Bài giảng Kinh tế vi mô 2 (Bậc Đại học) cung cấp cho người học những kiến thức như: Phân tích chính sách của chính phủ trong thị trường cạnh tranh; Lựa chọn trong điều kiện rủi ro; Định giá trong điều kiện có sức mạnh thị trường; Cạnh tranh độc quyền và độc quyền nhóm; Lý thuyết trò chơi và chiến lược cạnh tranh; Thị trường các yếu tố sản xuất; Cân bằng tổng quát và hiệu quả kinh tế.
PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH PHỦ TRONG THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH
Thặng dư của người tiêu dùng và của người sản xuất
1.1.1 Thặng dư của người tiêu dùng (Consumers’ Surplus – CS)
Thặng dư của người tiêu dùng, hay thặng dư tiêu dùng (consumers surplus), là tổng chênh lệch giữa mức sẵn lòng trả (WTP) của người tiêu dùng và mức giá thị trường Đường cầu (D) thể hiện mức sẵn lòng trả của người tiêu dùng, trong khi thặng dư tiêu dùng (CS) được định nghĩa là diện tích giới hạn bởi đường cầu Marshall, trục tung và hai mức giá khác nhau Thặng dư này được tính bằng tiền, mặc dù ban đầu Marshall đã mô tả nó dưới dạng thặng dư ích lợi.
Thặng dư tiêu dùng (CS) được thể hiện qua diện tích tam giác PEPmaxE, và cách tính thặng dư tiêu dùng được thực hiện theo công thức cụ thể.
E Thặng dư tiêu dùng (CS)
Hình 1.1 Thặng dư tiêu dùng
Thặng dư của người tiêu dùng là hiệu số giữa phúc lợi mà người tiêu dùng nhận được khi mua hàng hóa với giá nhất định và chi phí mà họ phải trả Khái niệm này được sử dụng phổ biến trong phân tích chi phí - lợi ích và các lĩnh vực kinh tế ứng dụng khác, đóng vai trò như một đại lượng gần đúng về sự thay đổi trong phúc lợi, đặc biệt liên quan đến mức biến thiên bù và biến thiên tương đương.
Mức biến thiên bù là khoản thu nhập tối đa mà người được lợi có thể nhận sau một sự thay đổi mà không làm giảm phúc lợi của họ so với trước đó Đối với người bị thiệt hại, mức biến thiên bù là số tiền tối thiểu cần thiết để họ duy trì mức sống không thấp hơn trước khi xảy ra sự thay đổi.
Mức biến thiên tương đương là số tiền tối thiểu mà người hưởng lợi sẵn sàng mất để bỏ qua một sự thay đổi, trong khi đối với người bị thiệt, đó là số tiền tối đa họ sẵn sàng chi để tránh sự thay đổi đó.
1.1.2 Thặng dư của người sản xuất (Producers’ Surplus – PS)
Thặng dư của người sản xuất, hay còn gọi là thặng dư sản xuất (producers surplus), là tổng hợp các chênh lệch giữa mức giá thị trường và mức sẵn lòng nhận (WTA) của người sản xuất tại các mức sản lượng khác nhau Đường cung (S) thể hiện mức sẵn lòng nhận của người sản xuất Do đó, thặng dư sản xuất (PS) được định nghĩa là phần diện tích nằm giữa đường cung của người sản xuất, trục tung và hai mức giá khác nhau.
Thặng dư tiêu dùng (PS) được thể hiện qua diện tích tam giác PEPminE như trong hình vẽ Cách tính thặng dư tiêu dùng được xác định dựa trên diện tích này.
1.1.3 Tổng lợi ích ròng của xã hội (Net Social Benefit – NSB)
Tổng lợi ích ròng của xã hội được xác định là bằng hiệu của tổng lơi ích xã hội (TSB) và tổng tổn phí xã hội (TSC)
Trong trường hợp đơn giản nhất, khi không có chính sách can thiệp từ chính phủ như thuế, trợ cấp hay hạn ngạch, tổng tổn phí xã hội sẽ bằng không (TSC = 0) Lúc này, tổng lợi ích ròng xã hội (NSB) được xác định là tổng của thặng dư tiêu dùng (CS) và thặng dư sản xuất (PS).
Hình 1.2 Thặng dư sản xuất
Thặng dư sản xuất (PS)
Phân tích chính sách kiểm soát giá
Giá sàn là mức giá tối thiểu bắt buộc, thường cao hơn mức giá cân bằng, nhằm bảo vệ nhà sản xuất và duy trì sự ổn định của ngành trong những giai đoạn biến động giá cả Các ví dụ cụ thể về giá sàn bao gồm hỗ trợ giá nông nghiệp và quy định lương tối thiểu Khi giá sàn được thiết lập cao hơn mức giá cân bằng thị trường, nó sẽ dẫn đến tình trạng dư thừa hàng hóa do lượng cung vượt quá lượng cầu.
Khi áp dụng mức giá sàn PF (PF > PE), lượng cầu giảm từ QE xuống QD, dẫn đến thặng dư tiêu dùng giảm so với thị trường cân bằng, được biểu thị bởi diện tích tam giác PFPmaxA và phần thặng dư tiêu dùng mất đi là diện tích hình thang PEPFAE Ngược lại, lượng cung tăng từ QE lên QS, làm thặng dư sản xuất tăng, được biểu thị bởi diện tích tam giác PFBPmin và phần thặng dư sản xuất tăng thêm là diện tích hình thang PFBEPE Tuy nhiên, thặng dư sản xuất thực nhận của người sản xuất nhỏ hơn, tương ứng với sản lượng mà người tiêu dùng mua, được biểu thị bởi diện tích hình thang PFACPmin.
Hình 1.3 Tổng lợi ích ròng xã hội
Thặng dư sản xuất (PS)
Thặng dư tiêu dùng (CS)
Giá trần là mức giá tối đa bắt buộc nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong những giai đoạn biến động giá cả trên thị trường, như quy định về giá thuê nhà và giá xăng dầu trong thời kỳ khủng hoảng năng lượng Khi giá trần thấp hơn giá cân bằng thị trường, nó dẫn đến tình trạng thiếu hụt hàng hóa do cầu vượt quá cung Điều này giải thích tại sao quy định giá cho thuê nhà và giá xăng dầu thường gây ra tình trạng thiếu hụt.
Hình 1.4 Trạng thái dư thừa (giá sàn)
Khi áp dụng mức giá trần PC (PC < PE), lượng cung giảm từ QE xuống QS, dẫn đến thặng dư sản xuất giảm so với thị trường cân bằng, với thặng dư sản xuất được thể hiện qua diện tích tam giác PCPminA và thặng dư tiêu dùng mất đi qua diện tích hình thang PEPCAE Ngược lại, lượng cầu tăng từ QE lên QD, làm thặng dư tiêu dùng tăng so với thị trường cân bằng, với thặng dư tiêu dùng được biểu thị bởi diện tích tam giác PCBPmax và phần thặng dư tiêu dùng tăng thêm được thể hiện qua diện tích hình thang PEEBPC Tuy nhiên, phần thặng dư tiêu dùng mà người tiêu dùng thực nhận lại nhỏ hơn, được biểu thị bởi diện tích hình thang tương ứng với mức lượng cung tại giá trần.
Chính phủ có khả năng thiết lập khung giá để ổn định giá cả của một hàng hóa cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định Khung giá bao gồm mức giá tối thiểu (PF) và mức giá tối đa (PC) mà hàng hóa đó có thể dao động, và được áp dụng bắt buộc Ví dụ, một chính sách điển hình là quy định khung lãi suất tiền gửi tiết kiệm của các ngân hàng và tổ chức tín dụng.
Hình 1.5 Trạng thái thiếu hụt (giá trần)
Biểu đồ dưới đây thể hiện khung giá cho một hàng hóa cụ thể, trong đó khung giá được sử dụng trong biện pháp ổn định giá khác với biện pháp điều chỉnh giá Chính phủ chỉ có thể thiết lập giá trần hoặc giá sàn trong biện pháp điều chỉnh giá, trong khi khung giá bao gồm cả hai yếu tố này.
