1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Bài giảng Đầu tư tài chính - ĐH Phạm Văn Đồng

81 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Giảng Môn Đầu Tư Tài Chính
Tác giả ThS Phạm Thị Minh Hiếu
Trường học Đại học Phạm Văn Đồng
Chuyên ngành Đầu tư tài chính
Thể loại bài giảng
Năm xuất bản 2020
Thành phố Quảng Ngãi
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH (4)
    • 1.1. Khái niệm về đầu tƣ tài chính (4)
    • 1.2. Một số công cụ đầu tƣ tài chính cơ bản (5)
      • 1.2.1. Công cụ trên thị trường tiền tệ (5)
      • 1.2.2. Các công cụ trên thị trường vốn (6)
    • 1.3. Đo lường tỷ suất lợi tức và rủi ro của một chứng khoán (7)
      • 1.3.1. Đo lường tỷ suất lợi tức (7)
      • 1.3.2. Đo lường rủi ro trong đầu tư chứng khoán (16)
  • CHƯƠNG 2: ĐỊNH GIÁ CÔNG CỤ ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH (23)
    • 2.1. Định giá trái phiếu (23)
      • 2.1.1. Định giá các loại trái phiếu (23)
      • 2.1.2. Các đại lượng đo lường lãi suất trong đầu tư trái phiếu (28)
      • 2.1.3. Xác định giá trị trái phiếu tương lai (31)
      • 2.1.4. Các yếu tố cơ bản của lãi suất (32)
      • 2.1.5. Cấu trúc kỳ hạn của lãi suất (33)
    • 2.2. Định giá cổ phiếu (35)
      • 2.2.1. Phân tích cổ phiếu (35)
      • 2.2.2. Các phương pháp định giá cổ phiếu (40)
      • 2.2.3. Các lưu ý về tính lãi suất chiết khấu và tốc độ tăng trưởng khi phân tích và định giá cổ phiếu (53)
  • CHƯƠNG 3: LÝ THUYẾT DANH MỤC ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH (56)
    • 3.1. Phân bổ vốn giữa tài sản rủi ro và tài sản phi rủi ro (56)
      • 3.1.1. Phân bổ vốn giữa tài sản rủi ro và tài sản phi rủi ro (56)
      • 3.1.2. Danh mục đầu tƣ bao gồm một tài sản rủi ro và một tài sản phi rủi ro (58)
    • 3.2. Phân bổ vốn giữa các tài sản rủi ro và mô hình Markowitz (58)
      • 3.2.1. Phân bổ vốn giữa các tài sản rủi ro (58)
      • 3.2.2. Phân bổ tối ƣu vốn đầu tƣ trên các tài sản rủi ro – mô hình Markowitz (0)
    • 3.3. Lựa chọn danh mục đầu tƣ tối ƣu (62)
      • 3.3.1. Lựa chọn danh mục đầu tư tối ưu trong trường hợp không tồn tại tài sản phi rủi (62)
      • 3.3.2. Lựa chọn danh mục đầu tư tối ưu trong trường hợp tồn tại tài sản phi rủi ro (63)
  • CHƯƠNG 4: MÔ HÌNH ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN VỐN (CAPM) (67)
    • 4.1. Tổng quan về lý thuyết thị trường vốn (67)
      • 4.1.1. Các giả định của lý thuyết thị trường vốn (67)
      • 4.1.2. Kết hợp một tài sản phi rủi ro với một danh mục đầu tƣ rủi ro (68)
      • 4.1.3. Lựa chọn danh mục tối ƣu khi có sự tồn tại của tài sản phi rủi ro (0)
      • 4.1.4. Danh mục thị trường (70)
    • 4.2. Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) (71)
      • 4.2.1. Các giả thuyết của mô hình CAPM (71)
      • 4.2.2. Kết luận 1: Các nhà đầu tư đều nắm giữ danh mục thị trường (72)
      • 4.2.3. Kết luận 2: Phần bù rủi ro (73)
      • 4.2.4. Hệ số beta và ý nghĩa (74)
      • 4.2.5. Một số lưu ý khi ước lượng và sử dụng hệ số beta tại thị trường chứng khoán Việt Nam (76)
  • CHƯƠNG 5: MÔ HÌNH ĐA NHÂN TỐ (78)
    • 5.1. Các mô hình đa nhân tố (78)
      • 5.1.1. Mô hình một nhân tố (78)
      • 5.1.2. Mô hình đa nhân tố (78)
    • 5.2. Sử dụng mô hình nhân tố để tính phương sai (Var) và hiệp phương sai (Cov) (80)
      • 5.2.1. Tính Cov với mô hình một nhân tố (80)
      • 5.2.2. Tính Cov với mô hình đa nhân tố (80)
      • 5.2.3. Dùng mô hình nhân tố để tính phương sai (81)

Nội dung

Bài giảng Đầu tư tài chính cung cấp cho người học những kiến thức như: Tổng quan về đầu tư tài chính; Định giá công cụ đầu tư tài chính; Lý thuyết danh mục đầu tư tài chính; Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM); Mô hình đa nhân tố. Mời các bạn cùng tham khảo!

TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH

Khái niệm về đầu tƣ tài chính

Khi thu nhập vượt quá nhu cầu tiêu dùng, con người có xu hướng tiết kiệm khoản dƣ thừa để sử dụng trong tương lai Thị trường tài chính cho phép những người có tiền tiết kiệm từ bỏ quyền sở hữu hiện tại để nhận lại một khoản lớn hơn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tương lai Sự đánh đổi giữa tiêu dùng hiện tại và kỳ vọng tiêu dùng cao hơn trong tương lai chính là lý do thúc đẩy việc tiết kiệm Những người tiêu dùng vượt quá thu nhập hiện tại thường phải vay mượn và sẽ phải trả lại số tiền lớn hơn trong tương lai Để gia tăng giá trị khoản tiết kiệm theo thời gian, việc đầu tư là cần thiết.

Khoản chênh lệch giữa số tiền đã mượn và số tiền phải thanh toán trong tương lai, hay còn gọi là giá trị thời gian của tiền tệ, phản ánh thặng dư trên số tiền tiết kiệm ban đầu Tỷ lệ giữa nhu cầu tiêu dùng trong tương lai và tiêu dùng hiện tại được gọi là lãi suất thuần, hình thành trên thị trường vốn dựa vào sự so sánh giữa cung thu nhập thặng dư (tiết kiệm) và nhu cầu tiêu dùng vượt mức (khoản vay mượn) tại một thời điểm nhất định Ví dụ, nếu bạn có thể đổi 100 đồng thu nhập sẵn có hôm nay

Sau một năm, khoản đầu tư phi rủi ro 100 đồng mang lại thu nhập 108 đồng, cho thấy tỷ lệ lãi suất thuần là 8% Điều này có nghĩa là những người chấp nhận từ bỏ 100 đồng hôm nay kỳ vọng sẽ chi tiêu 108 đồng cho hàng hóa và dịch vụ trong tương lai, giả định rằng chỉ số giá tiêu dùng không thay đổi.

Nhà đầu tư sẽ yêu cầu tỷ lệ thu nhập cao hơn để bù đắp cho sự biến động giá trị tiền tệ theo thời gian nếu họ dự báo sự thay đổi giá Ví dụ, nếu dự đoán rằng lạm phát sẽ tăng 2% trong suốt thời gian đầu tư, họ sẽ tăng tỷ suất lợi tức kỳ vọng thêm 2%, dẫn đến việc yêu cầu 110 đồng cho khoản đầu tư.

Khi thu nhập hiện tại không đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, người ta thường vay mượn để bù đắp sự thiếu hụt Việc này có thể dẫn đến việc trì hoãn tiêu dùng trong tương lai, chẳng hạn như trì hoãn 100 đồng tiêu dùng hiện tại trong bối cảnh lạm phát, với tỷ suất lợi tức phi rủi ro yêu cầu là 10% thay vì 8%.

Nhà đầu tư thường yêu cầu tỷ suất lợi nhuận cao hơn để bù đắp cho sự không chắc chắn trong thu nhập tương lai từ việc đầu tư, điều này được coi là rủi ro đầu tư Tỷ suất lợi tức yêu cầu này bao gồm giá trị thuần theo thời gian của vốn và tỷ lệ lạm phát Phần bù rủi ro, hay còn gọi là phần tỷ suất lợi tức tăng thêm, được cộng vào tỷ suất lợi tức danh nghĩa, là tỷ suất lợi tức của tài sản phi rủi ro Ví dụ, nếu nhà đầu tư yêu cầu 112 đồng sau một năm để bù đắp cho rủi ro, thì phần bù rủi ro sẽ là 4 đồng, tương đương với 4%.

Từ sự thảo luận ở trên, chúng ta có thể khái quát một định nghĩa tổng quát về đầu tƣ

Đầu tư là cam kết bỏ vốn hiện tại để thu về lợi nhuận lớn hơn trong tương lai, nhằm bù đắp cho nhà đầu tư về thời gian vốn đã bỏ ra, tỷ lệ lạm phát dự đoán và sự không chắc chắn của dòng thu nhập tương lai.

Nhà đầu tư có thể là cá nhân, chính phủ, quỹ hưu trí hoặc tổ chức, bao gồm tất cả các hoạt động đầu tư như nhà xưởng, trang thiết bị, cổ phiếu, trái phiếu, hàng hóa và bất động sản Mục tiêu chung của nhà đầu tư là đổi một khoản tiền hôm nay để nhận lại dòng thu nhập lớn hơn trong tương lai.

