BẢN SCAN FILE PDF GIÁO TRÌNH VĂN BẢN HÁN VĂN VN CHUẨN, RÕ, ĐẸP Phục vụ các học phần liên quan đến Hán Nôm, Hán Văn, Hán Việt, Văn học trung đại Việt Nam. TRẢ QUA MOMO ZALOPAY GIÁ 25.000Đ Trao đổi với người bán để biết thêm chi tiết >>>
Trang 1B I Á D T R Ì N H
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI • ■ • ■
KHOA NGỮ VĂN
NGUYỄN NGỌC SAN - ĐẶNG ĐỨC SIÊU
HÀ MINH - NGUYỄN THANH CHUNG NGUYỄN TÚ MAI - HÀ ĐĂNG VIỆT
GIÁO TRÌNH
VĂN BẢN HÁN VĂN
VIỆT NAM
(T ái bàn lần thứ hai)
Trang 3Tự học và tự đào tạo là nhu cầu của mỗi công dân trong xã hội học tập Thông qua con đường tự học, mỗi cá nhân phát triển và tự hoàn thiện mình, đáp ứng yêu cầu và phục vụ xã hội ngày càng hiệu quả Điều này càng đúng và cần thiết đối vởi các giáo viên, cán bộ quản lí giáo dục - những người chăm lo đến sự nghiệp đào tạo nhân lực, phát hiện và bồi dưỡng nhân tài.
Tự học, tự đào tạo, bên cạnh những nỗ lực cá nhân, không thể không có các tài liệu cần thiết, định hưởng những nội dung cơ bản, thiết thực cho nhu cầu học tập Xuất phát từ quan niệm đó, chúng tôi
tổ chức biên soạn bộ giáo trình thiết yếu phục vụ cho nhu cầu học tập,
tự học tập của giáo viên Ngữ văn phổ thông.
Bộ giáo trình hưởng tới nội dung học tập của các học phần được quy định trong chương trình đào tạo cử nhân sư phạm Ngữ vãn Các giáo trình được biên soạn ngắn gọn, nhưng đảm bảo tính hệ thống và bao gồm những nội dung không thể thiếu trong mỗi môn học vẫn biết,
để có một lượng kiến thức nhất định cho mỗi môn học, người học phải đọc không ít trang sách - cả giáo trình, cả tài liệu tham khảo - nhưng giá có được những cuốn sách định hưởng nội dung kiến thức cần yếu thì người học sẽ nhanh chóng hơn trong quá trình tích lũy kiến thức của mỗi môn học Đó chính là mục đích của bộ giáo trình này - cung cấp những nội dung cốt lõi, những kiến thức và kĩ năng cần thiết của mỗi môn học Bên cạnh đó, bộ giáo trình này cũng kế thừa các giáo trình đã
có và kịp thời bổ sung những kiến thức mới, cập nhật.
Với cách biên soạn hưởng tới việc đáp ứng các nhu cầu của người học như vậy, chúng tôi cho ràng, mỗi cuốn giáo trình và cả bộ giáo trình này sẽ là những cẩm nang thiết thực giúp người học nhanh chóng nắm được những kiến thức cơ bản của mỗi môn học và cả chương trình học Vòi những kiến thức được coi là cốt lõi của mỗi môn học, người học chắc chắn sẽ biết cách bổ sung những kiến thức khác ỏ các tài liệu tham khảo được định hưởng trong mỗi giáo trình để có được một hiểu biết đầy đủ và toàn diện về môn học.
Trang 4Mặc dù hưởng tới việc tự học và tư đào tao nhưng bó giao trinh này cũng có thể đươc sử dụng trong việc hoc tảp cò hương ơản của giáo viên bộ môn, đặc biệt trong xu thế đào tạo theo tin chi - khi thời lượng tự học được tăng lên so với thời gian lên lớp thưc tế
Bên cạnh đó, bô giáo trình củng không chì là tai liệu cản thiẽt cho sinh viên, học viên ngành Sư phạm Ngữ vãn ma con la tài liêu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên các ngành cử nhản Vàn hoc Ngôn ngữ, Việt Nam học và những ngành khác có liên quan.
Nhân dịp bộ giáo trình được xuất bản, chúng tôi xin chân thành cảm ơn Công ty c ổ phần Sách Đại học - Dạy nghề - Nha xuất bản Giáo dục Việt Nam và các đồng nghiệp đã hỗ trơ và tao điếu kiên để
bộ giáo trình được sớm ra mắt bạn đọc.
Hi vọng, vòi cách biên soạn giản dị, ngắn gon, bộ giáo trinh này sẽ giúp ích các bạn một cách hiệu quả trong điều kiên học tâp hiên nay Lần đầu xuất bản, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng củng khó tránh khỏi sai sót, chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng gop của các đống nghiệp, các bạn sinh viên và các độc giả để lần xuất bản sau được hoàn thiện hơn Thư góp ỷ xin gửi về Khoa Ngữ văn, Trương Đai học
Sư phạm Hà Nội hoặc Công ty c ổ phần Sách Đại học - Day nghề - Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 25 Hàn Thuyên, Hà Nội.
Xin chân thành cảm ơn!
KHOA NGỬ VÃN TRƯỜNG ĐẠI HOC s ư PH AM HẢ NÓI
Trang 5HƯỚNG DẪN SỬ D Ụ N G SÁCH
Giáo trình Ván bản Hán ván Việt Nam là phần 3 thuộc bộ giáo trình
Ngữ văn Hán Nôm, được biên soạn dành cho hệ đào tạo cử nhân sư phạm
ngữ văn Hai phần trước gồm: Cơ sỏ ngôn ngữ văn tự Hán, Văn bản
Hán vãn Trung Hoa\ và phần nối tiếp là Chữ Nôm và văn bản Nôm Mỗi
phần tương ứng với một học phần trong cấu trúc chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ Học phần Văn bản Hán văn Việt Nam có số lượng
đơn vị tín chỉ từ 3 đến 5, tuỳ theo hệ đào tạo Do vậy, khi thực hiện mỗi loại chương trình, người sử dụng có thể căn cứ vào điều kiện thực tế để chọn lựa một số lượng văn bản (hoặc trích đoạn văn bản) nhất định cho phù hợp với yêu cấu
Tiếp nối các học phần trước, giáo trình của học phần này giới thiệu các văn bản tiêu biểu, thuộc các thể loại Hán văn Việt Nam Các đơn vị văn bản được tuyển chọn phần lớn có mặt trong chương trình môn Ngữ văn các cấp; như thế, mục đích của giáo trình hướng đến mục tiêu thực tế, nhằm cung cấp những tri thức cơ sở, nòng cốt về Hán văn Việt Nam, giúp sinh viên, học sinh và giáo viên có thể tiếp nhận, xử lí tốt nhất phần dạy học các tác phẩm văn học viết bằng chữ Hán trong chương trình môn Ngữ văn
Cấu trúc của giáo trình gồm 3 phần: Văn bản thơ ca (giới thiệu theo lịch đại); Văn bản biền vãn\ Văn bản tản văn Mỗi bài học gốm 4 mục: (1) Nguyên văn chữ Hán - giới thiệu một văn bản quy phạm trong di sản Hán văn Việt Nam, kèm theo phần phiên âm; (2) Giải nghĩa văn bản -
gốm các chú giải các từ ngữ khó, các điển cô' điển tích và những lưu ý