Theo khung giá quy định, cá nhân và doanh nghiệp có quyền quyết định giá cả và sản lượng sản xuất dựa trên quan hệ cung cầu, nhưng không được vượt quá mức giá đã được quy định Chính sách này thường được chính phủ áp dụng cho những hàng hóa chiến lược nhằm đảm bảo sự ổn định vĩ mô.
Chính phủ có thể áp dụng chính sách dự trữ hàng hóa nhằm ổn định giá bên cạnh việc quy định khung giá Nhiều sản phẩm như nông sản và xăng dầu có thể được dự trữ, tạo ra lớp đệm giữa sản xuất và tiêu dùng Khi sản xuất giảm, hàng hóa dự trữ sẽ được bán ra, trong khi nếu sản xuất tăng, một phần hàng hóa sẽ được lưu kho để đảm bảo cung ứng.
Trong thị trường có hàng hóa tồn kho, cần phân biệt giữa sản xuất và cung, vì lượng cung không nhất thiết phải bằng lượng sản xuất Lượng cung có thể vượt quá sản xuất khi hàng tồn kho được bán ra, và ngược lại, khi hàng hóa được lưu kho Biểu đồ minh họa chính sách dự trữ đối với sản phẩm nông nghiệp như cà phê, trong đó lượng cung cà phê ngắn hạn không co giãn Đường cung cà phê dốc lên với sản lượng trung bình 20 nghìn tấn mỗi năm và giá 1.2 nghìn USD/tấn Chính phủ áp dụng chính sách dự trữ để ổn định giá, xuất kho 5 nghìn tấn khi vụ thu hoạch thấp (15 nghìn tấn) và lưu kho 5 nghìn tấn khi vụ thu hoạch cao (25 nghìn tấn) Nhờ đó, chính phủ duy trì mức cung ổn định và giá cà phê giữ vững ở mức 1.2 nghìn USD/tấn nếu không có biến động lớn về cầu.
Giá cà phê phụ thuộc vào quan hệ cung cầu toàn cầu, và ví dụ trên chỉ là một trường hợp đơn giản Mức dự trữ cà phê trong ví dụ rất nhỏ so với nhu cầu và cung cấp trên thị trường thế giới.
Phân tích chính sách thuế và trợ cấp
Hình 1.7 Chính sách dự trữ
Khi thị trường đạt trạng thái cân bằng, việc chính phủ áp dụng thuế sản xuất với mức thuế t trên mỗi đơn vị sản phẩm sẽ làm tăng giá sản phẩm lên mức t tại mọi mức sản lượng Điều này dẫn đến sự dịch chuyển của đường cung lên trên (sang trái) tới đường St Với đường cung mới (St), điểm cân bằng mới được xác định là điểm C thay cho điểm E ban đầu Tại điểm cân bằng mới (C), mức giá được xác định là PD(t).
Mức giá mà người tiêu dùng phải trả là PD(t), trong khi mức giá mà người sản xuất thực nhận là PS(t), với Qt < QE Sự chênh lệch giữa hai mức giá này, được giải thích bởi việc đánh thuế của chính phủ, chính là mức thuế t, được tính bằng công thức t = PD(t) – PS(t).
Do chính phủ đánh thuế, giá cả tăng lên và lượng cầu giảm, dẫn đến thặng dư tiêu dùng (CS) giảm Thặng dư tiêu dùng được thể hiện qua diện tích tam giác PmaxCPD(t), trong khi phần thặng dư tiêu dùng giảm so với ban đầu được thể hiện bằng diện tích hình thang PEECPD(t) Đồng thời, mức giá mà người sản xuất thực nhận cùng với lượng cung cũng giảm, khiến thặng dư sản xuất (PS) giảm Thặng dư sản xuất được thể hiện qua diện tích tam giác PS(t)APmin, và phần thặng dư sản xuất giảm so với ban đầu được biểu thị bởi diện tích hình thang PEEAPS(t) Một phần thặng dư tiêu dùng giảm, tương ứng với diện tích hình chữ nhật PEFCPD(t), chính là số thuế mà người tiêu dùng phải gánh chịu, trong khi phần thặng dư sản xuất cũng giảm xuống.
Thặng dư tiêu dùng (CS)
Thặng dư sản xuất (PS)
Tổn thất xã hội (DWL) t
Hình chữ nhật PEFAPS(t) đại diện cho số thuế mà người sản xuất phải chịu, trong khi tổng doanh thu thuế (T) mà chính phủ thu được từ việc đánh thuế được thể hiện qua diện tích hình chữ nhật PD(t)CAPS(t) Tuy nhiên, phần thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất không hoàn toàn được giải thích bởi doanh thu thuế, mà còn có một phần không thuộc về ai, được mô tả bởi diện tích tam giác CEA, gọi là tổn thất xã hội hay tổn thất vô ích do thuế (Deadweight Loss - DWL).
Phần tổn thất xã hội:
1.3.2 Chính sách trợ cấp Để hỗ trợ người tiêu dùng sử dụng nhiều sản phẩm hàng hóa hơn, với mức giá thấp hơn so với mức giá cân bằng của thị trường, chính phủ áp dụng chính sách trợ cấp, để đồng thời đảm bảo người sản xuất không chịu tổn phí khi sản xuất thêm hàng hóa Để đáp ứng lượng cầu Q1 (lớn hơn sản lượng cân bằng của thị trường: Q1 > QE) của người tiêu dùng tương ứng với mức giá P1 (thấp hơn mức giá cân bằng của thị trường: P1 < PE), chính phủ đề nghị nhà sản xuất cung ứng tại mức sản lượng Q1 Mức giá mà nhà sản xuất chấp nhận tương ứng với lượng cung Q1 là P2 (cao hơn mức giá cân bằng của thị trường: P2 > PE > P1) Như vậy, để hỗ trợ người tiêu dùng, chính phủ sử dụng chính sách trợ cấp để bù đắp phần chênh lệch giữa tổng mức sẵn lòng chấp nhận của người sản xuất và tổng mức sẵn lòng trả của người tiêu dùng, được biểu thị là diện tích hình chữ nhật P1P2BE’, đây chính là phần trợ cấp (TR) từ ngân sách của chính phủ
Thặng dư tiêu dùng (CS) tăng lên do lượng cầu gia tăng và giá giảm, điều này được thể hiện qua diện tích hình tam giác PmaxP1E’ và phần thặng dư tiêu dùng bổ sung được biểu thị bởi diện tích hình thang PEEE’P1.
Thặng dư sản xuất (PS) của người sản xuất tăng lên do lượng cung và mức giá cùng gia tăng, được thể hiện qua diện tích hình tam giác PminP2B Phần thặng dư sản xuất bổ sung được biểu diễn bằng diện tích hình thang PEEBP2.
Hình 1.9 Chính sách trợ cấp
Công thức 2× 𝑄 1 × (𝑃 2 − 𝑃 𝑚𝑖𝑛 ) thể hiện sự tác động của can thiệp chính phủ trong việc tạo ra tổn thất xã hội (DWL), được minh họa qua diện tích tam giác EBE’ Phần chênh lệch này giữa trợ cấp của chính phủ (TR) và tổng các phần tăng thêm của thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất (ΔCS + ΔPS) phản ánh sự không hiệu quả trong phân bổ tài nguyên.
Phân tích chính sách ngoại thương
Trong nền kinh tế đóng, nơi mà các hoạt động tự cung tự cấp diễn ra mà không có giao thương với thế giới bên ngoài, thị trường đạt được trạng thái cân bằng tại điểm E, với giá cân bằng là PE và sản lượng cân bằng là QE.
• Thặng dư tiêu dùng (CSE) được biểu thị bởi diện tích tam giác PmaxEPE;
• Thặng dư sản xuất (PSE) được biểu thị bởi diện tích tam giác PminEPE
Trong nền kinh tế mở với quy mô nhỏ và tự do thương mại, khi giá hàng hóa nội địa cao hơn giá thế giới, thị trường nội địa sẽ điều chỉnh để chấp nhận mức giá thế giới Hệ quả là thặng dư tiêu dùng gia tăng do giá cả giảm và lượng cầu tăng, trong khi thặng dư sản xuất lại giảm do giá thấp hơn và lượng cung nội địa giảm.