Một số công cụ đầu tƣ tài chính cơ bản

1.2.1 Công cụ trên thị trường tiền tệ

Tín phiếu kho bạc (Treasury bills): là giấy nhận nợ ngắn hạn do Kho bạc nhà nước

Tín phiếu kho bạc, do chính phủ phát hành, nhằm bù đắp tạm thời cho thiếu hụt ngân sách nhà nước Chúng có tính thanh khoản cao và được phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ.

Chứng chỉ tiền gửi (Certificate of Deposits) là công cụ vay nợ do ngân hàng thương mại phát hành, cung cấp cho người mua cơ hội đầu tư an toàn Người sở hữu chứng chỉ này sẽ nhận lãi hàng năm với lãi suất cố định và khi đến hạn, họ sẽ được hoàn trả số tiền gốc ban đầu.

Chứng chỉ tiền gửi thường có thời hạn ngắn, nhưng cũng có thể kéo dài từ 3 đến 5 năm, và thường được phát hành với mệnh giá cao Sự xuất hiện của chứng chỉ tiền gửi đã đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong cơ chế quản lý ngân hàng, từ quản lý nợ sang quản lý tài sản, giúp ngân hàng thương mại huy động vốn một cách chủ động mà không còn phụ thuộc vào người gửi tiền.

Thương phiếu (Commercial Paper) là chứng chỉ ghi nhận yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh toán một khoản tiền nhất định trong thời gian xác định, được phát hành bởi doanh nghiệp để bổ sung nhu cầu vốn ngắn hạn Khác với chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu thường được phát hành dưới hình thức chiết khấu và có thời hạn ngắn, thường dưới 30 ngày, với khoảng thời gian từ 1 đến 270 ngày.

Chấp phiếu của ngân hàng (Bankers Acceptances) là hối phiếu kỳ hạn do các công ty phát hành và được ngân hàng đảm bảo thanh toán bằng cách đóng dấu "đã chấp nhận" Loại hối phiếu này thường được phát hành khi người bán không tin tưởng vào khả năng thanh toán của người mua, yêu cầu bảo đảm từ ngân hàng uy tín Đô la Châu Âu (Euro Dollars) là đồng đô la Mỹ do các ngân hàng nước ngoài hoặc chi nhánh ngân hàng Mỹ ở nước ngoài nắm giữ Các ngân hàng Mỹ có thể vay số tiền này từ các ngân hàng nước ngoài hoặc chi nhánh của mình khi cần vốn.

Hợp đồng mua lại (Repurchase Agreement) là thỏa thuận bán chứng khoán với cam kết mua lại ở mức giá cao hơn vào thời điểm đã định Ngược lại, hợp đồng mua lại đảo ngược (Reverse Repurchase Agreement) diễn ra khi nhà đầu tư bán chứng khoán cho người kinh doanh, kèm theo cam kết sẽ mua lại sau một thời gian với giá cao hơn.

1.2.2 Các công cụ trên thị trường vốn

Cổ phiếu ưu đãi là loại cổ phiếu cho phép người sở hữu nhận lợi tức trước cổ đông sở hữu cổ phiếu thường, với lợi tức cố định Ngoài ra, cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi còn được ưu tiên hoàn vốn khi có chính sách hoàn trả, nhưng không có quyền bầu cử Do đó, giá cổ phiếu ưu đãi thường ít biến động hơn so với cổ phiếu thường.

Cổ phiếu là chứng nhận quyền sở hữu vốn của một cá nhân trong một công ty, cho phép họ trở thành thành viên của tổ chức đó Theo quy định của luật chứng khoán Việt Nam, cổ phiếu xác nhận quyền lợi hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành.

Cổ phiếu thường có các đặc điểm cơ bản sau:

- Thị giá cổ phiếu thường xuyên biến động trên thị trường

- Cổ phiếu có khả năng chuyển nhượng mua, bán trên thị trường chứng khoán (TTCK)

Cổ phiếu của công ty có giá trị trong suốt thời gian tồn tại được ghi trong điều lệ, do đó thời hạn của cổ phiếu được coi là vô hạn.

Cổ phiếu thường (Common stocks): là loại cổ phiếu thông dụng nhất và thể hiện rõ các đặc điểm của cổ phiếu đã nêu trên

Chứng chỉ quỹ (Shares issued by Funds): là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tƣ đối với phần vốn góp của quỹ đại chúng

Trái phiếu là chứng thư xác nhận khoản nợ của người phát hành, cam kết trả nợ kèm lãi suất trong thời hạn nhất định, thường với lãi suất định kỳ Mệnh giá của trái phiếu là số tiền người phát hành phải trả khi đến hạn Theo luật chứng khoán Việt Nam, trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với vốn nợ của tổ chức phát hành.