về cú pháp, đồng thời phần này cũng bao gồm các dẫn giải thực sự cấn thiết về dị văn dị bản, các cách hiểu và cách lí giải khác nhau về văn bản, một số so sánh đối chiếu giữa nguyên văn và bản dịch hiện hành’
(3) Dịch nghĩa văn bản - giới thiệu một bản dịch văn bản học, cố gắng chuyển tải được nội dung xác thực của văn bản tác phẩm; (4) Gợi dẫn
giới thiệu về tác giả và văn bản tác phẩm Từ những tri thức được trình
bày ngắn gọn như trên, dưới sự hướng dẫn của giảng viên, người học
sẽ trực tiếp lí giải văn bản ở tất cả các phương diện, qua đó củng cố
và trang bị kiến thức về Hán Nõm học nói chung: từ vựng Hán ngữ cổ
Trang 6ngữ pháp văn ngôn Hán văn Việt Nam, tri thức lich sử, tư tưởng, vân hoa truyền thống,
Cuối các phần có câu hỏi hướng dẫn học tập, giới thiẻu cac dang câu hỏi lí thuyết và bài tập thực hành, phục vụ cho kiểm tra đanh gia môn học Trên cơ sở giáo trình này, kết hợp với tư liệu tra cửu hữu quan, người học sẽ tích luỹ được những kinh nghiệm thực tế trong công tác
tổ chức minh giải văn bản, phục vụ đắc lực cho học thuảt cũng như ứng dụng rộng rãi tri thức tiếp nhận được vào đời sống
Do yêu cầu thực hiện chương trình đào tạo mới, Giáo trinh Vãn bản
Hán vãn Việt Nam kế thừa, hiệu chỉnh, bổ sung, tổ chức lại nòi dung va
cấu trúc bài học từ một số giáo trình Ngữ văn Hán Nôm xuất bản trước đây do các nhóm tác giả thuộc Trường Đại học Sư pham Hà Nội
biên soạn Cụ thể: (1) Ngữ văn Hán Nôm (tập 2), Đặng Đức Siêu - Nguyễn Ngọc San, NXB Giáo dục, H, 1995 (bản in lần 2); (2) Ngữ vãn
Hán Nôm (tập 3), Đặng Đức Siêu - Nguyễn Ngoe San (Chủ bièn) - Hà
Minh - Nguyễn Thanh Chung - Hà Đăng Việt, NXB Đại hoc Sư pham,H., 2007 (tái bản có sửa chữa và bổ sung)
Tại bản in lẩn thứ nhất (2011), do nhầm lẫn vế người biên soan của
các phần giáo trình mà chúng tôi sử dụng làm cơ sở dữ liệu như dẫn ở
trẽn, nên in thiếu tên tác giả Đặng Đức Siêu Nhản giáo trinh tái bản, chúng tôi xin được đính chính và thành thật cáo lỗi với tác giả va ban đoc
CÁC TÁC GIẢ
Trang 7MỤC LỤC
Lời giới th iệ u 3
Hướng dẫn sử dụng sách .5
Chương một THƠ CA A Khái q u á t 9
B Văn bản 11
Bài 1 Quốc tộ 11
Bài 2 Vương la n g q u y. 13
Bài 3 Cáo tậ t th ị ch ú n g 15
Bài 4 Thị đ ệ tử 17
Bài 5 Ngôn h o à i 19
Bài 6 Nam qu ốc son h à 21
Bài 7 Thuật hoài (Tụnggiá hoàn kinh s ư ) 24
Bài 8 Thuật h o à i 26
Bài 9 Xuân h i ể u 28
Bài 10 Thiên Trường vẩn v ọ n g 30
Bài 11 Tư q u y 31
Bài 12 Q uy hứ n g 33
Bài 13 M iết tr í 35
Bài 14 Cảm h o à i 37
Bài 15 Đ ề k i ế m 40
Bài 16 Bạch Đ ằng h ải k h ẩ u 42
Bài 17 Côn Son c a 45
Bài 18 Ngụ ý 52
Bài 19 Hạ c ả n h 54
Bài 20 S ở kiến h à n h 55
Bài 21 Đ ộc Tiểu Thanh k í 62
Bài 22 Ngẫu đ ề 65
Bài 23 Ngẫu h ứ n g 67
Bài 24 Q uỳ m ò n q u a n 68
Trang 8Bài 25 Tự quán ch i xu ấ t h ĩ
Bài 26 X uất dương ì ưu b i ệ t ~2
Bài 27 Thụy b ấ t tr ư ớ c 74
Bài 28 M ộ 75
Bài 29 Vọng n g u y ệ t 77
Bài 30 Tảo g iả i 78
Bài 31 Vãn c ả n h 80
Bài 32 Nguyên tiê u 81
Bài 33 Báo t i ệ p 82
c Hướng dẫn học t ậ p 84
D Câu hỏi và bài tập thực h à n h 85
Chương hai BIỀN VĂN A Khái q u á t 88
B Văn bản 91
Bài 1 Thiên đô c h iế u 91
Bài 2 Dụ chư tì tướng hịch v ă n 96
Bài 3 Bạch Đàng giang p h ú 118
Bài 4 Bình Ngô đại c á o ] 34
c Hướng dẫn học t ậ p 1 6 ] D Câu hỏi và bài tập thực h à n h ] 64
Chương ba TẢN VĂN A Khái quát 167
B Văn bản 169
Bài 1 Hùng Vưong 69
Bài 2 Tô Hiến Thành
Bài 3 D ục ThuýSon Linh T ế tháp k í ]QQ Bài 4 Tái dụ Vương Thông thư (tr íc h )
Bài 5 Yên Mô n ôn g p h u ỹ ỹ Bài 6 C ốh u on g q u y t i n h 204
c Hướng dần học t ậ p 212
D Cảu hỏi và bài tập thực h à n h 213
Trang 9bộ phận văn bán có giá trị rất cao về nội dung tư tướng và hình thức nghê thuât.
Trước khi chữ viết ra đời, kinh nghiệm sản xuất, đấu tranh, tâm tư, tình cảm, những sự việc quan trọng trong truyền thông lịch
sứ cộng đồng, nói chung đểu chi được lưu kí bằng trí nhớ và phổ biến bàng phương thức truyền miệng Vần điệu được phát hiện một cách ngẫu nhiên và tiệm tiến ờ thời buổi sơ khai đã tãng cường ihêm hiệu quà cho các hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ - văn hoá này M ột quá trình lựa chọn, sàng lọc, sắp xếp những điều cần thông báo, tu chinh, gọt giũa ngổn từ, ghép vần hoà điệu đã diễn ra liên tục, với sư góp sức cùa nhiều thế hệ nối tiếp nhau, nhằm hỗ trợ cho trí nhớ, tãng thêm sức hấp dẫn, thuyết phục cho những điều cần phò biến, lưu truyền trong cuộc sống văn hoá cua công đồng
Có thê coi đây là những bước mớ đầu có tính chất xây đắp nển móng cho nshè thuật ngôn từ - một trong những ngành nahệ thuật phát sinh và phát triển sớm nhất trong lò n2 cuộc sốns lao đông cua
xã hội loài người Tục ngữ, ca dao, hò, vè, lô i nói có vần điệu, nhữno lời thơ chân chất mộc mạc, những bán trườnơ ca - sử thi sống động, tươi đẹp hào hùng phản ánh tàm tư tình cảm trí tuệ sinh hoạt vật chất và tinh thần của đất nước ta trong quá khứ lịch
sử đã nảy sinh và định hình trons nhữns điều kiện đó
Trang 10Với những đác trưng nổi bật là giàu tính nhac phong phú vê thanh điệu, dễ ghép vần của tiếng V iệ t, hoạt đóne sáng tao và thướng thức thơ ca sớm đi sâu và phát triển trong đời sóng vãn hoá của người V iệ t Người V iệ t Nam chúng ta từ xa xưa đã làm những bài thơ (đồng thời phần lớn cũng là những khúc hát) góm những câu thơ từ hai tiếng đến bốn tiếng, năm tiếng, sáu tiếng, bay tiếng, tám tiếng, thuần nhất hoặc xen kẽ nhau, với cách gieo vần rất khoáng đạt rộng rãi, nhưng nhìn chung chủ yếu là vần lưng, trong
đó điến hình nhất là hai thê lục bát và song thất lục bát.