• Thặng dư tiêu dùng (CSW) được biểu thị bởi diện tích tam giác PmaxPwB;
• Thặng dư sản xuất (PSW) được biểu thị bởi diện tích tam giác PminPWA
Khi chính phủ áp dụng thuế nhập khẩu, giá hàng hóa nhập khẩu sẽ tăng lên, nhưng vẫn thấp hơn giá cân bằng nội địa Điều này dẫn đến việc lượng cầu nội địa giảm từ QD0 xuống QD1, trong khi lượng cung nội địa tăng từ QS0 lên QS1, làm cho lượng hàng nhập khẩu giảm từ mức AB (= QD0 – QS0).
FC (= QD1 – QS1) cho thấy rằng thặng dư tiêu dùng (CSW(t)) giảm so với trước khi áp dụng thuế nhập khẩu, trong khi thặng dư sản xuất (PSW(t)) lại tăng lên.
• Thặng dư tiêu dùng (CSW(t)) được biểu thị bởi diện tích tam giác PmaxPW(t)C;
• Thặng dư sản xuất (PSW(t)) được biểu thị bởi diện tích tam giác PminPW(t)F Xem đồ thị minh họa, ta thấy rằng:
Thặng dư tiêu dùng (CS)
Thặng dư sản xuất (PS)
Tổn thất xã hội (DWL) Nền kinh tế đóng a b+c+d 0 0
Nền kinh tế mở chưa có thuế nhập khẩu a+b+e+c+f+g+h d 0 0
Giá thế giới sau khi có thuế nhập khẩu a b c h d f g
Nền kinh tế mở có thuế nhập khẩu a+b+e d+c g f+h
Một phần tổn thất xã hội (gọi là phần f) được xác định là do tăng cung nội địa, trong khi phần tổn thất xã hội còn lại (gọi là phần h) được xem là do giảm cầu nội địa.
Chính phủ áp dụng chính sách hạn ngạch nhập khẩu để hạn chế hàng hóa nhập khẩu, khuyến khích sản xuất trong nước và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành sản xuất Khác với thuế nhập khẩu, hạn ngạch xác định sản lượng hàng hóa nhập khẩu từ đầu và không thay đổi theo cung cầu nội địa Một điểm khác biệt nữa là chính phủ không thu được lợi ích khi giấy phép nhập khẩu không qua đấu giá, mà lợi ích này có thể thuộc về các công ty thương mại sở hữu giấy phép nhập khẩu.
Hình 1.11 Hạn ngạch nhập khẩu
Giá sau khi có hạn ngạch
So với thời kỳ không có hạn ngạch nhập khẩu, thặng dư tiêu dùng giảm do sản lượng tiêu dùng giảm và giá tăng, trong khi thặng dư sản xuất tăng nhờ lượng cung nội địa tăng và giá nội địa cũng tăng Một phần thặng dư tiêu dùng giảm tương ứng với phần thặng dư sản xuất tăng; phần còn lại thuộc về các doanh nghiệp có giấy phép nhập khẩu và tổn thất xã hội (DWL) Tuy nhiên, lợi ích của các doanh nghiệp nhập khẩu có thể không được toàn bộ, vì họ phải chi phí cho việc xin giấy phép nhập khẩu từ chính phủ.
Dưới đây là bảng chi tiết về sự thay đổi của thặng dư tiêu dùng, thặng dư sản xuất, tổn thất xã hội và lợi ích của các doanh nghiệp nhập khẩu, giúp nắm bắt rõ ràng các yếu tố kinh tế quan trọng liên quan đến thị trường.
Thặng dư tiêu dùng (CS)
Thặng dư sản xuất (PS)
Lợi ích từ việc có được giấy phép nhập khẩu
Tổn thất xã hội (DWL)
Nền kinh tế mở chưa có hạn ngạch nhập khẩu a+b+e+c+f+g+h d 0 0
Nền kinh tế mở có hạn ngạch nhập khẩu a+b+e d+c g f+h
Trong một quốc gia có nền kinh tế mở và quy mô nhỏ, khi chính phủ chưa áp dụng chính sách trợ cấp xuất khẩu, mức giá thị trường là P0 với lượng cầu là QD0 và lượng cung là QS0, dẫn đến lượng xuất khẩu là QS0 - QD0 Tuy nhiên, khi chính phủ thực hiện chính sách trợ cấp xuất khẩu, lượng cung tăng lên QS1, kéo theo mức giá thị trường nội địa tăng lên P1 và lượng cầu nội địa giảm xuống QD1, dẫn đến lượng hàng hóa xuất khẩu tăng lên QS1 - QD1, lớn hơn so với trước đây.
- Trước khi có chính sách trợ cấp xuất khẩu:
• Thặng dư tiêu dùng (CS0) của người tiêu dùng trong nước được biểu thị bởi diện tích tam giác PmaxP0A, CS0 = a + b + c;
• Thặng dư sản xuất (PS0) được biểu thị bởi diện tích tam giác PminP0B, PS0 d+e+f
• Lợi ích ròng xã hội cũng chính là tổng thặng dư xã hội, NSB0 = TSB0 = SS0 CS0 + PS0 = a+b+c+d+e+f
- Sau khi có chính sách trợ cấp xuất khẩu:
• Thặng dư tiêu dùng (CS1) giảm, được biểu thị bởi diện tích tam giác PmaxP1F,
• Thặng dư sản xuất (PS1) tăng, được biểu thị bởi diện tích tam giác PminP1E, PS1
• Tổn phí cho ngân sách của chính phủ (TR) được tạo ra, đây cũng chính là tổn
Hình 1.12 Trợ cấp xuất khẩu e
QD1 QD0 QS0 a b c h d g f N phí xã hội (TSC) được biểu thị bởi diện tích hình chữ nhật FENM, TR = TSC
• Sự thay đổi của thặng dư tiêu dùng (ΔCS) là âm, ΔCS = CS1 – CS0 = -b-c;
• Sự thay đổi của thặng dư sản xuất (ΔPS) là dương, ΔPS = PS1 – PS0 = b+c+g;
• Tổng sự thay đổi về thặng dư do chính sách trợ cấp xuất khẩu là: ΔCS + ΔPS
Chính phủ đã chi một khoản ngân sách để trợ cấp xuất khẩu, dẫn đến tổn thất xã hội tương ứng với c+h.
• Lợi ích xã hội ròng (NSB) được xác định bằng tổng thặng dư xã hội trừ cho tổng chi phí xã hội, NSB1 = TSB1 – TSC1 = (CS1 + PS1) – TR (a+b+c+d+e+f+g) – (c+g+h) = a+b+d+e+f-h
• Sự thay đổi lợi ích xã hội ròng (ΔNSB) cũng chính là tổn thất xã hội, ΔNSB NSB1 - NSB0 = (a+b+d+e+f-h) – (a+b+c+d+e+f) = -c-h = DWL
Thuế xuất khẩu được chính phủ đánh vào các mặt hàng xuất khẩu, thường với mục đích tránh sự khan hiếm hàng hóa trong nước
Trong một nền kinh tế mở quy mô nhỏ, khi chưa có thuế xuất khẩu, giá nội địa (P0) tương đương với giá thế giới (PW), với lượng cầu nội địa là QD0 và lượng cung là QS0, dẫn đến lượng hàng hóa xuất khẩu bằng QS0 - QD0 Khi chính phủ áp dụng thuế xuất khẩu, giá thế giới không thay đổi do nền kinh tế nhỏ không tác động đến thị trường toàn cầu, khiến giá nội địa giảm theo mức thuế t trên mỗi đơn vị sản phẩm, cụ thể là P1 = P0 - t.
