
1.3.2 Ch ức năng của tiền tệ
- Thước đo giá trị
+ Tiền dùng để xác định lượng giá trị của tất cả các loại hàng hóa khác nhau
Trang 18+ Giá trị biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hóa Hay nói cách khác, giá cả hàng hóa là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa
- Phương tiện lưu thông
+ Tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hoá
+ Các loại tiền:
Trong lịch sử hình thái của tiền đã trải qua quá trình phát triển không ngừng từ thấp lên cao: Tiền hiện vật =>Tiền kim loại quý => Tiền ký hiệu =>Tiền tín dụng =>Tiền điện tử…
+ Thực hiện chức năng này, tiền làm cho quá trình mua bán diễn ra được thuận lợi, nhưng đồng thời nó cũng làm cho việc mua bán tách rời nhau cả về không gian và thời gian, do đó nó đã bao hàm khả năng khủng hoảng
+ Ở mỗi thời kỳ nhất định, lưu thông hàng hóa bao giờ cũng đòi hỏi một lượng tiền cần thiết cho sự lưu thông Số lượng tiền này được xác định bởi quy luật chung của lưu thông tiền tệ Khi khối lượng tiền giấy do nhà nước phát hành vào lưu thông vượt quá
khối lượng tiền cần cho lưu thông, thì giá trị của tiền tệ sẽ bị giảm xuống, tình trạng lạm phát sẽ xuất hiện
- Phương tiện cất trữ
Thay vì cất trữ hàng hóa, người ta cất trữ tiền Lúc này tiền rút ra khỏi lưu thông đi vào trạng thái cất trữ dưới hình thái vàng bạc và sẽ đi vào lưu thông khi cần thiết
- Phương tiện thanh toán
Khi thực hiện chức năng thanh toán, tiền được dùng để trả nợ, trả tiền mua chịu hàng hóa
Tóm l ại, tiền tệ có năm chức năng, những chức năng này ra đời cùng với sự phát
triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá Năm chức năng đó quan hệ mật thiết với nhau
và thông thường tiền làm nhiều chức năng cùng một lúc
1.4 Dịch vụ và một số hàng hóa đặc biệt
Nội dung trình bày ở mục này thể hiện sự nghiên cứu có tính chất làm rõ thêm một
số khía cạnh mà trong điều kiện thời của Mác chưa có điều kiện nêu ra một cách đầy đủ
Trang 191.4.1 D ịch vụ
- Theo cách hiểu của KTCT Mác - Lênin, dịch vụ là một loại hàng hóa, nhưng đó là hàng hóa vô hình Nếu dịch vụ cho sản xuất thì nó thuộc khu vực hàng hóa cho sản xuất, nếu dịch vụ cho tiêu dùng thì nó thuộc phạm trù hàng hóa cho tiêu dùng
- Dịch vụ cũng có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng
- Dịch vụ là hàng hóa không thể cất trữ
- Việc sản xuất và tiêu dùng dịch vụ được diễn ra đồng thời
- Do sự phát triển của phân công lao động xã hội dưới sự tác động của KHCN, dịch
vụ ngày càng có vai trò quan trọng trong việc thỏa mãn nhu cầu văn minh của con người
1.4.2 M ột số hàng hóa đặc biệt
Quyền sử dụng đất đai
- Ở Việt Nam, trong lĩnh vực bất động sản, hàng hóa mà người ta trao đổi mua, bán
là quyền sử dụng đất chứ không phải là đất đai
- Quyền sử dụng đất có giá trị sử dụng, có giá cả nhưng không do hao phí lao động
tạo ra như hàng hóa thông thường Giá cả quyền sử dụng đất do tính khan hiếm của bề mặt vỏ địa cầu và do trình độ phát triển của sản xuất
Sự phát triển của sản xuất gia tăng làm nảy sinh nhu cầu cần mặt bằng để kinh doanh; sự gia tăng dân số làm tăng nhu cầu về nhà ở Trong khi quyền sử dụng đất lại được ấn định do các chủ thể nhất định, cho nên làm xuất hiện nhu cầu mua bán quyền sử dụng đất Người mua phải trả cho người bán một khoản tiền, khoản tiển này gọi là giá cả của quyền sử dụng đất
Thương hiệu (danh tiếng)
- Ngày nay, thương hiệu của một doanh nghiệp hay danh tiếng của một cá nhân cũng
là một loại hàng hóa => Được định giá và được trao đổi mua bán trên thị trường