{Chinh phụ ngâm - Bản dịch cúa Đoàn Thi Đ iểm )
Trong quá trình giao lưu và tiếp xúc với ngôn ngừ - vãn hoá Hán, chúng ta cũng đã tiếp nhận và sử dụng m ột số thể thơ riêng
của người Hán như ca, hành, thơ cổ thể và thơ cận th ể ( X e m thêm:
Giáo trình Vãn bản Hán văn Trung Hoa) Với kết quà cua cóng
cuộc V iệ t hoá ngôn ngữ Hán cá về ba mật âm đọc, ý nghĩa, phạm
vi sử dụng; đặc biệt là về âm đọc, chúng ta đã tãng cường thém cho
hệ thống ngôn ngữ vãn học này một số phấm chất về mãt ám thanh vần điệu (Tính theo âm Hán V iệ t thì tiếng Hán chi có 75 ván trong khi đó tiếng V iệ t có tới 150 vần, tiêng V iệ t có 6 thanh âm trầm
bổng, ngắn dài khác nhau khá rõ, tiếng Hán chí có 4 thanh: bình
thượng, khứ, nhập VỚI thanh bình chia làm âm bình và dương binh)
Trên cơ sở này, một sô' tác giả V iệ t Nam thời xưa đã có thé dung tiếng Hán cổ đọc theo âm V iệ t đê làm thơ lục bát và song thất
Trang 11lục bát - hai thể thơ riêng của V iệ t Nam - mà không thấy có sự gượng ép về mật âm thanh, vần điệu M ặt khác, qua thời gian, tiếng Hán có nhiều thay đổi về mặt ngữ âm, trong kh i đó, âm Hán
V iệ t đã bảo tồn và cung cấp những cứ liệu cơ sở để phục nguyên
sự hài hoà về âm thanh, vần điệu của các thể thơ Hán, đặc biệt là thơ cận thế như chúng đã từng thế hiện m ột cách đầy đủ, trọn vẹn nhất ở giữa thời buổi định hình và phát triển rực rỡ nhất (khoảng thế kí V I, V II) Các thê thơ du nhập từ ngoài nói ớ trên đã được các ih ế hệ nhà thư V iệ t Nam trong quá khứ lịc h sử vận dụng m ột cách thành thục, uyển chuyển, tuy có tôn trọng các quy tắc, luật
lệ, nhưng không gò bó, câu nệ m ột cách hình thức chủ nghĩa Từ cách bộc lộ cho đến cách đối chữ, sử dụng điển cố, tất cả nói chung đều bộc lộ m ột xu hướng cởi mớ, phóng khoáng, cốt sao có thể “ diễn đạt tình ý ” m ột cách hay nhất, chân thực nhất, chứ không sa đà vào chỗ “ ép chữ, gò câu”
Trong G iáo trình này, mảng thơ ca được xác định là m ột phần trọng tâm của học phần Chúng tôi chú ý tuyển chọn các văn bản tác phẩm có mặt trong nhà trường các cấp và sắp xếp theo từng thời kì Ớ m ỗi thời kì, do những yêu cầu khác nhau, trật tự các tác
phám xét về niên đại có thể xê dịch chút ít [C hính lí theo Ngữ
Trang 12Phiên âm:
Q u ốc t ộ (1)
(Đỗ Pháp Thuận)
Quốc tộ như đằng lạc(2>, Nam thiên l í {3) thái bình.
Vô v i'4> cié5> điện các(6>, Xí( xứ tứci7ì đao b in h <H>.
Giải nghĩa từ ngữ:
(1) Tộ: vận may, phúc lành; quốc tộ: vận m ay của đất nước (2) đằng lạc: dây leo, dây cuốn, ờ đây chí vận nước th in h trị thái bình (3) lí: bên trong, trong (hoàn cảnh) (4) vô vi: nghĩa gốc là
“ không làm gì cả” , theo đường lố i thuận theo tư nhiên cua Lão tử, không can dự vào tự nhiên thì chính trị sẽ ổn định Nếu theo đạo
“ vô v i” để vi chính thì thành ra “ vô vi nhi vô bất v i” (không làm gì
mà hoá ra làm được tất cả, không gì là không làm ), ơ đáy chỉ đường lố i trị nước tuân theo quy luật cúa đời sống, thuân theo
nhân tình (5) cư: ớ, ớ vào; ngự trị, cai quản, đảm nhiệm , gánh vác (6) diện cúc: cung điện, ớ đây ý chí triều chính (7) tức: điều hoà hơi thớ; nghi ngơi; tắt, dứt (8) đao binh: ý nói chiến tranh.
Trang 13Bài Quốc tộ được Pháp Thuận làm để trả lời nhà vua hỏi về
vận nước, lời lẽ ngắn gọn, ý tứ súc tích, thể hiện niềm tin tưởng và khát vọng vào nền trị bình của đất nước Đường lố i cai trị “ vô v i”
mà tác giả nói đến thực chất là tinh thần hoà theo quy luật vận động của tự nhiên, của lịc h sử và thuận theo dân tình để hành động, không phải là “ ngồi yên đợi chờ không cần làm gì” theo một cách hiểu tiêu cực
(Ngô Chân Lưu)
Tường quang(2) phong hảo cẩm phàm trương0),
D ao vọng thần tiên phục đếhương{4).
Vạn trùng sơn thuỷ thiệp{5) thương lãng, Cửu tlìiên{()) quỵ lộ trường.
Trang 14Tình thảm thiết,
Đ ố i /v thương(7), Phan luyếnw sứ tinh lang(9>.
NguyệniW) tương{U) thâm ỷ vị biên cương.
Phán m in h 02) tấuílĩ) ngã hoàng.
Giải nghĩa từ ngữ:
(1) Vươíĩíị Lanq quy: Chàng Vương trớ về Đây là tên mót từ điệu nòi tiếng trong TỐHÍỊ từ Bài dịch giới thiệu ơ dưới ]à dịch theo điệu từ này (2) tường quang: chữ cùa nhà Phãt cũng gọi
tường ván: đám máy tốt lành, tả cảnh thái bình (3) trương: căng
ra, giương cao, ớ đây chỉ cánh buồm thuận gió (4) dẽ hiamg: chí đất Tống, quê hương của sứ giả (5) thiệp: lộ i qua (sóng), đi vào, dấn vào (6) cửu thiên: chín tầng (phương) trờ i, ý nói rỏng lớn (7) thương: có người phiên là trường: chén rượu; /v thương', chén biệt li (8) phan luyến: quyến luyến, níu kéo lại khòng nỡ rời;
phan: kéo, vịn; luyến: bịn rịn, thương mến (9) tinh ịan'ị\ ơ đây chi
xe sứ giả (10) nguyện: nguyện, xin được (11) tương: đem mang (cái gì đó để ) (12) phún minh: rõ ràng, ti mi (13) tấu: tâu lén (vua).
D ịch nghĩa:
C hàng Vương trở về
Nắng tươi gió thuận cánh buốm giươngThần tiên lai đế hương
Vượt sóng xanh muôn dãm trùng dương
Về trời xa dường trườngTinh tham thiết
Trang 15* Ngỏ Chân Lưu (933 - 1011) nổi tiếng là một Thiền sư
thông tuệ Phật học, được Lê Đại Hành kính trọng vị nể và thường xuyên hỏi ý kiến Cũng như Pháp Thuận và Khuông V iệ t, Ngô Chân Lưu thể hiện rõ tin h thần nhập thế của Thiền tông V iệ t Nam buổi đầu Ông quan tâm đến chính sự và trực tiếp thực hiện nhiều công việc triều chính đương thời
Bài Vương Lang quy này viết theo từ điệu Vương Lang quy, được làm trong hoàn cảnh tiễn biệt sứ nhà Tống Từ là một thê loại
vãn học phối nhạc, vốn là phần lời của bài hát; m ỗi bài được sáng
tác theo một đầu bài (từ điệu) với khuông cách luật định sẩn Từ được
gọi là “ th i dư” (dư âm của thơ), cái gì không nói được bằng thơ thì
có thể nói được bằng từ Tác giả tiễn sứ giả nhà Tống và làm bài hát theo từ điệu này cũng là có dụng ý sâu xa chứng tỏ trân trọng khách, đồng thời cũng chứng m inh khéo léo về văn hiến và phong tục rực rỡ của người Nam Lời lẽ thanh nhã, âm hưởng mượt mà,
m ỗi chữ đều toát lên sự khiêm cung nhưng khéo léo, phù hợp với khung cảnh thù tiếp ngoại giao Bài từ này chắc hẳn Ngô Chân Lưu sáng tác đê cho ca nữ ca lên (theo vai “ giao tiếp” của ca nhi) trong buổi tiễn biệt sứ nhà Tống, nhằm tạo tình cảm ôn hoà, đề cao nhưng vẫn tỏ được thâm ý (tinh thần tự chủ dân tộc) của người Việt
Trang 16Phiên ảm:
Cáo tậ tll) thị c h ú n g (2j
( Mãn Giác Thién sư)
Xiiân khứ bách hoa lạc, Xuân đáo bách hoa kh a i0).