– t, tiêu dùng nội địa tăng lên QD1, lượng cung giảm xuống QS1, và lượng hàng hóa xuất khẩu bằng QS1 - QD1
- Trước khi có chính sách thuế xuất khẩu:
• Thặng dư tiêu dùng (CS0) của người tiêu dùng trong nước được biểu thị bởi diện tích tam giác PmaxP0F, CS0 = a;
• Thặng dư sản xuất (PS0) được biểu thị bởi diện tích tam giác PminP0E, PS0 b+c+d+e+f+g+h
• Lợi ích ròng xã hội cũng chính là tổng thặng dư xã hội, NSB0 = TSB0 = SS0 CS0 + PS0 = a+b+c+d+e+f+g+h
- Sau khi có chính sách thuế xuất khẩu:
• Thặng dư tiêu dùng (CS1) tăng, được biểu thị bởi diện tích tam giác PmaxP1A,
• Thặng dư sản xuất (PS1) giảm, được biểu thị bởi diện tích tam giác PminP1B,
• Doanh thu thuế (T) cho chính phủ được tạo ra, được biểu thị bởi diện tích hình chữ nhật ABMN, T = (P0 – P1)*(QS1 – QD1) = g
• Sự thay đổi của thặng dư tiêu dùng (ΔCS) là dương, ΔCS = CS1 – CS0 = +b;
• Sự thay đổi của thặng dư sản xuất (ΔPS) là âm, ΔPS = PS1 – PS0 = -b-c-g-h;
• Tổng sự thay đổi về thặng dư do chính sách trợ cấp xuất khẩu là: ΔCS + ΔPS
= -c-g-h, tuy nhiên chính phủ đã thu được một khoản doanh thu thuế (c+g+h), do đó chính sách trợ cấp xuất khẩu đã tạo ra một tổn thất xã hội bằng c+h;
• Lợi ích ròng xã hội (NSB) được xác định bằng tổng thặng dư xã hội trừ cho tổng chi phí xã hội, NSB1 = TSB1 – TSC1 = (CS1 + PS1) + T = (a+b+d+e+f)+g
• Sự thay đổi lợi ích xã hội ròng (ΔNSB) cũng chính là tổn thất xã hội (DWL), ΔNSB = NSB1 - NSB0 = (a+b+d+e+f+g) – (a+b+c+d+e+f+g+h) = -c-h DWL
Chính phủ áp dụng chính sách hạn ngạch xuất khẩu tương tự như thuế xuất khẩu, dẫn đến việc tăng tiêu dùng nội địa và giảm giá nội địa Điều này cũng làm giảm cung và sản lượng xuất khẩu, gây ra sự gia tăng thặng dư tiêu dùng nhưng giảm thặng dư sản xuất, dẫn đến tổn thất xã hội (DWL) Khác với thuế nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu xác định sản lượng hàng hóa xuất khẩu từ đầu và không thay đổi khi cung cầu nội địa biến động Hơn nữa, chính phủ không thu được lợi ích khi giấy phép xuất khẩu không qua đấu giá, và phần lợi ích này có thể thuộc về các công ty thương mại sở hữu giấy phép xuất khẩu.
Hình 1.14 Hạn ngạch xuất khẩu e
Giá khi có hạn ngạch
Dưới đây là bảng chi tiết về sự thay đổi của thặng dư tiêu dùng, thặng dư sản xuất, lợi ích xã hội ròng, và tổn thất xã hội
CS PS Lợi ích cho doanh nghiệp xuất khẩu
Có hạn ngạch xuất khẩu a+b d+e+f g a+b+d+e+f+g
LỰA CHỌN TRONG ĐIỀU KIỆN RỦI RO
Mô tả rủi ro
Thông tin có thể ở một trong ba trạng thái sau: chắc chắn, rủi ro, không chắc chắn
Trong quá trình ra quyết định, có ba dạng thông tin chính: chắc chắn, rủi ro và không chắc chắn Thông tin chắc chắn cho phép người ra quyết định biết rõ kết quả, làm cho việc đưa ra quyết định trở nên dễ dàng Tuy nhiên, trong thực tế, thông tin chắc chắn không phổ biến Ngược lại, thông tin về rủi ro và không chắc chắn thường gặp hơn, và chúng ta sẽ lần lượt xem xét hai dạng thông tin này.
Không chắc chắn là tình huống mà trong đó một quyết định có thể dẫn đến nhiều kết quả khác nhau Người ra quyết định hiểu rõ tất cả các kết quả có thể xảy ra, nhưng lại không biết được xác suất của từng kết quả đó.
Khi tham gia kỳ thi tuyển sinh đại học, thí sinh đều nhận thức rõ rằng có hai kết quả khả thi: đỗ hoặc trượt Tuy nhiên, họ không biết được xác suất cụ thể cho từng kết quả của mình.
Rủi ro là tình huống mà một quyết định có thể dẫn đến nhiều kết quả khác nhau, trong đó người ra quyết định hiểu rõ tất cả các kết quả và xác suất xảy ra của chúng Chẳng hạn, khi tung đồng xu, bạn biết rằng nó có thể rơi ngửa hoặc rơi sấp, nhưng không thể chắc chắn về kết quả cụ thể Tuy nhiên, với nhiều lần tung, xác suất đồng xu rơi ngửa là 50% và rơi sấp cũng là 50%.
Xác suất là một khái niệm phức tạp, khó có thể định nghĩa một cách chính xác, vì nó phụ thuộc vào bản chất của các sự kiện không chắc chắn và niềm tin của những người liên quan.
Xác suất khách quan là tần suất xuất hiện của một sự kiện, bao gồm xác suất "biết trước" và "biết sau" Xác suất biết trước có thể tính toán dựa trên thông tin hiện có, ví dụ như xác suất của một đồng xu cân là 0,5 cho cả hai mặt Ngược lại, xác suất biết sau chỉ có thể xác định sau khi sự kiện đã xảy ra, như xác suất mưa trong tháng tư dựa trên dữ liệu lịch sử Tuy nhiên, nhiều quyết định kinh tế mang tính độc nhất và không có xác suất khách quan, do đó cần áp dụng xác suất chủ quan.
Xác suất chủ quan là cách mà mỗi người nhận thức về khả năng xảy ra của một kết quả, dựa trên kỳ vọng, sở thích, kinh nghiệm và đánh giá tương lai của họ Để ước lượng xác suất chủ quan, có thể yêu cầu người ra quyết định so sánh một tình huống thực tế với một tình huống giả định có xác suất khách quan đã biết Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các cá nhân khác nhau trong cùng một tổ chức có thể đánh giá xác suất khác nhau cho cùng một kết quả, hoặc một cá nhân có thể đưa ra những xác suất khác nhau khi được hỏi vào những thời điểm khác nhau.
Giá trị kỳ vọng (EV) là một thước đo quan trọng để xác định xu hướng trung tâm của một biến số ngẫu nhiên rời rạc Nó được tính toán bằng cách lấy bình quân gia quyền của các giá trị có thể có của tất cả các kết quả, với mỗi giá trị được gán trọng số tương ứng với xác suất xảy ra của kết quả đó Công thức tính giá trị kỳ vọng được biểu diễn như sau: 𝐸𝑉 = ∑ 𝑝 𝑖 𝑉 𝑖.
Trong đó: 𝑝 𝑖 là xác suất của kết quả thứ i
𝑉 𝑖 là giá trị của kết quả thứ i
Siêu thị ABC nhận thấy rằng doanh thu hàng ngày chịu ảnh hưởng bởi thời tiết, với ba khả năng xảy ra: nắng (xác suất 0,3), mưa (xác suất 0,3) và có mây (xác suất 0,4) Mối liên hệ giữa doanh thu và thời tiết được thể hiện rõ trong bảng 2.1.
Bảng 2.1 Doanh thu hàng ngày của siêu thị ABC Điều kiện thời tiết Xác suất Doanh thu (triệu đồng)
Trong trường hợp này EV được tính như sau:
Giá trị kỳ vọng (EV) được tính bằng công thức EV = 0,3 * 500 + 0,3 * 200 + 0,4 * 1000, dẫn đến kết quả là 610 triệu đồng Đây là một ví dụ về phân bố xác suất rời rạc Trong trường hợp phân bố xác suất liên tục, doanh thu của siêu thị ABC có thể có nhiều giá trị khác nhau Nếu doanh thu tuân theo phân bố chuẩn, thì EV sẽ là giá trị trung bình của phân bố đó.