Đo lường tỷ suất lợi tức và rủi ro của một chứng khoán

Mục tiêu của môn học này là giúp người học nắm vững cách lựa chọn tài sản đầu tư hiệu quả Quá trình này đòi hỏi nhà đầu tư phải ước lượng và định giá rủi ro cũng như lợi tức giữa các cơ hội đầu tư khác nhau Việc hiểu rõ cách đo lường tỷ suất lợi tức kỳ vọng và rủi ro liên quan là điều kiện tiên quyết cho hoạt động đầu tư Trong phần này, chúng ta sẽ khám phá các phương pháp để lường hóa lợi tức và rủi ro của từng tài sản.

1.3.1 Đo lường tỷ suất lợi tức

1.3.1.1 Đo lường tỷ suất lợi tức quá khứ

Khi đánh giá các cơ hội đầu tư, nhà đầu tư thường so sánh sự biến động giá trên thị trường Ví dụ, khi so sánh cổ phiếu giá 30.000 đồng không trả cổ tức với cổ phiếu giá 150.000 đồng trả cổ tức 5.000 đồng/năm, việc định giá hợp lý hai cơ hội đầu tư này đòi hỏi phải xem xét tỷ suất lợi tức quá khứ của cả hai cổ phiếu một cách chính xác.

Khi đầu tư, chúng ta trì hoãn tiêu dùng hiện tại để tăng giá trị cho tiêu dùng trong tương lai Do đó, thu nhập từ đầu tư chủ yếu phản ánh sự thay đổi giá trị tài sản Sự thay đổi này có thể đến từ dòng tiền vào như lãi suất hoặc cổ tức, hoặc từ sự biến động của thị giá tài sản, bao gồm cả tăng và giảm.

Nếu đầu tư 200 triệu đồng vào cổ phiếu VNM đầu năm và thu về 220 triệu đồng vào cuối năm, tỷ suất lợi tức trong khoảng thời gian này được tính qua công thức HPR (lợi tức thời kỳ) Khoảng thời gian nắm giữ (holding period) là thời gian giữa hai mốc đầu tư và thu hồi, trong ví dụ này, HPR được xác định bằng cách lấy lợi nhuận thu được chia cho số tiền đầu tư ban đầu.

HPR = Giá trị lúc kết thúc khoản đầu tƣ/ Giá trị lúc bắt đầu khoản đầu tƣ (1.1)

Giá trị HPR (Holding Period Return) luôn lớn hơn hoặc bằng 0, không bao giờ âm Khi HPR lớn hơn 1, tài sản tăng giá, cho thấy nhà đầu tư nhận được tỷ suất lợi tức dương Ngược lại, HPR nhỏ hơn 1 cho thấy tài sản giảm giá và nhà đầu tư chịu lợi tức âm Nếu HPR bằng 0, nhà đầu tư đã mất toàn bộ vốn HPR giúp ước tính sự thay đổi giá trị đầu tư, nhưng nhà đầu tư thường chuyển đổi sang tỷ lệ phần trăm để dễ dàng so sánh các cơ hội đầu tư Để tính tỷ suất lợi tức theo tỷ lệ phần trăm (HPY), ta lấy HPR trừ 1.

HPY được tính theo công thức HPY = HPR – 1 Trong ví dụ, HPY được xác định là 0,1 hay 10% Thông thường, nhà đầu tư cần xác định tỷ suất lợi tức hàng năm, gọi là tỷ suất lợi tức hàng năm (AHPY).

AHPY = √ – 1 (1.3) Trong đó, n là số năm đầu tƣ

Cơ hội đầu tư vào chứng khoán với số vốn ban đầu là 500 triệu đồng có thể mang lại giá trị 1,2 tỷ đồng sau 2 năm nắm giữ.

HPR = Giá trị ban đầu của khoản đầu tƣ/Giá trị kế thúc của khoản đầu tƣ

Xem xét một cơ hội đầu tư với giá trị ban đầu là 250 triệu đồng và thời gian nắm giữ chỉ 6 tháng, nếu nhận được mức lợi tức 30 triệu đồng mỗi tháng, ta có thể tính toán AHPY Tỷ suất lợi nhuận (HPR) được tính bằng cách chia tổng giá trị cuối cùng (280 triệu đồng) cho giá trị đầu tư ban đầu (250 triệu đồng), kết quả là 1,12.

