Tóm tắt Nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đối với rủi ro tín dụng ngân hàng tại Việt Nam trong giai đoạn 2009 đến 2018.. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu
Trang 1NGUYỄN THỊ LAN PHƯƠNG
ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN RỦI RO TÍN
DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2020
Trang 2NGUYỄN THỊ LAN PHƯƠNG
ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN RỦI RO TÍN
DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng
Mã ngành: 8 34 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HẠ THỊ THIỀU DAO
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Học viên cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng học viên dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Hạ Thị Thiều Dao Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 07 năm 2020 Tác giả
Nguyễn Thị Lan Phương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, học viên gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến PGS TS Hạ Thị Thiều Dao về những kiến thức Cô đã giảng dạy trong quá trình học tập và sự hướng dẫn, hỗ trợ tận tình của Cô trong quá trình thực hiện luận văn này
Học viên cũng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Bùi Quang Tín với những chia
sẻ và góp ý quý báu của Thầy định hướng giúp học viên trong những ngày đầu tiên Cuối cùng học viên gửi lời cảm ơn đến các thầy cô Khoa sau đại học và các thầy cô trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh đã giảng dạy, hỗ trợ và giúp đỡ học viên suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 07 năm 2020 Tác giả
Nguyễn Thị Lan Phương
Trang 5TÓM TẮT
1 Tiêu đề: Ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng tại Việt Nam
2 Tóm tắt
Nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đối với rủi ro tín dụng
ngân hàng tại Việt Nam trong giai đoạn 2009 đến 2018 Sử dụng các phương pháp ước lượng khác nhau như OLS, hiệu ứng cố định, hiệu ứng ngẫu nhiên và phương pháp phân tích dữ liệu bảng động
Kết quả chỉ ra rằng sở hữu nhà nước và sở hữu nước ngoài có ảnh hưởng tích cực trong việc giảm rủi ro tín dụng Hơn nữa, rủi ro tín dụng bị ảnh hưởng rất lớn và đáng kể bởi các biến số đặc thù của ngân hàng và các biến kinh tế vĩ mô Điển hình cho điều này là khi dự phòng rủi ro tín dụng cao hơn, có nghĩa là tín dụng có chất lượng kém hơn, dẫn đến xác suất rủi ro tín dụng cao hơn, trong khi tăng trưởng tín dụng có liên quan tiêu cực đến rủi ro tín dụng Tỷ lệ lạm phát cao hơn làm giảm giá trị thực của thu nhập, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng trả
nợ của người vay Tốc độ tăng trưởng kinh tế là một biến số cơ bản khác có thể có ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng Trong quá trình phát triển kinh tế, dự kiến các khoản
nợ xấu sẽ giảm do có sẵn dòng tiền để chi trả và ngược lại các khoản nợ xấu dự đoán sẽ tăng lên trong giai đoạn suy thoái
Cuối cùng, từ các kết quả nghiên cứu trên, một số khuyến nghị, hàm ý chính sách liên quan đến cấu trúc sở hữu được đưa ra nhằm hạn chế rủi ro tín dụng góp phần ổn định hệ thống ngân hàng
3 Từ khóa: rủi ro tín dụng, cấu trúc sở hữu, phương pháp ước lượng GMM hệ
thống một bước
Trang 6ABSTRACT
1 Title: The impact of ownership structure on bank credit risk in Vietnam
2 Abstract
The study examines the influence of ownership structure on bank credit risk
in Viet Nam over the period 2009 to 2018 using different estimation methods such
as OLS, fixed and random effect and generalized method of moments
The results indicated that state ownership and foreign ownership positively decreased credit risk Moreover, credit risk was highly and significantly influenced
by the bank specific variables and the macro-economic variables Typical for this is that higher credit loss provision, which means more bad quality credit, led to higher probability of credit risk while credit growth was negatively related to credit risk Higher inflation rates lowered the real value of income, which in turn negatively affected borrower repayment capacity The growth rate in real gross domestic product was another fundamental variable that may have had an effect on credit risk During economic expansion, non-performing loans were expected to decrease due to cash flow availability whereas the opposite was expected during periods of recession
Finally, from the test results of the above study some recommendations and policy implications regarding ownership structure are derived to limit bank credit risk for the stability and efficiency of the banking sector
3 Keywords: credit risk, ownership structure, one-step GMM system
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
FEM Fixed Effect Model Mô hình tác động cố định
OLS Ordinary least square Phương pháp bình phương tối
thiểu REM Random Effect Model Mô hình tác động ngẫu nhiên
Management Company
Công ty TNHH một thành viên Quản lý Tài sản của các TCTD Việt Nam
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
ABSTRACT iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
MỤC LỤC vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU ix
DANH MỤC HÌNH x
CHƯƠNG 1: LỜI MỞ ĐẦU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 2
1.5 Phương pháp nghiên cứu 2
1.6 Đóng góp của nghiên cứu 3
1.7 Kết cấu luận văn 4
CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRƯỚC VỀ ẢNH HƯỞNG CẤU TRÚC SỞ HỮU ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG 5
2.1 Khung lý thuyết về rủi ro tín dụng 5
2.1.1 Khái niệm 5
2.1.2 Chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng 6
2.1.2.1 Tỷ lệ nợ xấu 6
2.1.2.2 Dự phòng rủi ro tín dụng 7
2.1.2.3 Hệ số an toàn vốn CAR 8
Trang 92.2 Khung lý thuyết về cấu trúc sở hữu 9
2.2.1 Khái niệm 9
2.2.2 Chỉ tiêu đo lường cấu trúc sở hữu 9
2.2.2.1 Tập trung sở hữu 9
2.2.2.2 Đặc tính của chủ sở hữu 10
2.2.3 Lý thuyết người đại diện 11
2.3 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu tác động đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng 11
Tóm tắt Chương 2 16
CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU, MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Dữ liệu nghiên cứu 17
3.2 Mô hình nghiên cứu 19
3.3 Phương pháp nghiên cứu 25
Tóm tắt Chương 3 27
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 Khái quát về thực trạng rủi ro tín dụng và cấu trúc sở hữu của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn nghiên cứu 28
4.1.1 Thực trạng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam 28
4.1.2 Thực trạng cấu trúc sở hữu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam 30
4.2 Thống kê mô tả 35
4.3 Phân tích tương quan 36
4.4 Kết quả hồi quy 37
4.5 Kiểm định về sự lựa chọn mô hình 38
4.6 Kiểm định và khắc phục các khuyết tật của mô hình hồi quy 39
4.6.1 Kiểm định đa cộng tuyến 39
4.6.2 Kiểm định tự tương quan 40
4.6.3 Kiểm định phương sai sai số thay đổi 40
4.7 Thảo luận kết quả nghiên cứu 42
Tóm tắt Chương 4 48
Trang 10CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 49
5.1 Kết luận 49
5.2 Khuyến nghị, hàm ý chính sách 49
5.3 Hạn chế của đề tài 52
5.4 Định hướng phát triển đề tài 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO i
PHỤ LỤC ix
Trang 11DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu có liên quan 14
Bảng 3.1: Nguồn dữ liệu của các biến 17
Bảng 3.2: Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng và dấu kỳ vọng 24
Bảng 4.1: Tỷ lệ sở hữu nước ngoài tại một số NHTM Việt Nam năm 2018 34
Bảng 4.2: Thống kê mô tả các biến của mô hình nghiên cứu 35
Bảng 4.3: Ma trận tương quan giữa các biến 36
Bảng 4.4: Kết quả hồi quy của 3 mô hình POOLED, FEM VÀ REM 37
Bảng 4.5: Kiểm định đa cộng tuyến 40
Bảng 4.6: Kết quả hồi quy theo phương pháp GMM hệ thống một bước 42
Bảng 4.7: Quy mô các NHTM Nhà nước giai đoạn 2009 - 2018 47
Trang 12DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Cấu trúc sở hữu 10Hình 4.1: Diễn biến nợ xấu của hệ thống TCTD Việt Nam giai đoạn 2009 – 2018 29Hình 4.2: Diễn biến nợ xấu của 28 NHTM trong mẫu nghiên cứu giai đoạn 2009 –
2018 30
Trang 13CHƯƠNG 1: LỜI MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài
Hoạt động tín dụng là hoạt động chính của các ngân hàng thương mại mang lại phần lớn lợi nhuận cho các ngân hàng vì vậy kiểm soát và hạn chế những rủi ro xảy ra trong hoạt động tín dụng luôn được Quốc hội, Chính phủ, Ngân hàng nhà nước cũng như các ngân hàng trong hệ thống quan tâm và chú trọng
Tái cấu trúc hệ thống tài chính – ngân hàng được coi là một biện pháp nhằm kiểm soát và hạn chế rủi ro tín dụng thông qua các hoạt động sáp nhập các ngân hàng trong nước với nhau, mua lại các ngân hàng yếu kém, tìm kiếm nhà đầu tư chiến lược nước ngoài…Vì vậy việc tái cấu trúc hệ thống tài chính – ngân hàng làm thay đổi cấu trúc sở hữu của các ngân hàng và thực trạng này cho thấy sự thay đổi của cấu trúc sở hữu ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng Tuy nhiên, đối với thực tế nghiên cứu tại Việt Nam, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về ảnh hưởng giữa cấu trúc sở hữu và rủi ro ro tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại vì vậy học
viên đã quyết định chọn chủ đề “Ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến rủi ro tín
dụng của các ngân hàng tại Việt Nam” làm chủ đề nghiên cứu cho luận văn thạc
sĩ của mình với mong muốn kế thừa những kết quả của nghiên cứu trước và cung cấp thêm một bằng chứng thực nghiệm về vấn đề này
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn được thực hiện nhằm giải quyết mục tiêu nghiên cứu tổng quát là phân tích ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến rủi ro tín dụng cụ thể là nợ xấu của các ngân hàng tại Việt Nam, vì vậy các mục tiêu cụ thể cần được giải quyết như sau:
- Xác định mức độ và chiều hướng ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng tại Việt Nam
- Đề xuất các giải pháp, hàm ý chính sách về cấu trúc sở hữu nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng của các ngân hàng
Trang 141.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn đặt ra các câu hỏi nghiên cứu như sau:
- Cấu trúc sở hữu ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của ngân hàng tại Việt Nam như thế nào?