Phương sai là chỉ số đo lường mức độ phân tán của các giá trị xung quanh giá trị trung bình Nó phản ánh cách mà các giá trị riêng lẻ phân tán so với giá trị trung bình của một biến số ngẫu nhiên Trong phân bố xác suất, phương sai thể hiện giá trị trung bình của hiệu số bình phương giữa các giá trị của biến số và giá trị kỳ vọng của nó.
Phương sai của biến số X là:
𝑉𝑎𝑟(𝑋) = 𝜎 2 = 𝐸(𝑋 − 𝐸𝑉) 2 = ∑ 𝑝(𝑋 − 𝐸𝑉) 2 Độ lệch chuẩn là căn bậc hai của phương sai:
𝜎 = √∑ 𝑝(𝑋 − 𝐸𝑉) 2 Độ lệch chuẩn thường được sử dụng làm thước đo mức độ rủi ro.
Sở thích về mức độ rủi ro
Để mô tả sở thích về mức độ rủi ro, một tình huống được giả sử như sau:
Mỗi người có sở thích khác nhau về mức độ rủi ro, bao gồm ghét rủi ro, thích rủi ro hoặc trung lập Thái độ của họ đối với việc tham gia trò chơi, được coi là một hoạt động có thu nhập kỳ vọng, sẽ phản ánh rõ nét sự yêu thích hoặc không thích rủi ro của họ.
Nội dung của trò chơi:
Một người tham gia trò chơi tung đồng xu sẽ nhận được 10 đô-la, với tùy chọn có thể tham gia hoặc không Đồng xu được sử dụng là đồng chất và cân bằng, do đó xác suất để ra một trong hai mặt là 50%.
- Nếu ra mặt ngửa, người chơi được 5 đô-la;
- Nếu ra mặt sấp, người chơi mất 5 đô-la;
Trong trường hợp người chơi chọn không tham gia trò chơi tung đồng xu, họ sẽ giữ nguyên số tiền 10 đô-la ban đầu Quyết định này được coi là một hoạt động có thu nhập chắc chắn, đảm bảo rằng số tiền không bị mất đi.
Trong trường hợp thứ hai, người chơi tham gia trò chơi tung đồng xu với khả năng thắng 5 đô-la (nếu ra mặt ngửa) để có tổng số tiền là 15 đô-la, nhưng cũng có thể thua 5 đô-la (nếu ra mặt sấp) và chỉ còn lại 5 đô-la Xác suất cho mỗi kết quả là 50% Do đó, thu nhập kỳ vọng từ hoạt động này được tính toán bằng công thức EV = 0,5 * 15 + 0,5 * 5 đô-la.
Như vậy, mức thu nhập của hai hoạt động là như nhau
Trong bài viết này, chúng ta sẽ phân tích sở thích về mức độ rủi ro qua ba trường hợp khác nhau: Người ghét rủi ro sẽ quyết định không tham gia trò chơi; Người thích rủi ro sẽ chọn tham gia; và Người trung lập với rủi ro sẽ không có sự ưu tiên nào trong việc lựa chọn.
Người ghét rủi ro thích hoạt động có thu nhập chắc chắn hơn hoạt động có thu nhập kỳ vọng bằng thế nhưng rủi ro
Tổng lợi ích tăng khi thu nhập tăng nhưng lợi ích biên giảm dần
Người ghét rủi ro có đường lợi ích cho hoạt động thu nhập chắc chắn thể hiện qua đường cong lõm về phía trên, cho thấy rằng lợi ích từ thu nhập chắc chắn cao hơn lợi ích từ thu nhập kỳ vọng tại cùng một mức thu nhập Cụ thể, tại mức thu nhập V = 10 đơn vị, lợi ích đạt được là U(10) lớn hơn 0,5.U(5)+0,5.U(15) Trong nhiều tình huống thực tế, người ghét rủi ro thường không có lựa chọn nào khác ngoài việc tham gia vào hoạt động có thu nhập kỳ vọng và sẵn sàng chấp nhận một khoản chi phí để đảm bảo đạt được mức lợi ích cao nhất mà không cần phải thắng trong các sự kiện rủi ro.
Những người ưa mạo hiểm thường đánh giá cao các hoạt động có thu nhập kỳ vọng lớn hơn so với những hoạt động có thu nhập ổn định, mặc dù cả hai đều có mức thu nhập tương đương.
Tổng lợi ích tăng khi thu nhập tăng nhưng lợi ích biên tăng dần
Hình 2.2 cho thấy rằng những người ưa mạo hiểm có đường lợi ích liên quan đến thu nhập chắc chắn là một đường cong lõm về phía dưới, nằm dưới đường lợi ích của thu nhập kỳ vọng Cụ thể, tại mức thu nhập V = 10 đơn vị, lợi ích từ thu nhập chắc chắn thấp hơn lợi ích từ thu nhập kỳ vọng, tức là U(10) < 0,5.U(5) + 0,5.U(15).
Hình 2.1 Người ghét rủi ro
2.2.3 Trung lập với rủi ro
Người bàng quan đánh giá hoạt động có thu nhập chắc chắn và hoạt động có thu nhập kỳ vòng tương đương khi hai mức thu nhập này là bằng nhau.
Tổng lợi ích tăng khi thu nhập tăng nhưng lợi ích biên là không đổi
Hình 2.3 chỉ ra rằng, người bàng quan với rủi ro có đường lợi ích liên kết với hoạt động có thu nhập chắc chắn, trùng khớp với đường lợi ích từ hoạt động có thu nhập kỳ vọng Đồng thời, đường lợi ích này cũng thể hiện rằng lợi ích biên theo thu nhập duy trì sự ổn định khi thu nhập thay đổi.
Hình 2.2 Người thích rủi ro
Ra quyết định trong điều kiện rủi ro
Có thể sử dụng các tiêu thức khác nhau để ra quyết định trong điều kiện rủi ro
2.3.1 Sử dụng tiêu thức giá trị kỳ vọng
Khi giá trị kỳ vọng được áp dụng như một tiêu chí để ra quyết định, người ra quyết định hợp lý sẽ luôn lựa chọn hoạt động có giá trị kỳ vọng cao nhất.
Một cá nhân đang xem xét hai phương án đầu tư A và B, trong đó lợi nhuận của từng phương án khác nhau Thông tin chi tiết về lợi nhuận và xác suất tương ứng của các phương án này được trình bày trong bảng 2.2.
Bảng 2.2 Kết quả dự kiến của 2 phương án đầu tư
Phương án đầu tư Xác xuất Lợi nhuận (triệu đồng)
Giá trị kỳ vọng của phương án A là: EVA = 0,4.400 + 0,6 200 = 280
Hình 2.3 Người bàng quan với rủi ro
Giá trị kỳ vọng của phương án B là: EVB = 0,3.500 + 0,7 100 = 220
Phương án A được chọn vì mang lại lợi nhuận kỳ vọng cao hơn Việc sử dụng tiêu thức này giúp xác định hoạt động có giá trị kỳ vọng cao nhất, tuy nhiên, trong một số trường hợp, nó có thể dẫn đến những kết luận không hợp lý Chẳng hạn, một chủ nhà có ngôi nhà trị giá 1 tỷ đồng và xác suất bị cháy trong một năm là 0,0001, dẫn đến giá trị kỳ vọng thiệt hại là 100 nghìn đồng Nếu chỉ dựa vào giá trị kỳ vọng, chủ nhà có thể chỉ sẵn sàng chi 100 nghìn đồng cho bảo hiểm Thực tế, nhiều người trong tình huống tương tự thường chi nhiều hơn 100 nghìn đồng để đảm bảo rằng họ sẽ nhận được bồi thường nếu nhà bị cháy.
Trò chơi tung đồng xu là một ví dụ thú vị về giá trị kỳ vọng Trong trò chơi này, nếu người chơi đồng ý với quy tắc rằng khi đồng xu rơi ngửa, họ sẽ nhận được 1.000 đồng, còn nếu rơi sấp, họ sẽ mất 1.000 đồng, thì giá trị kỳ vọng của trò chơi có thể được tính toán để đánh giá rủi ro và lợi ích.