Khi chuyển đổi ra AHPY, chúng ta cần lưu ý một số giả thiết, trong đó tỷ suất lợi tức hàng năm được giả định không đổi Cụ thể, trong ví dụ đầu tiên với thời gian đầu tư 2 năm, tỷ suất lợi tức là 54,92% mỗi năm Đối với ví dụ thứ hai, khi thời gian nắm giữ chỉ 6 tháng, chúng ta giả định tỷ suất lợi tức trong 6 tháng đầu tương tự như 6 tháng còn lại Để dễ dàng đánh giá lợi tức đầu tư, tỷ suất lợi tức thường được quy đổi theo năm, sử dụng công thức tính lãi kép Theo đó, 12% tỷ suất lợi tức của 6 tháng đầu sẽ được tính theo phương pháp lãi kép, dẫn đến mức 25,44% tỷ suất lợi tức cho toàn năm Tuy nhiên, thực tế cho thấy có sự không chắc chắn trong việc đạt được khoản lợi tức tương tự.

6 tháng tiếp theo, các định chế sẽ không tính theo lãi kép các dòng thu nhập từng phần trong năm

Giá trị kết thúc của khoản đầu tư phụ thuộc vào sự thay đổi của giá trị tài sản đầu tư, thu nhập từ đầu tư, hoặc sự kết hợp giữa hai yếu tố này Chẳng hạn, một cổ phiếu có thể tăng giá từ 15.000 đồng lên 20.000 đồng Giá trị cuối cùng của khoản đầu tư bao gồm tất cả các khoản thu liên quan đến hoạt động đầu tư.

Vì thế công thức tổng quát của HPY là:

Trong đó, D là cổ tức cố định trong khoảng thời gian đầu tƣ; P1 và P 0 lần lƣợt là giá trị bán ra và giá trị mua vào

Dựa trên phương pháp AHPY, chúng ta sẽ phân tích cách tính tỷ suất lợi tức trung bình hàng năm cho một tài sản đơn lẻ Đầu tư vào tài sản đơn có thể mang lại tỷ suất lợi tức cao trong một số năm nhất định, nhưng cũng có khả năng dẫn đến tỷ suất lợi tức thấp hoặc thậm chí âm trong những năm khác.

Bảng 1.1 Tỷ suất lợi tức của các cổ phiếu riêng lẻ Tên cổ phiếu

Mệnh giá lúc mua vào (đồng)

Tổng giá trị lúc mua vào (đồng)

Mệnh giá lúc bán ra (đồng)

Tổng giá trị lúc bán ra (đồng)

Với một chuỗi tỷ suất lợi tức hàng năm (AHPYs) đối với một tài sản đơn đã biết, có

Có hai phương pháp phổ biến để đo lường tỷ suất lợi tức trung bình năm: phương pháp trung bình cộng (Arithmetic Mean - AM) và phương pháp trung bình nhân (Geometric Mean - GM).

Tỷ suất lợi tức năm theo phương pháp trung bình cộng (AM) sẽ bằng tổng các AHPY hàng năm chia cho tổng số năm đầu tƣ (n):

Với ∑ : tổng các tỷ suất lợi tức nhận đƣợc hàng năm Đối với phương pháp trung bình nhân (GM), tỷ suất lợi tức năm trong n năm là:

GM = √∏ – 1 (1.5) là công thức tính lợi nhuận, trong đó ∏ là tích của các tỷ suất lợi tức hàng năm Để minh họa cho phương pháp này, chúng ta xem xét cơ hội đầu tư vào cổ phiếu FPT với các dữ liệu cụ thể.

Năm Giá trị bắt đầu

Giá trị kết thúc (đồng)

Nhà đầu tư thường chú trọng đến đầu tư dài hạn khi so sánh các cơ hội đầu tư Phương pháp GM được xem là cách hiệu quả nhất để đo lường tỷ suất lợi tức trung bình dài hạn, vì nó phản ánh tỷ suất lợi tức kép hàng năm dựa trên giá trị bán ra và mua vào của tài sản Ví dụ, với tỷ suất 2,69% tính theo lãi kép trong 3 năm, giá trị cuối cùng đạt 1,082, cho thấy lãi suất kép cộng dồn trong 3 năm là 8,2%, cao hơn so với cách tính đơn giản 1,0269*3 = 8,07%.

Tỷ suất lợi tức trung bình cộng là chỉ số đại diện cho thành quả của một năm cụ thể, tuy nhiên, khi sử dụng để đo lường giá trị tài sản dài hạn, nó có thể bị lượng hóa quá cao Điều này đặc biệt đúng đối với các chứng khoán có biến động mạnh, nơi mà phương pháp trung bình cộng không phản ánh chính xác kỳ vọng lợi tức trong dài hạn.