- Những giải pháp nào được áp dụng trong việc kiểm soát cấu trúc sở hữu nhằm hạn chế rủi ro tín dụng?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu đối tượng chính là ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu trúc
sở hữu đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng tại Việt Nam
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Với mục tiêu nghiên cứu đã nêu trên, luận văn áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng Nguồn dữ liệu sử dụng là dữ liệu thứ cấp, dữ liệu sẽ được thu thập
từ báo cáo kết quả kinh doanh, các chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán và các chỉ số tài chính được cung cấp bởi The Orbis (Bankscope) và Fiinpro Tuy nhiên, một số thông tin đặc biệt là các thông tin về tỷ lệ sở hữu của các NHTM Việt Nam không được tổng hợp đủ từ hai nguồn trên, vì vậy học viên tìm kiếm những thông tin này dựa trên các Báo cáo thường niên của các ngân hàng Ngoài ra dữ liệu còn được lấy
cơ sở dữ liệu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), World Bank Do một số ngân
Trang 15hàng bị khuyết dữ liệu tại một vài năm nên dữ liệu nghiên cứu được tổ chức thành dạng dữ liệu bảng không cân bằng bao gồm 280 quan sát và sử dụng phần mềm Stata 14 để phân tích
1.6 Đóng góp của nghiên cứu
Đã có nhiều nghiên cứu quốc tế về cấu trúc sở hữu trong mối quan hệ với rủi
ro tín dụng được thực hiện từ nhiều nhóm cấu trúc sở hữu khác nhau như sở hữu tư nhân, sở hữu nhà nước và nước ngoài, sở hữu của Ban quản trị, sở hữu của các công ty gia đình, sở hữu tổ chức…và kết quả của các nghiên cứu này cho các kết luận khác nhau Tuy nhiên đặc thù của ngân hàng ở các nước này đó là cấu trúc sở hữu được phân tán, hoặc chi phối với số vốn Nhà nước tham gia thấp, khác với hệ thống ngân hàng Việt Nam khi mà vai trò của sở hữu Nhà nước vẫn còn rất quan trọng
Tại Việt Nam, các nghiên cứu liên quan đến ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu chủ yếu liên quan đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Một trong những nghiên cứu đầu tiên là của tác giả Nguyễn Hồng Sơn, Trần Thị Thanh Tú, Đinh Xuân Cường, Lại Anh Ngọc và Phạm Bảo Khánh (2013) đã nghiên cứu tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh tái cơ cấu Tuy nhiên theo hiểu biết của học viên nghiên cứu về ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến rủi ro tín dụng là khá ít ngoài ra khái niệm về cấu trúc sở hữu cũng chưa được làm rõ vì vậy
Về mặt lý thuyết, luận văn củng cố các lý thuyết và các quan điểm về ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến rủi ro tín dụng của ngân hàng
Về mặt thực tiễn, luận văn cung cấp cái nhìn cụ thể về ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến rủi ro tín dụng của ngân hàng tại Việt Nam giúp hạn chế các tác động tiêu cực của cấu trúc sở hữu đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng tại Việt Nam Qua đó làm tham khảo cho các nhà quản trị cũng như các nhà làm chính sách
ra các quyết định nhằm đảm bảo duy trì an toàn cho hệ thống ngân hàng
Trang 161.7 Kết cấu luận văn
Luận văn được trình bày 5 chương với nội dung các chương như sau:
Chương 1: Lời mở đầu
Chương 2: Khung lý thuyết và tổng quan một số nghiên cứu trước về ảnh hưởng cấu trúc sở hữu đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng
Chương 3: Mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến rủi ro tín dụng của các ngân hàng tại Việt Nam
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 5: Kết luận và đưa ra các hàm ý chính sách
Trang 17CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRƯỚC VỀ ẢNH HƯỞNG CẤU TRÚC SỞ HỮU
ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG
2.1 Khung lý thuyết về rủi ro tín dụng
2.1.1 Khái niệm
Trong cuốn “Risk Management in Banking” của Bessis (2010) định nghĩa rủi ro tín dụng là rủi ro thua lỗ khi một bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được nghĩa vụ của mình cụ thể là người vay không thể thanh toán các khoản nợ vay theo yêu cầu Khoản lỗ tiềm tàng bao gồm gốc, lãi của khoản nợ và cả chi phí nhờ thu Khoản lỗ này có thể ít hơn nếu người vay có thể thanh toán một phần khi khoản nợ đến hạn Hoặc trong tình huống khả quan hơn, rủi ro tín dụng xảy ra khi chất lượng tín dụng của người đi vay giảm đi khiến cho khoản vay có rủi ro cao hơn
Cùng quan điểm này, Bielecki và Rutkowski (2013) cho rằng rủi ro tín dụng
là rủi ro liên quan đến bất kỳ loại sự kiện nào liên quan đến tín dụng, chẳng hạn như: khả năng một đối tác trong hợp đồng tài chính sẽ không thực hiện cam kết hợp đồng để đáp ứng các nghĩa vụ của họ được ghi trong hợp đồng, thay đổi chất lượng tín dụng (xếp hạng tín dụng cao hơn hoặc thấp hơn), chênh lệch tín dụng biến động (chênh lệch giữa lợi suất của trái phiếu chính phủ Mỹ với những chứng khoán nợ khác có cùng thời gian đáo hạn nhưng khác nhau về chất lượng tín dụng có sự thay đổi)
Rủi ro tín dụng là một khái niệm gắn liền với ngân hàng và hoạt động kinh doanh của ngân hàng Rủi ro tín dụng được coi là rủi ro gây tổn thất lớn nhất cho ngân hàng nhất là những ngân hàng có hoạt động sinh lời chủ yếu từ nghiệp vụ tín dụng Theo định nghĩa của Hiệp ước Basel III năm 2010 rủi ro tín dụng là khả năng ngân hàng sẽ bị mất một phần hoặc toàn bộ khoản vay từ những sự kiện đe dọa khả năng thanh toán của khách hàng bao gồm: phá sản của khách hàng hoặc khách hàng không muốn thanh toán nợ vay
Trang 18Ngoài ra rủi ro tín dụng còn được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn thậm chí là không thể hoàn trả gốc Điều này gây ra vấn đề đối với dòng lưu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng (Greuning và Bratanovic, 2003)
Tại Việt Nam, Theo Mục a Khoản 24 Điều 2 Thông 41/2016/TT-NHNN ban hành ngày 30/12/2016 quy định rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, trừ các rủi ro do đối tác không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ thanh toán trước hoặc khi đến hạn của các giao dịch tự doanh; giao dịch repo và giao dịch reverse repo; giao dịch sản phẩm phái sinh để phòng ngừa rủi ro; giao dịch mua bán ngoại tệ, tài sản tài chính với mục đích phục vụ nhu cầu của khách hàng, đối tác
Như vậy dù định nghĩa và khái niệm về rủi ro tín dụng được thể hiện theo nhiều cách khác nhau nhưng đều hàm ý chung là những tổn thất ngân hàng phải gánh chịu khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán
2.1.2 Chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng
2.1.2.1 Tỷ lệ nợ xấu
Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và Thông tư 02/2013/TT-NHNN nợ xấu là các khoản nợ được phân loại thành 5 nhóm theo phương pháp định tính: Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm các khoản nợ được TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn; Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm các khoản nợ được TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ; Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm các khoản nợ được TCTD đánh giá là không có khả năng thu hồi
nợ gốc và lãi khi đến hạn, có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi; Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm các khoản nợ được TCTD đánh giá là khả năng tổn thất
cao; Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm các khoản nợ được tổ chức tín
Trang 19dụng đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5 và tỷ lệ nợ xấu được tính như sau:
Tỷ lệ nợ xấu = Nợ xấu
Tổng dư nợ (1.1)
Tỷ lệ nợ xấu được coi là chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng truyền thống được
sử dụng nhiều trong nghiên cứu trong và ngoài nước như: Srairi (2013), Dong, Meng, Firth và Hou (2014), Nguyễn Lương Vy (2017)…Nợ xấu phản ánh chất lượng tài sản của ngân hàng vì vậy khi nợ xấu tăng lên do chất lượng cho vay bị giảm sút sẽ tác động tiêu cực đến giá trị thị trường của tài sản ngân hàng và thu nhập của ngân hàng, gây tổn thất cho ngân hàng, nợ xấu càng cao rủi ro tín dụng càng cao (Delis và Kouretas, 2011)
2.1.2.2 Dự phòng rủi ro tín dụng
Dự phòng rủi ro tín dụng là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với nợ của các TCTD
Dự phòng rủi ro tín dụng bao gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung trong đó tỷ
lệ trích lập dự phòng cụ thể tương ứng với nhóm nợ: 1, 2, 3, 4, 5 lần lượt là 0%, 5%, 20%, 50% và 100% như vậy các TCTD đã phải trích lập dự phòng ngay từ nhóm nợ cần chú ý Dự phòng chung phải trích được xác định bằng 0,75% tổng số
dư các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 Dự phòng rủi ro tín dụng quan hệ cùng chiều với tỷ lệ nợ xấu, trích lập dự phòng tăng lên nghĩa là nợ xấu tăng lên kéo theo rủi ro tín dụng tăng (Ahmed và cộng sự, 1998) Theo Knaup và Wagner (2012) sử dụng Chỉ số rủi ro tín dụng (CRI) là tỷ lệ của các khoản vay rủi ro cao trong danh mục cho vay thể hiện dưới dạng giá trị thị trường, kết quả nghiên cứu cho thấy hai thước đo truyền thống về rủi ro tín dụng của ngân hàng là các khoản nợ xấu và các khoản dự phòng rủi ro cho vay có ảnh hưởng tích cực và có liên quan đáng kể đến CRI Tại Việt Nam, dưới góc độ nghiên cứu, việc thu thập số liệu về rủi ro tín dụng
sử dụng chỉ tiêu dự phòng rủi ro cho vay trở nên dễ dàng hơn nhiều vì chỉ tiêu này thể hiện trong báo cáo tài chính của ngân hàng với con số đáng tin cậy hơn so với
Trang 20chỉ tiêu nợ xấu mà ngân hàng công bố (Nguyễn Hữu Tài và Nguyễn Thị Thu Nga, 2017)
2.1.2.3 Hệ số an toàn vốn CAR
Thông tư số 13/2018/TT-NHNN được ban hành ngày 18/5/2018 quy định về
hệ số an toàn vốn tối thiểu CAR – capital adequacy ratio như sau:
Tài sản “Có” rủi ro là tổng giá trị tài sản “Có” xác định theo mức độ rủi ro
và giá trị tài sản “Có” tương ứng của cam kết ngoài bảng theo hệ số chuyển đổi
Trong bài nghiên cứu về tác động của quản lý rủi ro tín dụng đến hiệu quả tài chính của các NHTM tại Nepal, Poudel (2012) đã sử dụng hệ số an toàn vốn tối thiểu là một thông số đo lường rủi ro tín dụng Vì quản lý rủi ro nói chung có đóng góp rất lớn vào hoạt động của ngân hàng nên các ngân hàng được khuyến nghị nên chú trọng hơn vào quản lý rủi ro Để giảm rủi ro cho các khoản vay và đạt được hiệu quả ở mức tối đa các ngân hàng cần duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu Sử dụng mẫu dữ liệu thống kê từ 11 ngân hàng thương mại Việt Nam bao gồm ACB, BIDV, Eximbank, MB, Sacombank, SHB, Techcombank, VIB, Vietcombank, Vietinbank
và Vpbank trong giai đoạn từ 2008 đến 2013 Dao và Ankenbrand (2014) đưa ra kết luận để giảm các yếu tố rủi ro, duy trì sự lành mạnh và sự an toàn của ngân hàng, các ngân hàng cần tăng nguồn vốn tự có tạo ra tỷ lệ an toàn vốn cao hơn
Trang 212.2 Khung lý thuyết về cấu trúc sở hữu
2.2.1 Khái niệm
Cấu trúc sở hữu là sự phân phối tỷ lệ sở hữu của cổ đông liên quan đến quyền biểu quyết, vốn góp và cả đặc tính của các cổ đông đó (Zheka, 2005) Một khái niệm khác về cấu trúc sở hữu của Camisón-Haba, Clemente, Forés và Grueso-Gala (2020) cho rằng cấu trúc sở hữu là cơ cấu nội bộ của một công ty xác định các
quyền và nghĩa vụ của những người có lợi ích hợp pháp hoặc cổ phần trong đó
2.2.2 Chỉ tiêu đo lường cấu trúc sở hữu
2.2.2.1 Tập trung sở hữu
Có nhiều khái niệm về sở hữu tập trung và nhiều biện pháp đo lường mức dộ tập trung sở hữu Theo Pedersen và Thomsen (1999) quyền sở hữu tập trung là quyền sở hữu của các nhà đầu tư nắm giữ được nhiều lượng cổ phần nhất và gánh chịu những tác động đến các chi phí cho hoạt động giám sát và rủi ro Nikolić và Babić (2016) cho rằng sở hữu tập trung là việc có ít nhất một cổ đông sở hữu số lượng cổ phiếu có khả năng kiểm soát và chi phối việc ra các chiến lược mang tính quyết định Chủ sở hữu đóng vai trò lớn trong việc kiểm soát các nhà quản trị nhằm khắc phục các lỗ hổng Còn theo tác giả Madhani (2016), tập trung quyền sở hữu là một cơ chế quản trị nội bộ quan trọng, trong đó chủ sở hữu có thể kiểm soát và tác động đến việc quản lý công ty để bảo vệ lợi ích của họ Như vậy sở hữu tập trung là trường hợp phần lớn cổ phần được nắm giữ bởi một vài chủ sở hữu và họ nắm quyền kiểm soát cao có ảnh hưởng lớn đến việc ra quyết định của doanh nghiệp
Một cách phổ biến để đo lường quyền sở hữu tập trung là tỷ lệ sở hữu của cổ đông lớn nhất (Thomsen và Pedersen, 2000; Srairi, 2013) hoặc tỷ lệ sở hữu được nắm giữ bởi một số chủ sở hữu lớn nhất (Demsetz và Villalonga, 2001; Dong và ctg, 2014) Chỉ số Herfindahl-Hirschman cũng được sử dụng như một biện pháp đo lường mức độ tập trung (Demsetz và Lehn, 1985; Dong và ctg, 2014)
Trang 222.2.2.2 Đặc tính của chủ sở hữu
Jensen và Meckling (1976) đo lường cấu trúc sở hữu bằng số lượng cổ phần
sở hữu được phân loại thành tỷ lệ cổ phần sở hữu nắm giữ bởi bên trong (nhà quản
trị) và tỷ lệ cổ phần sở hữu nắm giữ bởi bên ngoài (các nhà đầu tư không trực tiếp
tham gia quản lý doanh nghiệp) Gursory và Aydogan (2002) khi nhắc đến danh
tính của các chủ sở hữu đã sử dụng khái niệm sở hữu hỗn hợp bao gồm: tỷ lệ sở
hữu nước ngoài, tỷ lệ sở hữu tư nhân, tỷ lệ sở hữu nhà nước
Còn theo Repei (2000) việc phân loại sở hữu ở mỗi quốc gia sẽ có sự khác
biệt nhau và mang nét đặc trưng của quốc gia đó do luật pháp và lịch sử thành lập
của các doanh nghiệp Hình 2.1 mô tả cấu trúc sở hữu bao gồm bên trong và bên
ngoài trong đó sở hữu bên trong bao gồm nhà quản trị và người làm công, đối với
sở hữu bên ngoài được phân chia thành sở hữu của cá nhân, sở hữu tổ chức, sở hữu
Nhà nước Bên cạnh đó chủ sở hữu là cá nhân và tổ chức có thể được phân biệt
thành sở hữu trong nước và chủ sở hữu nước ngoài
Hình 2.1: Cấu trúc sở hữu
Nguồn: Tổng hợp dựa theo nghiên cứu của Repei (2000) và Zheka (2005)
Trang 232.2.3 Lý thuyết người đại diện
Lý thuyết đại diện được xây dựng đầu tiên vào năm 1932 bởi Berle và Means Theo lý thuyết này, sự tách biệt giữa quyền sở hữu của cổ đông và chức năng kiểm soát của nhà quản trị đem lại rủi ro do việc tách biệt quyền sở hữu có thể dẫn tới việc các nhà quản trị chuyên nghiệp sẽ có những hành động gây thiệt hại cho chủ
sở hữu tài sản nhằm đem lại lợi ích cho bản thân Vì vậy cần phải có một giải pháp đáng tin cậy để bảo vệ các cổ đông và giúp các cổ đông có thể đánh giá hành vi của nhà quản lý Điều này đã tác động mạnh mẽ đến việc đòi hỏi các thông tin về kết quả hoạt động kinh doanh cần được công bố rộng rãi dưới hình thức các báo cáo tài chính
Thừa kế từ lý thuyết này, Jensen và Meckling (1976) trong tác phẩm “Lý thuyết về công ty: Hành vi nhà quản trị, chi phí người đại diện và cấu trúc sở hữu”
đã giới thiệu các quan điểm của mình về lý thuyết người đại diện Lý thuyết chỉ ra rằng quản trị doanh nghiệp là một hệ thống của người chủ sở hữu công ty thiết lập nhằm kiểm tra các nhà quản lý để đảm bảo rằng các hành động và quyết định của nhà quản lý luôn vì mục tiêu tối đa hoá lợi ích của người chủ sở hữu Mặt khác do
có sự tách biệt giữa quyền kiểm soát và quyền sở hữu nên cổ đông với danh mục đầu tư đa dạng, có thể đầu tư vào nhiềughb công có khuynh hướng chấp nhận rủi ro cao hơn nhiều so với nhà quản lý Ngược lại các nhà quản lý có khuynh hướng chấp nhận rủi ro ở mức thấp hơn để bảo vệ vị trí và lợi ích của mình
2.3 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu tác động đến rủi ro tín
dụng của các ngân hàng
Trong lĩnh vực ngân hàng, các bài nghiên cứu về mối quan hệ giữa cấu trúc
sở hữu và rủi ro thường đề cập đến 2 khía cạnh: tập trung sở hữu và đặc tính của chủ sở hữu trong mối quan hệ với rủi ro Tuy nhiên có sự khác biệt trong việc đo lường tập trung sở hữu cũng như phân biệt các hình thức sở hữu
Trang 24Nghiên cứu của Laeven (1999) dựa trên dữ liệu của 54 NHTM ở Indonesia,
25 NHTM ở Hàn Quốc, 34 NHTM ở Malaysia, 29 NHTM ở Philippines và 29 NHTM ở Thái Lan trong giai đoạn 1992 – 1996 trước cuộc khủng hoảng châu Á năm 1997, ông xem xét năm hình thức sở hữu khác nhau: sở hữu nhà nước, sở hữu gia đình, sở hữu công ty, sở hữu nước ngoài và sở hữu phân tán Ông thấy rằng các ngân hàng thuộc sở hữu gia đình là một trong những ngân hàng rủi ro nhất cùng với các ngân hàng thuộc sở hữu doanh nghiệp trong khi các ngân hàng thuộc sở hữu nước ngoài tương đối ít rủi ro so với các ngân hàng khác Các ngân hàng phải tái cấu trúc đa phần là các ngân hàng gia đình và ngân hàng doanh nghiệp và không có ngân hàng nước ngoài nào rơi vào nhóm phải tái cấu trúc
Nghiên cứu của Barry, Lepetit, Tarazi (2011) thông qua việc kiểm định một mẫu bao gồm dữ liệu báo cáo hàng năm từ năm 1999 đến năm 2005 của các NHTM tại 16 nước Tây Âu nhằm mục tiêu phân tích tác động của các loại hình sở hữu khác nhau đến mức độ rủi ro của các ngân hàng tư nhân (các ngân hàng không niêm yết) và các ngân hàng đại chúng (ngân hàng niêm yết) Biến sở hữu trong bài nghiên cứu gồm năm biến tương ứng với năm loại cổ đông: i) người quản lý/giám đốc (MANAGER); ii) các công ty phi tài chính (COMPAMNY); iii) nhà đầu tư cá nhân/gia đình (FAMILY); iv) ngân hàng (BANK); và v) các nhà đầu tư tổ chức - công ty bảo hiểm, công ty tài chính và quỹ hưu trí (INSTITUT) Z-score và ZP Score được dùng đại diện cho biến rủi ro ngân hàng Kết quả cho thấy đối với các ngân hàng niêm yết do tác động của kỷ luật thị trường nên việc thay đổi cấu trúc sở hữu không có ảnh hưởng đến rủi ro Đối với các ngân hàng tư nhân sự thay đổi trong vốn chủ sở hữu từ các nhà đầu tư tổ chức sang cá nhân/gia đình hoặc ngân hàng làm giảm rủi ro tài sản nhưng không thay đổi lợi nhuận Khi vốn thuộc sở hữu của các nhà đầu tư tổ chức sang sở hữu của các công ty phi tài chính thì rủi ro và lợi nhuận đều không có sự thay đổi Tỷ lệ sở hữu bởi cổ đông là ngân hàng càng cao rủi ro càng thấp và mức độ tập trung sở hữu của các cổ đông không ảnh hưởng đến rủi ro cũng như lợi nhuận
Trang 25Dong, Meng, Firth và Hou (2014) thu thập thông tin sở hữu của 108 NHTM Trung Quốc các ngân hàng trong giai đoạn năm 2003 đến năm 2011 Nghiên cứu phân tích các đặc điểm cấu trúc sở hữu bao gồm danh tính của cổ đông kiểm soát
và sự tập trung quyền sở hữu, ảnh hưởng của các đặc điểm này đến hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng Nghiên cứu sử dụng ba loại danh tính cổ đông bao gồm: ngân hàng thuộc sở hữu doanh nghiệp nhà nước (SOECBs), ngân hàng tư nhân (PCB) và ngân hàng thuộc sở hữu của Chính phủ (GCB) Đối với tập trung quyền
sở hữu, chỉ số Herfindahl-Hirschman (HHI) được sử dụng dựa trên cổ phần sở hữu của mười cổ đông hàng đầu và tỷ lệ phần trăm cổ phiếu được nắm giữ bởi ba cổ đông lớn nhất Các tác giả nhận thấy SOECBs và PCB có xu hướng ít rủi ro hơn hơn các GCB Sở hữu tập trung có thể làm giảm rủi ro trong SOECBs và PCB nhưng tăng rủi ro trong việc chấp nhận rủi ro của GCB Cuối cùng, nghiên cứu này tìm thấy bằng chứng cho thấy các ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán
có thể tăng cường khả năng quản trị và hạn chế rủi ro
Sử dụng dữ liệu của các ngân hàng từ năm 1989 đến năm 2004 của 16 quốc gia: Bangladesh, Trung Quốc, Hồng Kông, Ấn Độ, Indonesia, Macau, Malaysia, Nepal, Pakistan, Philippines, Singapore, Hàn Quốc, Sri Lanka, Đài Loan, Thái Lan
và Việt Nam Nghiên cứu của Cornett, Guo, Khaksari và Tehranian (2010) về sự tham gia của sở hữu chính phủ và cách chính phủ tham gia vào hệ thống ngân hàng
có ảnh hưởng đến hiệu suất của các ngân hàng như thế nào Kết quả nghiên cứu cho thấy các ngân hàng có sở hữu nhà nước hoạt động kém hiệu quả, vốn tự có thấp hơn và rủi ro tín dụng cao hơn so với ngân hàng thuộc sở hữu tư nhân Sở hữu nhà nước có tác động tiêu cực đến hoạt động của ngân hàng đặc biệt ở các quốc gia mà
hệ thống ngân hàng có sự can thiệp nhiều của nhà nước và chính phủ
Cùng quan điểm về tác động của sở hữu nhà nước làm tăng rủi ro bài nghiên cứu của Srairi (2013) nghiên cứu tác động của cấu trúc sở hữu (được đo lường bởi bản chất của chủ sở hữu và mức độ tập trung quyền sở hữu) đến rủi ro tín dụng và rủi ro vỡ nợ của 131 NHTM (93 ngân hàng thông thường và 40 ngân hàng Hồi
Trang 26giáo) thuộc 10 khu vực Trung Đông và Bắc Phi (Middle East and North Africa - MENA) giai đoạn 2005 – 2009 Kết quả nghiên cứu cho thấy tập trung quyền sở hữu làm giảm rủi ro tín dụng nhưng làm tăng rủi ro vỡ nợ Các ngân hàng quốc doanh có chất lượng cho vay kém hơn và rủi ro vỡ nợ cao hơn các ngân hàng tư nhân Ngân hàng thuộc sở hữu gia đình có rủi ro thấp hơn các ngân hàng thuộc sở hữu khác Bên cạnh đó khi xem xét các ngân hàng Hồi giáo và các ngân hàng thông thường thì các ngân hàng Hồi giáo có rủi ro tín dụng thấp hơn và không có sự khác biệt mức độ rủi ro vỡ nợ giữa hai loại hình ngân hàng này
Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu có liên quan
nghiên cứu
Đo lường rủi ro
Các ngân hàng phải tái cấu trúc đa phần là các ngân hàng gia đình và ngân hàng doanh nghiệp và không có ngân hàng nước ngoài
nào rơi vào nhóm phải tái cấu trúc
ZP Score
Đối với ngân hàng tư nhân (không niêm yết): Thay đổi tỷ lệ sở hữu từ các nhà đầu
tư tổ chức sang hoặc cá nhân/gia đình hoặc ngân hàng làm giảm rủi ro tài sản và rủi ro mặc định, nhưng không thay đổi lợi nhuận
Sự thay đổi vốn chủ sở hữu từ các nhà đầu
Trang 27tư tổ chức sang các công ty phi tài chính không ảnh hưởng rủi ro và lợi nhuận
Đối với ngân hàng niêm yết: Sự thay đổi tỷ
lệ sở hữu không là yếu tố quyết định mức
độ rủi ro của các ngân hàng do ảnh hưởng của kỷ luật thị trường Sở hữu bởi cổ đông
là ngân hàng càng cao thì rủi ro càng thấp Mức độ tập trung sở hữu trong mỗi loại cổ đông không ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa cơ cấu sở hữu và rủi ro
Z-tỷ lệ nợ xấu, tỷ
lệ an toàn vốn
Ngân hàng thuộc sở hữu doanh nghiệp nhà nước và ngân hàng tư nhân chấp nhận rủi ro thấp hơn so với các ngân hàng thuộc sở hữu của Chính phủ Tập trung sở hữu ở hai nhóm ngân hàng này làm giảm rủi ro do hành vi chấp nhận rủi ro thấp
Các ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán có rủi ro thấp hơn do tăng cường quản trị ngân hàng
Các ngân hàng có sở hữu nhà nước hoạt động kém hiệu quả và rủi ro tín dụng cao hơn so với ngân hàng thuộc sở hữu tư nhân
Sở hữu nhà nước có tác động tiêu cực đến hoạt động của ngân hàng đặc biệt ở các quốc gia mà hệ thống ngân hàng có sự can thiệp nhiều của nhà nước và chính phủ
Trang 28Tập trung quyền sở hữu làm giảm rủi ro tín dụng nhưng làm tăng rủi ro vỡ nợ
Các ngân hàng quốc doanh có chất lượng cho vay kém hơn và rủi ro vỡ nợ cao hơn các ngân hàng tư nhân
Ngân hàng thuộc sở hữu gia đình có rủi ro thấp hơn các ngân hàng thuộc sở hữu khác Trong đó các ngân hàng Hồi giáo có rủi ro tín dụng thấp hơn các ngân hàng thông thường và không có sự khác biệt mức độ rủi
ro vỡ nợ giữa hai loại hình này
Tóm tắt Chương 2
Trong chương này học viên trình bày cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng bao gồm khái niệm và một số chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng; khái niệm cấu trúc sở hữu; một số nghiên cứu liên quan đến đề tài và đây cũng là cơ sở cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu tại Chương 3
Trang 29CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU, MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 3.1 Dữ liệu nghiên cứu
Luận văn sử dụng dữ liệu thứ cấp của 28 NHTM Việt Nam giai đoạn
2009-2018 Nghiên cứu phân tích 28 NHTM là vì: i) các ngân hàng được vào mô hình là những ngân hàng có thể đại diện cho toàn bộ hệ thống về mặt tài sản, vốn chủ sở hữu, quy mô thị trường, ii) loại bỏ các ngân hàng bị mua bán và sáp nhập (M&A)
và các ngân hàng có báo cáo không liên tục trong 2 năm liền kề để đảm bảo về mặt
số liệu Dữ liệu sử dụng cho nghiên cứu liên quan đến các chỉ tiêu tài chính được lấy
từ các báo cáo tài chính của các ngân hàng cung cấp bởi Bankscope và Fiinpro Dữ liệu từ Bankscope và Fiinpro không đầy đủ nên học viên thu thập từ báo cáo tài chính hợp nhất đã kiểm toán của các ngân hàng Dữ liệu về tỷ lệ sở hữu bao gồm tỷ lệ sở hữu Nhà nước và tỷ lệ sở hữu nước ngoài được lấy từ báo cáo thường niên của các ngân hàng Tuy nhiên dữ liệu thu thập được vẫn bị khiếm khuyết tại một vài năm do một số ngân hàng không công bố thông tin có thể liên quan đến hoạt động M&A, đặc thù kinh doanh, thay đổi nhân sự…Đối với dữ liệu tăng trưởng GDP và tỷ lệ lạm phát được thu thập từ WorldBank Nguồn thu thập dữ liệu cho các biến được mô tả chi tiết trong bảng 3.1 dưới đây
Bảng 3.2: Nguồn dữ liệu của các biến
Nợ xấu
Nợ nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5 và Tổng dư nợ cho vay tại phần Thuyết minh báo cáo tài chính của Báo cáo thường niên các ngân hàng
Sở hữu Nhà nước
Lấy mục Tổng số cổ phần thuộc sở hữu Nhà nước đại diện là NHNN Việt Nam và Tổng số cổ phần sở hữu từ Báo cáo thường niên của các ngân hàng rồi tính toán
Trang 30Sở hữu nước ngoài
Lấy mục Tổng số cổ phần thuộc sở hữu của cổ đông tổ chức nước ngoài, Tổng số cổ phần thuộc sở hữu của cổ đông cá nhân nước ngoài và Tổng số cổ phần sở hữu từ Báo cáo thường niên của các ngân hàng rồi tính toán
Dự phòng rủi ro
tín dụng
Lấy khoản mục Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng từ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và khoản mục Cho vay khách hàng từ Bảng cân đối kế toán trong Báo cáo tài chính hợp nhất
đã kiểm toán sau đó tính toán
Tăng trưởng tín
dụng
Lấy khoản mục Cho vay khách hàng từ Bảng cân đối kế toán trong Báo cáo tài chính hợp nhất đã kiểm toán sau đó tính toán
Quy mô ngân hàng
Lấy khoản mục Tổng tài sản từ Bảng cân đối kế toán trong Báo cáo tài chính hợp nhất đã kiểm toán sau đó tính toán
Giai đoạn khảo sát kéo dài 10 năm từ năm 2009 đến năm 2018 là giai đoạn
có nhiều thay đổi liên quan đến cấu trúc sở hữu của hệ thống NHTM Việt Nam với
2 đề án tái cơ cấu các TCTD bao gồm việc thực hiện cổ phần hóa các NHTM nhà
Trang 31nước, mua bán sáp nhập các TCTD, sửa đổi bổ sung các quy định về sở hữu chéo, sửa đổi bổ sung các quy định về giới hạn sở hữu cổ phần của các cổ đông của các TCTD, sửa đổi bổ sung các quy định về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của các TCTD tại Việt Nam…
Dữ liệu thu thập được xây dựng bảng dữ liệu không cân bằng (Unbalanced Panel Data) Sở dĩ sử dụng dữ liệu bảng để tiến hành phân tích vì các ưu điểm nổi bật sau đây: i) dữ liệu bảng cho phép giải thích sự khác biệt hay sự không đồng nhất của các đơn vị chéo; ii) những thiên lệch do tổng hợp số liệu về các công ty hoặc cá nhân sẽ giảm đi hoặc triệt tiêu trong dữ liệu bảng; iii) dữ liệu bảng làm tăng
số lượng quan sát, cung cấp nhiều thông tin hơn, giảm bớt hiện tượng đa cộng tuyến do kết hợp của yếu tố thời gian và đơn vị chéo; iv) sử dụng dữ liệu và mô hình dữ liệu bảng giúp nghiên cứu từ đó giải quyết được những hành vi, vấn đề phức tạp hơn (Phạm Thị Tuyết Trinh, Đỗ Hoàng Oanh, Lê Minh Sơn và Nguyễn Văn Tùng, 2016)
3.2 Mô hình nghiên cứu
Trong bối cảnh tái cấu trúc hệ thống TCTD gắn liền với xử lý nợ xấu, Chính phủ đang đẩy mạnh cổ phần hóa các NHTM có vốn nhà nước trong đó ưu tiên việc tìm kiếm nhà đầu tư chiến lược nước ngoài nên luận văn tập trung đề cập đến hai nhóm tỷ lệ sở hữu bao gồm sở hữu Nhà nước và sở hữu nước ngoài Luận văn bỏ qua tập trung sở hữu do việc thiếu thông tin về tỷ lệ sở hữu của cổ đông, nhóm cổ đông lớn nhất, biến tập trung ngành được đưa vào mô hình và đo lường bằng chỉ số Herfindahl-Hirschman Rủi ro tín dụng của ngân hàng được thể hiện thông qua tỷ
lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, tỷ lệ này tăng thể hiện chất lượng nợ của ngân hàng giảm
và mức độ rủi ro tín dụng mà ngân hàng phải gánh chịu trong hiện tại và tương lai tăng lên Căn cứ trên cơ sở lý thuyết và các mô hình thực nghiệm trong các nghiên cứu ở Chương 2 học viên đề xuất mô hình nghiên cứu như sau:
Trang 32Trong đó:
α: hệ số hồi quy tự do
β1, β2… β8: các hệ số hồi quy riêng của các biến độc lập
μ: sai số, i: ngân hàng, t: năm
Biến phụ thuộc
Tỷ lệ nợ xấu (NPL) được sử dụng làm biến phụ thuộc trong nhiều nghiên cứu về
rủi ro tín dụng Tỷ lệ nợ xấu được tính bằng tỷ lệ của tổng gốc và lãi của các khoản vay không được hoàn trả trong khoảng thời gian nhất định trên tổng cho vay Tỷ lệ
nợ xấu không chỉ biểu thị việc không có khả năng trả nợ gốc và lãi của các khoản vay ngân hàng mà còn rất quan trọng trong việc đánh giá chất lượng ngân hàng các khoản vay Khi tỷ lệ nợ xấu tăng lên, chất lượng cho vay của các ngân hàng trở nên tồi tệ hơn và người gửi tiền cũng phải đối mặt với rủi ro lớn hơn (Cheng, Lee, Pham và Chen, 2016) Các nghiên cứu khác như của Laeven (1999), Dong và ctg (2014) cũng sử dụng tỷ lệ nợ xấu làm chỉ tiêu đại điện cho rủi ro tín dụng của ngân hàng Tuy nhiên, không phải ngân hàng nào cũng cung cấp đầy đủ thông tin các nhóm nợ trong Thuyết minh báo cáo tài chính Vì vậy, tỷ lệ nợ xấu được lấy từ các báo cáo công bố của ngân hàng mà không có sự tính toán lại
Biến độc lập
Sở hữu nhà nước (GOV): Tổng tỷ lệ sở hữu của nhà nước đại diện trong tổng vốn
chủ sở hữu Các nghiên cứu trước đây của Cornett và ctg (2010), Barry và ctg (2011) kết luận ngân hàng có sở hữu Nhà nước thường có tỷ lệ nợ xấu cao và hoạt động kinh doanh kém hiệu quả Do đó giả thuyết đầu tiên được đặt ra là sở hữu nhà nước tác động cùng chiều đến nợ xấu của ngân hàng
Giả thuyết H1: Sở hữu Nhà nước có ảnh hưởng cùng chiều đến rủi ro tín dụng của ngân hàng
Trang 33Sở hữu nước ngoài (FOR): tổng tỷ lệ sở hữu của cá nhân và các tổ chức nước
ngoài trong tổng vốn chủ sở hữu Nhiều nghiên cứu đã tập trung vào tác động của
sở hữu cổ đông nước ngoài đối với hành vi chấp nhận rủi ro và kết quả của họ không nhất quán Chẳng hạn, Laeven (1999) cho rằng các ngân hàng nước ngoài có rủi ro thấp hơn so với các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước, các ngân hàng thuộc
sở hữu công ty và các ngân hàng thuộc sở hữu gia đình ở thị trường châu Á Crystal, Dages và Goldberg (2002) nghiên cứu các ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài trong khu vực Mỹ La tinh giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2000 cho thấy các ngân hàng nước ngoài thường thận trọng hơn các ngân hàng trong nước về chấp nhận rủi ro: ngân hàng nước ngoài có xu hướng duy trì tỷ lệ thanh khoản lớn hơn và ít phụ thuộc vào tài chính tiền gửi; với mức nợ xấu tương đương nhau các ngân hàng nước ngoài có chi phí dự phòng rủi ro cho vay và bảo hiểm dự trữ nhằm hạn chế các khoản nợ xấu Ngược lại Yeyati và Micco (2007) sử dụng mẫu của 8 ngân hàng Mỹ Latinh giai đoạn 1993 – 2002 thấy rằng các ngân hàng nước ngoài có rủi ro cao hơn so với các ngân hàng trong nước (rủi ro được đo bằng chỉ số Z- score) nguyên nhân được cho là các ngân hàng nước ngoài có tỷ lệ đòn bẩy cao hơn và biến động lợi nhuận lớn hơn các ngân hàng trong nước Trong luận văn này, học viên kỳ vọng khi một ngân hàng có sở hữu của cổ đông nước ngoài sẽ làm giảm rủi ro tín dụng
Giả thuyết H2: Sở hữu của cổ đông nước ngoài có ảnh hưởng ngược chiều đến rủi ro tín dụng của ngân hàng
Dự phòng rủi ro tín dụng (LLR) được tính như sau:
Trang 34Giả thuyết H3: Dự phòng rủi ro tín dụng ảnh hưởng cùng chiều đến rủi ro tín dụng của ngân hàng
Tăng trưởng tín dụng (LG): là sự gia tăng giá trị khoản cho vay qua các năm được
tính theo công thức dưới đây:
LG = Dư nợ cho vayt -Dư nợ cho vayt-1
Dư nợ cho vayt-1 (3.2)
Để tăng trưởng cho vay ngân hàng thường giảm lãi suất cho vay hoặc nới lỏng các điều kiện cấp tín dụng: mục đích vay vốn, đánh giá khả năng trả nợ, tài sản bảo đảm, lịch sử tín dụng… của khách hàng Các khoản vay có chất lượng thấp này có nguy cơ thất thoát rủi ro cao với độ trễ từ hai đến ba năm (Foos, Norden và Weber, 2010) Tại Việt Nam giai đoạn 2007 – 2011 tín dụng tăng trưởng cao dẫn đến nợ xấu tăng lên và chiếm tới 4,93% tổng dư nợ thời điểm tháng 9/2012, như vậy tăng trưởng tín dụng cao cũng là nguy cơ dẫn đến gia tăng rủi ro tín dụng
Giả thuyết H4: Tăng trưởng tín dụng ảnh hưởng cùng chiều đến rủi ro tín dụng của ngân hàng
Quy mô ngân hàng (SIZE): được đo lường bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản
(Delis và Kouretas, 2011) Việc lấy giá trị logarit ngoài việc làm giảm sự chênh lệch giữa các biến quan sát còn giúp phân phối của biến tập trung quanh giá trị trung bình (tiệm cận phân phối chuẩn) Kết quả nghiên cứu trước đây về tác động của quy mô ngân hàng đến rủi ro tín dụng là không đồng nhất Hu, Li và Chiu (2004) sử dụng mẫu nghiên cứu gồm 40 ngân hàng thương mại Đài Loan từ 1996 –
1999 lập luận rằng các ngân hàng lớn hơn có khả năng đa dạng hóa hơn và do đó
có rủi ro thấp hơn Tuy nhiên nghiên cứu của Chaibi và Ftiti (2015), Nguyễn Thị Hồng Vinh (2017) cho thấy quy mô càng lớn rủi ro càng cao Các ngân hàng có quy mô lớn tại Việt Nam thường cho các doanh nghiệp Nhà nước, các tập đoàn lớn vay và các doanh nghiệp này dễ dàng tiếp cận nguồn vốn vay hơn do được các
Trang 35ngân hàng trên nới lỏng quy trình cho vay, điều này ẩn chứa nguy cơ rủi ro tín dụng đối với các khoản vay này (Võ Thị Quý và Bùi Ngọc Toản, 2014)
Giả thuyết H5: Quy mô ngân hàng ảnh hưởng cùng chiều đến rủi to tín dụng của ngân hàng
Mức độ tập trung ngành (HHI): chỉ số Herfindahl-Hirschman (HHI) được sử
dụng để nhận biết thị trường cạnh tranh là hoàn hảo hay độc quyền cao HHI xác định bằng tổng bình phương thị phần của mỗi ngân hàng trong toàn hệ thống Công thức xác định
HHI = ∑ ( ) (3.3) Trong đó MSi là thị phần của ngân hàng i HHI trong bài luận văn được tính theo tiêu chí tổng tài sản, cách tính này tương đồng với các nghiên cứu trước đây của Ferreira (2012), Nguyễn Thị Hồng Vinh (2017) Nghiên cứu của Chang, Guerra, Lima và Tabak (2008), Nguyễn Thị Hồng Vinh (2017) đều cho kết quả mức độ tập trung ngành tác động ngược chiều đến rủi ro tín dụng
Giả thuyết H6: Mức độ tập trung ngành ảnh hưởng ngược chiều đến rủi ro tín dụng của ngân hàng
Tăng trưởng kinh tế (GDP): Tổng sản phẩm quốc nội chính là tổng giá trị thị
trường của tất cả các hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ quốc gia trong một thời kì nhất định (thường là một năm) Vì vậy khi GDP tăng trưởng nghĩa là nền sản xuất hàng hóa dịch vụ phát triển các chủ thể tham gia nền kinh tế kinh doanh có lợi nhuận, có thu nhập đồng nghĩa khả năng trả nợ vay tốt hơn Klein (2013) cho rằng tốc độ tăng trưởng GDP có tác động ngược chiều đến rủi ro tín dụng
Tốc độ tăng trưởng GDP = = GDPt - GDPt-1
GDPt-1 (3.4)
Giả thuyết H7: Tăng trưởng kinh tế ảnh hưởng ngược chiều đến rủi ro tín dụng của ngân hàng
Trang 36Lạm phát (INF): Nghiên cứu của Klein (2013), Škarica (2014) đều cho rằng rủi ro
tín dụng có quan hệ thuận chiều với lạm phát Khi lạm phát tăng, nền kinh tế suy giảm và lãi suất cho vay tăng cao ảnh hưởng lớn đến năng lực trả nợ của người đi vay dẫn đến gia tăng rủi ro tín dụng
Tỷ lệ lạm phát =CPI − CPI
CPI (3.5)
Giả thuyết H8: Lạm phát ảnh hưởng cùng chiều đến rủi ro tín dụng của ngân hàng
Bảng 3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng và dấu kỳ vọng
hiệu
Dấu kỳ vọng
Dư nợ cho vayi, t - Dư nợ cho vayi, t-1
Quy mô ngân
Trang 37Mức độ tập
trung ngành
Tổng bình phương thị phần của mỗi ngân hàng theo tiêu chí tổng tài sản HHI - Tăng trưởng
Lạm phát Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng của nền
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Để đánh giá ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu tới rủi ro tín dụng của các ngân hàng tại Việt Nam, phương pháp nghiên cứu đề tài sử dụng là phương pháp nghiên cứu định lượng, sử dụng phần mềm Stata 14 để phân tích Trên cơ sở thu thập dữ liệu, tiến hành tính toán và xử lý các biến trên phần mềm Excel, sau đó nhập dữ liệu vào phần mềm Stata 14 thực hiện thống kê mô tả Nội dung phân tích thống kê
mô tả là tóm tắt các đặc trưng của dữ liệu phản ánh một cách tổng quát số quan sát, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất Tiếp theo là phân tích tự tương quan, việc thực hiện phân tích này giúp có cái nhìn khái quát về mối quan hệ giữa các biến trong mô hình, kiểm tra mối tương quan giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc Mục đích chính là bảo đảm quan hệ đa cộng tuyến giữa các biến độc lập trước khi thực hiện hồi quy
Bước tiếp theo thực hiện hồi quy mô hình đa biến dựa trên chuỗi dữ liệu bảng Có 3 mô hình dữ liệu bảng phổ biến được phân loại dựa theo tiêu chí phương pháp ước lượng dựa trên một số giả định về hệ số hồi quy tự do còn gọi là hệ số chặn (intercept), hệ số hồi quy riêng phần (slope) và sai số ngẫu nhiên (error term) (Phạm Thị Tuyết Trinh và ctg, 2016 trang 243) bao gồm: Mô hình dữ liệu gộp Pooled (Pooled Constant Effect Model), mô hình tác động cố định FEM (Fixed Effect Model) và mô hình tác động ngẫu nhiên REM (Random Effect Model)
Trang 38Mô hình dữ liệu gộp Pooled sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu dữ liệu gộp (Pooled OLS) khá đơn giản, dựa trên giả định hệ số hồi quy tự do và hệ số tác động của các biến cố định không thay đổi theo đơn vị chéo và theo thời gian nên không có sự khác biệt giữa các đơn vị chéo Giả định này chỉ đúng khi tất cả các đơn vị chéo là đồng nhất và điều này hiếm xảy ra trong thực tế
Mô hình tác động cố định (FEM) giả định hệ số hồi quy tự do khác nhau giữa các đơn vị chéo nhưng hệ số tác động biến cố định giữa các đơn vị chéo là như nhau Mô hình này được: i) ước lượng bằng phương pháp OLS hoặc phương pháp bình phương bé nhất tổng quát (Generalised Least Squares – GLS) có trọng số sau khi chuyển dạng mô hình bình phương tối thiểu có biến giả (Least Squares Dummy Variable regression model - LSDV); ii) ước lượng bằng phương pháp OLS sau khi chuyển dạng nội bộ hoặc lấy sai phân Hai biện pháp này đều loại bỏ các giá trị hằng số (thành phần tác động cố định) trong mô hình Nếu mẫu nghiên cứu 2 giai đoạn thì sử dụng chuyển dạng nội bộ hoặc sai phân đều như nhau, nếu mẫu nghiên cứu từ 2 giai đoạn trở lên thì dựa vào các giả định về sai số để lựa chọn (Phạm Thị Tuyết Trinh và ctg, 2016)
Mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) còn được gọi là mô hình các thành phần sai số (Error components model) có hệ số tác động biến cố định giữa các đơn
vị chéo là như nhau giống FEM nhưng sai số khác nhau giữa các đơn vị chéo Mô hình này được ước lượng bằng việc sử dụng phương pháp GLS hoặc phương pháp bình phương bé nhất tổng quát ước tính hoặc khả thi (Estimated or Feasible Generalised Least Squares – EGLS/FGLS) tùy thuộc cấu trúc sai số của phức hợp biết hay không biết
Sử dụng kiểm định F-test và Hausman test để lựa chọn mô hình: Để lựa chọn
mô hình phù hợp giữa mô hình Pooled OLS và FEM sử dụng kiểm định F- test, để lựa chọn giữa hai mô hình FEM và REM kiểm định Hausman test được thực hiện Các kiểm định về khuyết tật mô hình được triển khai nhằm tăng độ tin cậy và tính phù hợp cho kết quả Cụ thể là các kiểm định về ba khuyết tật phổ biến trong
Trang 39nghiên cứu kinh tế lượng: đa cộng tuyến (multicollinearity), phương sai sai số thay đổi (heteroskedasticity), tự tương quan (autocorrelation) Hệ số VIF được sử dụng
để kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến Đối với phương sai sai số thay đổi, học viên
sử dụng kiểm định White hoặc kiểm định LM tùy từng mô hình và để kiểm tra hiện tượng tự tương quan, kiểm định Wooldridge được sử dụng
Nếu xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến, hiện tượng phương sai sai số thay đổi phương pháp ước lượng GMM hệ thống một bước (one-step System Generalized Method of Moments) được lựa chọn để kiểm định tính vững của mô hình GMM phù hợp hơn các kỹ thuật ước lượng khác trong nghiên cứu này vì cấu trúc dữ liệu bảng có số năm hạn chế (t=10) và số quan sát chéo (n=28) Hơn nữa, các biến đặc thù ngân hàng có khả năng mang tính nội sinh (Athanasoglou, Brissimis và Delis, 2008) và các biến phụ thuộc khác ngoại sinh không nghiêm ngặt, khiến các ước lượng khác như OLS, 2SLS, fixed effects không phù hợp Sử dụng kiểm định Sargan (Roodman, 2009) và kiểm định Arellano – Bond để kiểm tra tính phù hợp của các biến công cụ đưa vào mô hình
Tóm tắt Chương 3
Chương này đã trình bày phương pháp nghiên cứu bằng cách xác định mô hình nghiên cứu, mô tả dữ liệu, cách tính toán các biến trong mô hình và dấu kỳ vọng cho các biến độc lập trong mô hình Xây dựng mô hinh hồi quy để phân tích tác động của biến độc lập lên biến phụ thuộc Học viên sử dụng cả ba mô hình Pooled, REM và FEM để hồi quy mô hình đa biến với sự hỗ trợ của phần mềm Stata 14, các kiểm định để lựa chọn mô hình phù hợp cũng được tiến hành thông
qua phần mềm này
Trang 40CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Khái quát về thực trạng rủi ro tín dụng và cấu trúc sở hữu của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn nghiên cứu
4.1.1 Thực trạng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Tỷ lệ nợ xấu được coi là một trong những tiêu chí cơ bản và quan trọng để đánh giá rủi ro tín dụng Hình 4.1 biểu diễn nợ xấu của các TCTD tại Việt Nam giai đoạn nghiên cứu từ 2009 – 2018 Tính đến cuối năm 2011, nợ xấu toàn hệ thống ở mức 2,86%, tăng so với mức 2,04% của năm 2010 trong điều kiện kinh tế khó khăn, số lượng doanh nghiệp thua lỗ, phá sản ngày càng nhiều, lãi suất cho vay ở mức cao và Chính phủ thực hiện điều hành chính sách vĩ mô chặt chẽ để kiểm soát lạm phát Năm 2012 lạm phát tăng cao từ mức trên 3% tháng 1, tháng 2, tháng 3 lên mức trên 4% suốt 9 tháng còn lại năm 2012 đỉnh điểm là tháng 9 ở mức 4,93%
và giảm xuống ở mức 4,08% vào tháng 12 Trước thực trạng đó, NHNN đã đưa ra một số chính sách, biện pháp kiềm chế và xử lý nợ xấu như yêu cầu các TCTD triển khai các giải pháp tự xử lý nợ xấu; cơ cấu lại nợ để hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận được vốn vay phục vụ sản xuất; kiểm soát chặt chẽ và tiết giảm chi phí hoạt động, tích cực trích lập dự phòng và xử lý nợ xấu bằng dự phòng rủi ro; thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng và hạn chế nợ xấu phát sinh mới; đặc biệt là việc thành lập và đưa vào hoạt động Công ty VAMC giúp nợ xấu cuối năm
2013 giảm 1,62% so với cuối năm 2012 ở mức 3,61% Việc áp dụng Thông tư số 02/2013/TT - NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân hàng Nhà nước từ ngày 01/6/2014 giúp cho tỷ lệ nợ xấu được phản ánh chính xác, minh bạch hơn, theo đó tỷ lệ nợ xấu có tăng mạnh trong tháng 6/2014 (4,17%) nhưng sau đó có xu hướng giảm liên tiếp: tính đến hết tháng 12/2014, tổng nợ xấu nội bảng là 145,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 3,25% tổng dư nợ Đến hết tháng 12/2015, con số này là 2,55% đạt ngưỡng
an toàn 3% và tiếp tục giảm nhẹ xuống còn 2,46% vào cuối năm 2016 Tuy nhiên trong quá trình xử lý nợ xấu vẫn tồn tại một số vấn đề như: nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao, các khoản nợ xấu chưa được xử lý triệt để do những bất cập,