Khi áp dụng tiêu thức giá trị kỳ vọng, nhiều cá nhân có thể tỏ ra thờ ơ với trò chơi Tuy nhiên, thực tế cho thấy có rất nhiều người chơi tham gia, cho thấy họ thường quan tâm đến phần thưởng hơn là giá trị kỳ vọng.
Nghịch lý "St Petersburg" là một trò chơi thú vị liên quan đến việc tung đồng xu, trong đó phần thưởng phụ thuộc vào lần đầu tiên đồng xu rơi ngửa Cụ thể, nếu lần tung đầu tiên rơi ngửa, người chơi nhận 2 nghìn đồng; nếu lần thứ hai, phần thưởng sẽ là 4 nghìn đồng; và nếu lần thứ n, phần thưởng sẽ là 2^n nghìn đồng Điều này đặt ra câu hỏi về giá trị hợp lý mà một người chơi nên trả để tham gia trò chơi này, khi giá trị kỳ vọng của nó có thể rất cao.
Giá trị kỳ vọng đóng vai trò quan trọng trong quá trình ra quyết định, nhưng thực tế cho thấy mọi người thường không chấp nhận rủi ro lớn khi tham gia các trò chơi Họ thường lo lắng về khoản tiền mất mát nhiều hơn là những lợi ích có thể đạt được Trong phân tích kinh tế, “ích lợi” từ việc mất một nghìn đồng được coi là lớn hơn “ích lợi” từ việc nhận một nghìn đồng.
Phân tích cho thấy việc sử dụng tiêu thức giá trị kỳ vọng trong ra quyết định có hạn chế, vì không xem xét thái độ của người ra quyết định đối với rủi ro Để khắc phục điều này, có thể áp dụng một tiêu thức khác phản ánh rõ hơn thái độ đối với rủi ro Hình 2.4 minh họa mối quan hệ giữa ích lợi và thu nhập của cá nhân, với mỗi phần thể hiện thái độ khác nhau của cá nhân đó đối với rủi ro.
Người ghét rủi ro thường ưu tiên các hoạt động có kết quả chắc chắn hơn là những hoạt động rủi ro, mặc dù giá trị kỳ vọng của chúng tương đương Mối quan hệ giữa ích lợi và thu nhập của người ghét rủi ro được thể hiện qua hình 2.4, cho thấy tổng ích lợi của họ tăng khi thu nhập tăng, nhưng với tốc độ giảm dần Điều này có nghĩa là lợi ích cận biên của thu nhập giảm dần do sự gia tăng thu nhập cũng đồng nghĩa với việc rủi ro gia tăng.
Hình 2.4 Các hàm lợi ích của những người có thái độ khác nhau với rủi ro
Người bàng quan với rủi ro thích các hoạt động chắc chắn, với giá trị kỳ vọng tương đương kết quả của hoạt động đó Mối quan hệ giữa ích lợi và thu nhập của người bàng quan cho thấy tổng ích lợi tăng tỷ lệ thuận với thu nhập, với lợi ích cận biên của thu nhập là hằng số Ngược lại, người thích rủi ro ưu tiên giá trị kỳ vọng hơn giá trị chắc chắn, mặc dù chúng bằng nhau Mối quan hệ giữa ích lợi và thu nhập của người thích rủi ro cho thấy tổng ích lợi tăng khi thu nhập tăng, nhưng với tốc độ tăng dần, tức là lợi ích cận biên của thu nhập cũng tăng dần.
2.3.2 Sử dụng tiêu thức lợi ích kỳ vọng
Khi thay thế tiêu thức giá trị kỳ vọng bằng tiêu thức ích lợi kỳ vọng (EU), người ra quyết định sẽ lựa chọn hoạt động mang lại ích lợi kỳ vọng cao nhất.
𝑝 𝑖 là xác suất của kết quả thứ i
𝑈 𝑖 là ích lợi của kết quả thứ i
Việc sử dụng tiêu thức ích lợi kỳ vọng trong mô hình hóa ra quyết định cho phép tính đến thái độ đối với rủi ro của người ra quyết định Tuy nhiên, việc áp dụng theo cách chuẩn tắc gặp khó khăn trong việc ước lượng mối quan hệ giữa ích lợi và thu nhập cho từng cá nhân Để khắc phục nhược điểm này, phương pháp “so sánh trò chơi chuẩn” có thể được áp dụng Phương pháp này bao gồm hai bước: đầu tiên, gán giá trị ích lợi cho các giá trị tiền tệ, theo quy tắc rằng giá trị tiền cao phải tương ứng với giá trị ích lợi cao; thứ hai, xác định giá trị ích lợi cho các lượng tiền khác nhau.
Khi phân tích giá trị ích lợi của tiền, ta thấy rằng 1 triệu đồng mang lại ích lợi là 1, trong khi 0 đồng không mang lại ích lợi nào Để xác định giá trị ích lợi của 500 nghìn đồng, người ra quyết định phải lựa chọn giữa hai phương án: a Nhận 500 nghìn đồng một cách chắc chắn, hoặc b Nhận một vé xổ số với phần thưởng 1 triệu đồng có xác suất p và không nhận được gì với xác suất (1 – p) Việc lựa chọn này sẽ phụ thuộc vào mức độ chấp nhận rủi ro của từng cá nhân.
Khi giá trị của p thấp, người ra quyết định có xu hướng ưa thích số tiền 500 nghìn đồng chắc chắn hơn, trong khi với giá trị p cao, họ lại nghiêng về việc chơi xổ số Hiểu được thái độ đối với rủi ro của người này giúp giải quyết vấn đề dễ dàng hơn Chẳng hạn, nếu họ không phân biệt rõ giữa việc nhận 500 nghìn đồng chắc chắn và nhận vé xổ số với cơ hội 1 triệu đồng (xác suất 0,6), thì lợi ích của cả hai phương án là tương đương.
Vì ta đã gán những giá trị ích lợi cho 1 triệu đồng và 0 nghìn đồng nên ta có: U(500) = 0,6.1 + 0,4.0 = 0,6
Phương pháp ước lượng ích lợi có nhược điểm là dựa vào khả năng trả lời các câu hỏi giả thiết, tương tự như các câu hỏi thực tế mà người ra quyết định phải đối mặt Mức độ ghét rủi ro của một người phụ thuộc vào bản chất của rủi ro và thu nhập của họ Những người có tâm lý ghét rủi ro thường lựa chọn các hoạt động với độ dao động kết quả thấp hơn Họ sẵn sàng trả nhiều hơn để tránh rủi ro khi độ dao động lớn, nhưng cũng chấp nhận rủi ro nếu có cơ hội nhận được khoản thu nhập cao hơn.
Giảm nhẹ rủi ro
Mọi người thường không ưa thích rủi ro và thường áp dụng nhiều phương pháp để giảm thiểu nó Trong bài viết này, chúng ta sẽ lần lượt khám phá từng phương pháp này.
Một cá nhân làm đại lý bán hàng cho doanh nghiệp đồ gia dụng có thể tập trung hoàn toàn vào việc bán quạt điện và máy điều hòa không khí, hoặc phân bổ nguồn lực để bán cả chăn, đệm Tuy nhiên, các nhóm mặt hàng này sẽ có hiệu quả khác nhau tùy thuộc vào điều kiện thời tiết, mà cá nhân này không thể dự đoán trước.
Quy mô của nhà máy Điều kiện kinh tế Điều kiện kinh tế
Giữ nguyên tốc độ cũ 0,4.6=2,4
Giữ nguyên tốc độ cũ 0,4.3=1,2
Để giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh, các nhà bán lẻ cần đa dạng hóa sản phẩm bằng cách phân chia nguồn lực để cung cấp hai nhóm hàng hóa thay vì chỉ tập trung vào một nhóm duy nhất.
Năm tới, khả năng thời tiết lạnh và nóng có xác suất 0,5, ảnh hưởng đến thu nhập từ việc bán quạt điện, máy điều hòa không khí và chăn, đệm Bảng 2.4 trình bày chi tiết thu nhập tiềm năng của cá nhân từ các mặt hàng này.