ĐỊNH GIÁ CÔNG CỤ ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH

Định giá trái phiếu

Định giá trái phiếu là quá trình xác định giá trị lý thuyết của trái phiếu thông qua việc tính toán giá trị hiện tại của toàn bộ thu nhập tương lai mà trái phiếu mang lại Giá trị lý thuyết này phản ánh giá trị kinh tế thực sự của trái phiếu Trong điều kiện thị trường hiệu quả, giá thị trường của trái phiếu sẽ tương ứng với giá trị lý thuyết, tức là phản ánh đúng giá trị thực của trái phiếu và ngược lại.

Trong bài viết này, chúng ta sẽ khám phá hai mô hình định giá trái phiếu Mô hình giá trị hiện tại xác định giá trị lý thuyết của trái phiếu thông qua việc tính toán giá trị hiện tại của các dòng tiền mà trái phiếu mang lại Mô hình tỷ suất lợi tức cũng dựa vào giá trị hiện tại để đánh giá trái phiếu.

2.1.1 Định giá các loại trái phiếu

2.1.1.1 Mô hình giá trị hiện tại

Mô hình giá trị hiện tại áp dụng lãi suất chiết khấu để tính toán giá trị hiện tại của các dòng tiền từ trái phiếu.

Các yếu tố cần thiết cho việc định giá trái phiếu bao gồm: n: Thời hạn của trái phiếu;

Tiền lãi cố định thanh toán vào năm thứ i, được ký hiệu là C i, là yếu tố quan trọng trong việc xác định lãi suất đáo hạn của đợt phát hành trái phiếu Lãi suất này phản ánh tỷ suất lợi tức yêu cầu của thị trường đối với trái phiếu, ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư.

(1) Định giá trái phiếu không kỳ hạn (perpetual bond) – Tức là trái phiếu không bao giờ đáo hạn

Công ty A phát hành trái phiếu không kỳ hạn với mệnh giá 1 triệu đồng và lãi suất 8%/năm Tuy nhiên, tỷ suất lợi tức yêu cầu của thị trường đối với trái phiếu này là 10%/năm Để tính giá trị lý thuyết của trái phiếu, cần áp dụng công thức xác định giá trị lý thuyết, từ đó giúp nhà đầu tư đánh giá được giá trị thực của trái phiếu trong bối cảnh thị trường hiện tại.

Giá trị lý thuyết của trái phiếu là 800.000đ, thấp hơn mệnh giá do lãi suất của trái phiếu này không đạt kỳ vọng của thị trường.

(2) Định giá trái phiếu có kỳ hạn được hưởng lãi định kỳ hằng năm

Trái phiếu có kỳ hạn hưởng lãi là loại trái phiếu có thời hạn đáo hạn xác định và lãi suất được trả định kỳ, thường là hàng năm, theo lãi suất ghi trên mệnh giá Nhà đầu tư sẽ nhận lãi định kỳ và thu hồi vốn gốc bằng mệnh giá trái phiếu khi đến hạn.

Ông A đã đầu tư vào trái phiếu chính phủ với mệnh giá 1 triệu đồng và lãi suất 8.5%/năm, có thời hạn đáo hạn 5 năm Tỷ suất lợi tức yêu cầu của thị trường cho trái phiếu này là 10%/năm Câu hỏi đặt ra là giá trị của trái phiếu sau 1 năm và 4 năm kể từ ngày phát hành sẽ là bao nhiêu.

Trái phiếu có kỳ hạn không hưởng lãi, hay còn gọi là trái phiếu chiết khấu, là loại trái phiếu không trả lãi định kỳ và được bán với giá thấp hơn mệnh giá Nhà đầu tư sẽ thu được lợi nhuận từ chênh lệch giữa giá mua và mệnh giá của trái phiếu Đối với loại trái phiếu này, lãi suất cố định bằng 0 (C = 0) Công thức định giá cho trái phiếu không hưởng lãi được xác định dựa trên các yếu tố này.

Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã phát hành trái phiếu không trả lãi định kỳ với thời hạn 10 năm và mệnh giá 1.000.000 đồng Để xác định giá bán trái phiếu này khi tỷ suất lợi tức yêu cầu của nhà đầu tư là 12%, chúng ta áp dụng công thức xác định giá trái phiếu không hưởng lãi.

Nhà đầu tư cần chi 322.000 đồng để sở hữu trái phiếu không có lãi suất định kỳ, và sau 10 năm, khi trái phiếu đáo hạn, họ sẽ nhận lại 1.000.000 đồng mệnh giá.

(4) Định giá trái phiếu có kỳ hạn được hưởng lãi định kỳ nửa năm 1 lần

Kho bạc phát hành trái phiếu mệnh giá 1.000.000 đồng, kỳ hạn 20 năm, lãi suất 8%/năm, trả lãi nửa năm Nếu nhà đầu tư yêu cầu tỷ suất lợi tức 10%/năm, giá trái phiếu kho bạc sẽ được tính toán dựa trên yêu cầu này.