S i/ 41 trụ c (5) nhãn tiền quá{6>, Lão tòng đầu thượng lai.
cho m ọi người, nói ra những ý nghĩ cho m ọi người được biết;
chúng ở đây nên hiếu là đệ tử - người tu học Phật pháp (3) khai:
mở ra, ở đây chỉ hoa nở (4) sự: có thể hiểu như th ế sự việc đời (5) trục: đuổi, xua đuổi, ruổi theo nhau (6) quá: đã qua, trô i qua, vượt qua Nên chú ý đến trậ t tự sắp xếp từ (từ đây trớ đi sẽ gọi tắt
là từ tự) khác với tiếng V iệ t trong cụm từ nhãn tiền CỊi i á: vượt qua,
trô i qua, ruổi qua trước mắt; đẩu thượng-, trên đầu; đình tiế n : trước sân; tạc dạ: đêm hôm qua (so sánh với xuân khứ, xuân đáo, xuân
tàn, bách hoa khai, bách hoa lạc, hoa lạc tận, có giống tiếng
V iệ t) (7) nhất chì mai: m ột nhành m ai, nhưng ớ đâv có nghĩa: một nhành mai đang nở hoa Có người đề xuất, nhất chi mai nén hiếu là
m ột chồi mai (nảy mầm)
Dịch nghĩa:
Nói rõ về b ệ n h tật để k h u y ên n h ủ đệ tử
M ùa xuân đi qua (th ì) trãm hoa (đêu) runo
M ùa xuân tới (th ì) trăm hoa đua nò
V iệc đời (còn) xó đuổi nhau ruổi qua trước mát Tuổi aià (đã vội đến) từ (m ái tóc bac) trẽn đáu
Trang 17Chớ nói mùa xuân đi qua thì hoa rụng hết,Đêm hôm qua, trước sân (có) một nhành mai (nở hoa).
* Mãn Giác Thiền sư, tên thật là L ý Trường (1052 - 1096)
học vấn uyên thâm, nổi tiếng trong dòng Thiền Quan Bích, được vua Nhân Tông đời L ý đặc biệt trọng đãi Nhà vua thường cùng
ông đàm đạo về Phật học và việc nước Ngoài bài thơ - kệ Cáo tật
th ị chúng trên đây, Thiền sư M ãn Giác còn để lại m ột bài kệ khác.
Bài này vốn không có đầu đề, bốn chữ “ Cáo tật thị chúng'” do
người đời sau đặt Bài thơ viết theo lố i cổ thể; từ chỗ nhìn cuộc đời và thế giới theo quy luật vận động, tác giả thể hiện tin h thần tin tướng lạc quan vào sự bất diệt của sự sống Câu thơ kết được
truyền tụng, hình ảnh nhành mai (nở hoa) [hoặc: nhành mai nảy
chồi?] có giá trị biểu trưng cao, thể hiện cái nhìn về quy luật từ
trong bản thể theo tinh thần của Thiền tông [Chính lí theo Ngữ
Trang 18N hậm {4> vận thịnh suy vô b ố ú \ i5ì, Thịnh suy như /ộ(6) thảo đấu phô.
Giải nghĩa từ ngữ:
(1) Thị đệ tử: răn dạy, chỉ báo cho học trò (người tu tâp đao Thiền) Nhan đề do người đời sau đật (2) thán: thân xác, cơ thể,
bán thân; theo Phật giáo, thân tức là sắc, cái giả tạm không phải
thực tướng (3) điện ảnh: bóng chớp, hình dung sự nhanh chóng vụt biến mất; có bản chép là điện hải (bóng chớp trên biển), không
rõ nghĩa (4) nhậm: đảm nhiệm , gánh vác, nhập vào (5) b ố úy: sợ,
sợ hãi, lo lắng sợ sệt (6) lộ: sương, ớ đây cũng là hình ảnh tượng
trưng cho sự mỏng manh, dễ tan biến
Dịch nghĩa:
Chỉ b ảo (yếu chỉ đạo T hiền) c h o h ọ c trò
Thân xác (con người) như bóng chớp,
có đấy rồi lại trờ về không,
M uôn cây cối, vào mùa xuân tươi tốt,
mùa thu lại khô héo
Hãy nhập thẳng vào vòng thịnh suy, chớ sợ hãi,
(V ì) thịnh hay suy cũng như sương treo đầu
ngọn cỏ mà thôi
* V ạ n H ạ n h Thiền sư (? - 1018) người châu c ổ Pháp, thuộc Bắc N inh ngày nay, được phong làm Quốc sư triều Lý Ông nổi tiếng uyên thâm, đắc đạo Ông là người có cồng lao lớn về mặt chính trị và tư tướng trong việc xây dưng quốc gia phong kiến tự chú buổi đầu thuỏc triều Tiến Lé và L ý; đác biệt, òng là nơưừi đã dạy dồ và phò giúp Lý Còng uấn lén ngôi, mớ ra m ột thời kì huy hoàng cho lịch sư dãn tộc
Bài T h i đệ t ủ thể hiện triế t lí sâu xa về bản chất quy luậi sắc
không theo tư tướng triết hoc của Phât giáo Quy luãt sinh tư cua con người cũng nằm trong quy luât sinh - diệt diễn hoá vó cùng
Trang 19của tự nhiên Người tu Thiền phải nhận thức rõ về quy luật phô quát ấy và có thái độ ứng xử dũng cảm, tích cực, có trách nhiệm với cuộc đời Nhập vào vòng thịnh suy tức là đặt sự sống của mình vào quy luật, cả quy luật của tự nhiên và quy luật của cuộc đời; được thế, con người sẽ bình thản, tự tại trong đời sống Ý nghĩa
của lời kệ thể hiện tinh thần Phật học đồng thời mang giá trị nhân
(Không Lộ Thiền sư)
Trạch đắc long xà đ ịa (2) khả cư,
hiểu phổ biến từ trước đến nay, chỉ thế đất kiểu “ rồng rắn” , theo thuật phong thuỷ ngày xưa, đó là kiểu đất tốt Chúng tôi đề nghị có
Trang 20thể hiếu “ long xà địa” là nơi ấn dật K inh D ịch cĩ càu: Lony, Á chi
t r ậ p , d ĩ tổn thán dã cĩ nghĩa là: “ rồng rắn náu m inh, cĩt giữ yên
thân” Theo kin h điến nhà Phật, rồng tượng trưng cho bảc Thánh,
rắn tượng trưng cho kẻ phàm, ớ đây chỉ mảnh đất phàm thánh dĩng
cư, thể hiện tinh thần hồ đồng của người tu hành {hoa quang dơng trần - hồ ánh sáng với bụi bặm) Liên hệ với câu 2, chúng la cĩ
thê hiểu tác giả nĩi về ẩn cư, xa chốn phồn hoa đơ hĩi Chú ý đên
từ tự khác với tiếng V iệ t trong cụm từ long xà đ ịa : (thế) đất trồng rắn Câu này, cĩ bản chép là Tuyển đắc long xà đ ịa khá cư (3) dã
tình: hứng thú, thú vui thuần phác mộc mac, hồ đỏng với tư
nhiên Cũng cĩ thể hiểu dã tình như thiên tìn h : tình tư nhién, cái biểu lộ ra cúa thiên tín h , chí sự hồ đồng với bán thế cúa thê giới (4) vơ dư: khơng thừa, ý nĩi niềm vui đú đầy, tron vẹn (từ trong bán thể); cĩ người đề xuất, nên hiếu vỏ dư là tên một ngọn núi,
biêu trưng cúa niết bàn, như vậy ý thơ diễn tả niểm vui ngộ đạo
(5) thướng: vốn âm thượng, cĩ nghĩa là trên, ở trên Ờ đây được dùng như động từ (đọc biên âm thành thướng) cĩ nghĩa: vượt lên,
đi lên trực thướng: lên thẳng, vượt ngay tới (đinh núi) Cách hiểu phổ biến hiện nay là “ trèo lên thẳng", chúng tơi cho rằng trực cịn
cĩ nghĩa là ngay tức khắc (ví dụ: trực giác - hiếu biết tức th ì), trực
thướng cĩ ý nghĩa biêu thị tinh thần đốn ngộ của Thiền sư (6 ) cơ
phong đính: đính núi cao chĩt vĩt, đơn độc, xung quanh khổng cịn
cĩ ngọn núi nào khác cao bằng; cùng với hình ảnh th á i h ư ở câu dưới, hình ảnh này là biểu trưng cho cõi Phật (7) khiếu: kêu huýt*
trường khiếu: kêu hú, tiếng ngân dài, huýt dài m ột tiế n g ’ tiế n g
huýt này cũng là hình tượng thể hiện niềm vui nội tâm lú c ngơ đao
của người tu Thiền, khác ý nghĩa với “ tiếng thét” lớn ( !) (8 ) h à ri’ lạnh, ở đày dùng như động từ, cĩ nghĩa làm lạnh (9 ) th á i hư-
trống rỗng vơ cùng, chi bầu trời
Trang 21D ịch nghĩa:
Bày tỏ n ỗi lò n g
Chọn được “ kiểu đất rồng rắn” có thể ở được,
Thú vui (thuần phác) nơi thôn dã suốt ngày
không (thấy) thừa (không nhàm chán) Chợt lúc vượt ngay lên đỉnh núi cao chót vót, đơn độc,
H uýt dài m ột tiếng làm lạnh cả cõi thái hư
* Dương Không Lộ, không rõ năm sinh, mất nãm 1119, người đất Hải Thanh (Xuân Thuỷ - Nam Đ ịn h ngày nay), m ột Thiền sư nổi tiếng đắc đạo, đồng thời cũng nắm được nhiều bí quyết tu luyện của phái M ật tông Ngoài bài kệ này, Không L ộ cũng được
coi là tác giả của bài Ngư nhàn nổi tiếng (được công bố lần đầu Irên báo Đuốc tuệ bới Đ in h Gia Thuyết), từng được đưa vào giảng
dạy trong nhà trường nhiều năm
Nhan đề N g ô n hoài do người đời sau đặt Bài thơ - kệ này đã bộc lộ tâm tình khoáng đạt của nhà thơ, thể hiện tin h thần nhập thế tích cực, đồng thời cũng là niềm vui đạt đạo của Thiền sư v ề
tác giả và văn bản tác phẩm bài Ngôn hoài này, gần đây có m ột
số ý kiến tranh luận và so sánh tương đồng với m ột bài thơ khác của Trung Hoa, nhưng đa phần đều nghiêng về kiến giải cho đây đích thực là m ột bài thơ của Không Lộ, với tư tưởng Thiền độc
đáo X in xem thêm các tư liệu hữu quan [C hỉnh lí theo Ngữ văn
Trang 22m ộl từ Hán V iệ t V iệ t tạo, tương ứng với khái niệm giang sơn trong tiếng Hán (3) Nam đế: vua nước Nam, nên chú ý tới nét nghĩa ngôi vị tối cao trong hàng ngũ các vua chúa của từ đế, trong phân biệt với vương (4) cư: vốn nghĩa là ớ, ớ đây có nghĩa là đảm đương gánh vác công việc, làm chủ; cai quản (5) tiệt: cắt đứt,
nhiên: một hư từ chi trang thái, tiệt nhiên: trạng thái đứt đoạn, chia
cắt rạch rò i, dứt khoát (6) dinh phận: đây có nghĩa là xác định rõ ràng cương vực, vị trí Có bán chép là phán định', với nghĩa là chia
rõ thành từng bộ phân riêng biệt, chia tách rạch ròi thành từng phần (chú ý đến sự khác biệt về từ tự và ám đọc cùa hai cum từ:
định phận và phán đinh trong khi về mặt chữ viết thì giống nhau.
(7) nghịch: trái, không thuận, phan nghịch, khóng chiu quy thuán
lỗ: bắt sống, tù binh bị bầt tai trân, giặc (8) nhữ: đai tư nhãn xưng
ngôi thứ hai, dáng: thứ bậc; ơ đây được dùng như một hư tư chí số
Trang 23nhiều; nhữ: bay, người, mi, nhữ đẳng: bọn người, bọn bay, chúng
bay, (9) hành: vốn nghĩa là đi, ở đây được dùng như m ột hư từ,
chỉ tương lai của động từ; khan: thấy, nhìn thấy; hành khan: sẽ thấy,
sẽ thấy được (10) thủ: lấy; ở đây có nghĩa là chuốc lấy (11) hư:
trống rỗng, ở đây có nghĩa: sạch sành sanh, không có gì cả, thất bại, tan vỡ hoàn toàn
chuốc lấy thất bại hoàn toàn
* L ý Thường Kiệt (1019 - 1105), tên thật là Ngô Tuấn Do có
công trạng lớn, ông được ban quốc tính (cho theo họ nhà vua, tức họ
L ý), lấy tên tự là Thường K iệt, thành L ý Thường Kiệt Bài thơ trên đây tương truyền do ông làm, được truyền tụng là bài thơ Thần Tác
phẩm có nhiều dị bản, văn bản trên ghi theo Đ ạ i Việt sử kí toàn thư.
Bài thơ Nam quốc sơn hà (đầu đề này do người đời sau đặt,
dựa vào mấy chữ mở đầu bài thơ) xuất hiện trong thời gian Lý Thường K iệt chỉ huy quân dân Đ ại V iệ t đánh tan mấy chục vạn quân Tống, do Quách Quỳ cầm đầu kéo sang xâm lược nước ta vào năm 1077, trước phòng tuyến sông Như N guyệt (tức sông Cầu)
Với lời thơ đanh thép, ý thơ hào hùng, bài Nam quốc sơn hà đã
có tác dụng rất lớn trong việc động viên, khích lệ tướng sĩ đương thời, được truyền tụng rộng rãi trong nhân dân; được người đời sau đánh giá có ý nghĩa như m ột bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của V iệ t Nam Bài thơ này hiện biết được có tới trên 20 dị bán khác nhau, số lượng dị văn (câu chữ) trong các dị bản cũng khá lớn; bên cạnh đó cũng còn nhiều ý kiến nghi vấn về tác giả
Trang 24(Lý Thường Kiệt? Lê Hoàn? tác giả vô danh đời sau? ) Vãn bản
trên (xác lập trên cơ sở ghi chép của Đ ạ i Việt sử kí loàn ihư) được coi là quy phạm và được phổ biến rộng rãi [C hinh lí theo Ngữ vãn
Giải nghĩa từ ngữ:
(1) Thuật hoải: bày to nỗi lòng, khát vọng Các hơp tuyển,
tuyến tập, sách giáo khoa, từ trước tới nay đều xác đinh nhan đé
bài thơ là Tụng giá hoàn kinh sir, chúng tôi xác đinh đây là m ột sự
nhầm lẫn, nhầm lời chú giai về thời điểm sáng tác bài thơ thành nhan đề Chúng tòi đề nghi xác lâp lai nhan đề chính thức cua bài
thơ, căn cứ vào các thi tuyển gốc sao chép bài thơ này là Viét ảm
Trang 25th i tập và Toàn Việt th i lục; về mặt văn học, nhan đề Thuật hoài
cũng sát hợp hơn với đặc trưng thi pháp văn học trung đại (2) tụng
g iá : tụng có âm chính là tòng, ở đây đọc biến thanh; giá có nghĩa
gốc là dùng ngựa đê kéo xe, sau đó có nghĩa ngựa xe nói chung;
tụng giá: theo xa giá (đoàn ngựa xe của vua) (3) kinh sư: kinh đô
của m ột nước, cũng giống như quốc đô M ấy chữ Tụng giá hoàn
kinh (sư) là lược trích lời chú giải của nhiều th i tuyển chữ Hán, ghi
chú việc tác giả “ sáng tác bài thơ này khi phò giá vua về kinh đô (4) Chương Dương độ: bến Chương Dương, trên sông Hồng, thuộc
địa phận huyện Thường Tín (Hà N ộ i), Trần Quang Khải đánh tan
quân Nguyên do Thoát Hoan chỉ huy ở đây (5) H ồ : vốn được dùng
đê chỉ những tộc người thiện chiến ở phía bắc và tây bắc, thường hay kéo vào xâm lấn, cướp phá Trung Hoa, sau được dùng với
nghĩa giặc cướp, quân xâm lược, ở đây chỉ giặc Nguyên (6) Hàm
Tử quan: cửa Hàm Tử, thuộc địa phận đất Khoái Châu (Hưng
Yên) Tướng nhà Trần là Trần Nhật Duật đánh tan quân Nguyên
xâm lược do Toa Đô chỉ huy ở đây (7) t r í lực: dồn hết sức ra, cố
gắng hết sức, cố gắng đến mức cao nhất, không tiếc sức hay dành
sức (8) cố: vốn nói về thời đại xa xưa, sau được dùng đê chỉ sự lâu dài nói chung Vạn cổ: ý nói thời gian rất dài lâu; mãi mãi, vĩnh viễn (9) cựu: cũ, xưa; m ột số bản chép là thử jlb; cựu qiang san:
non sông ngàn đời, đất nước truyền thống
Dịch nghĩa:
Bày tỏ h o à i bão
(T heo xa g iá vua về k in h đô)
Đoạt vũ k h í của giặc ở bến Chương Dương,Bắt sống giặc ở cửa Hàm Tử
(G iành được) hoà bình rồi (lạ i càng nên) dốc sức, (Đê cho) non nước vững vàng đến muôn vạn đời
Trang 26* Trán Quang Khải (1248 - 1284) là con thứ ba cùa vua Trẩn
Thái Tông, đám nhiêm chức vụ Thượng tướng dướỉ tnêu Nhán Tông, lập được nhiều chiến công trong kháng chiến chóng quán Nguyên xâm lược, được phong tước Chiêu M in h Vương Ong có đê lai
tâp thơ Lạc đạo (vui với đạo cùa bậc thánh hién) na> chi còn lại
vài bài
Bài thơ trên òng làm khi quân ta thu lai được kin h thành Thăng Long trong cuộc kháng chiến chông Nguvẽn M ông lần thứ 2 lúc này tác giả nhận nhiêm vụ về Thiên Trường đế báo vệ xa giá hai vua trờ về kinh dỏ Lời thơ ngắn gọn, âm hường hào sàng: thế hiện được niềm tư hào dàn tộc, ý thức trách nhiêm và khát vong lớn lao đôi với đất nước cùa tác giá và con người thời đai Tác phãm tiêu biêu cho những áng văn thè hiện được hào kh í Đai V iệ t thời Lý
Trần [Chinh lí theo N ỉịữ văn Hán N ỏ m , tập 3, sđd].