Bảng 2.4 Thu nhập từ việc bán các nhóm hàng hóa
Trời nóng Trời lạnh Thu nhập từ bán quạt điện, máy điều hòa không khí 200 triệu đồng 100 triệu đồng Thu nhập từ bán chăn, đệm 100 triệu đồng 200 triệu đồng
Nếu cá nhân chỉ bán quạt điện, máy điều hòa không khí hoặc chăn, đệm, thu nhập kỳ vọng sẽ là 150 triệu đồng Tuy nhiên, nếu họ đa dạng hóa nguồn lực cho cả hai nhóm hàng hóa, thu nhập sẽ vẫn đạt 150 triệu đồng, bất kể thời tiết Trong điều kiện nóng, họ có thể kiếm 100 triệu đồng từ quạt và điều hòa, và 50 triệu đồng từ chăn, đệm; ngược lại, trong thời tiết lạnh, thu nhập sẽ là 100 triệu đồng từ chăn, đệm và 50 triệu đồng từ quạt, điều hòa Do đó, đa dạng hóa giúp giảm thiểu rủi ro hoàn toàn Thực tế, việc phân chia nguồn lực cho các hoạt động không liên quan chặt chẽ chỉ có thể loại trừ một phần rủi ro, chứ không hoàn toàn.
Những người có tâm lý ghét rủi ro thường chấp nhận giảm thu nhập để tránh những rủi ro tài chính Họ sẵn sàng mua bảo hiểm với mức phí tương đương với thiệt hại kỳ vọng, nhằm đảm bảo rằng mọi tổn thất tài chính có thể xảy ra đều được bù đắp đầy đủ.
Giá của rủi ro, hay phần đền bù rủi ro, là số tiền mà những người ghét rủi ro sẵn sàng chi trả để tránh xa các tình huống không chắc chắn Ví dụ, một cá nhân có thể đứng giữa lựa chọn giữa một công việc với thu nhập chắc chắn I3 và một công việc khác với thu nhập kỳ vọng I2.
Trong hình 2.7, đoạn 32 thể hiện giá của rủi ro, vì thu nhập rủi ro I2 mang lại mức thỏa mãn tương đương với thu nhập chắc chắn I3 Sự lựa chọn của cá nhân trong tình huống rủi ro có thể được giải thích qua hàm lợi ích cận biên giảm dần.
Hình 2.7 Giá hay phần đền bù rủi ro
Giả sử cuối thời kỳ cá nhân này có thể nhận được thu nhập I 0 hoặc I 1 với xác suất
Giá trị kỳ vọng của thu nhập trong tình huống này là I2 = ẵI0 + ẵI1, nhưng điều quyết định không phải là mức thu nhập mà là ích lợi Ích lợi kỳ vọng được tính là EU = ẵU(I0) + ẵU(I1) Người tiêu dùng phải lựa chọn giữa hai phương án thu nhập: nhận I0 hoặc I1 với xác suất 50-50, và I2 là một phương án chắc chắn nằm giữa I0 và I1 Mặc dù thu nhập của hai phương án là như nhau, nhưng ích lợi thì khác biệt Ích lợi kỳ vọng của phương án chắc chắn lớn hơn ích lợi của phương án rủi ro, tức là U(I2) > ẵU(I0) + ẵU(I1) Thặng dư tiêu dùng đạt được khi chọn phương án chắc chắn là I2 - I3.
Khi một cá nhân quyết định mua bảo hiểm để giảm thiểu rủi ro, họ sẽ trả một khoản phí bảo hiểm cho nhà bảo hiểm Đổi lại, nhà bảo hiểm cam kết bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra trong thời gian bảo hiểm Việc này giúp cá nhân đạt được một tình huống chắc chắn về thu nhập, mặc dù ban đầu họ phải chấp nhận giảm thu nhập do phí bảo hiểm Lợi ích từ phương án này là sự chắc chắn về thu nhập sau khi trừ phí bảo hiểm Khi phải lựa chọn giữa sự chắc chắn và không chắc chắn, cá nhân sẽ ưu tiên phương án mang lại lợi ích cao hơn Theo hình 2.8, nếu phí bảo hiểm nhỏ hơn (I1 – I3), cá nhân sẽ có xu hướng mua bảo hiểm, với I3 là mức thu nhập chắc chắn tương đương với mức thu nhập I0 hoặc I1 với xác suất 50-50.
Hình 2.8 Bảo hiểm làm tăng mức thỏa mãn
Bỏ qua chi phí quản lý, số tiền tối đa mà cá nhân sẵn sàng chi cho bảo hiểm thường lớn hơn mức tối thiểu mà nhà bảo hiểm chấp nhận Phí bảo hiểm cần thiết để đảm bảo nhà bảo hiểm không bị lỗ, dẫn đến khái niệm “bảo hiểm công bằng”, trong đó tổng phí bảo hiểm tương đương với giá trị kỳ vọng của tổn thất Tuy nhiên, các công ty bảo hiểm thường phải thu phí cao hơn mức tổn thất kỳ vọng để trang trải chi phí quản lý hành chính, điều này lý giải tại sao nhiều người chọn tự bảo hiểm thay vì mua bảo hiểm từ các công ty.
Một cá nhân có hàm ích lợi U(W) = –0,10W² + 8W và tài sản ban đầu là 20 nghìn đô-la, trong đó có một chiếc xe máy trị giá 10 nghìn đô-la với xác suất mất là 20% Nếu không mua bảo hiểm, của cải kỳ vọng của họ sẽ là EW = 0,8 * 20 + 0,2 * 10 = 18 nghìn đô-la.
Nếu không mua bảo hiểm và giữ được xe máy, người này có lợi ích là 120 đơn vị với giá trị 20 nghìn đô-la Ngược lại, nếu không may mất xe máy, lợi ích giảm xuống còn 70 đơn vị với giá trị 10 nghìn đô-la Tính toán lợi ích kỳ vọng, ta có: EU = 0,8 x 120 + 0,2 x 70 = 110 đơn vị ích lợi.
Mức phí công bằng cho bảo hiểm là 2 nghìn đô-la, mang lại ích lợi 18 nghìn đô-la, tương đương với 111,6 đơn vị ích lợi, cho thấy rằng việc mua bảo hiểm tại mức phí này sẽ tăng cường sự thỏa mãn của cá nhân Tuy nhiên, để đảm bảo bù đắp chi phí hoạt động và có lợi nhuận, công ty bảo hiểm cần đặt mức phí cao hơn Vậy câu hỏi đặt ra là mức phí cao nhất mà cá nhân này vẫn sẵn sàng mua bảo hiểm là bao nhiêu?
Mức thu nhập I3, mặc dù thấp hơn I2, nhưng là mức thu nhập chắc chắn, do đó mang lại lợi ích tương tự như mức I2 có tính rủi ro Vì vậy, nếu cần phải trả phí bảo hiểm bằng I1, điều này cần được xem xét kỹ lưỡng.
Cầu về các tài sản có rủi ro
Con người thường không ưa rủi ro và ưu tiên thu nhập ổn định hàng tháng hơn là thu nhập biến động Tuy nhiên, nhiều người vẫn đầu tư vào chứng khoán, trái phiếu và các tài sản rủi ro, mặc dù họ có thể mất một phần hoặc toàn bộ số tiền Vậy tại sao những người ghét rủi ro lại chọn đầu tư vào thị trường chứng khoán? Họ quyết định chịu đựng bao nhiêu rủi ro khi lập kế hoạch đầu tư và tương lai? Để hiểu rõ hơn, cần xem xét nhu cầu đối với các tài sản có rủi ro.
Tài sản là nguồn tạo ra thu nhập cho chủ sở hữu, như căn hộ cho thuê mang lại tiền thuê hoặc tài khoản tiết kiệm trong ngân hàng tạo ra lãi suất Các khoản lãi này thường được tái đầu tư vào tài khoản để gia tăng giá trị tài sản.
Luồng tiền từ việc sở hữu tài sản có thể đến từ các khoản thanh toán công khai, như thu nhập từ tiền thuê nhà, nơi chủ nhà nhận được séc hàng tháng từ người thuê Một hình thức thanh toán rõ ràng khác là cổ tức từ cổ phiếu thường, ví dụ như cổ đông của General Motors nhận cổ tức hàng quý mỗi ba tháng.
Luồng tiền từ quyền sở hữu tài sản có thể tồn tại dưới dạng ngầm thông qua sự tăng hoặc giảm giá trị tài sản Gia tăng vốn xảy ra khi giá trị tài sản tăng, trong khi tổn thất vốn xảy ra khi giá trị giảm Chẳng hạn, khi dân số một thành phố tăng, giá trị các tòa nhà chung cư cũng tăng, mang lại cho chủ sở hữu một khoản gia tăng vốn ngoài thu nhập từ cho thuê Mặc dù gia tăng vốn chỉ thực sự hiện hữu khi tài sản được bán, nhưng vẫn có luồng tiền ngầm vì chủ sở hữu có thể bán bất cứ lúc nào Tương tự, giá trị chứng khoán của công ty General Motors thay đổi hàng ngày, tạo ra luồng tiền ngầm cho chủ sở hữu, khi họ có thể lãi hoặc lỗ mỗi khi giá chứng khoán biến động.
Tài sản có rủi ro tạo ra luồng tiền không ổn định và khó đoán trước, như cổ phiếu của công ty General Motors, nơi giá cổ phiếu có thể tăng hoặc giảm mà không có sự đảm bảo Việc công ty tiếp tục trả cổ tức cũng không thể được xác định chắc chắn Mặc dù rủi ro thường được xem là đặc trưng của thị trường chứng khoán, nhưng thực tế, hầu hết các loại tài sản khác cũng đều tiềm ẩn rủi ro.
Việc đầu tư vào bất động sản, như tòa nhà chung cư, chứa đựng nhiều rủi ro không thể đoán trước, bao gồm sự biến động của giá trị đất, khả năng cho thuê và việc thanh toán đúng hạn từ người thuê Tương tự, trái khoán công ty cũng tiềm ẩn nguy cơ, đặc biệt khi công ty phát hành có thể phá sản, dẫn đến việc không trả được gốc và lãi cho các chủ sở hữu Ngay cả trái phiếu dài hạn của chính phủ Mỹ, mặc dù có độ tin cậy cao, cũng không hoàn toàn an toàn do nguy cơ lạm phát có thể làm giảm giá trị thực tế của các khoản thanh toán trong tương lai.
Ngược lại với tài sản có rủi ro, tài sản không rủi ro được định nghĩa là những tài sản mang lại luồng tiền ổn định và chắc chắn Một ví dụ điển hình của tài sản không rủi ro là trái khoán ngắn hạn của chính phủ, vì chúng đảm bảo lợi suất cố định và an toàn cho nhà đầu tư.
Mỹ, hay còn gọi là Tín phiếu Kho bạc, là một tài sản không rủi ro hoặc gần như không rủi ro, với kỳ hạn vài tháng, giúp giảm thiểu rủi ro từ lạm phát Nhà đầu tư có thể yên tâm rằng chính phủ Mỹ sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán khi tín phiếu đến hạn Ngoài ra, tài sản không rủi ro khác bao gồm tài khoản tiết kiệm tại ngân hàng và chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn.
• Lợi tức từ tài sản
Con người mua và giữ tài sản chủ yếu vì dòng tiền mà chúng mang lại Để so sánh các tài sản, cần xem xét dòng tiền so với giá trị của chúng Lợi tức của tài sản được tính bằng tổng dòng tiền chia cho giá trị tài sản Ví dụ, một trái phiếu trị giá 1.000 đô-la, trả 100 đô-la mỗi năm, có lợi tức 10% Một tòa chung cư trị giá 10 triệu đô-la năm ngoái, tăng lên 11 triệu đô-la năm nay và mang lại thu nhập ròng 0,5 triệu đô-la từ cho thuê, sẽ có lợi tức 15% Ngược lại, một cổ phiếu General Motors từ 80 đô-la giảm xuống 72 đô-la và trả cổ tức 4 đô-la, sẽ có lợi tức -5%.
Khi đầu tư tiền tiết kiệm vào chứng khoán, trái phiếu, đất đai hoặc tài sản khác, con người thường mong muốn đạt được lợi tức cao hơn mức lạm phát, từ đó có thể mua được nhiều hơn trong tương lai so với thu nhập hiện tại Lợi tức trên tài sản thường được thể hiện dưới dạng giá trị thực tế, đã điều chỉnh theo lạm phát Lợi tức thực tế là lợi tức danh nghĩa trừ đi tỷ lệ lạm phát; ví dụ, với mức lạm phát hàng năm 5%, lợi tức thực tế của trái phiếu, tòa nhà chung cư và cổ phiếu của General Motors lần lượt là 5%, 10% và -10%.
Hầu hết các tài sản đều tiềm ẩn rủi ro, khiến nhà đầu tư khó có thể dự đoán chính xác lợi tức trong năm tới Ví dụ, giá trị của một tòa nhà chung cư có thể giảm thay vì tăng, trong khi cổ phiếu của GM có thể tăng giá Tuy nhiên, chúng ta có thể so sánh các tài sản bằng cách xem xét lợi tức kỳ vọng, là giá trị trung bình mà tài sản đó dự kiến mang lại Mặc dù lợi tức thực tế có thể dao động, nhưng trong dài hạn, lợi tức trung bình sẽ gần gũi với lợi tức kỳ vọng.
• Sự đánh đổi giữa rủi ro và lợi tức
Một phụ nữ đang xem xét cách đầu tư tiền tiết kiệm của mình vào hai loại tài sản: Tín phiếu kho bạc, gần như không có rủi ro, và một nhóm chứng khoán đại diện Bà cần quyết định số tiền sẽ đầu tư vào mỗi loại tài sản, có thể chỉ vào Tín phiếu kho bạc, chỉ vào chứng khoán, hoặc kết hợp cả hai Vấn đề này tương tự như cách người tiêu dùng phân bổ ngân sách giữa hai loại hàng hóa, thực phẩm và quần áo.
Ký hiệu lợi tức không có rủi ro từ Tín phiếu kho bạc là Rf, và do không có rủi ro, lợi tức kỳ vọng và lợi tức thực có là như nhau Trong khi đó, lợi tức kỳ vọng từ đầu tư vào thị trường chứng khoán được ký hiệu là Rm, với lợi tức thực có là rm, chứa đựng yếu tố rủi ro Khi quyết định đầu tư, nhà đầu tư biết các kết cục có thể xảy ra và xác suất của chúng, nhưng không thể biết chính xác kết cục nào sẽ xảy ra Tài sản rủi ro thường có lợi tức kỳ vọng cao hơn tài sản không rủi ro (Rm > Rf), nếu không, những nhà đầu tư ghét rủi ro sẽ chỉ chọn Tín phiếu kho bạc Để xác định số tiền đầu tư vào mỗi loại tài sản, giả sử b là tỷ lệ tiền tiết kiệm đầu tư vào thị trường chứng khoán và (1-b) là phần dùng để mua Tín phiếu kho bạc Lợi tức kỳ vọng của toàn bộ danh mục đầu tư, RP, là giá trị bình quân gia quyền của lợi tức kỳ vọng từ hai loại tài sản này.
Giả sử Tín phiếu kho bạc có lợi tức 4% (Rf = 0,04) và lợi tức kỳ vọng của thị trường chứng khoán là 12% (Rm = 0,12), với hệ số beta b = ẵ, ta có Rp = 8% Để đánh giá mức độ rủi ro của danh mục đầu tư này, một chỉ số quan trọng là phương sai lợi tức Gọi phương sai của đầu tư vào thị trường chứng khoán có rủi ro là σm² và độ lệch chuẩn là σm Qua một số phép tính đại số, ta có thể xác định rằng độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư (bao gồm tài sản rủi ro và tài sản không rủi ro) được tính bằng tỷ lệ phần tiền đầu tư vào tài sản rủi ro nhân với độ lệch chuẩn của tài sản này, tức là σp = bσm.