- Thương hiệu, danh tiếng cũng có giá trị và giá trị sử dụng
+ Giá trị: Thương hiệu không tự nhiên mà có, nó do hao phí sức lao động của người nắm giữ thương hiệu tạo ra Danh tiếng cũng vậy, để tạo nên danh tiếng, bản thân người sở hữu danh tiếng cũng phải hao phí sức lao động để tạo ra nó
+ Giá trị sử dụng: Có người không đủ khả năng tạo nên thương hiệu thì họ mua thương hiệu về để mở chi nhánh; có những doanh nghiệp thuê các cầu thủ nổi tiếng về làm người đại diện để thu hút sự chú ý của người tiêu dùng…
Chứng khoán, chứng quyền và một số giấy tờ có giá
- Ngày ngay, kinh doanh chứng khoán, chứng quyền và một số giấy tờ có giá cũng đem lại một lượng tiền lớn cho người mua bán
Chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) do các công ty, doanh nghiệp cổ phần phát hành
Trang 20Chứng quyền do các công ty kinh doanh chứng khoán chứng nhận
Giấy tờ có giá: ngân phiếu, thương phiếu
- Sự phát triển của loại hình kinh doanh này hình thành nên thị trường chứng khoán C.Mác gọi những hàng hóa này là tư bản giả, để phân biệt với tư bản tham gia quá trình sản xuất trao đổi hàng hóa thực trong nền kinh tế
- Để có thể mua bán được các loại chứng khoán, chứng quyền và một số giấy tờ có giá này thì bản thân nó phải dựa trên cơ sở sự tồn tại của một tổ chức sản xuất kinh doanh
có thực
- Sự giàu có của các cá nhân có được số lượng tiền tăng lên sau mỗi giao dịch thực chất là sự chuyển tiền từ người này sang túi của người khác Tiền trong trường hợp này thực hiện chứng năng thanh toán, không phản ánh giá trị của chứng khoán
- Giá cả của chứng khoán phản ánh lợi ích kỳ vọng mà người mua có thể có được
- Việc phát hành chứng khoán lên sàn giao dịch chứng khoán giúp doanh nghiệp huy động được nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội và giúp người có tiền nhàn rỗi có cơ hội đầu
tư sinh lãi
2 Th ị trường và vai trò của các chủ thể tham gia thị trường
Phân loại thị trường:
Tùy vào cách tiếp cận ta có thể chia thị trường thành các loại như sau:
- Căn cứ vào đối tượng hàng hóa đưa ra trao đổi:
+ Thị trường tư liệu sản xuất
+ Thị trường tiêu dùng
- Căn cứ vào phạm vi hoạt động:
+ Thị trường trong nước
+ Thị trường quốc tế
- Căn cứ vào đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất:
+ Thị trường các yếu tố đầu vào
Trang 21- Căn cứ vào tính chất và cơ chế vận hành của thị trường:
+ Thị trường tự do
+ Thị trường có điều tiết
+ Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
+ Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo (độc quyền)
Vai trò của thị trường:
- Thị trường là điều kiện, là môi trường cho sản xuất phát triển
- Thị trường khích thích sự sáng tạo của mọi thành viên trong xã hội, tạo ra cách
thức phân bổ nguồn lực hiệu quả trong nền kinh tế
- Thị trường gắn kết nền kinh tế thành một chỉnh thể, gắn kết nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới
2.1.2 Cơ chế thị trường và nền kinh tế thị trường
- Nền kinh tế thị trường là sản phẩm văn minh của nhân loại
- Đặc trưng phổ biến của nền kinh tế thị trường:
+ Kinh tế thị trường đòi hỏi sự đa dạng của các chủ thể kinh tế, nhiều hình thức
sở hữu Các chủ thể kinh tế bình đẳng trước pháp luật
+ Thị trường đóng vai trò quyết định trong việc phân bổ các nguồn lực xã hội thông qua các hoạt động của thị trường bộ phận
+ Giá cả được hình thành theo nguyên tắc thị trường; cạnh tranh vừa là môi trường vừa là động lực thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển
+ Động lực trực tiếp của các chủ thể sản xuất kinh doanh là lợi ích kinh tế - xã hội
Trang 22+ Nhà nước là chủ thể thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các quan hệ kinh tế, đồng thời khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường, thúc đẩy những yếu tố tích cực, đảm bảo sự bình đẳng xã hội và sự ổn định của toàn bộ nền kinh tế
+ Kinh tế thị trường là nền kinh tế mở
Tùy theo điều kiện lịch sử cụ thể, chế độ chính trị xã hội của mỗi quốc gia mà các đặc trưng này có thể thể hiện khác nhau
- Ưu thế của nền kinh tế thị trường:
+ Nền kinh tế thị trường luôn tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự hình thành ý tưởng
mới của các chủ thể kinh tế
+ Nền kinh tế thị trường luôn thực hiện phát huy tốt nhất tiềm năng của mọi chủ thể, các vùng miền cũng như lợi thế quốc gia trong quan hệ quốc tế
+ Nền kinh tế thị trường luôn tạo ra các phương thức để thỏa mãn tối đa nhu cầu của con người, từ đó thúc đẩy tiến bộ, văn minh xã hội
+ Nền KTTT không tự khắc phục được hiện tượng phân hóa sâu sắc trong xã hội
2.1.3 M ột số quy luật kinh tế chủ yếu của thị trường
Quy luật giá trị
- Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và trao đổi hàng hóa, ở đâu
có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có sự tồn tại và tác động của quy luật giá trị
- Nội dung: Sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết
- Yêu cầu chung:
+ Trong sản xuất: mỗi người sản xuất tự quyết định hao phí lao động cá biệt của mình Nhưng giá trị hàng hóa được quyết định bởi hao phí lao động xã hội cần thiết, vì vậy người sản xuất phải điều chỉnh để hao phí lao động cá biệt thấp hơn hoặc bằng hao phí lao động xã hội
+ Còn trong trao đổi: phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá Hai hàng hóa trao đổi với nhau khi cùng kết tinh một lượng lao động như nhau, hoặc trao đổi, mua bán hàng hóa phải thực hiện theo nguyên tắc giá cả phù hợp với giá trị
- Phương thức vận động của quy luật giá trị: sự vận động của quy luật giá trị thông
Trang 23giá trị thì giá cả cao và ngược lại Tuy nhiên giá cả hàng hóa trên thị trường còn chịu sự tác động của nhiều nhân tố như cạnh tranh, cung cầu Vì vậy giá cả lên xuống xoay xung quanh giá trị, đó chính là cơ chế hoạt động của quy luật giá trị Thông qua sự vận động của giá cả thị trường mà quy luật giá trị phát huy tác dụng
Cơ chế tác động của quy luật giá trị được thế hiện cả trong trường hợp giá cả bằng giá trị, cả trong trường hợp giá cả lên xuống xung quanh giá trị
- Tác động của quy luật giá trị:
+ Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá
+ Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động, thúc đẩy LLSX xã hội phát triển
+ Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hóa người sản xuất hàng hóa thành người giàu, người nghèo
Quy luật cung - cầu
- Quy luật cung – cầu là quy luật kinh tế điều tiết quan hệ giữa cung (bên bán) và
cầu (bên mua) hàng hóa trên thị trường
Quy luật này đòi hỏi cung – cầu phải có sự thống nhất, nếu không có sự thống nhất giữa chúng thì sẽ có các nhân tố xuất hiện điều chỉnh chúng
- Nếu cung > cầu: giá cả < giá trị
Cung = cầu: giá cả = giá trị
Cung < cầu: giá cả > giá trị
=> Quy luật cung - cầu có tác dụng điều tiết quan hệ sản xuất và lưu thông hàng hóa, làm biến đổi cơ cấu và dung lượng thị trường, quyết định giá cả thị trường
- Căn cứ và quy luật này có thể dự đoán được xu thế biến động của giá cả => đưa ra được các chính sách điều tiết giá phù hợp với nhu cầu của thị trường