Hoành 1 sáo giang sơn cáp kì thu12',
Tam quân '" tì'*' h ổ klú thôn ngưu'5'.
Nam nhi vị liễn'*" công danh t r á i r '
7 u thinh ' nhân gian thuyết Vũ hấu'*'
Phiên âm:
26
Trang 27Giải nghĩa từ ngữ:
(1 ) H o ành: ngang, nằm ngang; ở đây có nghĩa là cầm ngang (2) thu: mùa thu; ở đây được dùng để chỉ cả m ột năm (3) tam
quán: ba quân, tổ chức phiên chế quân đội thời xưa, chủ yếu gồm
3 cánh quân: tiền quân, hậu quân, trung quân; ờ đây chỉ quân đội,
lực lượng vũ trang nói chung.(4) tì: tức tì hưu, m ột giống thú dữ, thuộc loại báo Tì hổ: hổ báo, hùm beo, dùng để nói về sự dũng mãnh của quân đội (5) thôn ngưu: có thê hiểu theo theo hai nghĩa 1/ Sách T h i tử Trung Hoa có câu: “ giống hổ báo tuy nhỏ, lưng chưa
có vân, nhưng đã có sức nuốt được trâu” Thơ của Đỗ Phủ - nhà
thơ lớn ờ đời Đường (Trung Quốc), có câu: Tiểu nhi ngũ tu ế khí
khôn ngưu (Trẻ nhỏ năm tuổi đã có khí thế mạnh mẽ chừng như có
thể nuốt trô i được cá trâu 2/ Ngưu ở trong câu thơ cũng có thể
hiểu là sao Ngưu, “ khí thôn Ngưu” có nghĩa là hào khí dũng mãnh bốc lên làm mờ cả sao Ngưu N ói chung, cả hai nghĩa đều muốn
nhấn mạnh vào kh í thế dũng mãnh của quân sĩ (6) liều: chấm dứt, xong, hoàn tất, kết thúc V ị: chưa từng V ị liễu: chưa xong, chưa hoàn tất; ở đây có nghĩa là chưa trả xong (nợ) (7) công danh trá i:
nợ công danh, ờ đây muốn nói đến sự nghiệp giúp dân giúp nước,
đê lại danh tiếng ờ đời Chú ý từ tự của cụm từ “ công danh trá i” ,
khác với từ tự của tiếng V iệt (8) tu thính: hổ thẹn khi nghe (9) Vũ
hấu: tức Gia Cát Lượng, quân sư của Lưu Bị (thời Tam Quốc -
Trung Hoa) [Chính lí theo Ngữ văn Hán N ô m , tập 3, sđd].
Dịch nghĩa:
Bày tỏ n ỗi lòn g
Cầm ngang ngọn giáo (giữ gìn non sông) đã được
mấy thu rồi,
Ba quàn khí thế dũng mãnh như hổ báo, có thê nuốt trâu.Làm trai mà chưa trả xong nợ công danh,
Lấy làm xấu hổ kh i nghe người đời nhắc đến
sự nghiệp của Vũ hầu
Trang 28* P hạm Ngũ Lão người làng Phù ủ n g , huyện Đườne Hào (nav thuộc Hưng Y ên), chí huy đội hữu vệ, dưới quyền Trăn Hưng Đao sau sung chức Đ iện suý, tước Quan nội hâu, từng lâp nhiéu chiên công trong cuộc kháng chiến chống Nguyên xâm lươc.
Bài thơ T h u ậ t h o à i được viết trong khoảng thời sian quân dán
Đại V iệ t tiến hành cuộc kháng chiến chống Nguyên M ỏng lán thứ hai; lời thơ ngắn gọn, hàm súc, âm hướng mạnh mẽ hào hùng; the hiện được kh í thế và ý thức trách nhiệm của trans nam nhi Ihời loạn Hai câu kết bài thơ được truyền tụng, thê’ hiện sâu sắc Iric t lí hành động, khát vọng lập công của kẻ làm trai Ý thơ này thường
bị nhiều tài liệu lí g iải nhầm là: Phạm N gũ Lão thẹn YÌ mình còn kem tài trong việc giúp vua giúp nước (so với V ũ hầu siúp Lưu Bị
trung hưng Hán thất) [Chính lí theo Ngữ văn Hán Nỏm tãp 3 sđdỊ.
Phác h p h á c h 1'"1 s ấ n r ' h o a phi.
Trang 29Giải nghĩa từ ngữ:
(1 ) Xuân: là chữ hội ý gồm thảo (cỏ cây), đồn (mầm cỏ non),
nhật (mặt trờ i), nghĩa là k h i ánh mặt trời xuất hiện, cây cỏ bất đầu
sinh trưởng thì đó là mùa xuân (2) hiểu: sáng sớm (3) thuỵ: ngủ, giấc ngú (4) p h i: cánh cửa (5) hồ điệp: con bướm (6) phách
phách: từ miêu tả cánh bướm bay lượn nhịp nhàng (7) sấn:
(hướng) tới, (bay) đến
Dịch nghĩa:
B uổi sớm m ù a x u ân
Ngủ dậy mở cửa sổ,Không biết xuân đã trở lại
M ộ t đôi bướm trắng,Phần phật bay chỏ những đoá hoa
* T rầ n N h â n Tông tức Trần Khâm (1258 - 1308), là con đầu
của Trần Thánh Tông, làm vua từ năm 1279 đến 1293 Ông là một trong những ông vua yêu nước và anh hùng, có vai trò quan trọng trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên M ông và khôi phục nền kinh tế nước nhà Các nhà nghiên cứu đánh giá ông là vị vua
có tinh thần thân dân nhất thời Trần Ông còn là người có những trước tác giàu giá trị Tuy nhiên hiện nay chỉ tìm thấy 31 bài thơ,
2 câu thơ lẻ, một bài m inh và một bài tán của ông K hi tu ở chùa Yên Tử, Nhân Tông còn là tác giả của nhiều tác phẩm văn chương
và Phật học viết bằng chữ Nôm Thơ Trần Nhân Tông có nhiều cảm xúc tinh tế, thuần phác trước thiên nhicn tươi đẹp và cảnh tượng thanh bình của đất nước
Xuân hiểu là bài thơ mang khuynh hướng trữ tình, thê hiện tâm hồn nhạy cảm, tình yêu thiên nhiên, cuộc sống cúa thi nhân
Vé đẹp độc đáo của bài thơ chính là sự kết hợp hài hoà và sự vận động hết sức tư nhiên của nhân vật trữ tình và những hình tượng thiên nhiên Bài thơ góp phần làm phong phú thêm bức tranh thơ của thời đại
Trang 30Giải nghĩa từ ngữ:
(1) ỉ hiên Trường: cung Thiên Trường ờ Tức M ặc qué hương cua nhà Trần (nay thuộc Nam Đ ịnh) (2) thôn hậu, thôn liên: phía
sau thôn xóm, phía trước thôn xóm Chú ý đến từ tư trong các cum
lừ này, trái với tiêng Việt (3) tịch dương: mặt trời sấp lán (4) bién:
bên rìa, bên canh, gần ké, tiếp giáp; ớ đây có nghĩa sát nsay bén, ờ
lien kề với bóng (bóng chiều tà) (5) mục đồng: trẻ con chãn trâu, chân bò (6) Có ban chép quy ngưu: cho trâu bò về, xua tráu bò vé
có lẽ thuận nghĩa hơn ớ đây theo bản in trong H oàng Việt thi
luyến (7) bạch lộ: cò trắng, chú ý đến từ tư, khác với tiếng V iệt.
(8) song song: lừna đòi từng đôi một.
BÀI 10:
Phiên âm:
Trang 31D ịch nghĩa:
N gắm cả n h T h iên Trường trong b ó n g c h iều tà
Phía trước, phía sau thôn xóm cảnh vật đều mờ ảo
như sương khói phủ,Dưới bóng chiều tà, tất cả như nửa có nửa không
(như thực như hư)
Trong (khồng gian bao trùm của) tiếng sáo,
trẻ mục đồng lùa trâu về hết,
Cò trắng từng đôi từng đôi, bay sà xuống đồng
* T h iên T rư ờng vãn vọng là bài thơ mang đậm cảm hứng Phật
giáo Ngôn ngữ, hình ảnh thơ bình dị, tinh tế, giàu tính tạo hình; tất cả là để khắc hoạ m ột bức tranh thiên nhiên đồng quê khoáng
đạt, bình yên, trong sáng Bài thơ được truyền tụng là thi trung hữu
hoạ, thi trung hữu nhạc, nội dung thể hiện tình cảm thiết tha với
cuộc sống của tác giả Đáng quý hơn, đây lại là tình cám của một ỏng vua vốn bận bịu với chính sự, quen thuộc nơi điện các [Chính
lí theo Ngữ văn Hán Nôm, tập 3, sđd].
Trang 32Phiên ám:
Tư quy
( Nguyễn Trung Ngan)
Bách t u ế (U năng kham(1) k ỉ biệt li,
D ị hương0) cửu kháchiAì vị thành'*' quy.
Xiián thủm dinh viện{(” hoè àmyl) hợp,
N liật noữniHt trì dường liễu n h ử 9' phi.
Vạn hộcAU)) hương sáu nan đươrtgiUi tửu.
cụ đế dưng, ớ đây chi vò rượu (11) đương: gánh vác, ờ đây ý nói náng chén (12) tam phân: (vài) ba phần (mười) (13) thăng: đàm đương, mang chứa được; môt âm là thắng: vượt trộ i lèn tất ca (14) hoàng
trần: bui vàng (15) nam huân: gió nam mál rượi (17) phú Thức vi:
hát hài “ Thức v i” I hức VI là tên một bài thơ trong K inh T h i, cỏ ý
khuyên hãy trơ về đi thỏi, muộn rồ i, nhiều m ối nguy dans chư sẩn
Dịch nghĩa:
M ong n g h ĩ c h u y ệ n về
Trong khoảng đời người, liệu mấy lần chịu đươc biét li,
M ãi làm khách nơi đất lạ, chưa thế về được
Trang 33sắc xuân lại đã tụ đậm nơi đình viện, bóng hoè râm mát,
M ặt trời soi ấm hồ ao, tơ liễu khô bay
N ỗi buồn nhớ quê (trĩu nặng), dẫu muôn chén rượu
cũng khó mà giải được, Xưưng cốt ba phần đã ngấm bệnh, áo cũng không mặc nổi Bụi vàng vô hạn đều bay ngoài cửa,
(H ãy) sớm đón gió nam mà hát câu “ trở về”
* Nguyễn Trung Ngạn (1289 - 1370), hiệu Giới Hiên, là người thõng m inh, dĩnh ngộ, chính trực, có tài Đỗ Hoàng giáp năm mới
16 tu ổ i, làm quan thăng giáng trải nhiều chức Từng được giao đi
sứ nhà N guycn, gặp nhiều mới lạ, tức cánh sinh tình nên đã làm
nhiều thư đề vịnh, trong số đó có bài ỉỉtìà n g Hạc lâu nổi tiếng Bêncạnh tư cách một nhà thơ lớn thời Trần với G iới Hiên thi tập, ông
còn tham gia biên soạn nhiều bộ sách có giá trị như Hoàng triều
dại điển, Hình th ư ,
T ư quy là bài thơ cùng thê hiện nỗi lòng muốn sớm trở về quê
hưưng như bài Quy hứng ớ sau Bài này làm khi tác giá đang ở Yên
K inh (Bắc K inh nay) Thân còn phải làm khách nơi xứ Bắc dặm irường nhưng hồn thì dường đã ở phương Nam Dẫu biết cuộc biệt
li này là vì quốc sự, đi sứ là cả một sự nghiệp vinh quang nhiều người ao ước, nhưng tác giả vẫn đau đáu nỗi niềm quê nhà Bài thơ còn đượm nỗi buồn thế sự, tác giả có ý lừ biệt chốn quan trường bụi bặm đổ về nhàn Nhưng vì trách nhiệm phái gánh, ông chưa thê đat đưực ý nguyện
BÀI 12:
( R Ì - / f )
-% ề í ậ ĩể- ỈẾ -7Ĩ ầ ,
-¥■ í ố ỉ í Ỳ ® i H t
Trang 34(1) Hửng: cảm hứng, ớ đày nói ước muốn (2) tang: cáy dâu,
lão tang: cây dâu già H ình ánh dâu già ớ đây ý chi thời gian mùa
hò, cũng là tới mùa gật vụ chiêm theo thời vụ canh tác xưa (3) lùm: con tằm, ớ đây ý nói tằm nhả tơ (4) phương: vùng, m iền; vuông
vức; ứ đây có nghĩa phó từ: m ới, thì mới, vừa m ới, thì (hãy),
(5) dạo: lúa, cây lúa, bông lúa (6) g iả i: con cua (7) chínlì vuông
vức, đúng đắn; ứ đây có nghĩa phó từ: vừa đúng (lú c ), đúng khi
(8) kiến thuyết: nghe nói, được biết, trộm nghe, từng biết răng (9) Giang Nam: đất Giang Nam, phía nam Trung Hoa nơi nổi
tiếng nhiều cảnh đẹp và là chốn phồn hoa Trên đường đi sứ, tác giả dừng chân ở đây
Dịch nghĩa:
Cảm h ứ ng m u ố n trở về
(K h i) cây dâu già lá rụng, tằm vừa mới hét
(Cũng là lúc) lúa sớm toá hương, cua ở độ béo nhất Trộm nghe rằng, ở nhà mình (dẫu) nghèo nhưng vẫn thích, Đất Giang Nam tuy vui cũng chẳng bằng vé
Trang 35* Bài Quy hứng được tác giả sáng tác trong thời gian trên đường đi sứ trớ về, bộc lộ nổi nhớ nước thương nhà chân thật
N gôn từ giản dị, thuần hồn; tình cảm chất chứa những ưu tư khôn
xiế t T riế t lí giản dị như m ột lố i sống: vê quê hương mình dẫu
nghèo vần là hơn, đất khách tuy vui nhưng đâu p h ả i của mình
Thơ Nguyễn Trung Ngạn sâu sắc, nhiều ý vị, thể hiện m ột đời sống tâm hồn giàu có, m ột nhân cách cao thượng, được người đời truyền tụng
(Chu Văn An)
Thuỷ nguyệt{2) kiều biên lộng(3) tịch huy{4),
H à {5) hoa hà diệp tĩnh tương _y(6)
N g ư phỉ) c ổ cìĩiểu(1) ỉoruị hà tại,
Trang 36Ván mãn khó nạ sơn hạc búí q u \ Lũo q u ẽ í ù \ iH> phong h ươn lị thạch lo.
Nộn cỉài trước llm x một tùnẹ phi y Thốn iám ị]0) thù vị{]]) như hới t h o i : \ Văn thuyết tiên hoàng{ìỉ} lệ ủm huyl14'.
Giải nghĩa từ ngữ:
(1) M iết trì: ao ba ba ớ Côn Sơn, Chu Vãn An ấn cư ơ đây Hiện nay, ứ c ỏ n Sưn còn đền thờ Chu Văn An (2) thu) nỊỊuyệỉ: ánh trăng in dưới đáv nước (3) lộng: đùa giỡn, múa may (4) lịch
huy: ánh chiéu tà, bóng mặt trời lúc sắp lăn (5) hủ: hương sen, hoa
sen (6) y: tựa dưa (nhau) (7) chiểu: ờ đây chi ao cáI ao (8) tuy: theo, nương theo, di theo (9) phi: cứa cánh cứa: tinh phì: cánh cứa gỗ thỏng (10) thổn tủm: tấc lòng, tàm lòng (11) thu vị: tòn
ch ư a , hoàn toàn chưa (12) hôi thổ: tro đất, tro lanh ngãt (1 3) ĩìén
hoàng: chi Trần M in h Tổng (14) lệ ám hay (cáu trúc đao) lãng lẽ
A o xưa cá nối còn rổng ở đâu?
Mây trùm núi vãng, chim hạc chảng bay vé
Quê già theo gió toa hưưng, đường đá thưm ngát
Rêu non đẫm nước phu kín cửa gỗ ihóng
Tấc lòng nà> còn chưa nguỏi lanh như tro
Nghe nhác đón tiên hoàng, (ta) thâm gat lé
* C hu Vãn A n (? 1370) là người huyện Thanh Dam (ThanhTrì Hà Nội nay), hiệu Tiêu Ấ n, tư L inh T riêt Sau khi đổ Thái hoc sinh (tức tiên sĩ), ỏng chuyên tám day hoc, từne làm Tư nL’ hicp
Trang 37Quốc Tứ G iám , có nhiều học trò đỗ đạt Chu A n tính tinh ngay thắng, bộc trực, chí k h í nổi tiếng, văn tài khó vượt Đời Dụ Tông, bất bình trước tham quan ô lại, ông dâng “ Thất trảm sớ” đòi giêt báy ten nịnh thần nhưng vua không nghe theo Ông bèn quy ẩn ở núi Phượng Hoàng, gần Côn Sơn Sau kh i mất được đặt thụy Văn
T rin h và được vua cho thờ ở Văn M iếu
Bài M iế t tr ì ông làm kh i đã về ở ẩn, lời lẽ thanh thoát, hình
ánh trong sáng nhưng lại đượm buồn, v ẻ ngoài thê hiện chí nhàn nhưng xem k ĩ thì lòng vẫn nặng nỗi ưu thời mẫn thế Hai câu kết không đơn thuần là hoài niệm , mà còn là nỗi lòng cúa bậc cự Nho mong muốn có được vị vua anh m inh sáng suốt
Trang 38Thời la i đ ('p ] điếuih) thành côn % dí, Vận khứ anh hùng' 'á m hận dư.
T r í ch ú1*1 hữu ho ài phù dịa t r ụ c
Tax b in h i9)vô lộ vãn thiên /lừ '1" ’.
Quốc thùiU) vị báo dầu tiên bạch,
K i độ Long Tuỵềna2) đới nguyệt' 1 ’ ’ ma.
Giải nghĩa từ ngữ:
(1) Cảm hoài: nỗi niềm xúc cám Chú ý nét nghĩa khác VỚI
inỊÔn hoài, thuật hoài (2) du du: lâu dài, xa vắng, mờ m it ménh
m ang , m ột điệp từ với từ gốc là du, có nghĩa: dài, lâu \a XÓI, lo
âu, buồn phiền (3) nại hà: làm sao? thê nào? nại lão ha già ròi biết làm sao? (4) hùm: uóng rượu say tâm thần phán chán, (a: hát, hùm ca: ờ đâv có nghĩa buồn nôn uống rươu say ròi cát tiếng hát bi phẫn (5) đố: giết, ớ đây có nghĩa: người làm nghé mò lơn
(trâu, bò ) bán th ịt Ngày xưa Phàn Khoái làm nghê bán thít ứ
chợ, sau theo Lưu Bang (H án) làm nên sự nghiêp lớn (6) điếu:
câu cá Lúc còn hàn vi Hàn Tín phái đi câu cá kiêm sóng Sau giúp Lưu Bang, có công lớn trong sự nghiệp xây dưns cơ dó nhà
Hán (7) anh: hoa đep nhất trong loài hoa, hùng: giống dưc trong loài chim , muông: khoe nhất Anh hùng: lài năng sức lưc déu vượt
lên trên m oi nsười Chú ý đến cách đôi trong hai câu 3 và 4 qua
những từ thời, vận la i khứ, dó diếu, anh hùniỊ thành c ôn ạ ch: ám
hận du Có đối nhưng không gò chữ, ép ý (8) t r í chu: dóc long,
dem hết tâm trí sức lưc ra đê phò vua giúp chúa (9) tax hình: lấy
ý lừ hai câu thơ : "An dác tiá n q s ĩ văn Ngủn hủ, l i n h ỉủ \ giúp
binh trường bất d ụ n g ' (M ong sao có được bậc tráng sĩ kéo sóng
Ngân từ trẽn trời xuống dê rưa sạch giáp binh, mãi mãi khống dùng đ ô n n ữ a ) L icn h ệ với V t o à n bài t h ơ , nhát là hai c â u cu ố i, c ó
thè hiếu "tâ y b in h " với nghĩa: dẹp yên xong giặc, đem lai hoa
bình lau dài cho dát nước (10) thiên hù: sóng Ngán, dai sao lớn
Trang 39(gôm hàng trăm tỉ ngôi sao) kéo dài thành m ột vệt sáng văt ngang trờ i, có thế quan sát được bằng mắt từ T rái Đất Cũng nên chú ý đến cách đôi của hai câu 5 và 6, tuy chính nhưng cũng khá phóng
khoáng (11) quốc thù: m ối thù chung của cả dân tộc, đất nước (12) Long Tuyền: tên m ột thanh gươm báu nổi tiếng trong truyện
cổ T rung Hoa (13) đới nguyệt: đội ánh trăng (m ài gươm), dưới
ánh tráng
Dịch nghĩa:
N ỗi n iề m tâm sự
V iệc đời (còn) mênh mang dằng dặc, mà m ình thì
già rồ i, biết làm sao đây?
Đ ất trời rộng lớn vô cùng, (đành, như) thu cả
vào cuộc say ca
Thời cơ tới (th ì) kẻ bán th ịt, câu cá
cũng dễ đạt tới thành công,Vận số (đã) hết, (th ì) bao nhiêu anh hùng
cũng đành nuốt hận
Dốc lòng giúp chúa, những mong (làm nên sự nghiệp lớn)
(ví như) chống đỡ trục quả đất,
M uốn rửa sạch giáp binh (nhưng) chẳng có cách nào
kéo sông Ngân xuống[chưa tìm được cách diệt giặc để đem lại
thái bình cho đất nước]
M ố i thù chung của cả dân tộc (còn) chưa trả được
(mà) đầu đã sớm bạc,
Đã bao phen đội trăng để mài gươm báu Long Tuyền
(m ài gươm dưới ánh trâng)
* Đặng Dung, không rõ nãm sinh năm mất, người huyện Can Lộc (Hà T ĩnh) giúp Trần Quý Khoáng tổ chức lực lượng chiến đấu với quân M in h xâm lược Trong vòng 5 năm, ông đã nhiều lần vây
Trang 40đánh quán M in h , giành được nhiéu thắng ỈƠI Có lán nẽu không vì đẽm tối khống nhìn rõ mặt thì đã bắt sóng đươc tướng M in h là Trương Phụ Sau, Đặng Dung bị giặc bắt đem VC Yen K in h (Trung
Q uốc), dọc đường ông nháy xuống sông tự từ Cũna có ihuyét nói ông bị giặc mổ bụng (xem gan mật to lớn cỡ nào) (!)
Bài Cảm hoài bộc lộ nỗi niềm tâm sự, hùng tâm tráng chí của
m ột anh hùng nghĩa sĩ, nguyện đem hết tài trí, sức lưc hiến dâng cho sự nghiệp lớn: tiêu diệt quân thù, báo đển nợ nước Ả m hưởng
bi tráng, triế t lí sâu sắc, uất hận ngút trời, chí lớn khôn nguôi, tấm lòng vằng vặc Thật vẫn lộ rõ kh í phách Đ ống A dẫu gãp cơn bĩ cực Đây gần như là bài thơ đầu tiên thể hiên nỗi buỏn cá nhân (lồng trong nỗi buồn thời thế) của thơ ca trung đại V iê t Nam Hai câu kết xứng đáng được coi là “ thiên cổ lệ cú” (câu đep ngàn đời)
Đọc Cảm h o à i, L í Tử Tấn (thế k ỉ X V ) phê điểm : “ Nếu khỏng phái
là bậc nghĩa sĩ hào kiệt thì không thê viết được những ván thơ như
thế” (Phi hào kiệt chi sĩ bất năng) [Chính lí theo Ngữ ván ỉ ỉá n Nỏm,