Giá trái phiếu Kho bạc hiện tại là 828.409 đồng, thấp hơn mệnh giá do tỷ suất lợi tức kỳ vọng của thị trường đạt 10%, vượt quá lãi suất cố định của trái phiếu Điều này khiến giá trị của trái phiếu chỉ đạt 82,84% so với mệnh giá.

Nếu tỷ suất lợi tuất yêu cầu của trái phiếu là 6%/năm Giá trị hiện tại của trái phiếu kho bạc là:

Giá trái phiếu Kho bạc hiện tại là 1.231.148 đồng, tương đương 123,11% so với mệnh giá Nguyên nhân giá trị trái phiếu cao hơn mệnh giá là do tỷ suất chiết khấu thấp hơn lãi suất của trái phiếu.

Giá trái phiếu chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm lãi suất cố định, kỳ hạn, mệnh giá và đặc biệt là tỷ suất chiết khấu, phản ánh tỷ suất lợi tức yêu cầu của nhà đầu tư trên thị trường.

Định giá cổ phiếu

Mô hình DDM (Dividend Discount Model) là một phương pháp quan trọng để định giá cổ phiếu, bao gồm cả cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi Bài viết này sẽ phân tích cách áp dụng mô hình DDM nhằm xác định giá trị thực của các loại cổ phiếu này dựa trên dự đoán dòng tiền từ cổ tức trong tương lai.

Cổ phiếu ưu đãi là loại cổ phiếu mà công ty cam kết trả cổ tức cố định hàng năm mà không có ngày đáo hạn, tương tự như trái phiếu vĩnh viễn Mô hình định giá cổ phiếu ưu đãi dựa trên hiện giá toàn bộ dòng tiền từ cổ tức, với dòng tiền thu nhập từ cổ phiếu ưu đãi được coi là vô hạn Do đó, việc định giá cổ phiếu ưu đãi tương tự như định giá trái phiếu vĩnh viễn.

Có 2 phương pháp phân tích cổ phiếu cơ bản Đó là phương pháp Top – down hay còn gọi là lý thuyết định giá 3 bước, và phương pháp bottom – up

Phương pháp Bottom-up tập trung vào việc xác định các cổ phiếu có định giá thấp so với thị trường, với kỳ vọng mang lại tỷ suất sinh lợi cao mà không cần xem xét bối cảnh thị trường hay ngành Ngược lại, phương pháp Top-down nhấn mạnh tầm quan trọng của nền kinh tế, thị trường chứng khoán và ngành trong việc ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu, cho phép nhà đầu tư phân tích từ một cái nhìn tổng thể.

Phương pháp Top-down trong đầu tư chứng khoán giúp nhà đầu tư đánh giá ảnh hưởng của môi trường kinh tế và ngành đến từng cổ phiếu, từ đó dự đoán các tình huống không nên đầu tư Phương pháp này giúp tránh rủi ro khi thị trường suy giảm và cho phép nhà đầu tư đa dạng hóa danh mục đầu tư vào các ngành hàng đầu cả trong nước và quốc tế, tạo ra một danh mục đầu tư phong phú và bền vững.

Bảng 2.3 Các bước ra quyết định đầu tư theo phương pháp Top – down

Phân tích nền kinh tế và thị trường chứng khoán

Mục tiêu: Quyết định đầu tƣ trái phiếu, cổ phiếu hay tiền vào thị trường trong nước hay nước ngoài

Phân tích ngành là một phương pháp quan trọng nhằm xác định sự tăng trưởng và kém tăng trưởng của các ngành nghề trong nền kinh tế, cả ở quy mô quốc gia và toàn cầu Đồng thời, phân tích công ty và cổ phiếu giúp nhận diện những doanh nghiệp hoạt động trong các ngành tăng trưởng mạnh, cũng như tìm ra những cổ phiếu đang bị định giá thấp, từ đó hỗ trợ các nhà đầu tư đưa ra quyết định đúng đắn.

Phương pháp Top-down trong phân tích cổ phiếu tập trung vào việc đánh giá giá trị và tiềm năng tăng trưởng của cổ phiếu thông qua các yếu tố chính trị, kinh tế và tài chính, cùng với các yếu tố định tính và định lượng khác Mục tiêu là xác định các công ty tiềm năng để đầu tư, sau đó phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị công ty để so sánh với giá trị thị trường hiện tại Nếu cổ phiếu bị định giá thấp, nhà đầu tư nên xem xét mua vào, trong khi nếu cổ phiếu bị định giá cao, việc bán ra sẽ là lựa chọn hợp lý.

Nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng cả môi trường vĩ mô và môi trường ngành đều có tác động đáng kể đến giá chứng khoán, vì vậy phương pháp phân tích này được áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực chứng khoán.

