1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

9 chuyên đề “lựa chọn nội dung và phương pháp ôn luyện học sinh giỏi phần lịch sử việt nam giai đoạn 1945 – 1954”

35 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 828,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Núp dưới danh nghĩa đại diện lực lượng Đồng minh vào làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật, quân Tưởng nuôi dã tâm: tiêu diệt Đảng Cộng sản Đông Dương, phá tan Việt Minh, lật đổ Chính phủ

Trang 1

1

CHUYÊN ĐỀ HỘI THẢO KHOA HỌC TRẠI HÈ HÙNG

VƯƠNG NĂM 2020

Đề tài ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO TRONG NĂM ĐẦU SAU

CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

MÃ CHUYÊN ĐỀ: LSU_09

Trang 2

Đến với Trại hè năm 2020, nhóm giáo viên môn Lịch sử Trường THPT

Chuyên … lựa chọn xây dựng chuyên đề: “Đấu tranh ngoại giao trong những năm đầu sau Cách mạng tháng Tám năm 1945” với mong muốn nhận được sự

góp ý của các trường bạn để chuyên đề được hoàn thiện và phát huy hiệu quả hơn trong công tác ôn luyện HSG

II Mục đích của đề tài

- Đề tài nhằm tìm hiểu những chủ trương, biện pháp ngoại giao của Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa trong giai đoạn lịch sử hết sức khó khăn của nước

ta ngay sau cách mạng tháng Tám 1945 thành công Từ đó để thấy rõ tính đúng đắn, sáng tạo, khôn khéo, mưu lược của Đảng và Nhà nước ta

- Rút ra bài học cho công cuộc xây dựng vào bảo vệ đất nước hiện nay

- Dùng làm kiến thức ôn thi HSG các cấp, nhất là ôn luyện HSG Quốc gia

III Phạm vi của đề tài

- Chính sách ngoại giao của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ sau ngày 2/9/1945 đến trước ngày 19/12/1946

- Một số bài tập vận dụng trong ôn luyện thi học sinh giỏi các cấp

Trang 3

- 1945 làm vỡ đê ở 9 tỉnh Bắc Bộ, khiến 1/3 diện tích canh tác bị hư hại nặng

Sự thiệt hại do trận lụt này gây ra ước tính khoảng 2.000 triệu đồng, tương đương khoảng 3 triệu tạ gạo (theo giá lúc đó) Ba tỉnh vùng Bắc Trung Bộ là Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh cũng bị mất mùa trên khoảng một nửa diện tích Sau lụt là hạn hán kéo dài làm cho 50% diện tích ruộng đất ở Bắc Bộ không cày cấy được Các ngành kinh tế bị đình đốn nghiêm trọng Nhiều cơ sở công nghiệp chưa đi vào hoạt động Hàng vạn công nhân thất nghiệp

Riêng ngành khai mỏ than, năm 1940 có 39.500 công nhân, khai thác được 2.500.000 tấn; đến năm 1945 chỉ còn lại 4.000 công nhân với sản lượng khai thác là 231.000 tấn Việc buôn bán với nước ngoài hầu như bị đình trệ Hàng hoá trên thị trường khan hiếm Nguy cơ nạn đói mới xuất hiện trong khi hậu quả nạn đói lớn do Nhật - Pháp gây ra từ cuối năm 1944 đầu năm 1945 vẫn chưa được khắc phục Đời sống nhân dân bị đe doạ nghiêm trọng

Nền tài chính của Nhà nước cách mạng trong buổi đấu hết sức kiệt quệ Ngân sách quốc gia lúc đó chỉ có 1.230.000 đồng, trong đó quá nửa là tiền rách Các khoản thu từ thuế giảm sút

Thuế quan là một nguồn thu chính, chiếm 3/4 ngân sách Đông Dương, giờ đây sụt hẳn xuống Một số chính sách thuế mới do Chính phủ ban hành nhằm giảm nhẹ sự đóng góp của nhân dân (bãi bỏ thuế thân, thuế môn bài, thuế xe tay,

xe đạp, miễn thuế điền thổ cho những vùng bị ngập lụt và giảm 20% trong toàn

Trang 4

4

quốc ) cũng làm cho nguồn thu ngân sách giảm xuống rất nhiều Trong khi nguồn thu quá ít ỏi không thể đáp ứng được nhu cầu chi lớn thì Nhà nước lại chưa nắm được Ngân hàng Đông Dương Bên cạnh đó, khi kéo vào nước ta, quân Tưởng lại tung ra trên thị trường giấy bạc "Quan kim" và "Quốc tệ" đã mất giá trị, càng làm cho tình hình tài chính và thương mại thêm phức tạp

Cùng với khó khăn về kinh tế, tài chính, chế độ thực dân - phong kiến để lại một di sản văn hoá hết sức lạc hậu Thực dân Pháp chăm lo xây dựng nhà tù hơn là trường học Vì thế, hơn 90% dân số nước ta mù chữ Trước năm 1945, cả nước ta chỉ có 737 trường tiểu học với khoảng 623.000 học sinh, 65 trường cao đẳng tiểu học với 16.700 học sinh và chỉ có 3 trường phổ thông trung học với

652 học sinh Bên cạnh nạn thất học là các tệ nạn xã hội như cờ bạc, nghiện hút tồn tại rất phổ biến Bệnh dịch hoành hành ở nhiều nơi

Trong khi đó, chính quyền cách mạng mới ra đời, chưa có kinh nghiệm quản lí Ở một số nơi, chính quyền chưa nằm trong tay những người cách mạng Quân đội thường trực đang trong quá trình xây dựng, chưa được huấn luyện bao nhiêu Phần lớn cán bộ chỉ huy chưa có hiểu biết về quân sự và kinh nghiệm chiến đấu Trang bị vũ khí rất thô sơ và thiếu thốn, chủ yếu là giáo mác, dao găm, mã tấu, một ít súng trường, súng máy

Mặt trận dân tộc thống nhất tuy phát triển rộng rãi, nhưng chưa được củng

cố vững chắc; kẻ thù lại đang ra sức thực hiện âm mưu chia rẽ, lôi kéo Do đó, vấn đề đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo đang là những vấn đề lớn được đặt ra rất bức thiết lúc đó

Nguy cơ lớn nhất đối với Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà lúc mới thành lập là nạn ngoại xâm Ở phía Bắc vĩ tuyến 16, hơn 20 vạn quân Tưởng đã

ồ ạt kéo vào nước ta Núp dưới danh nghĩa đại diện lực lượng Đồng minh vào làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật, quân Tưởng nuôi dã tâm: tiêu diệt Đảng Cộng sản Đông Dương, phá tan Việt Minh, lật đổ Chính phủ Hồ Chí Minh và dựng lên một chính quyền tay sai Bởi vậy, khi vào nước ta, quân Tưởng kéo theo các tổ chức phản cách mạng như Việt Nam Quốc Dân đảng (Việt Quốc)

do Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh cầm đầu và Việt Nam cách mạng đồng

Trang 5

5

minh hội (Việt Cách) do Nguyễn Hải Thần cầm đầu Quân Tưởng buộc Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thực hiện chế độ trưng thu lương thực để mỗi tháng phải cung cấp cho chúng 10.000 tấn gạo, trong khi nhân dân Bắc Bộ đang phải chịu hậu quả nạn đói khủng khiếp chưa từng có trong lịch sử đất nước Dựa vào quân Tưởng, các tổ chức Việt Quốc, Việt Cách ra sức chống phá chính quyền cách mạng Chúng tiến hành nhiều hoạt động vu cáo, nói xấu Việt Minh, ngang nhiên đòi gạt các bộ trưởng là đảng viên cộng sản ra khỏi Chính phủ Chúng còn gây ra các vụ giết người, cướp của, bắt cóc cán bộ, cướp chính quyền ở một số địa phương (Yên Bái, Vĩnh Yên, Móng Cái )

Ở phía Nam vĩ tuyến 16, tình hình còn nghiêm trọng hơn.Thực dân Pháp ngày càng lộ rõ ý đồ trở lại xâm chiếm Việt Nam

Ngày 17-8-1945, Uỷ ban Quốc phòng Pháp quyết định thành lập lực lượng viễn chinh Pháp ở Viễn Đông (sau đổi là đạo quân viễn chinh Pháp ở Viễn Đông) đưa sang Đông Dương Tướng Lơclec (Leclerc) được cử làm Tổng chỉ huy lực lượng lục quân Pháp ở Viễn Đông Đô đốc Đácgiăngliơ (D' Argenlieu) được cử làm Cao uỷ kiêm Tổng Tư lệnh Hải quân Pháp ở Viễn Đông Uỷ ban hành động giải phóng Đông Dương được cải tổ thành Uỷ ban Đông Dương do

Đờ Gôn (De Gaulle) làm Chủ tịch

Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945 nhân dân Việt Nam trở thành người làm chủ đất nước Thực dân Pháp không còn chỗ đứng ở Đông Dương nhưng vẫn không chịu từ bỏ âm mưu đặt lại ách thống trị thực dân kiểu

cũ trên bán đảo này

Lơclec đã vạch ra kế hoạch chiếm lại Đông Dương gồm 5 điểm như sau: 1- Dựa vào quân Anh để làm chủ phía Nam vĩ tuyến 16;

2- Thả dù nhân viên dân sự và lực lượng quân sự xuống miền Bắc Việt Nam;

3- Xác nhận với Đồng minh việc duy trì chủ quyền của Pháp ở Đông Dương;

4- Từng bước giành lại những vùng do Trung Quốc kiểm soát;

5- Tiến hành các cuộc thương thuyết với người bản xứ

Trang 6

6

Thực hiện kế hoạch trên, từ ngày 13 đến ngày 22-8-1945, một số tên quan thuộc địa cũ, trong đó có Métxme (Messmer) mang danh nghĩa Uỷ viên Cộng hoà Pháp tại Bắc Kì, đã nhảy dù xuống miền Bắc nước ta, liên lạc với tàn binh,

tù binh, Pháp kiều và bọn tay sai nhằm lập lại bộ máy cai trị Ngày 22-8-1945, Xanhtơni (Sainteny) cùng với một số sĩ quan Pháp từ Côn Minh (Vân Nam) theo phái đoàn đầu tiên của cơ quan tình báo chiến lược (OSS) của Mĩ (do Trung uý Patti cầm đầu) đến Hà Nội

Cao uỷ Đácgiăngliơ và Tư lệnh tối cao các lực lượng Pháp Lơclec đã được lệnh của Đờ Gôn phải tìm cách khôi phục lại chủ quyền của Pháp trên các lãnh thổ liên bang Đông Dương mà không được cam kết bất cứ điều gì đối với phía Việt Minh Vào thời điểm này, khu vực Bắc Đông Dương kể từ vĩ tuyến 16 trở

ra có gần 30.000 người Pháp, trong đó có 20.000 người đã bị quân Nhật bắt tập trung tại Hà Nội từ ngày 9-3-1945 Xêđi (Cédille), Uỷ viên Cộng hoà Pháp tại Nam Đông Dương, nhảy dù xuống Hớn Quản, được quân Nhật đưa về Sài Gòn Hai chiếc tàu Pháp chạy trốn Nhật sau cuộc đảo chính 9-3-1945, từ vùng biển Quảng Đông trở lại Đông Bắc Việt Nam, đổ quân lên đảo Cô Tô và đảo Vạn Hoa Những toán tàn binh Pháp ở Trung Lào, Hạ Lào được tập hợp lại, chiếm đóng một số cao điểm trên các trục đường số 7, 8, 9, 12 và dọc biên giới Việt - Lào, làm bàn đạp chuẩn bị tiến sang các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam

Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Chính phủ, Mặt trận Việt Minh cùng chính quyền các cấp lãnh đạo nhân dân và lực lượng vũ trang đề cao cảnh giác, tích cực đánh địch, bảo vệ quê hương Ở miền Bắc, cuối tháng 8-

1945, những tên Pháp nhảy dù xuống các nơi đều bị quân và dân ta chặn đánh Các đơn vị Giải phóng quân Hải Phòng, Quảng Yên chặn đánh các tàu Crayxắc (Crayssac) và Phơrênôn (Frénohls), tiêu diệt địch ở Vạn Hoa và Cô Tô

Ở Bắc Trung Bộ, Giải phóng quân Nghệ An và Hà Tĩnh chặn đánh địch trên biên giới Việt - Lào tại các vị trí: Mường Xén (Đường số 7), Napê (Đường số 8), Banaphào (Đường số 12) Trên Đường số 9, Giải phóng quân Quảng Trị, Thừa Thiên phối hợp với bộ đội Lào đánh địch ở Pha Lan, Mường Phin, Đồng Hến, không cho chúng tiến sang các tỉnh Bắc Trung Bộ Tại miền Nam, Xêđi nhân

Trang 7

7

danh uỷ viên Cộng hoà Pháp ở miền Nam Đông Dương đã đàm phán với Uỷ ban nhân dân Nam Bộ trên cơ sở nội dung bản Tuyên bố ngày 24-3-1945 về vấn đề Đông Dương của Đờ Gôn, mà không đề cập đến nền độc lập của Việt Nam, nên

đã không đạt được kết quả

Như vậy, âm mưu của thực dân Pháp muốn nhanh chóng thiết lập lại nền thống trị ở Đông Dương đã không thực hiện được Đầu tháng 9-1945, Đácgiăngliơ và Lơclec phải điều chỉnh kế hoạch: Dựa vào quân Anh gấp rút chiếm Nam Bộ, lấy đó làm bàn đạp đánh chiếm phần còn lại của Đông Dương, lập chính phủ "Nam Kì tự trị", thành lập Liên bang Đông Dương Chúng vừa ráo riết chuẩn bị lực lượng, vừa khiêu khích ta để tạo cớ cho quân Đồng minh can thiệp

Ngày 2-9-1945, trong lúc nhân dân Sài Gòn mít tinh mừng ngày Độc lập một số lính Pháp núp trong Nhà thờ Đức Bà bắn lén vào đám đông, làm 47 người chết, nhiều người bị thương

Ngày 4-9-1945, Grêxi (Gracey), Tư lệnh sư đoàn 20 quân đội Hoàng gia Anh, trưởng phái bộ Đồng minh, lấy cớ trật tự Sài Gòn không đảm bảo, đã hạ lệnh cho tư lệnh quân đội Nhật Bản ở Đông Nam Á đưa 7 tiểu đoàn từ các tỉnh Nam Bộ về Sài Gòn

Hành động khiêu khích của quân Pháp đã gây nên làn sóng công phẫn trong các tầng lớp nhân dân Đêm 4-9, vào lúc 22 giờ, công nhân Sài Gòn tổ chức cuộc mít tinh trước trụ sở Tổng Công đoàn Nam Bộ, tuyên thệ trước bàn thờ Tổ quốc: "Quyết cùng anh em lao động không nản chí trước khó khăn, không lùi bước trước nguy hiểm để cùng đồng bào bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn non sông"

Ngày 6-9-1945, phái bộ Anh gồm 30 sĩ quan, do một đại tá cầm đầu vừa đến Sài Gòn đã ra lệnh cho quân Nhật làm nhiệm vụ cảnh sát trong thành phố, đòi các lực lượng vũ trang cách mạng nộp vũ khí Ngày 12-9, một lữ đoàn thuộc

Sư đoàn 20 quân đội Hoang gia Anh đến nước ta với nhiệm vụ giải giáp quân Nhật và kéo theo sau là một đại đội thuộc Trung đoàn bộ binh thuộc địa số 5 của Pháp

Trang 8

8

Tại Sài Gòn, quân Anh ngang nhiên tước vũ khí của quân Nhật trang bị cho

tù binh Pháp (bị Nhật bắt giam từ sau ngày 9- 3-1945), dùng quân Pháp thay quân Nhật canh gác một số vị trí

Những đơn vị nhỏ bộ binh và xe bọc thép của Pháp được tăng thêm 1.400 lính do Nhật giam giữ được Anh thả ra và trang bị lại Ngày 14-9, Grêxi ra thông cáo cấm nhân dân ta mang vũ khí và biểu tình Ngày 15-9, y ra lệnh tước

vũ khí của lực lượng vũ trang Việt Nam Ngày 17-9, Grêxi lại ra lệnh giới nghiêm, đình bản tất cả báo chí ở Nam Bộ Ngày 19-9, xem tổ chức họp báo, tuyên bố: "Việt Minh không đại diện cho nhân dân Việt Nam và bất lực trong việc giữ gìn trật tự Pháp có nhiệm vụ lập lại trật tự, sau đó sẽ thành lập chính phủ phù hợp với tuyên bố 24-3"

Ngày 20-9, phái bộ Anh tuyên bố giữ quyền kiểm soát Sài Gòn, đòi thả những người Pháp đang bị giam giữ, đòi đặt công an của Việt Nam dưới quyền chỉ huy của họ và buộc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà rút hết lực lượng vũ trang

ra khỏi thành phố

Như vậy, có thể thấy với danh nghĩa đại diện lực lượng Đồng minh làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật ở phía Nam vĩ tuyến 16, quân Anh đã dọn đường cho thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta Vào thời điểm này, trên đất nước ta

đã có hơn 30 vạn quân các nước Anh, Pháp, Tưởng, Nhật cùng nhiều đảng phái phản động lăm le lật đổ Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Chưa bao giờ trên đất nước ta cùng một lúc có nhiều kẻ thù xâm lược như vậy

Lợi dụng tình hình trên, các thế lực phản động ở trong nước bắt đầu nổi dậy hoạt động chống phá chính quyền cách mạng

Các phần tử tay sai của thực dân Pháp như Nguyễn Văn Xuân, Lê Văn Hoạch, Nguyễn Văn Thinh, Nguyễn Văn Tâm mưu toan ngóc đầu dậy, chuẩn

bị đón chủ cũ trở lại Nguyễn Tấn Cường - một tên mật thám cũ, đứng ra lập

"Đảng Nam Kì"; Nguyễn Văn Tị lập "Đảng Đông Dương tự trị ", thực hiện âm mưu của thực dân Pháp chia cắt Nam Bộ ra khỏi nước Việt Nam thống nhất, thành lập "Nam Kì quốc" Các tổ chức chính trị phản động thân Nhật, như Đại Việt cách mạng đảng, Đại Việt quốc dân đảng, Đại Việt duy dân đảng do Trần

Trang 9

9

Trọng Kạn, Trần Văn An, Nguyễn Văn Sâm, Ngô Đình Diệm cầm đầu, cũng ráo riết hoạt động Một số phần tử phản động trong các đạo nhau (Nam Kì, Trung Kì, Bắc Kì, Cao Miên, Ai Lao) Liên bang Đông Dương sẽ cùng với nước Pháp xây dựng thành khối liên hiệp Pháp mà quyền đối ngoại sẽ do Pháp đại diện

Đông Dương sẽ có một chính phủ liên bang đứng đầu là một viên toàn quyền và gồm những bộ trưởng chịu trách nhiệm trước viên toàn quyền đó Chính phủ liên bang sẽ là người trọng tài gồm năm xứ Bên cạnh viên toàn quyền có một hội đồng nhà nước trong đó người Đông Dương chiếm nhiều nhất

hô hào liên kết thợ thuyền và dân cày, đấu tranh chống tư sản và địa chủ, nhằm phá hoại mặt trận đoàn kết dân tộc v.v

Tất cả những khó khăn kể trên trực tiếp đe dọa đến sự tồn tại của Nhà nước cộng hoà non trẻ Vận mệnh Tổ quốc lúc này như ngàn cân treo sợi tóc Nhiệm

vụ cấp bách đặt ra cho toàn dân ta là phải xây dựng và củng cố bộ máy chính quyền cách mạng

1.2 Thuận lợi

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, một loạt nước ở Trung, Đông Âu được giải phóng, lập nên chế độ dân chủ nhân dân và từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội Chủ nghĩa xã hội từ một nước là Liên Xô đã trở thành hệ thống thế giới gồm nhiều nước và là chỗ dựa vững chắc cho phong trào đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

Cùng với sự ra đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở nhiều nước châu Á, châu Phi cũng ngày một dâng cao Nhân dân các nước Lào, Campuchia, Mianma, Inđônêxia, Philíppin,

Trang 10

10

Malaixia đứng lên đấu tranh chống thực dân Anh, Pháp, Mĩ, Hà Lan giành độc lập Lực lượng cách mạng Trung Quốc do Đảng Cộng sản lãnh đạo đã giải phóng được một phần lục địa phía Bắc với gần 100 triệu dân (trong tổng số 450 triệu), nhưng lực lượng phản cách mạng Quốc Dân đảng do Tưởng Giới Thạch cầm đầu vẫn còn khá mạnh (1,6 triệu quân) và cuộc nội chiến giữa hai lực lượng bắt đầu diễn ra quyết liệt

Ở châu Âu, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ở một số nước, như Pháp,

Ý , giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động đấu tranh đời các quyền dân sinh, dân chủ, đòi tăng lương, giảm giờ làm, ủng hộ phong trào đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa Sau Chiến tranh, trong khi nền kinh tế của các nước tư bản châu Âu bị tàn phá nặng nề, thì Mĩ trở thành một nước mạnh nhất về kinh tế (chiếm 52% tổng sản phẩm xã hội của thế giới) và nắm độc quyền vũ khí hạt nhân

Với sức mạnh về kinh tế, khoa học - kĩ thuật và quân sự đế quốc Mĩ ráo riết thực hiện âm mưu làm bá chủ thế giới Cùng với việc tăng cường chạy đua vũ trang, cuộc "chiến tranh lạnh" do Mĩ gây ra nhằm chống lại Liên Xô và các nước

xã hội chủ nghĩa diễn ra ngày càng quyết liệt

Như vậy, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, mâu thuẫn chủ yếu giữa một bên

là hệ thống xã hội chủ nghĩa cùng các lực lượng đấu tranh cho độc lập dân tộc dân chủ, hoà bình và tiến bộ xã hội với một bên là phe đế quốc do Mĩ cầm đầu nổi lên ngày càng sâu sắc Tất cả tình hình trên đã tác động trực tiếp đến cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập của nhân dân Việt Nam

Sau thắng lợi Cách mạng tháng Tám 1945, dân tộc Việt Nam bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên độc lập tự do Nhân dân Việt Nam trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội và bước đầu được hưởng những quyền lợi do cách mạng đem lại

Họ hiểu rõ giá trị thiêng liêng của những quyền lợi ấy, một lòng gắn bó và quyết tâm bảo vệ chính quyền cách mạng Đây chính là nguồn sức mạnh vô tận giúp cho Nhà nước cách mạng còn đang trong thời kì trứng nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách

Trang 11

11

Sau Cách mạng tháng Tám, Mặt trận Việt Minh phát triển rất nhanh chóng Các Hội Cứu quốc trong công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ được tổ chức thống nhất trong cả nước

Nhiều Hội Cứu quốc mới ra đời, tập hợp thêm những tầng lớp yêu nước còn đứng ngoài Mặt trận, như Công thương Cứu quốc, Phật giáo Cứu quốc, Đoàn Hướng đạo Cứu quốc, Đoàn sinh viên Cứu quốc Mặt trận Việt Minh thực sự trở thành ngọn cờ đoàn kết toàn dân rộng rãi, giữ vai trò rất quan trọng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân

Thực hiện chủ trương vũ trang toàn dân, nhân dân ta tích cực xây dựng lực lượng Chỉ trong thời gian ngắn, lực lượng vũ trang bao gồm các đơn vị Giải phóng quân và các đội tự vệ chiến đấu phát triển nhanh chóng Dù trang bị vũ khí còn rất thô sơ và thiếu thốn, lại chưa có nhiều kinh nghiệm tác chiến, nhưng cán bộ và chiến sĩ trong các đơn vị vũ trang đều có tinh thần chiến đấu dũng cảm, là lực lượng chủ chốt trong cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng Trải qua 15 năm đấu tranh cách mạng do Đảng lãnh đạo (1930 - 1945), truyền thống đoàn kết, bất khuất của dân tộc ta càng được phát huy cao độ; Đảng ta ngày càng trưởng thành, bắt rễ sâu vào quần chúng và thêm dày dạn kinh nghiệm lãnh đạo

Sau khi đất nước được độc lập, Đảng kịp thời mở rộng đội ngũ, đạo tạo cán

bộ, tăng cường sự lãnh đạo trên mọi mặt hoạt động, chuẩn bị tổ chức cho toàn dân bước vào cuộc đấu tranh mới

Đứng đầu Đảng và Nhà nước cách mạng là vị lãnh tụ thiên tài, có uy tín tuyệt đối trong toàn dân Chủ tịch Hồ Chí Minh tượng trưng cho linh hoa của dân tộc, cho ý chí kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam Cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú cùng với uy tín rộng lớn của Người là ngọn cờ tập hợp các tầng lớp nhân dân xung quanh Đảng và Chính phủ

2 Tiến trình đấu tranh ngoại giao từ ngày 2.9.1945-19.12.1946

Trong thời điểm vô vàn khó khăn sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng ngoại giao như một vũ

khí sắc bén để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chính

Trang 12

12

quyền nhân dân, phục vụ kháng chiến, kiến quốc Những dấu ấn đậm nét nhất

của nền ngoại giao dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn này là đối phó với 4 đạo quân nước ngoài có mặt ở Việt Nam, ứng xử tài tình với 5 nước lớn cùng một lúc; trong đó, trung lập hóa Mỹ, tránh xung đột với quân Anh, quân Tưởng và tập trung lực lượng kiên quyết chống Pháp xâm lược Khi Tưởng và Pháp thỏa hiệp cho phép Quân đội Pháp ra miền Bắc, chúng ta tiến hành đấu tranh ngoại giao theo phương châm “hòa để tiến” nhằm kéo dài thời gian để củng cố lực lượng, chuẩn bị kháng chiến lâu dài vì nền độc lập và thống nhất Tổ quốc, nhờ đó góp phần quan trọng để bảo vệ và củng cố chính quyền cách mạng non trẻ

2.1 Từ ngày 2.9.1945 đến trước ngày 6.3.1946: Kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ và hòa hoãn với quân Trung Hoa Dân quốc và bọn tay sai

ở miền Bắc

2.1.1 Kháng chiến chống Pháp trở lại xâm lược ở Nam Bộ

- Ngày 2/9/1945, trong khi nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn tổ chức mít tinh

chào mừng ngày độc lập, thực dân Pháp xả súng vào đoàn mít tinh

- Đêm 22 rạng sáng ngày 23/9/1945, được sự giúp sức của quân Anh, thực dân Pháp nổ súng đánh úp trụ sở Uỷ ban Nhân dân Nam Bộ và cơ quan tự vệ Sài

Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần hai

- Ngay khi thực dân Pháp trở lại xâm lược, nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn

cùng nhân dân Nam Bộ đứng lên kháng chiến Lực lượng vũ trang đột nhập sân bay Tân Sơn Nhất, phá kho tàng, triệt phá nguồn tiếp tế, dựng chướng ngại vật

trên đường phố, bao vây và tấn công quân Pháp trong thành phố

- Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng nhân dân cả nước

hướng về “Thành đồng tổ quốc”, đồng thời tích cực chuẩn bị đối phó với âm mưu của Pháp muốn mở rộng chiến tranh ra cả nước Các đoàn quân “Nam tiến”

sát cánh cùng nhân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ kháng chiến

2.1.2 Đấu tranh với quân Trung Hoa Dân quốc và bọn phản cách mạng ở miền Bắc

- Đảng và Chính phủ chủ trương hoà hoãn với quân Trung Hoa Dân quốc,

tránh cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù

Trang 13

13

+ Đồng ý nhường cho Việt Quốc, Việt cách 70 ghế trong Quốc hội, 4 ghế

bộ trưởng, 1 ghế Phó chủ tịch nước trong Chính phủ liên hiệp mà không qua bầu

cử Mặt khác, chính quyền cách mạng dựa vào quần chúng đã kiên quyết vạch trần âm mưu và hành động chia rẽ, phá hoại của các thế lực phản động Những

kẻ phá hoại có đủ bằng chứng thì bị trừng trị theo pháp luật

+ Đảng rút vào hoạt động bí mật với danh nghĩa “tự giải tán”

(11/11/1945), để tránh mũi nhọn tiến công của kẻ thù

- Ý nghĩa: Những biện pháp trên đã hạn chế các hoạt động chống phá của

quân Trung Hoa Dân quốc và tay sai, làm thất bại âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng của chúng; tạo điều kiện củng cố chính quyền, tập trung kháng chiến

chống Pháp ở miền Nam

2.2 Từ ngày 6.3.1946 đến 19.12.1946: Hoà hoãn với Pháp nhằm đẩy Trung Hoa dân quốc ra khỏi nước ta

– Sau khi chiếm đóng các đô thị ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, thực dân

Pháp thực hiện kế hoạch tiến quân ra Bắc nhằm thôn tính cả nước Việt Nam

– Ở Trung Quốc, lực lượng cách mạng phát triển mạnh, nên Trung Hoa Dân quốc cần rút quân ở Đông Dương về để đối phó Các thế lực đế quốc do Mĩ cầm đầu vừa muốn tiêu diệt cách mạng Trung Quốc, lại vừa muốn chống cách

mạng Việt Nam

– Các thế lực đế quốc đã thu xếp công việc nội bộ, kết quả là Chính phủ Pháp và Chính phủ Trung Hoa Dân quốc kí Hiệp ước Hoa – Pháp (28/2/1946), theo đó Trung Hoa Dân quốc được Pháp trả lại các tô giới và nhượng địa của Pháp trên đất Trung Quốc và được vận chuyển hàng hóa qua cảng Hải Phòng và Hoa Nam không phải đóng thuế Để đổi lại, Pháp được đưa quân ra Bắc thay

quân Trung Hoa Dân quốc làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật

– Hiệp ước trên đặt nhân dân Việt Nam trước sự lựa chọn: hoặc phải đánh hai kẻ thù (cả Pháp và Trung Hoa dân quốc); hoặc là hoà hoãn, nhân nhượng với

Pháp

Để tránh tình trạng phải đối phó một lúc với nhiều kẻ thù, Ban Thường vụ Trung ương Đảng chọn giải Pháp “Hoà để tiến” Vào thời điểm đó, Pháp cũng cần hoà với Việt Nam để có thể đưa quân ra miền Bắc một cách dễ dàng và kéo

dài thời gian chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn

– Ngày 6/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kí với G Xanhtơni, đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định

Trang 14

14

+ Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa thỏa thuận cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc thay quân Trung Hoa Dân quốc làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật, số quân này sẽ đóng ở những địa điểm quy định và rút dần trong thời hạn

5 năm

+ Hai bên ngừng mọi cuộc xung đột ở phía Nam và giữ nguyên quân đội của mình tại vị trí cũ, tạo không khí thuận lợi đi đến cuộc đàm phán chính thức bàn các vấn đề về ngoại giao của Việt Nam, chế độ tương lai của Đông Dương,

quyền lợi kinh tế và văn hóa của người Pháp ở Việt Nam

Ý nghĩa: Kí Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946, tạm thời hòa hoãn với Pháp, ta tránh được cuộc chiến đấu bất lợi vì phải chống lại nhiều kẻ thù cùng một lúc, đẩy được 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc cùng bọn tay sai ra khỏi nước ta, giành thêm thời gian hòa bình củng cố chính quyền cách mạng, chuẩn bị lực

lượng mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp

- Trong lúc đó tại Đông Dương, quân Pháp tăng cường hoạt động khiêu

khích Quan hệ Việt – Pháp ngày càng căng thẳng, có nguy cơ nổ ra chiến tranh

- Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí với Chính phủ Pháp bản

“Tạm ước” ngày 14/9/1946, nhân nhượng Pháp một số quyền lợi kinh tế - văn hóa ở Việt Nam Bản Tạm ước đã tạo điều kiện cho ta có thêm thời gian xây dựng, củng cố lực lượng, chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc chống

Pháp lâu dài

3 Một vài nhận xét và bài học kinh nghiệm

3.1 Một vài nhận xét về chính sách ngoại giao của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong năm đầu sau Cách mạng tháng Tám năm 1945

Trước hết, dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngoại giao Việt Nam đã vận dụng nhuần nhuyễn phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” Xuyên suốt toàn bộ cuộc đấu tranh ngoại giao của ta trong giai đoạn này

là: “Đối với Pháp, độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh tế” “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” chính là tư tưởng, phương pháp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xử lý các vấn đề sách lược, chiến lược Trong bối cảnh cực kỳ khó khăn, khi thế và lực của ta còn yếu, vận dụng nhuần nhuyễn phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, phát huy vai trò và tính tiên phong của mình, ngoại giao

ta đã hết sức linh hoạt, sáng tạo trong xử lý các tình huống, góp phần tích cực trong bảo vệ nền độc lập và chính quyền cách mạng ngay từ những ngày đầu

Trang 15

đó của Người đã góp phần tranh thủ Mỹ “trung lập”, tạo thuận lợi để hòa hoãn cũng như kiềm chế lực lượng của Tưởng và Pháp ở Việt Nam

Chính phủ ta cũng kịp thời ra tuyên bố làm rõ chính sách ngoại giao để tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế Ngày 03-10-1945, nhân dịp một phái bộ quan trọng của Đồng minh đến Hà Nội, Bộ Ngoại giao Chính phủ Lâm thời đã ra Thông cáo về chính sách đối ngoại của Việt Nam Dân chủ cộng hòa Bản Thông cáo đề ra chính sách ngoại giao với bốn nhóm đối tượng, gồm: các nước Đồng

Trang 16

16

minh, Pháp, các dân tộc nhược tiểu và đối với nhân dân Lào và Khơ me Đồng thời, khẳng định mục tiêu phấn đấu cho nền “độc lập hoàn toàn và vĩnh viễn” của Việt Nam Đây là văn kiện nhà nước đầu tiên về đối ngoại, thể hiện cách nhìn rộng mở của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa thực hiện quan hệ quốc tế kiểu mới, với tầm nhìn chiến lược Những nội dung của thông cáo đề ra góp phần quan trọng định hướng tư tưởng và hoạt động thực tiễn của ngoại giao Việt Nam trong giai đoạn kháng chiến, kiến quốc, đồng thời là một biện pháp kịp thời nhằm tranh thủ các lực lượng Đồng minh có mặt trên đất nước ta Tóm tắt chính sách đối ngoại của Việt Nam, Bác nói: Việt Nam chủ trương “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”5

Thứ ba, ngoại giao giai đoạn này đã khôn khéo, tận dụng mâu thuẫn nội

bộ đối phương, kiềm chế và hòa hoãn với Tưởng, tập trung chống thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta Trong hoàn cảnh phải đấu tranh chống lại nhiều

đối thủ mạnh, đồng thời trong hàng ngũ đối phương xuất hiện các mâu thuẫn lợi ích, các lực lượng Đồng minh có chỗ thay đổi, biến hóa, việc lợi dụng mâu thuẫn giữa các đối phương là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng nước ta lúc đó Hội nghị cán bộ Bắc Kỳ của Đảng (ngày 10 - 11-9-1945) đã nêu một số chủ trương ngoại giao, thể hiện rõ Đảng ta đã khéo léo trong việc phân loại đối phương và triệt để lợi dụng mâu thuẫn giữa họ, có đối sách phù hợp với từng đối tượng Đối với Pháp, ta cương quyết chống lại Pháp mưu mô chiếm lại Đông Dương, tranh thủ Mỹ công nhận nền độc lập của Việt Nam và “giao hòa với chúng ta”; đối với Tưởng Giới Thạch “nên tránh xung đột quân sự mà chỉ xung đột bằng chính trị”, v.v Chúng ta đã sử dụng lực lượng của Tưởng có mặt

ở Việt Nam làm đối trọng với lực lượng của thực dân Pháp, kiềm chế âm mưu của Pháp sớm khôi phục lại sự kiểm soát Đông Dương Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã phát hiện ra những bất đồng và xung đột quyền lực cục bộ khá gay gắt ngay trong nội bộ tướng lĩnh của Tưởng và các nhóm tay sai, do đó đã có ứng xử khôn khéo trong quan hệ, vừa đấu tranh chính trị, ngoại giao, vừa khai thác mặt hám lợi vật chất của các tướng lĩnh Tưởng để hạn chế sự chống phá của chúng

Trang 17

17

Trong giai đoạn lịch sử đặc biệt này, ngoại giao Việt Nam hết sức vinh dự

và cũng vô cùng may mắn khi được Chủ tịch Hồ Chí Minh, “một nhà ngoại giao lỗi lạc cả về trí tuệ và nhân cách”7 trực tiếp lãnh đạo, dìu dắt Không những cùng Trung ương Đảng xem xét, phân tích tình hình và đề ra những chủ trương ngoại giao đúng đắn, Người còn trực tiếp xử lý các vấn đề đối ngoại hết sức khó khăn, phức tạp, có lúc phải chấp nhận cả những hiểm nguy tính mạng khi 20 vạn quân Tưởng tràn vào miền Bắc Việt Nam với mục tiêu “diệt Cộng, cầm Hồ” Tướng Tiêu Văn đến Hà Nội ngày 11-9-1945, tuyên bố “Hồ Chí Minh thập đại tội”, thế nhưng Người vẫn chủ động đến gặp, mời cơm, tặng quà Tiêu Văn Nhà sử học Pháp Philippe Devillers đã đánh giá cao tầm quan trọng của cuộc gặp này: “Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp Tiêu Văn đã đạt được sự hòa hoãn với quân Tàu định lật

đổ Chính phủ lâm thời, điều này làm cho bọn Việt Quốc, Việt Cách hoang mang, chập chững”8 Để tiến tới thành lập Chính phủ Liên hiệp, Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp thương lượng với các tướng lĩnh của Tưởng Giới Thạch, cũng như các nhóm Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh Trước một số cuộc xung đột giữa lực lượng Việt Minh và Quân đội Tưởng, Người đã đề ra phương châm

“dàn xếp sao cho đại sự thì thành tiểu sự và tiểu sự thì thành vô sự”9

Tài ngoại giao của Người còn là việc nhìn nhận đúng thời cơ và việc sáng suốt ra những quyết sách kịp thời Nhờ nhãn quan chính trị và sự nhạy bén trước chuyển biến mau lẹ của tình hình, vào thời điểm khi cả Pháp và Tưởng đều cần phía Việt Nam thỏa thuận với Pháp về một giải pháp mà hai bên có thể chấp nhận được để tránh cuộc xung đột mở rộng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã nắm bắt khoảnh khắc lịch sử, kịp thời ký bản Hiệp định Sơ bộ 06-3-1946 theo những điều kiện có lợi nhất có thể được với Việt Nam, phù hợp với tình hình trong nước và quốc tế cũng như tương quan lực lượng lúc bấy giờ Với việc ký Hiệp định Sơ bộ, ta đã biến thỏa thuận tay đôi giữa Pháp - Tưởng thành thỏa thuận tay ba, sử dụng điều khoản thay quân của Hiệp ước Hoa - Pháp thành thời

cơ để đẩy 20 vạn quân Tưởng ra khỏi Việt Nam, loại trừ cho cách mạng một kẻ địch nguy hiểm là quân đội Tưởng và các nhóm tay sai của chúng Người đã dẫn đầu đoàn đàm phán sang Pháp để tìm kiếm cơ hội vãn hồi hòa bình và trực tiếp

Ngày đăng: 19/08/2021, 12:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w