- Ở đâu có thị trường thì ở đó tồn tại quy luật cung - cầu
Quy luật lưu thông tiền tệ
- Quy luật lưu thông tiền tệ là quy luật quy định số lượng tiền cần thiết cho lưu thông hàng hóa ở mỗi thời kỳ nhất định
- Nội dung quy luật lưu thông tiền tệ: Khối lượng cần thiết cho lưu thông tỷ lệ thuận với tổng số giá cả hàng hóa được đưa ra thị trường và tỷ lệ nghịch với tốc độ lưu thông của tiền tệ
- Khi tiền mới thực hiện được chức năng là phương tiện lưu thông, thì số lượng tiền cần thiết cho lưu thông được tính theo công thức
𝑀 = 𝑃𝑥𝑄𝑉
Trang 24Trong đó: M: lượng tiền cần thiết cho lưu thông trong một thời gian nhất định P: mức giá cả
Q: khối lượng hàng hóa, dịch vụ đem ra lưu thông
V: số vòng luân chuyển của một đơn vị tiền tệ
- Khi tiền thực hiện cả chức năng phương tiện thanh toán và phương tiện lưu thông thì số lượng tiền cần thiết cho lưu thông xác định như sau:
𝑀 =𝑃𝑥𝑄 − (𝐺1 + 𝐺2) + 𝐺3𝑉Trong đó: M: lượng tiền cần thiết cho lưu thông
PxQ: Tổng giá cả hàng hóa
V: số vòng quay trung bình của tiền tệ
G1: tổng giá cả hàng hoá bán chịu
G2: tổng giá cả hàng hoá khấu trừ cho nhau
G3: tổng giá cả hàng hoá bán chịu đến kỳ thanh toán
- Quy luật lưu thông tiền tệ tuân theo các nguyên lý sau:
+ Lưu thông tiền tệ và cơ chế lưu thông tiền tệ do cơ chế lưu thông hàng hóa quyết định
Số lượng tiền được phát hành và lưu thông phụ thuộc vào khối lượng hàng hóa được đưa ra thị trường
+ Nhà nước không thể in và phát hành tiền giấy một cách tùy tiện mà phải tuân theo quy luật lưu thông tiền tệ
Tiền giấy không có giá trị mà chỉ là tiền ký hiệu Nếu phát hành nhiều tiền giấy, vượt quá lượng vàng cần thiết cho lưu thông mà tiền giấy làm đại diện, sẽ làm tiền giấy bị mất giá trị => giá cả hàng hóa tăng lên dẫn đến lạm phát
Quy luật cạnh tranh
- Quy luật cạnh tranh là quy luật kinh tế điều tiết một cách khách quan mối quan hệ ganh đua kinh tế giữa các chủ thể trong sản xuất và trao đổi hàng hóa
- Cạnh tranh là sự ganh đua giữa những chủ thể kinh tế với nhau nhằm có được
những ưu thế về sản xuất cũng như tiêu thụ và thông qua đó mà thu được lợi nhuận tối đa
- KTTT càng phát triển thì cạnh tranh trên thị trường càng trở nên thường xuyên và quyết liệt hơn
- Động lực của cạnh tranh là lợi nhuận tối đa
- Trong nền KTTT cạnh tranh có thể chia cạnh tranh thành 2 loại:
+ C ạnh tranh trong nội bộ ngành:
Trang 25 Đó là sự cạnh tranh giữa các chủ thể trong cùng một ngành, cùng sản xuất cùng một loại hàng hoá nhằm giành điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá có lợi nhất để thu nhiều lợi nhuận siêu ngạch
Nguyên nhân cạnh tranh: chiếm tỷ phần thị trường lớn, giành điều kiện thuận lợi trong sản xuất và kinh doanh
Biện pháp cạnh tranh: bằng cách cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng hàng hóa, cải tiến mẫu mã, tăng cấu tạo hữu cơ c/v, hạ thấp hao phí lao động cá biệt nhỏ hơn hao phí lao động xã hội => thu được giá trị
thặng dư siêu ngạch
Kết quả cạnh tranh: là hình thành giá trị thị trường (giá trị xã hội) của từng loại hàng hóa Làm cho điều kiện sản xuất trung bình của một ngành thay đổi, giá trị xã hội của hàng hóa giảm xuống, chất lượng hàng hóa được nâng cao, chủng loại hàng hóa phong phú
Biện pháp để cạnh tranh: các chủ thể kinh doanh tự do di chuyển nguồn lực của mình từ ngành này sang ngành khác
Kết quả của cạnh tranh: thu được lợi nhuận bình quân giữa các chủ thể kinh doanh
- Tác động của cạnh tranh trong nền KTTT:
+ Tác động tích cực:
Thúc đẩy sự phát triển của LLSX
Thúc đẩy sự phát triển của nền KTTT
Là cơ chế điều chỉnh linh hoạt việc phân bổ các nguồn lực
Thúc đẩy năng lực thỏa mãn nhu cầu của xã hội
Trang 262.2 Vai trò c ủa một số chủ thể chính tham gia thị trường
2.2.1 Người sản xuất
- Người sản xuất hàng hóa là những người sản xuất và cung cấp hàng hóa và dịch vụ
ra thị trường nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội Họ là những người trực tiếp tạo
ra của cải vật chất
- Người sản xuất là những người sử dụng các yếu tố đầu vào để sản xuất, kinh doanh
và thu lợi nhuận
- Nhiệm vụ của người sản xuất không chỉ làm thỏa mãn nhu cầu hiện tại của xã hội
mà còn tạo ra và phục vụ cho những nhu cầu tương lai với mục tiêu đạt lợi nhuận tối đa trong điều kiện nguồn lực có hạn
- Người sản xuất có quyền tự xác định: sản xuất cái gì, sản xuất cho ai, sản xuất như thế nào Tuy nhiên, cần đặt trong nhu cầu của xã hội để tránh khủng hoảng thừa
Thực tế, hiện nay có nhiều nhà sản xuất vì chạy theo lợi nhuận, họ chỉ quan tâm đến giá trị mà không quan tâm (hoặc ít quan tâm) đến giá trị sử dụng của hàng hóa cũng như
sức khỏe của người tiêu dùng Đây là một vấn đề mà các nhà sản xuất cần lưu tâm để mang đến những sản phẩm có ích cho xã hội
- Người tiêu dùng có vai trò rất quan trọng trong định hướng sản xuất, đến sự phát triển bền vững của xã hội
Lưu ý: việc phân chia người sản xuất và người tiêu dùng chỉ có tính tương đối Mục
đích phân chia chỉ làm rõ chức năng chính của các chủ thể Trên thực tế, có chủ thể vừa là người sản xuất vừa là người tiêu dùng
2.2.3 Các chủ thể trung gian trong thị trường
- Đây là các chủ thể đóng vai trò trung gian kết nối, thông tin trong các quan hệ mua bán => nền KTTT trở nên sinh động, linh hoạt hơn
- Các chủ thể làm trung gian trong nhiều lĩnh vực: kinh doanh, môi giới chứng khoán, môi giới bất động sản, môi giới khoa học công nghệ,… Các trung gian này hoạt động trên cả thị trường trong nước và quốc tế
Trang 27- Bên cạnh những trung gian giúp thuận lợi cho các chủ thể sản xuất, kinh doanh thì trên thị trường còn có những loại hình trung gian không phù hợp với chuẩn mực đạo đức: lừa đảo, môi giới bất hợp pháp,… Những trung gian này cần được loại trừ
2.2.4 Nhà nước
- Xét về vai trò kinh tế, Nhà nước thực hiện chức năng:
+ Nhà nước thực hiện quản trị phát triển nền kinh tế thông qua việc tạo lập môi trường kinh tế tốt nhất cho các chủ thể phát huy sức sáng tạo của họ
+ Nhà nước sử dụng các công cụ kinh tế để khắc phục các khuyết tật của nền KTTT, làm cho nền KTTT hoạt động hiệu quả
- Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong điều tiết nền kinh tế Tuy nhiên, mô hình KTTT có sự điều tiết của nhà nước ở từng nước, từng giai đoạn có thể khác nhau tùy vào mức độ can thiệp của chính phủ đối với thị trường
V ẤN ĐỀ THẢO LUẬN
1 Hãy chọn một loại hàng hóa và đóng vai người sản xuất ra loại hàng hóa đó để thảo luận về thuộc tính và chỉ ra tầm quan trọng của hàng hóa đó đối với xã hội? Phân tích trách nhiệm của mình đối với người tiêu dùng, cảm nhận tác động của quy luật cạnh tranh và đề ra phương án để duy trì vị trí sản xuất của mình trên thị trường
2 Với tư cách là người tiêu dùng, từ kinh nghiệm thực tế của bản thân, hãy thảo luận và chỉ ra vai trò, biện pháp của người tiêu dùng cần phải làm để bảo vệ quyền lợi của mình đặt trong mối quan hệ với người sản xuất và xã hội khi tiêu dùng hàng hóa
CÂU H ỎI ÔN TẬP
1 Hãy nêu điều kiện ra đời của nền sản xuất hàng hóa? Cho biết hàng hóa là gì? Nêu những thuộc tính của hàng hóa?
2 Hãy nêu tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa?
3 Lượng giá trị hàng hóa là gì? Những nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa
4 Nêu bản chất và chức năng của tiền?
5 Thị trường là gì? Nêu vai trò và chức năng của thị trường? Thị trường có những
ưu thế và khuyết tật gì? Hãy nêu các quy luật thường gặp trên thị trường
6 Nêu vai trò của các chủ thể chính tham gia vào thị trường
Trang 28Chương 3 GIÁ TR Ị THẶNG DƯ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
A M ục tiêu
1 V ề kiến thức:
Nắm được hệ thống tri thức lý luận về sản xuất giá trị thặng dư của C.Mác trong điều kiện nền KTTT tự do cạnh tranh tư bản chủ nghĩa và các quan hệ lợi ích cơ bản thông qua phân phối giá trị mới do lao động tạo ra giữa các chủ thể cơ bản trong nền KTTT TBCN
B N ội dung
1 Lý lu ận của C.Mác về giá trị thặng dư
1.1 Ngu ồn gốc của giá trị thặng dư
1.1.1 Công thức chung của tư bản
Để chỉ ra nguồn gốc của GTTD, C.Mác nhất quán dựa trên lý luận lao động tạo ra giá trị Trên cơ sở đó, ông đặt vấn đề phân tích từ mô hình công thức chung của tư bản
Để tìm ra công thức chung của tư bản, C.Mác so sánh quan hệ lưu thông hàng hóa trong nền SXHH giản đơn và nền KTTT TBCN
- Quan hệ lưu thông hàng hoá giản đơn vận động theo công thức: HTH
- Quan hệ lưu thông hàng hóa trong nền KTTT TBCN vận động theo công thức: THT
Trên cơ sở làm rõ sự giống nhau và khác nhau về mục đích và trình độ quan hệ lưu thông đó C.Mác phát hiện ra công thức chung của tư bản phải là T-H-T’
Trong đó T’ = T + ∆t (∆t > 0)
1.1.2 Hàng hóa sức lao động
- Khái ni ệm: sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực ở trong cơ thể sống mà con
người sử dụng để tạo ra của cải, vật chất
- Sức lao động trở thành hàng hóa khi có hai điều kiện:
+ Người lao động là người tự do về thân thể
Trang 29+ Người lao động không có tư liệu sản xuất cần thiết để tự mình thực hiện lao động và cũng không có của cải gì khác, để tồn tại họ buộc phải bán tư liệu sản xuất của mình để sống
- Hàng hóa sức lao động có hai thuộc tính:
+ Giá trị của hàng hoá sức lao động: do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động quyết định
Lượng giá trị hàng hóa sức lao động:
Một là, giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để tái
sản xuất sức lao động, duy trì đời sống của công nhân
Hai là, phí tổn đào tạo người công nhân
Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết cho con cái người công nhân
Hai nhân tố tác động đến sự biến đổi của giá trị sức lao động:
Một là, sự tăng nhu cầu trung bình của xã hội về hàng hóa và dịch vụ, về
học tập và nâng cao trình độ lành nghề đã làm tăng giá trị sức lao động
Hai là, sự tăng năng suất lao động xã hội sẽ làm giảm giá trị sức lao động + Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động: là quá trình lao động để sản xuất ra một loại hàng hóa, một dịch vụ nào đó
Giống hàng hoá thông thường, giá trị sử dụng hàng hoá sức lao động thỏa mãn nhu cầu của người mua
Chỉ khi thông qua quá trình lao động của công nhân thì sức lao động mới biểu hiện công dụng của nó
Quá trình tiêu dùng hàng hóa sức lao động lại tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó
Hàng hoá sức lao động có tính chất đặc biệt, là nguồn gốc trực tiếp tạo ra giá trị thặng dư Đây là chìa khoá để chỉ rõ nguồn gốc của ∆t – GTTD
1.1.3 Quá trình s ản xuất giá trị thặng dư
- Quá trình sản xuất GTTD là sự thống nhất của quá trình tạo ra và làm tăng giá trị
- Đặc điểm của quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa:
+ Người công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản
+ Sản phẩm mà công nhân làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản
- Ngày làm việc (thời gian lao động) của người công nhân thường được chia làm hai khoảng thời gian: thời gian lao động tất yếu và thời gian lao động thặng dư
+ Thời gian lao động tất yếu: là khoảng thời gian cần thiết để người công nhân tạo ra một lượng giá trị ngang bằng với giá trị sức lao động của mình
Trang 30+ Thời gian lao động thặng dư: phần dôi ra ngoài thời gian lao động tất yếu
Giá trị 50 kg bông chuyển vào: 50 USD
Hao mòn máy móc: 3 USD
Giá trị mới: 15 USD
Trong khoảng thời gian này, nhà tư bản chỉ cần chi phí thêm 50 kg bông và khấu hao máy móc
Vậy, tổng cộng chi phí nhà tư bản ứng ra trong 1 ngày làm việc của người công nhân:
Tiền bông: 100 USD
Khấu hao máy móc: 6 USD
Tiền công người công nhân: 15 USD
Trang 31Vậy, GTTD là bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do người bán sức lao động (người lao động làm thuê) tạo ra và thuộc về nhà tư bản (người mua hàng hóa sức lao động)
Lưu ý: ở ví dụ trên, C.Mác đã giả định người mua sức lao động là nhà tư bản với tư cách là chủ sở hữu thuần túy để phân biệt với người lao động làm thuê Trong trường hợp này, nhà tư bản cũng không trực tiếp quản lý doanh nghiệp mà thuê người quản lý thì người quản lý doanh nghiệp cũng là người lao động làm thuê, thì giá trị mới ở lĩnh vực này cũng do lao động làm thuê tạo ra
- Ký hiệu GTTD là: m
- Có thể khái quát tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư
1.1.4 Tư bản bất biến và tư bản khả biến
- Tư bản bất biến:
+ Khái ni ệm: là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu sản xuất mà giá trị
được lao động cụ thể của công nhân làm thuê bảo tồn và chuyển nguyên vẹn vào giá trị
sản phẩm, tức là giá trị không biến đổi về lượng trong quá trình sản xuất Ký hiệu là: c
+ Hình thức biểu hiện của nó: Máy móc, nhà xưởng; Nguyên, nhiên, vật liệu + Đặc điểm:
Tư bản bất biến không tạo ra GTTD nhưng là điều kiện cần thiết để quá trình sản xuất GTTD được diễn ra
Giá trị được bảo toàn và di chuyển vào giá trị sản phẩm
Giá trị được bảo tồn dưới dưới hình thức giá trị sử dụng mới
- Tư bản khả biến
+ Khái ni ệm: là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái hàng hoá sức lao động
không tái hiện ra, nhưng thông qua lao động trừu tượng của công nhân mà tăng lên, tức là
có sự biển đổi về số lượng trong quá trình sản xuất Ký hiệu là: v
+ Hình thức biểu hiện: thường tồn tại dưới hình thức là tiền công
+ Đặc điểm:
Giá trị của nó biến thành tư liệu sinh hoạt của công nhân và biến đi trong quá trình tiêu dùng của công nhân
Trang 32 Trong quá trình lao động công nhân tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động, nó bằng giá trị sức lao động cộng với giá trị thặng dư
- Nếu gọi G là giá trị của hàng hóa thì ta có công thức tính giá trị hàng hóa như sau:
G = c + (v + m) Trong đó: (v + m): là giá trị mới của hàng hóa
c: giá trị những tư liệu sản xuất đã được tiêu dùng (tư bản bất biến)
1.1.5 Tiền công
- Khái ni ệm: là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá sức lao động, là giá cả của
hàng hoá sức lao động, nhưng lại biểu hiện ra bề ngoài thành giá cả của lao động
- Tiền công đã che đậy mọi dấu vết của sự phân chia ngày lao động thành thời gian lao động tất yếu và thời gian lao động thặng dư, thành lao động được trả công và lao động không được trả công, do đó tiền công che đậy mất bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản
1.1.6 Tuần hoàn của tư bản
- Tuần hoàn của tư bản: là sự vận động liên tục của tư bản trải qua ba giai đoạn, lần lượt mang ba hình thái, thực hiện ba chức năng rồi trở về hình thái ban đầu có kèm theo GTTD
- Mô hình của tuần hoàn tư bản:
Ở đây, C.Mác sử dụng công thức tuần hoàn của tư bản công nghiệp (với nghĩa các ngành sản xuất vật chất) vì theo ông công thức này biểu hiện rõ các giai đoạn tuần hoàn của tư bản
+ Kết quả của quá trình sản xuất là H’ (H’ có bao hàm giá trị tăng thêm)
+ Khi bán được H’ nhà tư bản thu được T’ (T’ có bao gồm GTTD)
Trang 33+ Tuần hoàn tư bản
- Muốn đảm bảo tư bản tuần hoàn một cách bình thường thì phải có đủ hai điều kiện:
+ tư bản tồn tại ở cả ba hình thái: tư bản tiền tệ, tư bản sản xuất, tư bản hàng hóa + tư bản phải vận động không ngừng qua ba giai đoạn: hai giai đoạn lưu thông, một giai đoạn sản xuất
- Trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, khả năng tách rời đó đã làm xuất hiện tư bản thương nghiệp và tư bản cho vay, hình thành nên các tập đoàn khác trong giai
cấp tư sản: chủ công nghiệp, nhà buôn, chủ ngân hàng…chia nhau giá trị thặng dư
1.1.7 Chu chuy ển của tư bản
- Chu chuyển tư bản là tuần hoàn tư bản được xét là quá trình định kỳ, thường xuyên lặp đi lặp lại và đổi mới theo thời gian
- Chu chuyển tư bản được đo lường bằng thời gian chu chuyển tư bản hoặc tốc độ chu chuyển tư bản
+ Thời gian chu chuyển tư bản là: khoảng thời gian kể từ khi tư bản được ứng ra dưới một hình thái nhất định cho đến khi quay trở về hình thái đó có kèm GTTD
+ Tốc độ chu chuyển tư bản: là số vòng chu chuyển tư bản được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định (thông thường tính trong vòng 1 năm)
Công thức tính:
ch
CH
ntrong đó: n: là số vòng (hay lần) chu chuyển của tư bản;
CH: thời gian 1 năm (12 tháng);
Ch: thời gian chu chuyển cho 1 vòng chu chuyển tư bản
- Căn cứ vào phương thức chu chuyển giá trị của tư bản sản xuất, tư bản được chia thành các bộ phận: tư bản cố định và tư bản lưu động
+ Tư bản cố định: là bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới hình thái tư liệu lao
động, tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng giá trị của nó chỉ chuyển dần dần,
từng phần vào giá trị sản phẩm theo mức độ hao mòn
Có hai loại hao mòn: hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình
+ Tư bản lưu động: là bộ phận tư bản sản xuât tồn tại dưới hình thái sức lao động, nguyên, nhiên vật liệu, vật liệu phụ Giá trị của nó được chuyển một lần, toàn phần vào giá trị sản phẩm khi kết thúc từng quá trình sản xuất
Để thu được hiệu quả sản xuất, kinh doanh cao, các nhà tư bản phải rút ngắn thời gian chu chuyển hay đẩy nhanh tốc độ chu chuyển tư bản