Môi trường chính trị khu vực và toàn cầu có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế của mỗi quốc gia, với mức độ tác động phụ thuộc vào khả năng hội nhập của quốc gia đó Khi kinh tế thế giới hoặc khu vực suy thoái, nền kinh tế trong nước thường chịu tác động tiêu cực Hệ quả của tình trạng này, kết hợp với việc rút vốn của các nhà đầu tư nước ngoài, sẽ dẫn đến sự giảm giá của chứng khoán.

Phân tích môi trường kinh tế vĩ mô trong nước bao gồm các yếu tố như GDP, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất, thâm hụt ngân sách, tỷ giá hối đoái và chính sách kinh tế của chính phủ Tăng trưởng kinh tế ổn định thường có tác động tích cực đến thị trường chứng khoán, trong khi tăng trưởng nóng có thể dẫn đến tình trạng bong bóng do lượng vốn đầu tư quá lớn.

Phân tích ngành là quá trình đánh giá tác động của các yếu tố kinh tế và phi kinh tế đến hoạt động của các công ty trong ngành cụ thể Các yếu tố này bao gồm chính sách thuế, hạn ngạch xuất nhập khẩu, tình trạng nguồn lực sản xuất, đình công và sự quản lý của chính phủ Sự thay đổi của những yếu tố này có thể ảnh hưởng lớn đến ngành Nội dung phân tích cần bao gồm chu kỳ kinh doanh, hệ số rủi ro, mức doanh lợi kỳ vọng và các hệ số tài chính khác Mỗi ngành có phản ứng khác nhau đối với các giai đoạn trong chu kỳ kinh doanh, do đó, cần lưu ý các vấn đề quan trọng khi thực hiện phân tích.

- Tốc độ tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận của ngành;

- Chu kỳ sống của ngành để tham gia đầu tƣ hay rút vốn khi cần thiết

- Xác định mức lợi nhuận của từng ngành để tham gia đầu tƣ hay rút vốn khi cần thiết;

- Xác định mức lợi nhuận của từng ngành vì rủi ro của mỗi ngành là khác nhau;

- Yếu tố cạnh tranh trong từng ngành

- Xác định danh mục đầu tƣ:danh mục đầu tƣ cần điều chỉnh bằng cách chọn các công ty tốt trong giai đoạn chu kỳ kinh doanh;

- Yếu tố chính sách có khuyến khích hay không nhƣ chính sách xuất nhập khẩu, thuế…;

Mỗi ngành nghề sẽ có mức độ rủi ro khác nhau tại từng thời điểm, vì vậy việc xác định mức rủi ro của từng ngành là cần thiết để đánh giá mức doanh lợi tương ứng.

Phân tích rủi ro của từng ngành trong quá khứ là một phương pháp hiệu quả để dự đoán rủi ro trong tương lai Mục tiêu chính là lựa chọn ngành đầu tư phù hợp, xác định tiềm năng thu nhập và đánh giá mức độ rủi ro liên quan đến ngành đó Việc này giúp các nhà đầu tư đưa ra quyết định thông minh và tối ưu hóa lợi nhuận.

2.2.1.3 Phân tích công ty và phân tích cổ phiếu Để có thể định giá chính xác các cổ phiếu, các nhà đầu tƣ cần phải xác định (1) Tỷ suất lợi tức yêu cầu đối với cổ phiếu, và (2) Dòng tiền kỳ vọng của cổ phiếu trong tương lai Để ước lượng dòng tiền và sự tăng trưởng ngắn hạn cũng như dài hạn của dòng tiền Nguồn thông tin quan trọng giúp cho nhà đầu tƣ ƣớc lƣợng những giá trị này là từ báo cáo tài chính

Phân tích tài chính công ty chủ yếu dựa vào việc xem xét các báo cáo tài chính (BCTC), bao gồm bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ Mục tiêu của phân tích này là đánh giá khả năng chi trả các khoản nợ, đặc biệt là nợ ngắn hạn, cũng như khả năng chi trả nợ dài hạn và khả năng sinh lời từ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.

Phân tích báo cáo tài chính chủ yếu là nghiên cứu dữ liệu lịch sử để phục vụ cho việc định giá chứng khoán Các tỷ số tài chính trong phân tích này được phân chia thành các nhóm chính nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan và chính xác về tình hình tài chính của doanh nghiệp.

Nhóm các tỷ số phản ánh khả năng thanh toán ngắn hạn:

LÝ THUYẾT DANH MỤC ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH

MÔ HÌNH ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN VỐN (CAPM)

MÔ HÌNH ĐA NHÂN TỐ

Ngày đăng: 19/08/2021, 17:26

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm