Kinh nghiệm hợp tác công tư trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng ở Singapore và bài học cho Việt Nam Bài khóa luận dài 86 trang
Trang 1KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
-*** -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
KINH NGHIỆM HỢP TÁC CÔNG TƯ TRONG LĨNH VỰC CƠ SỞ HẠ TẦNG Ở SINGAPORE VÀ BÀI HỌC
CHO VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên : Bùi Viết Sang
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH HỢP TÁC CÔNG – TƯ
TRONG LĨNH VỰC CƠ SỞ HẠ TẦNG 5
1.1 Khái niệm, đặc điểm và các hình thức của mô hình hợp tác
công tư 5 1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của mô hình hợp tác công tư 5 1.1.2 Các lĩnh vực có thể áp dụng mô hình hợp tác công tư 8 1.1.3 Các hình thức kết hợp nhà nước tư nhân trong mô hình
hợp tác công tư 9
1.2 Cơ sở hạ tầng và vai trò của nó trong công cuộc phát triển kinh
tế - xã hội 17 1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của cơ sở hạ tầng 17 1.2.2 Vai trò của cơ sở hạ tầng trong công cuộc phát triển kinh
tế - xã hội 18
1.3 Sự cần thiết áp dụng mô hình hợp tác công tư trong lĩnh vực cơ
sở hạ tầng 19 1.3.1 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và hiệu quả cung cấp các
dịch vụ cơ sở hạ tầng 19 1.3.2 Bổ sung tài chính cho các dự án cơ sở hạ tầng 20 1.3.3 Chuyển gánh nặng thanh toán từ người chịu thuế sang
người tiêu dùng 22
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công của một dự án hợp
tác công tư trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng 23 1.4.1 Các yếu tố ngoại sinh 24 1.4.2 Các yếu tố nội sinh 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG MÔ HÌNH HỢP TÁC
CÔNG TƯ VÀO LĨNH VỰC CƠ SỞ HẠ TẦNG TẠI SINGAPORE 28
Trang 3hạ tầng tại Singapore 28
2.1.1 Môi trường kinh tế xã hội Singapore 28
2.1.2 Môi trường pháp lý của Singapore 32
2.2 Tổng quan về việc áp dụng mô hình hợp tác công tư tại trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng tại Singapore 34
2.2.1 Chính sách chung của Singapore về việc áp dụng mô hình hợp tác công tư trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng 34
2.2.2 Các quy định chung về hợp đồng hợp tác công tư của Singapore 35
2.2.3 Tổng quan về các dự án PPP trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng tại Singapore 40
2.3 Một số dự án áp dụng mô hình hợp tác công tư vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng tại Singapore 41
2.3.1 Các dự án nhà máy nước ngọt 41
2.3.2 Dự án mở rộng học viện giáo dục công nghệ (ITE) 48
2.4 Bài học từ kinh nghiệm của Singapore trong việc áp dụng mô hình hợp tác công tư trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng 50
2.4.1 Tăng cường lợi thế cạnh tranh quốc gia 50
2.4.2 Khung pháp lý PPP hoàn thiện 51
2.4.3 Xây dựng cơ quan quản lý PPP độc lập 51
2.4.4 Vai trò giám sát của khu vực công cộng 52
CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆC ÁP DỤNG MÔ HÌNH HỢP TÁC CÔNG TƯ TRONG LĨNH VỰC CƠ SỞ HẠ TẦNG TẠI VIỆT NAM 53
3.1 Sự tương đồng và khác biệt trong môi trường kinh tế, xã hội và pháp lý giữa Việt Nam và Singapore trong việc áp dụng PPP vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng 53
Trang 43.1.2 Môi trường pháp lý 55
3.2 Thực trạng áp dụng mô hình hợp tác công tư trong lĩnh vực cơ
sở hạ tầng tại Việt Nam 56 3.2.1 Nhu cầu cần áp dụng mô hình hợp tác công tư vào phát
triển kinh tế cơ sở hạ tầng ở Việt Nam 56 3.2.2 Quy định pháp lý của Việt Nam về việc áp dụng PPP vào
lĩnh vực cơ sở hạ tầng 58 3.2.3 Thực trạng triển khai mô hình hợp tác công tư tại Việt
Nam 63
3.3 Các giải pháp phát triển mô hình hợp tác công tư ở Việt Nam
dựa trên kinh nghiệm của Singaproe 67 3.3.1 Xây dựng cơ quan giám sát quản lý PPP độc lập 67 3.3.2 Hoàn thiện khung pháp lý cho áp dụng PPP vào lĩnh vực
cơ sở hạ tầng 69 3.3.3 Cải thiện môi trường đầu tư - nâng cao tính minh bạch
cho thị trường 72
KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 5Chữ viết tắt Tên tiếng Anh Tên Tiếng Việt
ADB Asian Development Bank Ngân hàng phát triển Châu Á BOO Build- Own- Operate Xây dựng- Sở hữu- Vận hành BOT Build- Operate- Transfer Xây dựng- Vận hành- Chuyển
giao
BT Build- Transfer Xây dựng- Chuyển giao
BTO Build- Transfer- Operate Xây dựng- Chuyển giao- Vận
hành DBFO Design- Build- Finance- Operate Thiết kế- Xây dựng- Tài trợ- Vận
hành DBO Design- Build- Operate Thiết kế- Xây dựng- Vận hành DOSS Department of Statistics
Singapore
Cục thống kê Singapore
EDB Economic development board Hội đồng phát triển kinh tế FDI Foreign direct investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài ICT Information and communication
MOF Ministry of Finance Bộ tài chính (Singapore)
ODA Official Development Assitance Hỗ trợ phát triển chính thức PPP Public Private Partnership Hợp tác công tư
PUB Public Utilities Board Ủy ban tiện ích công cộng
WB World Bank Ngân hàng thế giới
của Singapore)
Trang 6Hình 1.1: Tỉ lệ các dự án theo các hình thức hợp tác công tư tại châu Á
năm 2002 9
Hình 1.2: Cơ cấu của một hợp đồng quản lý 12
Hình 1.3: Cơ cấu của một hợp đồng cho thuê 13
Hình 1.4: Cơ cấu của một hợp đồng nhượng quyền 14
Hình 1.5: Cơ cầu của một hợp đồng BOT 15
Hình 1.6: Cơ cấu của một hợp đồng liên doanh 17
Hình 1.7: So sánh việc mua sắm theo cách truyền thống và theo phương thức PPP 22
Hình 1.8: Sơ đồ các dòng vốn đầu tư cơ sở hạ tầng 23
Hình 2.1: GDP của Singapore trước năm 2004 29
Hình 2.2: Tỉ lệ nợ công của Singapore trước năm 2004 (tính theo %GDP) 30
Hình 2.3: Cơ chế hợp tác giữa các bên trong một hợp đồng PPP thông thường tại Singapore 38
Hình 2.4: Cơ cấu chung của một nhóm giám sát quản lý PPP 39
Hình 2.5: Cơ chế hợp tác giữa các bên của nhà máy nước SingSpring 45
Hình 3.1: Số lượng dự án PPP và tổng vốn đầu tư và tổng vốn đầu tư từ 2001 – 2010 tại Việt Nam 65
Hình 3.2: Cơ cấu của một cơ quan quản lý giám sát dự án PPP 68
Trang 7Bảng 1.1: Đặc trưng của các lĩnh vực có thể áp dụng mô hình hợp tác
công tư 8 Bảng 1.2: So sánh các hình thức kết hợp nhà nước tư nhân 10 Bảng 1.3: Các hình thức BOT căn bản 16 Bảng 2.1: Tổng hợp các dự án PPP trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng tại
Singapore 40 Bảng 3.1: Vốn chi xây dựng cơ bản trong tổng chi ngân sách giai đoạn
2001-2009 54 Bảng 3.2: Nhu cầu đầu tư của Việt Nam vào cơ sở hạ tầng giao thông từ
2011-2020 58 Bảng 3.3: Số lượng dự án PPP và tổng vốn đầu tư phân theo lĩnh vực và
hình thức tại Việt Nam 63 Bảng 3.4: Số lượng dự án PPP và tổng vốn đầu tư theo phân ngành tại
Việt Nam 64
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cơ sở hạ tầng đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội Sự phát triển của hạ tầng giúp nâng cao mức sống cho xã hội thông qua việc mang lại những sản phẩm dịch vụ công cộng tốt hơn, đồng thời cơ sở hạ tầng cũng hỗ trợ cho
sự tăng trưởng kinh tế và củng cố vị trí cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Trong quá trình tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Việt Nam cũng chú trọng rất nhiều đến việc xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, bằng chứng là ngân sách dành cho lĩnh vực này chiếm từ 8-9% GDP hàng năm Tuy nhiên khi nhìn vào nhu cầu tài chính, nguồn ngân sách và vốn ODA hiện có, có thể thấy rõ Việt Nam đang đối mặt với một sự thiếu hụt vốn (hay còn gọi là “khoảng cách đầu tư”) khoảng 2,5 tỉ đô la mỗi năm (ADB, 2005, tr.5) Khoảng cách này cần phải được lấp đầy bởi các nguồn lực từ khu vực tư nhân để đảm bảo được nhu cầu vốn và giữ vững được tốc độ tăng trưởng kinh tế hiện nay của Việt Nam Bên cạnh đó trình độ chuyên môn, năng lực quản lý, vận hành, khai thác, bảo trì và hệ thống cơ sở hạ tầng của khu vực này là một yếu góp phần thúc đẩy và nâng cao hiệu quả trong việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Vì vậy nhu cầu cấp thiết đặt ra là phải tìm ra một mô hình huy động được sự tham gia của khu vực tư nhân vào các lĩnh vực đầu tư, nhất
là đầu tư vào cơ sở hạ tầng
Mô hình hợp tác công tư (mô hình đối tác nhà nước tư nhân –PPP) là mô hình hợp tác giữa khu vực nhà nước và tư nhân trong việc cung cấp và phát triển các dịch
vụ công cộng (trong đó có cơ sở hạ tầng), góp phần giải quyết những vấn đề thiếu hụt vốn cũng như nâng cao hiệu quả của các dự án phát triển cơ sở hạ tầng Xuất hiện từ những năm 80 của thế kỉ XX, mô hình này ngày càng được áp dụng rộng rãi
và đã được những thành quả to lớn tại trên 50 quốc gia trên thế giới Ở Việt Nam,
mô hình PPP đã được bắt đầu nghiên cứu và đưa vào áp dụng từ năm 1994, tuy nhiên kết quả đạt được còn nhiều hạn chế Trong khi đó một số nước như Singapore, tuy mới chỉ áp dụng PPP trong vòng 7 – 10 năm trở lại đây, mặc dù vẫn còn gặp nhiều khó khăn song cũng đã thu được những kết quả đáng khích lệ Do đó ngoài việc nghiên cứu kinh nghiệm của các nước đi trước thì việc tìm hiểu kinh
Trang 9nghiệm của những nước đi sau nhưng có những thành công nhất định như Singapore cũng là một điều cần thiết đối với Việt Nam hiện nay
Xuất phát từ những lý do trên em mạnh dạn chọn đề tài: “Kinh nghiệm hợp tác công tư trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng ở Singapore và bài học cho Việt Nam”
để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực tiễn áp dụng mô hình hợp tác công tư trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng ở Singapore, từ đó đề xuất bài học kinh nghiệm cũng như những giải pháp phát triển mô hình này tại Việt Nam trong thời gian tới
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, khóa luận phải thực hiện những nhiệm
- Tổng quan việc áp dụng mô hình hợp tác công tư, nghiên cứu và phân tích một số dự án thực tế ở Singapore Trong phạm vi nghiên cứu, bài khóa luận sẽ tiến hành nghiên cứu một số dự án cơ sở hạ tầng áp dụng PPP thành công ở Singapore
- Đánh giá thực trạng việc áp dụng mô hình hợp tác công tư tại Việt Nam, so sánh những điểm tương đồng và khác biệt giữa Việt Nam và Singapore, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm, đề xuất các giải pháp phát triển mô hình hợp tác công tư tại Việt Nam trong thời gian tới
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 10Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề liên quan đến việc áp dụng
mô hình hợp tác công tư trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng tại Singapore và Việt Nam
Về mặt thời gian, các vấn đề nghiên cứu xem xét trong khoảng thời gian từ
2001 đến 2010, từ đó đưa ra những giải pháp cho thời gian tới
5 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp nghiên cứu là duy vật biện chứng và duy vật lịch sử cùng với các các phương pháp nghiên cứu tổng hợp: phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp diễn giải, khái quát để rút ra nhận định, đánh giá và kết luận
Trang 11nói riêng đã cung cấp những kiến thức bổ ích cho chúng em suốt bốn năm qua Đặc biệt em xin trân trọng cảm ơn TS Nguyễn Thị Việt Hoa đã tận tình hướng dẫn, giúp
em hoàn thành khóa luận này
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2012
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH HỢP TÁC CÔNG – TƯ
TRONG LĨNH VỰC CƠ SỞ HẠ TẦNG 1.1 Khái niệm, đặc điểm và các hình thức của mô hình hợp tác công tư
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của mô hình hợp tác công tư
Hiện nay, trên thế giới chưa có một định nghĩa thống nhất về thuật ngữ “hợp tác công tư” (PPP) Mỗi mỗi quốc gia, mỗi tổ chức quốc tế đều có một cách hiểu riêng phù hợp với quá trình áp dụng của mình Có thể thấy hai định nghĩa sau được
sử dụng phổ biến nhất: định nghĩa hợp tác công tư của ngân hàng phát triển châu Á (ADB) và Ủy ban châu Âu
Theo quan điểm của ADB, “hợp tác công tư dùng để chỉ các quan hệ hợp tác
có thể có của khu vực nhà nước và khu vực tư nhân trên cơ sở một hợp đồng Mục
đích cao nhất của hợp tác công tư là nhắm tới sự sẵn có của nguồn lực, chất lượng, tính hiệu quả trong cung cấp dịch vụ và việc sử dụng hiệu quả, hợp lý các nguồn vốn” (ADB, 2008, tr.1)
Trong quan hệ hợp tác công tư, ADB cho rằng: PPP có sự tham gia của khu vực tư nhân nhưng vẫn thừa nhận vai trò của chính phủ trong việc đảm bảo nghĩa vụ
xã hội được đáp ứng Khái niệm của ADB nhấn mạnh PPP có sự phân chia trách nhiệm rõ ràng giữa các bên của hợp đồng sao cho tận dụng được nguồn lực và tính hiệu quả trong việc cung cấp dịch vụ và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn của hợp đồng
Khác với ADB, ủy ban châu Âu không đưa ra một định nghĩa cụ thể về thuật ngữ hợp tác công tư, thay vào đó sử dụng các đặc trưng tổng quát để định nghĩa các
dự án hợp tác công tư (Commission Of The European Communities, 2004, tr.3):
- Các mối quan hệ tương đối lâu dài giữa đối tác nhà nước và đối tác tư nhân trên tất cả các khía cạnh của một dự án đã được lập kế hoạch từ trước
- Cơ cấu vốn là sự liên kết các nguồn vốn của khu vực nhà nước và khu vực tư nhân
- Tổ chức chịu trách nhiệm vận hành tức khu vực tư nhân đóng vai trò quan trọng trong từng giai đoạn cụ thể của dự án
Trang 13- Có sự phân chia rủi ro giữa hai bên đối tác là khu vực nhà nước và khu vực
tư nhân
Ngoài ra có thể tham khảo một số định nghĩa về PPP sau:
Theo hội đồng Canada: “PPP là một liên doanh hợp tác giữa các khu vực
công cộng và tư nhân, được xây dựng trên chuyên môn của từng đối tác, đáp ứng tốt nhất nhu cầu của xã hội thông qua việc phân bổ thích hợp các nguồn lực, rủi ro
và thu nhập” (Asanga Gunawansa, 2010, tr.8)
Bộ Tài chính Singapore, trong cuốn “Cẩm nang hợp tác công tư” cũng đưa ra định nghĩa cho PPP: "PPP đề cập đến mối quan hệ hợp tác lâu dài giữa khu vực
nhà nước và tư nhân trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ công cộng Nó là một phương pháp tiếp cận mới mà chính phủ đang áp dụng để tăng cường sự tham gia của khu vực tư nhân trong việc cung cấp các dịch vụ công cộng" (MOF, 2004, tr.4)
Ủy ban Kinh tế, Bộ Tài chính Ấn Độ lại cho rằng: "Dự án Quan hệ đối tác
công-tư (PPP) có nghĩa là một dự án dựa trên hợp đồng hoặc nhượng bộ thỏa thuận giữa Chính phủ hoặc tổ chức pháp lý ở một bên và một công ty tư nhân ở phía bên kia, để cung cấp một dịch vụ công cộng và được thanh toán phí sử dụng”
(Asanga Gunawansa, 2010, tr.8)
Từ các cách tiếp cận trên có thể thấy có sự khác nhau trong cách tiếp cận PPP của các quốc gia Định nghĩa của Canada tập trung vào các tổ chức trong đó có sự liên doanh hợp tác giữa khu vực công cộng và tư nhân trong đó các bên sự phân bổ các nguồn lực, rủi ro một cách thích hợp Điều này cho thấy rằng PPP được xem xét như quan hệ đối tác được thỏa thuận giữa các bên thương lượng có sự bình đẳng quyền lực Trong khi đó định nghĩa của Singapore tập trung vào PPP là một mối quan hệ lâu dài giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân, cho phép các tư nhân được tham gia với nhà nước trong việc cung cấp dịch vụ công cộng cho người dân Định nghĩa của Ấn Độ diễn giải khái niệm một cách thực tế là việc chính phủ đưa ra một nhượng bộ đối với các khu vực tư nhân trong việc phát triển một dự án công cộng và cung cấp dịch vụ trở lại cho những người thanh toán phí sử dụng Đồng thời cho thấy các dấu hiệu tham gia của khu vực công trong quan hệ đối tác công tư là do hạn chế về tài chính và thiếu khả năng quản lý hiệu quả Khu vực
Trang 14tư nhân là yếu tố cần thiết cho việc tài trợ, phát triển dự án và cung cấp trở lại các dịch vụ công cộng
Tại Việt Nam, PPP thường được hiểu là hình thức gắn liền với các mô hình đầu tư xây dựng BOT, BOO Cho đến những năm gần đây, PPP mới được nghiên cứu một cách khái quát hơn Theo quyết định 71/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công tư, thì hợp tác công tư được hiểu:
- Là việc nhà nước và nhà đầu tư cùng phối hợp thực hiện dự án kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công trên cơ sở hợp đồng dự án
- Hợp đồng dự án quy định mục đích, phạm vi, nội dung dự án; quyền và nghĩa vụ các bên trong việc thiết kế, xây dựng, kinh doanh, quản lý công trình
dự án.
Mặc dù các cách tiếp cận của Việt Nam so với của các tổ chức và quốc gia khác có sự khác nhau, song có thể chỉ rõ các các đặc trưng cơ bản của mối quan hệ hợp tác nhà nước tư nhân này như sau:
Thứ nhất, các dự án PPP cho phép sự tham gia của khu vực tư nhân vào việc cung cấp các dịch vụ công cộng Tùy theo từng mức độ tham gia của khu vực tư nhân và sự can thiệp của khu vực nhà nước, lại có những mô hình PPP khác nhau Thứ hai, có sự phân chia rõ ràng về trách nhiệm rủi ro, nghĩa vụ tài chính và các khoản thu nhập trong một dự án PPP Một hợp đồng PPP quy định cụ thể kết quả đầu ra, dịch vụ yêu cầu, quy định công ty hay tập đoàn nào sẽ phụ trách vấn đề tài chính, thiết kế, xây dựng vận hành và duy trì dự án sau khi hoàn thành
Thứ ba, các hợp đồng PPP thường là dài hạn, trong khoảng từ 10-30 năm Không giống với lĩnh vực mua sắm truyền thống, khu vực nhà nước sẽ không sở hữu các cơ sở này trong khoảng thời gian này Tuy nhiên, khu vực nhà nước có thể tiếp tục cung cấp các dịch vụ cốt lõi truyền thống gắn với công trình (như giảng dạy trong các trường học và các dịch vụ y tế trong bệnh viện) trong khi nhà thầu tư nhân
có thể cung cấp các dịch vụ phụ trợ để hỗ trợ cơ sở hạ tầng Điều này thường xảy ra
Trang 15sau khi hết thời gian hợp đồng và cơ sở hạ tầng được trả quyền sở hữu về cho khu vực nhà nước
Thứ tư, không giống như trong các dự án thông thường, trong một dự án PPP, nhà thầu tư nhân chỉ thu hồi khoản đầu tư thông qua thu nhập thu được của hoạt động cung cấp dịch vụ sau này, hoặc khu vực nhà nước có thể bồi thường cho nhà thầu tư nhân với các khoản thanh toán dịch vụ, hoặc quyền hạn được trực tiếp thu lệ phí đối với người sử dụng các dịch vụ này, hoặc kết hợp tất cả các phương thức trên
Thứ năm, cơ chế thanh toán PPP thường cung cấp cho chính phủ một quyền khấu trừ các khoản thanh toán nếu chất lượng dịch vụ được cung cấp bởi nhà thầu
tư nhân là thấp hơn so với thoả thuận Chính phủ cũng có quyền bảo lưu quyền tham gia và giành lại quyền kiểm soát tài sản của dự án, trong trường hợp việc cung cấp dịch vụ chất lượng thấp của nhà điều hành tư nhân lặp đi lặp lại
1.1.2 Các lĩnh vực có thể áp dụng mô hình hợp tác công tư
Với mục đích nâng cao hiệu quả của các dịch vụ công cộng trên cơ sở chuyển giao trách nhiệm và rủi ro cho khu vực tư nhân, mô hình hợp tác công tư có phạm vi
áp dụng rất rộng rãi
Bảng 1.1: Đặc trưng của các lĩnh vực có thể áp dụng mô hình hợp tác công tư
Nguồn: ADB, 2005, tr.24 Bảng 1.1 trên đưa ra hai đặc trưng cơ bản nhằm xem xét một dự án hay một lĩnh vực cụ thể có thể được phát triển bằng nguồn lực của khu vực nào Theo đó tất
Trang 16cả các lĩnh vực đạt được hiệu quả thương mại nếu có sự hỗ trợ của chính phủ thì có thể áp dụng mô hình hợp tác công tư
Trên thực tế, từ các nước đi đầu trong việc phát triển quan hệ hợp tác công tư như Anh, Canada, Úc, Pháp cho đến những nước mới tham gia nghiên cứu thí điểm hoặc mới áp dụng trong 10 năm trở lại đây như Trung Quốc, Philippin, Singapore
mô hình đầu tư này cũng đã được triển khai rộng rãi trong rất nhiều lĩnh vực: Khai thác, cung cấp năng lượng; Nước sạch, vệ sinh; Xử lý rách thải; Truyền thông; Bệnh viện; Trường học và trang thiết bị giảng dạy; Quốc phòng, Nhà tù; Nhà ở; Đường giao thông; Hệ thống công nghệ thông tin; Cơ sở hạ tầng cho thể dục thể thao…
1.1.3 Các hình thức kết hợp nhà nước tư nhân trong mô hình hợp tác công tư
Tùy theo sự điều tiết của nhà nước và mức độ tham gia của khu vực tư nhân hay sự chia sẻ trách nhiệm và mức độ rủi ro giữa các bên lại có các hình thức kết hợp nhà nước tư nhân khác nhau Có 6 hình thức chủ yếu là: hợp đồng dịch vụ; BOT và các hình thức tương đương; hợp đồng quản lý; thuê; nhượng quyền; liên doanh
Hình 1.1: Tỉ lệ các dự án theo các hình thức hợp tác công tư tại châu Á năm 2002
(Nguồn: ADB, 2008, tr.29)
Trang 181.1.3.1 Hợp đồng dịch vụ
Trong một hợp đồng dịch vụ khu vực nhà nước thuê một công ty hay một chủ
tư nhân thực hiện một hoặc một vài công việc trong quá trình cung cấp các dịch vụ nhất định trong một khoảng thời gian cụ thể thường từ một đến ba năm Khu vực nhà nước vẫn đóng vai trò là nhà cung cấp chính các dịch vụ công cộng đó và chỉ một phần nhỏ trong quá trình cung cấp dịch vụ được giao lại cho đối tác tư nhân đảm nhiệm Khu vực tư nhân phải thực hiện các công việc được giao theo đúng yêu cầu đã thỏa thuận trong hợp đồng và phải đạt được các tiêu chuẩn nhất định do bên đối tác nhà nước đặt ra Thông thường, chính phủ tổ chức đấu thầu các hợp đồng dịch vụ Cho đến nay hình thức đấu thầu vẫn được áp dụng nhiều nhất và tỏ ra phù hợp nhất với các hợp đồng dịch vụ bởi hình thức hợp đồng hợp tác công tư này có thời hạn và phạm vi khá hẹp
Theo hợp đồng dịch vụ, khu vực nhà nước sẽ trả trước cho khu vực tư nhân một khoản tiền nhất định Vì thế, doanh thu của khu vực tư nhân sẽ tăng lên nếu họ cắt giảm được các chi phí vận hành trong khi vẫn đảm bảo đạt được các tiêu chuẩn
đã đặt ra Với dạng hợp tác công tư này, bên đối tác nhà nước sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm cung cấp bất kì nguồn vốn đầu tư nào cần thiết cho việc mở rộng hay nâng cao hệ thống cung cấp dịch vụ
1.1.3.2 Hợp đồng quản lý
Một hợp đồng quản lý mở rộng phạm vi công việc cho khu vực tư nhân, theo
đó bên đối tác tư nhân có thể sẽ chịu một phần hay toàn bộ trách nhiệm quản lý và vận hành các dịch vụ công cộng (bệnh viện, cảng biển…) Mặc dù trách nhiệm cuối cùng đối với việc quản lý và vận hành các tài sản hoạt động vẫn thuộc về khu vực nhà nước song trách nhiệm kiểm tra giám sát thường xuyên được giao cho đối tác tư nhân Trong hầu hết các hợp đồng quản lý, khu vực tư nhân sẽ chịu vốn lưu động nhưng không cấp vốn đầu tư cho việc mở rộng hay nâng cấp các công trình liên quan
Nhà đầu tư được trả trước một khoản phí nhất định để chi cho tiền lương công nhân cùng với các chi phí vận hành ước tính Để tạo động lực thúc đẩy cải tiến nâng cao hiệu suất, hợp đồng quản lý cũng thường quy định một khoản thanh toán khác
Trang 19cho các nhà thầu nếu họ đạt được các mục tiêu đã được đặt ra Các nhà thầu quản lý cũng có thể nhận được một tỉ lệ nhất định từ lợi nhuận thu được Khu vực nhà nước vẫn chịu trách nhiệm toàn bộ đối với các khoản đầu tư lớn, đặc biệt là đầu tư mở rộng hoặc nâng cao đáng kể hiệu suất của toàn bộ hệ thống Trong hợp đồng, có thể quy đinh một số hoạt động cụ thể riêng biệt sẽ do khu vực tư nhân cấp tài chính Khu vực tư nhân tương tác với khách hàng nhưng trách nhiệm xây dựng các biểu giá phí dịch vụ vẫn thuộc về khu vực nhà nước Tuy nhiên đối với khu vực tư nhân, các hợp đồng quản lý thường góp phần nâng cao hoàn thiện hệ thống tài chính và quản lý của các công ty
Hình 1.2: Cơ cấu của một hợp đồng quản lý
(Nguồn: ADB, 2008, tr.31)
1.1.3.3 Hợp đồng cho thuê
Trong một hợp đồng cho thuê, bên đối tác tư nhân hoàn toàn chịu trách nhiệm đối với dịch vụ trong hợp đồng và đảm nhận mọi công việc liên quan đến chất lượng và tiêu chuẩn dịch vụ Ngoại trừ các khoản đầu tư mới và thay thế - vẫn thuộc quyền hạn của khu vực nhà nước, các nhà vận hành tư nhân cung cấp dịch vụ từ đầu đến cuối với rủi ro và chi phí do họ gánh chịu Trách nhiệm cung cấp dịch vụ được
Trang 20chuyển giao từ khu vực nhà nước sang khu vực tư nhân Do đó, toàn bộ các rủi ro, chi phí tài chính trong quá trình vận hành và bảo dưỡng dịch vụ do khu vực tư nhân chi trả Đặc biệt, các nhà thầu tư nhân phải tự chịu thua lỗ hoặc các khoản nợ của khách hàng không thu hồi được Tuy nhiên cần lưu ý rằng các hợp đồng cho thuê không đồng nghĩa với việc bán các trang thiết bị cơ sở hạ tầng cho khu vực tư nhân Theo hình thức này, tổng chi phí ban đầu xây dưng các hệ thống trang thiết bị cung ứng dịch vụ do nhà nước chịu và sau đó tài sản được giao lại cho khu vực tư nhân vận hành và bảo dưỡng Một phần lệ phí thu từ dịch vụ được chuyển cho khu vực tư nhân để mở rộng hệ thống
Hình 1.3: Cơ cấu của một hợp đồng cho thuê
(Nguồn: ADB, 2008, tr.33)
1.1.3.4 Hợp đồng nhượng quyền
Một hợp đồng nhượng quyền cho phép các nhà đầu tư đảm nhiệm toàn bộ quá trình cung ứng dịch vụ trong một lĩnh vực cụ thể, bao gồm vận hành, bảo dưỡng, thu phí, quản lý và xây dựng, nâng cấp hệ thống Đặc trưng quan trọng của hình thức này là các nhà thầu tư nhân chịu trách nhiệm mọi khoản vốn đầu tư Khu vực nhà nước có nghĩa vụ xây dựng các tiêu chuẩn hoạt động cho khu vực tư nhân và
Công ty sở hữu tài sản
Đơn vị đi thuê
Trang 21thực hiện giám sát để bảo các nhà thầu đạt được tiêu chuẩn đó Như vậy, với các hình thức nhượng quyền, vai trò khu vực nhà nước đã chuyển từ cung cấp dịch vụ sang quản lý điều tiết giá cả và chất lượng dịch vụ
Bên đối tác tư nhân – người được nhượng quyền – trực tiếp thu phí từ những ngưởi sử dụng các mạng lưới dịch vụ do họ cung cấp Mức phí dịch vụ thường được quy định trong các hợp đồng nhượng quyền Trong một số trường hợp các hợp đồng còn quy định các điều kiện cho phép các bên đối tác thay đổi mức phí Về cơ bản, bên đối tác tư nhân sẽ chịu mọi khoản đầu tư vốn cần thiết để xây dựng, nâng cấp
và mở rộng hệ thống cung cấp dịch vụ thông qua các nguồn lực do họ sở hữu và qua
số phí thu được từ người sử dụng dịch vụ Bên đối tác tư nhân cũng đồng thời chịu trách nhiệm về vốn lưu động Một hợp đồng nhượng quyền thường có thời hạn từ
25 – 30 năm do đó nhà đầu tư tư nhân hoàn toàn có đủ thời gian cần thiết để hoàn vốn và thu về một khoản lợi nhuận tương xứng Khu vực nhà nước đôi khi cũng hỗ trợ tài chính cho các khoản chi phí vốn của bên được nhượng quyền nếu cần, ví dụ can thiệp để các nhà thầu tư nhân được hưởng mức lãi suất vay vốn thấp hơn Đây cũng là một hình thức trợ cấp đầu tư của chính phủ nhằm góp phần gia tăng tính khả thi của hợp đồng nhượng quyền Đổi lại, các khoản đóng góp của khu vực nhà nước
sẽ được trả lại dưới hình thức chia sẻ một tỉ lệ nhất định tổng số phí sử dụng dịch vụ
mà bên tư nhân thu được
Hình 1.4: Cơ cấu của một hợp đồng nhượng quyền
Công ty sở hữu tài sản
Đơn vị đi thuê
Tổ chức tín dụng
Cổ đông
Trang 221.1.3.5 Xây dựng- Vận hành- Chuyển giao (BOT) và các hình thức tương đương
BOT và các hình thức tương đương là một dạng hợp đồng nhượng quyền đặc biệt trong đó có một công ty hoặc một liên minh tư nhân đầu tư xây dựng một dự án
cơ sở hạ tầng trên cơ sở các tiêu chuẩn do nhà nước đề ra
Hình 1.5: Cơ cầu của một hợp đồng BOT
(Nguồn: ADB, 2008, tr.37) Thông thường khu vực nhà nước cam kết mua khối lượng sản phẩm tối thiểu được tạo ra từ các cơ sở hạ tầng đó, đủ để bù đắp chi phí ban đầu cho khu vực tư nhân trong thời gian vận hành dự án Bất cập phát sinh khi khu vực nhà nước đánh giá quá cao nhu cầu thực tế và do đó bỏ tiền ra mua khối lượng sản phẩm dịch vụ trong khi trên thị trường không có cầu tương ứng Để giải quyết vấn đề này nhà cung cấp dịch vụ công cộng của khu vực nhà nước có thể phân tách khoản tiền trả cho nhà đầu tư tư nhân ra thành 2 dạng phí: phí năng suất (một khoản phí cụ thể tùy chất lượng của hệ thống cơ sở hạ tầng) và phí tiêu dùng (phụ thuộc vào mức độ tiêu dùng của cộng đồng) Cách phân tách phí dịch vụ như vậy giúp chia sẻ rủi ro nhu cầu giữa hai bên đối tác Khi kết thúc hợp đồng, khu vực nhà nước sẽ mặc định dành lại quyền sở hữu Tuy nhiên, nhà nước có thể lựa chọn tiếp tục chuyển giao trách nhiệm vận hành cho nhà đầu tư bằng cách gia hạn hợp đồng với nhà đầu tư cũ hoặc kí hợp đồng với nhà đầu tư mới
Trang 23Bảng 1.3: Các hình thức BOT căn bản
(Nguồn: ADB, 2008, tr.38)
Sự khác biệt giữa một hợp đồng BOT và một hợp đồng nhượng quyền là ở chỗ hợp đồng nhượng quyền liên quan đến việc mở rộng và vận hành các hệ thống đã có sẵn trong khi đó BOT thường là các dự án đầu tư mới đòi hỏi có nguồn vốn khổng
lồ Tuy nhiên trên thực tế ở nhiều nước, ranh giới phân biệt hợp đồng nhượng quyền
và hợp đồng dạng BOT không phải lúc nào cũng rõ ràng Có nhiều trường hợp hợp đồng nhượng quyền được kí kết xây dựng các hạng mục cơ sở hạ tầng quan trọng
và ngược lại đôi khi hợp đồng BOT được dùng cho dự án mở rộng các hệ thống sẵn
có
1.1.3.6 Liên doanh
Liên doanh là hình thức thay thế cho tư nhân hóa hoàn toàn, trong đó khu vực nhà nước và khu vực tư nhân cùng sở hữu và vận hành hệ thống cơ sở hạ tầng Trong một hợp đồng liên doanh, đối tác nhà nước và đối tác tư nhân có thể thành lập một công ty mới hoặc chia sẻ sở hữu đối với một công ty hiện có thông qua việc khu vực nhà nước bán lại một tỉ lệ cổ phần nhất định cho một hoặc một vài nhà đầu
tư tư nhân Công ty liên doanh này vẫn có quyền được niêm yết trên các sàn chứng khoán Yêu cầu cốt lõi đối với hình thức nhà nước – tư nhân này là phải có khả năng quản trị tốt, đảm bảo được tính độc lập trong hoạt động của công ty liên doanh
và bảo dưỡng
Trách nhiệm tài chính Thiết kế - Đầu tư-
Tư nhân theo hợp đồng chi phí
Tư nhân theo hợp đồng nhượng quyền
Tư nhân theo hợp đồng chi phí
Tư nhân theo hợp đồng chi phí
Tư nhân theo hợp đồng chi phí
Trang 24đối với tổ chức nhà nước tham gia vào liên doanh đó Điều này hết sức quan trọng bởi trong một hợp đồng hợp tác dưới hình thức liên doanh, nhà nước là chủ sở hữu đồng thời là người giám sát, do đó các quan chức nhà nước có thể sẽ can thiệp vào hoạt động kinh doanh của công ty để đạt được các mục tiêu chính trị
Hình 1.6: Cơ cấu của một hợp đồng liên doanh
Nguồn: (ADB, 2008, tr.42) Thông thường một hợp đồng liên doanh thường đi kèm với nhiều hợp đồng phụ khác (nhượng quyền hay các thỏa thuận cung cấp dịch vụ…)
1.2 Cơ sở hạ tầng và vai trò của nó trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội 1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng là tổ hợp các công trình vật chất kĩ thuật cần thiết cho một xã hội, một nền kinh tế có thể hoạt động (ADB – JBIC – WB, 2005, tr.1)
Cơ sở hạ tầng của một đất nước bao gồm cơ sở hạ tầng “cứng” tất cả những cơ
sở vật chất phục vụ cho sản xuất và đời sống của dân cư như các công trình giao thông vận tải, hạ tầng các khu công nghiệp, chế xuất, năng lượng, bưu chính viễn thông, cấp thoát nước, công trình bảo vệ môi trường, bệnh viện, trường học… cho đến các công trình cơ sở hạ tầng “mềm” như các dịch vụ phúc lợi xã hội, văn hóa…
Trong phạm vi bài khóa luận, tác giả chỉ đề cập đến cơ sở hạ tầng cứng
Quyền sở hữu (toàn bộ hay một phần)
Chính phủ
Chủ sở hữu tư nhân
Người tiêu dùng
Trang 25Cơ sở hạ tầng là yếu tố quan trọng có ý nghĩa nền tảng đối với sự phát triển kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển sản xuất vàà lưu thông hàng hóa, thúc đẩy sự phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế thế giới
Là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế, lĩnh vực cơ sở hạ tầng có những đặc điểm khác biệt so với các lĩnh vực khác:
- Bản thân cơ sở hạ tầng là một tập hợp các công trình xây dựng có vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài và thường thông qua các hoạt động kinh tế khác
để thu hồi vốn
- Trong cơ chế thị trường hiện nay, đồng vốn luôn vận động một cách năng động và chịu sự chi phối của lợi nhuận, nơi nào có tỉ suất lợi nhuận cao, thời gian thu hồi vốn nhanh sẽ được đầu tư nhiều và ngược lại Vì thế, lĩnh vực cơ
sở hạ tầng thường ít được các nhà đầu tư quan tâm đầu tư hơn so với các lĩnh vực khác
- Công trình cơ sở hạ tầng mang tính xã hội hóa cao, có nhiều đặc điểm của hàng hóa công cộng (Phạm Văn Vận & Vũ Cương, 2005; Donijo Robbins,
2004, tr.375 – 405)
1.2.2 Vai trò của cơ sở hạ tầng trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội
Về mặt kinh tế, cơ sở hạ tầng thúc đẩy và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế Thông qua các dịch vụ mà nó cung cấp, cơ sở hạ tầng trở thành đầu vào cho quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa Một cơ sở hạ tầng có chất lượng làm giảm các chi phí cho người sản xuất và nâng cao năng suất lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phổ biến và cải thiện công nghệ (Douglas H Brooks and Eugenia C Go, 2011, tr.4)
Cơ sở hạ tầng kết nối thị trường, giúp việc lưu thông hàng hóa trở nên dễ dàng, tăng khả năng tiếp cận hàng hóa của người tiêu dùng Ngoài ra chất lượng của cơ sở hạ tầng cũng phản ánh sự phát triển của một vùng, một quốc gia, góp phần cải thiện đầu tư trong và ngoài nước - một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến tăng trưởng quốc gia (ADB – JBIC – WB, 2005, tr.3)
Trang 26Về mặt xã hội, cơ sở hạ tầng kết nối các vùng miền của một đất nước, tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu văn hóa, ổn định đời sống vật chất và tinh thần cho xã hội
1.3 Sự cần thiết áp dụng mô hình hợp tác công tư trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng
Các chương trình hợp tác nhà nước tư nhân nếu được thiết kế và tiến hành tốt
có thể góp phần đáng kể làm gia tăng phúc lợi cho toàn xã hội Nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng phúc lợi xã hội như vậy là bởi khi có sự tham gia của khu vực
tư nhân, nguồn vốn đầu tư tăng lên tạo điều kiện cung cấp dịch vụ đến với các khách hàng mới, làm gia tăng quy mô hoạt động, cắt giảm chi phí Từ đó cho phép giảm giá thành các dịch vụ và khuyến khích cải thiện năng suất Cụ thể, bàn lợi ích
mà việc áp dụng mô hình này đem lại có thể khái quát ở ba khía cạnh cơ bản sau:
- Nâng cao hiệu quả cung cấp các dịch vụ công cộng
- Bổ sung tài chính cho các dự án cơ sở hạ tầng
- Chuyển gánh nặng tài chính từ người thanh toán sang người tiêu dùng
1.3.1 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và hiệu quả cung cấp các dịch vụ cơ sở
hạ tầng
Sự tham gia của khu vực tư nhân vào việc cung cấp các dịch vụ cơ sở hạ tầng mang lại hàng loạt lợi ích, trước hết nó mở rộng phạm vi cung cấp dịch Khu vực tư nhân với khả năng quản lý và trình độ kĩ thuật, kết hợp với các chính sách giá cả - lệ phí ổn định và nguồn tài chính vững mạnh hơn, thường có lợi thế trong việc mở rộng đầu tư ra diện rộng và không phải chịu những áp lực căng thẳng về tài chính như khu vực nhà nước Trong nhiều dự án, nguồn thu lớn nhất cho khu vực tư nhân trong các dự án hợp tác nhà nước tư nhân có được là thông qua việc mở rộng quy
mô đầu tư đáp ứng nhu cầu không ngừng gia tăng hoặc để đến được với những đối tượng khách hàng trước nay không được khu vực nhà nước chú ý đến Chẳng hạn các chương trình hợp tác công tư tại các nước đang và kém phát triển tại châu Phi
đã làm gia tăng số người được sử dụng nước sạch và các dịch vụ vệ sinh năm 2001
ở các nước này tăng vọt, hầu hết đều đạt 10 – 15%, trong đó Mali lên tới 33% Các hợp đồng nhượng quyền này còn góp phần đưa nước sạch tới các vùng nông thôn,
Trang 27vùng sâu vùng xa, nơi mà chính phủ các nước châu Phi chưa thể vươn tới trong điều kiện phát triển kinh tế của nước mình (V.Foster & O.Irusta, 2001).
Bên cạnh đó trình độ quản lý, sự sáng tạo cũng như mục tiêu lợi nhuận của khu vực tư nhân cũng là một lợi thế mang lại hiệu quả cho một dự án dịch vụ cơ sở
hạ tầng Có thể thấy rõ sự yếu kém về khả năng quản lý của nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước và xu hướng thường sử dụng các doanh nghiệp này vào các mục tiêu phi thương mại là nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng nhiều công ty nhà nước cung cấp các dịch vụ công cộng có quá nhiều viên chức, cơ cấu tổ chức lộn xộn, kém hiệu quả và do đó dẫn đến những tệ nạn tham nhũng, cửa quyền, làm sai lệch mục đích ban đầu của nhà nước và gây hao hụt nguồn thu quốc gia Kết quả
là trong khi người dân không được sử dụng dịch vụ cơ sở hạ tầng tốt nhất thì nhà nước lại phải chịu những khoản thâm hụt khổng lồ do phải chi trả việc cung cấp dịch vụ công cộng đó Chẳng hạn, tại các thành phố của Argentina, Peru và Chile, việc nhượng quyền quản lý một số nhà máy cung cấp điện của nhà nước cho tư nhân đã làm tỉ lệ thất thoát điện năng đã giảm đi đáng kể, như từ 27% xuống 7% tại Edelap (Argentina), hay 20% xuống 6% tại Chilectra (Chile); người dân cũng ít phải đối mặt với tình trạng mất điện thường xuyên như trước khi chính phủ sử dụng PPP (Antonio Estache & Martin Rodriguez – Pardina, 1998)
Hợp tác công tư hay sự tham gia của khu vực tư nhân và các lĩnh vực trước nay vẫn do khu vực nhà nước toàn quyền hành động làm tăng đáng kể hiệu quả cung cấp dịch vụ bởi nhờ có mục đích sâu xa trong từng hoạt động của khu vực tư nhân - đó chính là lợi nhuận Điều này chính là động lực và cũng là mục tiêu khiến các doanh nghiệp tư nhân phải tìm cách cắt giảm các khoản lãng phí và tối đã hóa doanh thu Sự tham gia của khu vực tư nhân sẽ làm gia tăng tính cạnh tranh trên thị trường, từ đó để giữ được uy tín và có được khách hàng, bắt buộc các nhà cung cấp dịch vụ phải làm ăn trung thực hơn Nhờ đó sẽ giảm bớt tình trạng rò rỉ, thất thoát các nguồn lực của xã hội
1.3.2 Bổ sung tài chính cho các dự án cơ sở hạ tầng
Trước đây hoạt động của các doanh nghiệp hay các cơ quan nhà nước chuyên cung cấp các dịch vụ công cộng đều trông chờ từ nguồn ngân sách nhà nước Với
Trang 28quy mô cung cấp dịch vụ trên phạm vi toàn quốc, các khoản trợ cấp này thường chiếm tỉ trọng lớn trong nguồn ngân sách quốc gia Sự tham gia của khu vực tư nhân và các chương trình này thông qua các dụ án hợp tác công tư góp phần tạo ra
và đảm bảo sự chủ động và bền vững về nguồn tài chính Chẳng hạn tại Argentina, trước khi cho phép khu vực tư nhân tham gia cung cấp các dịch vụ công cộng liên quan đến vận tải đường sắt, hàng năm chính phủ phải trợ cấp 1,5 tỉ USD cho Ferrocariles Arghentinos – một công ty nhà nước trong lĩnh vực vận tải đường sắt Sau khi sử dụng các hợp đồng nhượng quyền trong lĩnh vực này, khoản trợ cấp mỗi năm chỉ còn 100 triệu USD Nhờ đó chính phủ có thêm nguồn ngân sách cho các dịch vụ cơ sở hạ tầng quan trọng khác là giáo dục đào tạo và chăm sóc sức khỏe cho người dân (Hafeez Shikh, 2003)
Với phương thức mua sắm truyền thống trong các dự án cơ sở hạ tầng do nhà nước thực hiện, khu vực nhà nước phải chịu trách nhiệm thực hiện toàn bộ các công việc liên quan đến các dịch vụ cơ sở hạ tầng (xây dựng, vận hành nhà máy, quản lý, cung cấp dịch vụ, bảo dưỡng…), do đó nhà nước phải chịu một khoản phí khổng lồ Khoản chi phí này được chia thành hai giai đoạn: xây dựng và vận hành, Theo đó, trong thời gian xây dựng, các dự án này hoàn toàn phụ thuộc vào vốn cấp từ nhà nước và do đó việc phát sinh ra các khoản dự phòng chi phí phụ trội là điều không thể tránh khỏi Trong khi với hình thức hợp tác công tư, ở một số hình thức, việc xây dựng được giao cho khu vực tư nhân, khi đó áp lực giải ngân vốn cho khu vực nhà nước giảm đi đáng kể Ở giai đoạn hai với hình thức hợp tác công tư, nhà nước
sẽ dựa vào thực tế nhu cầu sử dụng của người dân để mua dịch vụ từ khu vực tư nhân hoặc căn cứ vào tình hình hoạt động, mức độ, hiệu quả cung cấp dịch vụ từ khu vực tư nhân để chi trả cho họ Như vậy rõ ràng khoản chi phí mà nhà nước bỏ
ra đã giảm bớt được sự lãng phí trong khi đảm bảo đem lại hiệu quả cao hơn
Trang 29Hình 1.7: So sánh việc mua sắm theo cách truyền thống và theo phương thức PPP
(Nguồn: PWC, 2005, tr.13) Hợp tác công tư không chỉ giảm gánh nặng đầu tư công đối với nhà nước mà thậm chí trong nhiều trường hợp ví dụ hợp tác tư nhân theo hình thức bán lại tài sản, nhượng quyền, bán cổ phần…, còn có thể đem lại nguồn thu đáng kể cho ngân sách Vẫn với ví dụ về các hợp đồng nhượng quyền trong việc cung cấp dịch vụ đường sắt ở Argentina trên, việc áp dụng các hợp đồng hợp tác công tư còn mang lại nguồn thu thuế đáng kể 10 triệu USD mỗi năm cho Argentina (Hafeez Shikh, 2003)
Như vậy lợi ích về mặt chi phí khá là rõ ràng đối với khu vực tư nhân và khu vực nhà nước trong mô hình hợp tác công tư này
1.3.3 Chuyển gánh nặng thanh toán từ người chịu thuế sang người tiêu dùng
Dù chính phủ hay nhà đầu tư tư nhân tham gia phát triển hạ tầng thì người chi trả cuối cùng vẫn là người nộp thuế hoặc người tiêu dùng Khi nguồn vốn là nguồn ngân sách nhà nước, thì người nộp thuế đã gián tiếp thông qua thuế để chi trả cho việc tiêu dùng cơ sở hạ tầng của họ Trong khi đó, với mô hình hợp tác công tư, người chi trả ban đầu là nhà thầu tư nhân, sau đó họ được hoàn trả bằng khoản thanh toán của nhà nước hoặc thu từ phí sử dụng của người tiêu dùng, do đó làm giảm gánh nặng thanh toán từ người chịu thuế sang người tiêu dùng dịch vụ cơ sở
hạ tầng (ADB, 2005, tr.8) Điều này mang nhiều lợi ích tích cực:
Chi phí Chi phí
Trang 30- Nhà nước và nhà thầu tư nhân trên cơ sở nhu cầu của người tiêu dùng, xem xét một cách hợp lý khoản đầu tư của mình sao cho có hiệu quả nhất, mang lợi lợi ích cho tất cả các bên: nhà nước không lãng phí nguồn lực do việc tính toán sai nhu cầu thực tế, nhà đầu tư tiết kiệm được chi phí, nâng cao hiệu quả quản lý, người chịu thuế giảm được gánh nặng thuế trong khi đó người tiêu dùng có những lựa chọn phù hợp cho nhu cầu của mình
- Các nguồn lực từ việc thu thuế của nhà nước có thể được dành cho các mục đích khác của chính phủ
Hình 1.8: Sơ đồ các dòng vốn đầu tư cơ sở hạ tầng
(Nguồn: ADB-JBIC-WB, 2005, tr.59-60)
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công của một dự án hợp tác công tư trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng
Một dự án hợp tác công tư là một dự án dài hạn (từ 10-30 năm) và phức tạp do
đó các dự án này chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều các yếu tố ngoại sinh như môi trường pháp lý, môi trường kinh tế xã hội của nước thực hiện dự án cũng như các yếu tố nội sinh của bản thân dự án đó như việc lựa chọn nhà đầu tư, các quy định trong hợp đồng hợp tác công tư hay vai trò giám sát của nhà nước đối với khu vực
tư nhân trong quá trình thực hiện dự án
Trang 311.4.1 Các yếu tố ngoại sinh
1.4.1.1 Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý là yếu tố đầu tiên quyết định đến việc dự án mà chính phủ kêu gọi đầu tư có hấp dẫn được các nhà đầu tư hay không Môi trường pháp lý tốt không chỉ gây ấn tượng cho các nhà đầu tư xem xét đầu tư vào một khu vực, một quốc gia mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh đáng kể cho khu vực quốc gia đó so với những địa điểm đầu tư khác Môi trường pháp lý có thể hấp dẫn được nhà đầu tư phải có đầy đủ các yếu tố sau:
Thứ nhất, các quy định về đầu tư của một nước phải thể hiện được rằng các nhà đầu tư được tạo điều kiện để tiếp cận thị trường một cách dễ dàng nhất Điều này được thể hiện ở các quy định về việc đăng kí thủ tục đầu tư, cấp phép đầu tư Thủ tục thông thoáng, thời gian làm thủ tục nhanh gọn tạo ra yếu tố tâm lý tốt và tỏ
ra hiệu quả trong việc khiến các nhà đầu tư hài lòng, thúc đẩy mong muốn đầu tư và
mở rộng kinh doanh của các nhà đầu tư
Thứ hai, các quy định hạn chế thương mại, bảo hộ ngành hàng trong nước lại
là những rào cản lớn cho việc xâm nhập thị trường của các nhà đầu tư nước ngoài
Ở một số nước, việc bảo hộ nghiêm ngặt cho các ngành trọng điểm quốc gia như năng lượng, cung cấp nước sạch khiến cho các nhà đầu tư hầu không mặn mà với những lĩnh vực này làm cho việc kêu gọi đầu tư gặp rất nhiều khó khăn Bên cạnh
đó, các nhà đầu tư cũng quan tâm đến việc mình có được bảo hộ đầu tư hay không đặc biệt là bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Một số loại hình dự án PPP bao gồm cả các vấn đề về chuyển giao công nghệ, kĩ thuật cho bên đối tác khu vực nhà nước Nếu không bảo đảm được những quyền lợi này, chắc chắn sự hấp dẫn đầu tư sẽ bị giảm
đi đáng kể
Thứ ba, chính sách ưu đãi đầu tư cũng là một điều kiện khuyến khích các nhà đầu tư tham gia vào lĩnh vực đầu tư vào cơ sở hạ tầng nhiều rủi ro này Có thể kể đến các chính sách như chính sách hỗ trợ tín dụng, giảm lãi suất cho vay, các ưu đãi
về đất đai, thuế sử dụng đất, thuế thu nhập doanh nghiệp hay được ưu tiên đầu tư vào các dự án khác mang lại lợi nhuận cao hơn
Trang 32Cuối cùng quan trọng nhất đó chính là các quy định về quan hệ hợp tác công
tư Mặc dù ADB đã đưa ra các quy tắc chung cho các nước khi xây dựng khung pháp lý cho mô hình hợp tác công tư, song đối với từng nước, tùy điều kiện cụ thể
sẽ có những quy định khác biệt phù hợp với hoàn cảnh mỗi nước Điều cần quan tâm là những quy định đó có phù hợp với các nhà đầu tư không, mức độ hướng dẫn chi tiết của các quy định này như thế nào Nhiều nhà đầu tư lo lắng rằng, các cơ chế thiếu đầy đủ và không rõ ràng sẽ làm xuất hiện nhiều vấn đề nảy sinh trong quá trình đầu tư, làm ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu mà họ đặt ra khi quyết định đầu tư
1.4.1.2 Môi trường kinh tế xã hội
Các yếu tố kinh tế xã hội có ảnh hưởng gián tiếp hoặc đôi khi là trực tiếp đến
sự thành công của một dự án hợp tác công tư Đối với một nhà đầu tư, khi tiến hành nghiên cứu đầu tư vào một dự án cụ thể ở một thị trường, các nhà đầu tư luôn quan tâm tới việc xem xét tính hấp dẫn của thị trường này
Các yếu tố kinh tế vĩ mô như GDP, tốc độ tăng trưởng, lạm phát, sự biến động của tỉ giá là các yếu tố có ảnh hưởng rất lớn tới thành công của một dự án PPP Các chỉ số GDP, tốc độ tăng trưởng cho các nhà đầu tư một cái nhìn tổng quát về dung lượng và tiềm năng của thị trường mà họ hướng tới Chỉ số lạm phát và sự biến động của tỉ giá lại có ý nghĩa đặc biệt trong việc đánh giá dự trù chi phí trong một
dự án PPP Một nước có chỉ số lạm phát quá cao, đồng tiền lại thường xuyên biến động không ổn định khó lòng có thể thu hút được nhà đầu tư bởi rủi ro đội chi phí lên cao là rất lớn, đặc biệt là đối với các dự án dài hạn như PPP
Thứ hai, đó là vấn đề về nguồn vốn, cơ cấu vốn và khả năng huy động vốn của khu vực nhà nước Rõ ràng đây là yếu tố ngoại sinh quan trọng nhất ảnh hưởng đến
sự thành công của một dự án hợp tác công tư Đa số các quốc gia, áp dụng mô hình hợp tác công tư vào các dự án cơ sở hạ tầng công cộng là vì thiếu hụt nguồn vốn đầu tư Để đáp ứng được nhu cầu đầu tư của mình, các nước đó thường đưa ra các quy định cơ cấu vốn tương đối cố định, nhằm đảm bảo khu vực nhà tư nhân sẽ cung cấp được một lượng vốn nhất định đủ bù đắp cho sự thiếu hụt của khu vực nhà nước Thay vào đó, khu vực nhà nước sẽ có những ưu đãi, hoặc quy định lỏng lẻo
Trang 33hơn đối với trách nhiệm của khu vực tư nhân Điều này có thể làm cho dự án có nguy cơ gặp những rủi ro trong quá trình đầu tư Trái lại đối với các nước có dư thừa vốn hay có khả năng huy động vốn dồi dào, áp lực về vốn thấp, họ thường hướng tới các quy định chặt chẽ hơn nhằm tăng cường hiệu quả tối đa cho một dự
án
Thứ ba, đó là các nguồn lực kinh tế bao gồm các nguồn nguyên nhiên liệu, nguồn nhân lực và nền tảng cơ sở hạ tầng Đây là nguồn cung cấp các yếu tố đầu vào cho không chỉ cho các dự án hợp tác công tư mà cho bất kì một dự án nào Nguồn nguyên nhiên liệu sẵn có, giá cả ổn định (hay lạm phát thấp) cùng với nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ đảm bảo cho nhà đầu tư có thể hoàn thành dự án một cách nhanh nhất với chi phí giá thành thấp Trong khi đó nền tảng cơ sở hạ tầng tốt (cơ sở hạ tầng cơ bản phục vụ vận chuyển hàng hóa, dịch vụ, các yếu tố công nghệ cao) đóng vai trò quan trọng trong việc mang lại hiệu quả cao cho một dự án, đặc biệt là các dự án hợp tác công tư có liên quan đến vấn đề chuyển giao công nghệ Yếu tố cuối cùng đó là sự minh bạch của thị trường Sự minh bạch thể hiện trong việc cung cấp thông tin, minh bạch trong chính sách của chính phủ Trong một hợp đồng hợp tác công tư trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, sự minh bạch càng cần thiết bởi đây là một hợp đồng có giá trị lớn, dài hạn, việc minh bạch thông tin, minh bạch quản lý đảm bảo cho các nhà thầu biết rõ về các khía cạnh của hợp đồng cũng như mục tiêu mà chính phủ đặt ra, tránh tình trạng lựa chọn nhà thầu kém chất lượng hoặc những nhà thầu có năng lực nhưng không có thông tin để tham gia
1.4.2 Các yếu tố nội sinh
1.4.2.1 Đánh giá nhu cầu thị trường
Đối với các dự án hợp tác công tư trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, việc đánh giá nhu cầu thị trường đối với dịch vụ cơ sở hạ tầng là một vấn đề vô cùng quan trọng bởi theo các kết quả này, khu vực tư nhân cũng như khu vực nhà nước sẽ có những tính toán thích hợp về mức độ đầu tư của mình Nếu các đánh giá nhu cầu thị trường không chính xác, rất có thể mang đến hậu quả là sự lãng phí nguồn lực xã hội
1.4.2.2 Chất lượng nhà đầu tư
Trang 34Các dự án hợp tác công tư trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng hướng tới việc tận dụng lợi thế của khu vực tư nhân để bổ sung vào các thiếu sót của khu vực nhà nước, do đó chất lượng của đối tác tư nhân cũng là một yếu tố ảnh hưởng tới sự thành công của một dự án hợp tác công tư
1.4.2.3 Tính chặt chẽ của hợp đồng hợp tác công tư
Tính chặt chẽ của hợp đồng hợp tác công tư là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến sự thành công của một hợp đồng Rõ ràng tất cả các nước khi áp dụng mô hình này đều đã có những quy tắc hướng dẫn cụ thể đối với từng hình thức, tuy nhiên ở mỗi nước có sự khác nhau về kinh tế, chính trị xã hội thì các quy định trong hợp đồng sẽ có những điểm khác nhau Điểm quan trọng là các quy định đó có mức
độ ràng buộc chặt chẽ trách nhiệm và quyền hạn của các bên liên quan hay không bởi điều này đảm bảo một các chính xác rằng, các bên tham gia hợp đồng sẽ tuân thủ thực hiện các điều khoản này một cách tốt nhất để đảm bảo được quyền lợi của mình
Tính chặt chẽ của hợp đồng hợp tác công tư được thể hiện trong những điểm sau:
- Phân chia rõ ràng trách nhiệm, quyền lợi và rủi ro các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng
- Có cách chế tài xử phạt nếu một bên vi phạm hợp đồng, hoặc các quy định thanh toán theo mức độ thành quả tạo ra
1.4.2.3 Quá trình quản lý giám sát hỗ trợ nhà đầu tư của khu vực nhà nước
Sự quản lý, giám sát, hỗ trợ nhà đầu tư của khu vực nhà nước là một vấn đề không thể thiếu đối với bất kì dự án đầu tư nào có sử dụng ngân sách nhà nước Đối với các dự án hợp tác công tư trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng sự quản lý, giám sát, hỗ trợ nhà đầu tư của khu vực nhà nước là nhân tố thúc đẩy nhà đầu tư tư nhân có thái
độ nghiêm túc và có trách nhiệm làm việc cẩn trọng nhằm đảm bảo hiệu quả của một dự án Việc quản lý giám sát ngăn chặn các hành vi “ăn bớt”, “tham nhũng”,
“hối lộ” hoặc có thể giải quyết ngay những vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện dự án Ngược lại sự hỗ trợ nhà đầu tư của khu vực nhà nước sẽ giúp các nhà đầu tư có thêm động cơ làm việc nhằm đạt được hiệu quả cao nhất
Trang 35CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG MÔ HÌNH HỢP TÁC
CÔNG TƯ VÀO LĨNH VỰC CƠ SỞ HẠ TẦNG TẠI SINGAPORE
2.1 Bối cảnh áp dụng mô hình hợp tác công tư trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng tại Singapore
Singapore bắt đầu áp dụng mô hình hợp tác công tư vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng vào năm 2004 Do đó, khóa luận sẽ nghiên cứu bối cảnh kinh tế - xã hội và pháp lý tại Singapore trong và trước năm 2004
2.1.1 Môi trường kinh tế xã hội Singapore
2.1.1.1 Kinh tế
Singapore là quốc gia nhỏ nhất ở Đông Nam Á, nằm ở phía nam của bán đảo Malaysia, phía nam bang Johor của Malaysia và phía bắc đảo Riau của Indonesia Kinh tế Singapore là nền kinh tế phát triển, theo đường lối kinh tế tư bản Sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế được giảm thiểu tương đối nhiều Singapore có môi trường kinh doanh mở, tham nhũng thấp, minh bạch tài chính cao, giá cả ổn định Singapore hầu như không có tài nguyên, nguyên liệu đều phải nhập
từ bên ngoài Singapore chỉ có ít than, chì, nham thạch, đất sét; không có nước ngọt; đất canh tác hẹp, chủ yếu để trồng cao su, dừa, rau và cây ăn quả, do vậy nông nghiệp không phát triển, hàng năm phải nhập lương thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu ở trong nước (1 )
Nền kinh tế Singapore chủ yếu dựa vào buôn bán và dịch vụ (chiếm 40% thu nhập quốc dân) (Cục thống kê Singapore, 2011, tr.84) Từ năm 2001 cho đến 2004, Singapore có tốc độ tăng trưởng khá thấp mặc dù các giai đoạn trước đó, Singapore
đề duy trì ở mức tăng trưởng cao như năm 1994 đạt 10%, 1995 là 8,9% (2 ) Nguyên nhân là do ảnh hưởng của khủng hoảng tiền tệ năm 1997, đồng đô la Singapore (SGD) đã bị mất giá 20% và tăng trưởng kinh tế năm 1998 giảm mạnh chỉ còn 1,3% Sau đó, ảnh hưởng của sự kiện 11 tháng 9, suy giảm của kinh tế thế giới và đại dịch SARS, kinh tế Singapore bị ảnh hưởng nặng nề: Năm 2001,
(1) http://vi.wikipedia.org/wiki/Singapore
(2) http://data.worldbank.org/country/singapore
Trang 36Singapore tăng trưởng âm (-2,2%), năm 2002 tăng trưởng đạt 3% và 2003 chỉ đạt 1,1% (3 )
Hình 2.1: GDP của Singapore trước năm 2004
110 tỉ USD, tăng khoảng 4,7% so với thời khì trước khủng hoảng tài chính năm
2007
2.1.1.2 Nguồn vốn và khả năng huy động vốn của Chính phủ
Nguồn vốn phát triển cơ sở hạ tầng của Singapore chủ yếu là nguồn vốn ngân sách và nguồn vốn FDI Một điểm đáng chú ý là khả năng huy động vốn chính phủ khá lớn Thông qua chính sách tiết kiệm bắt buộc vào quỹ dự phòng trung ương CPF ( 4 ) (triển khai từ năm 1964, trong đó mọi người lao động có thu nhập bằng lương đều phải gửi tiêt kiệm vào quỹ từ 20 – 25% thu nhập của mình), chính phủ có nguồn vốn khá dồi dào cho cho việc phát triển nhà ở và hưu trí Do đó, Singapore
(3)
http://vi.wikipedia.org/wiki/Singapore
(4) Kinh nghiệm nước ngoài về phát triển hệ thống nhà ở
http://www.proland.com.vn/home.php?act=news&sub_id=331&subnews_id=72
Trang 37thường xuyên có thặng dư ngân sách, trung bình từ 4 – 7% GDP Vì vậy, nguồn ngân sách của khá dồi dào cho các mục tiêu phát triển kinh tế, đặc biệt là phát triển
cơ sở hạ tầng
Trong giai đoạn 2001 – 2004 nhằm phục hồi nền kinh tế sau khủng hoảng chính phủ Singapore đã có những chính sách đầu tư phát triển kinh tế mạnh mẽ thông qua các gói kích cầu chi tiêu chính phủ Vì vậy, mặc dù ngân sách Singapore khá dồi dào cho những mục tiêu tăng trưởng kinh tế, phát triển hạ tầng của chính phủ, nhưng cũng giống như các nước khác, Singapore đã phải đối mặt với tỉ lệ nợ công cao, năm cao nhất là 2003 với tỉ lệ 110,5% GDP do phải sử dụng các khoản ngân sách khổng lồ cho việc phục hồi nền kinh tế Đây cũng là thực trạng chung của hầu hết các nước khi phải đối mặt với các cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính khi
mà chính phủ bắt buộc phải can thiệp mạnh vào thị trường nhằm ổn định lại nền kinh tế Hình 2.2 dưới đây cho thấy tỉ lệ nợ công của Singapore trong giai đoạn
1997 – 2004
Hình 2.2: Tỉ lệ nợ công của Singapore trước năm 2004 (tính theo %GDP)
(Nguồn: World Bank - http://data.worldbank.org/country/singapore)
Hình 2.2 cho thấy tỉ lệ nợ công của Singapore tăng vọt trong thời kì sau khủng hoảng tài chính năm 1997, từ mức khoảng 67% GDP tăng lên 110,5% GDP vào năm 2003, tăng hơn 1,6 lần so với năm 1997 Với mức tăng trưởng tỉ lệ nợ công này, Singapore có thể phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng nghiệm trọng hơn, đó
là khủng hoảng nợ công, nếu Singapore không có các giải pháp phù hợp nhằm cắt giảm chi tiêu của mình Đây có lẽ là một nguyên nhân phù hợp cho việc áp dụng mô
Trang 38hình hợp tác công tư vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng của Singapore nhằm giảm áp lực tài chính cho chính phủ nước này
2.1.1.3 Nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng
Singapore hướng tới một nền kinh tế tri thức, do đó các chính sách của chính phủ thường xuyên hướng tới việc phát triển công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao Theo báo cáo của BERI năm 2003, Singapore đứng vị trí chất lượng số 1 trong các nước phát triển với số điểm 86/100, đứng trên Thụy Sĩ (75/100), Bỉ (74/100), Đài Loan và Mĩ (72/100)
Nền tảng cơ sở hạ tầng ở Singapore cũng thuộc vào loại tốt nhất thế giới, với
hệ thống giao thông công cộng phát triển Cảng biển, hệ thống vận tải có cơ sở hạ tầng hiện đại, sử dụng công nghệ cao, đáp ứng được hầu hết các nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa, nguyên liệu Theo đánh giá của công ty tư vấn rủi ro kinh tế và chính sách Hồng Kông (PERC) năm 2002, chất lượng cơ sở hạ tầng cơ bản ở Singapore đứng số 1 thế giới, xếp trên các nước Mĩ, Hồng Kông, Úc, Hàn Quốc Mặc dù vậy, chi phí thuê cơ sở hạ tầng ở Singapore lại vào loại đắt nhất thế giới, ví
dụ tại thành phố Singapore năm 2004 giá thuê văn phòng là 53 USD/m2/tháng, cước vận tải trung bình 850 USD/ TEU (đơn vị tương đương với một container 20 feet), giá xăng dầu 1,05 USD/lít và cước thuê bao điện thoại cố định là 8 USD/tháng
2.1.1.4 Tính minh bạch của thị trường – mức độ tham nhũng của khu vực công
Đặc điểm quan trọng nổi bật, Singapore là nước có mức độ ổn định xã hội cao
và sự minh bạch trong chính sách công Việc quản lý công cộng được chính phủ Singapore thực hiện một cách công khai, các chính sách luôn có thể dự báo trước được một cách rõ ràng Rủi ro về mặt chính sách ở Singapore rất thấp
Theo đánh giá của của Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) năm 2004, Singapore đạt 9,6/10 điểm trong một cuộc đánh giá về Chỉ số nhận thức tham nhũng
(Corruption Perceptions Index – CPI) hàng năm (5 ), đứng thứ 5/135 nước tham gia
(5) http://en.wikipedia.org/wiki/Corruption_Perceptions_Index
Trang 39khảo sát Chỉ số nhận thức tham nhũng là chỉ số đánh giá về “mức độ nhận thức tham nhận thức được tồn tại trong giới công chức và chính trị gia”, theo đó điểm 10 – không có dấu hiệu tham nhũng, 0 – tham nhũng cao Mặc dù các đánh giá này chỉ mang tính chất tương đối do phụ thuộc vào nguồn thông tin được cung cấp để đánh giá, song khi so sánh với các nước khác rõ ràng có thể thấy ở Singapore, mức độ tham nhũng là rất thấp
2.1.2 Môi trường pháp lý của Singapore
Singapore có một chính sách đầu tư thông thoáng, chính phủ theo đuổi một chiến lược nhằm nâng cao Singapore thành một nền kinh tế dựa vào công nghệ, sáng kiến và tri thức, gia tăng tính toàn cầu hóa nền kinh tế để có thể cạnh tranh với cường quốc lớn trên thế giới và cả các nước sản xuất hàng giá rẻ
Nhà nước tạo nguồn động viên về tài chính, điều chỉnh luật lệ nhằm khuyến khích các hoạt động nghiên cứu và phát triển Để thực hiện chính sách rộng mở, Singapore khuyến khích các công ty đa quốc gia tiến hành các hoạt động sản xuất
và cung ứng dịch vụ, tạo điều kiện cho các chuyên gia nước ngoài đến cư trú và làm việc Singapore có mức tự do kinh tế cao, theo đánh giá của Tạp chí phố Wall và Quỹ Di Sản, chỉ số tự do kinh tế năm 2004 của Singapore 88,9/100 điểm, đứng thứ
2 trên thế giới về mức độ tự dọ kinh tế (6 )
2.1.2.1 Đăng kí đầu tư tại Singapore
Cơ chế một cửa cùng với việc đơn giản hóa các thủ tục khiến cho việc đầu tư
dễ dàng hơn vào Singapore Chỉ mất 15 phút cho việc đăng kí kinh doanh tại Singapore và được cấp phép đầu tư ngay sau đó trừ trường hợp lĩnh vực kinh doanh thuộc phạm vi hạn chế của chính phủ thì việc đăng kí – cấp phép này mất khoảng
14 ngày Việc đăng kí có thể thực hiện một cách đơn giản thông qua hệ thống mạng liên kết trực tuyến với cơ quan quản lý đăng kí và kế toán doanh nghiệp Singapore (ACRA)
Singapore không hạn chế các lĩnh vực có thể đầu tư trừ các dự án bất động sản Có thể giải thích điều này bởi Singapore là nước chỉ có diện tích khoảng 697
(6) http://www.heritage.org/index/visualize?countries=singapore%7cvietnam&src=ranking
Trang 40km2 trong khi dân số dân số khoảng hơn 5 triệu người, vì vậy Singapore tiến hành quy hoạch đất đai để phục vụ cho các mục tiêu dài hạn của mình
2.1.2.2 Các ưu đãi tài chính, ưu đãi thuế
Các chính sách ưu đãi của Singapore tương đối linh hoạt, phù hợp với từng đối tượng cụ thể Đặc biệt đối với các ngành trọng điểm hoặc các lĩnh vực mà chính phủ cần kêu gọi đầu tư, Singapore luôn có những biện pháp ưu tiên nhằm hướng nguồn vốn vào các lĩnh vực cần kích thích đầu tư Đặc biệt đối với các lĩnh vực, dự án liên quan đến việc phát triển hoặc chuyển giao công nghệ cao, chính phủ luôn có những biện pháp hỗ trợ thích đáng Ví dụ các dự án có sử dụng các công nghệ thân thiện với môi trường Chính phủ cam kết hỗ trợ 70 – 100% chi phí nghiên cứu, phát triển công nghệ cũng như việc đào tạo ứng dụng công nghệ này trong quá trình thực hiện
dự án Trong khi đó đối với các công nghệ tiết kiệm năng lượng, chính phủ cam kết
hỗ trợ 50% chi phí tối đa là 2 triệu SGD cho các dự án (7 )
Chính phủ cũng có những ưu đãi đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (có doanh thu nhỏ hơn 1 triệu SGD) với việc cung cấp các khoản vay tài trợ cho mua sắm trang thiết bị máy móc và phục vụ hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp Khoản vay trị giá không quá 100 nghìn SGD tối đa trong 4 năm với lại suất tối thiểu
là 5,75% Các khoản vay này sẽ được chính phủ trợ cấp phí bảo hiểm có thể lên tới 100% (8 )
Không chỉ hướng tới việc kích thích đầu tư, Singapore còn có các chương trình hỗ trợ cải thiện chất lượng đầu tư Chẳng hạn, chương trình cải thiện năng suất lao động, Chính phủ cam kết hỗ trợ chi phí lên đến 50% nếu các doanh nghiệp tiến hành các biện pháp tăng năng suất (mua sắm máy móc nhằm tự động hóa và cơ giới hóa sản xuất, tái sử dụng năng lượng) thậm chí lên đến 90% đối với các công ty thực hiện các chương trình đào tạo, nâng cao kĩ năng cho người lao động, đồng thời
(7) http://www.enterpriseone.gov.sg/Government%20Assistance/Grants/Technology.aspx
(8) http://www.enterpriseone.gov.sg/Government%20Assistance/Loans/Equipment%20and%20Mac hinery/gp_spring_micro.aspx