Những khó khăn cần giải quyết - Cuộc đấu tranh để bảo vệ độc lập dân tộc , giữ vững và củng cố chính quyền nhân dân từ sau cách mạng tháng Tám đên toàn quốc kháng chiến - Đường lối kháng
Trang 1TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG LẦN THỨ XVI
MÃ CHUYÊN ĐỀ: LSU_07
CHUYÊN ĐỀ
“NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ÔN LUYỆN HỌC SINH GIỎI
PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945-1954”
Tháng 2 – 2020
Trang 2CHUYÊN ĐỀ
“NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ÔN LUYỆN HỌC SINH GIỎI PHẦN LỊCH SỬ
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945-1954”
A MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung, học sinh giỏi môn Lịch sử nói riêng là một nhiệm
vụ quan trọng, một nhiệm vụ rất nặng nề trong dạy học ở các trường THPT nói chung và trường Chuyên nói riêng, nó đòi hỏi sự đầu tư nhiều công sức, tâm huyết của giáo viên Mục tiêu bồi dưỡng học sinh giỏi, về cơ bản vẫn là mục tiêu đào tạo của trường THPT tức là
“giúp học sinh phát triển toàn diện về mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng
cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN…xây dựng nhân cách và trách nhiệm công dân…” và có thêm yêu cầu được phát triển năng khiếu về môn học để chuẩn bị cho các em tiếp tục lên đại học, nhằm đào tạo thành những tri thức giỏi, cao hơn là những nhân tài cho đất nước
Như vậy, có thể nói mục tiêu bồi dưỡng học sinh giỏi là mục tiêu kép Nhân cách, tư cách của một công dân và tư cách, nhân cách của một nhân tài trong tương lai Nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi là vừa phải thực hiện nhiệm vụ giáo dục toàn diện để hoàn thiện cho học sinh nền học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kĩ thuật hướng nghiệp, vừa phải thực hiện sự tác động đúng hướng để phát triển năng khiếu của các em về môn học
Luật giáo dục đã nhấn mạnh yêu cầu đối với phương pháp giáo dục nói chung và phương pháp dạy học nói riêng là “phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo cho học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Là những giáo viên được nhà trường phân công giảng dạy các lớp chuyên Sử và tham
gia công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, tôi xin được chia sẻ về chuyên đề “Nội dung và
phương pháp ôn luyện học sinh giỏi phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954”
Trong nội dung ôn tập cho kỳ thi học sinh giỏi các cấp, giai đoạn lịch sử Việt Nam 1945-1954 là một nội dung quan trọng với nhiều sự kiện, lượng kiến thức ở giai đoạn này khá nhiều Trong chương trình lịch sử Việt Nam thời kì hiện đại ở trường trung học phổ thông, giai đoạn 1945-1954 là một chương rất trọng tâm và cơ bản đối với chương trình lịch
sử Việt Nam ở lớp 12 Chương học này bao gồm nhiều sự kiện, nhiều vấn đề lớn của cách mạng Việt Nam, phần lớn các đề thi chọn Học sinh giỏi, thi THPT Quốc gia, thi Đại học đều đề cập đến Nếu không nắm chắc được giai đoạn Lịch sử này, học sinh sẽ khó có thể đạt được kết quả cao nhất trong các kỳ thi Để học sinh có hứng thú tiếp cận và học tập hiệu quả thì giáo viên phải lựa chọn được nội dung kiến thức, cũng như phương pháp thích hợp Vì thế, việc tham gia viết chuyên đề này sẽ giúp tôi hiểu sâu hơn những nội dung của giai đoạn lịch sử này, có thêm những phương pháp mới, phục vụ cho công tác bồi dưỡng học sinh
giỏi
III MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trang 31 Về kiến thức:
Giúp Hs nhớ, nắm vững và hiểu sâu sắc các kiến thức cơ bản:
- Tình hình Việt Nam sau cách mạng tháng Tám Những khó khăn cần giải quyết
- Cuộc đấu tranh để bảo vệ độc lập dân tộc , giữ vững và củng cố chính quyền nhân dân
từ sau cách mạng tháng Tám đên toàn quốc kháng chiến
- Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp :nội dung cơ bản và quá trinh thực hiện đường lối
- Những thắng lợi lớn của ta trên mặt trận quân sự (từ đầu toàn quốc kháng chiến đến chiến thắng Đông Xuân 1953-1954): Diễn biến, kết quả, ý nghĩa…
- Xây dựng hậu phương kháng chiến chống thực dân Pháp (những thắng lợi trên mặt trận chính trị , ngoại giao, kinh tế , văn hóa , giáo dục, y tế…)
- Cuộc tiến công chiến lược Đông- Xuân 1953-1954 với đỉnh cao chiến dịch Điện Biên Phủ
- Nội dung Hiệp định Giơ-ne-vơ
- Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống Pháp
Rèn luyện khả năng vận dụng các kiến thức vào giải quyết các vấn đề trong học tập
và thực tiễn, đặc biệt là kĩ năng viết, kĩ năng trình bày một vấn đề
Nội dung của chuyên đề bao gồm 4 phần:
Phần 1: Lịch sử Việt Nam từ sau ngày 2/9/1945 đến trước ngày 19/12/1946
Phần 2: Thắng lợi trên mặt trận quân sự trong cuộc kháng chiến chống Pháp 1945 –
1954
Phần 3: Vấn đề xây dựng hậu phương trong kháng chiến chống Pháp 1945-1954
Phần 4: Phương pháp ôn luyện học sinh giỏi Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954
Hi vọng rằng chuyên đề của tôi sẽ giúp ích được đồng nghiệp phần nào khi ôn tập cho học sinh nội dung Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954
B NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ
I Nội dung kiến thức Lịch sử Việt Nam từ sau ngày 2/9/1945 đến trước ngày 19/12/1946
1 Việt Nam sau những năm đầu sau cách mạng tháng Tám
a Khó khăn
* Đối ngoại
Trang 4Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà non trẻ vừa mới ra đời đã phải đối phó với nhiều
kẻ thù Quân đội của các thế lực đế quốc và phản động Quốc tế trong phe Đồng minh, dưới danh nghĩa giải giáp quân Nhật, đã kéo vào nước ta với những âm mưu thâm độc
Ở phía Bắc vĩ tuyến 16 là 20 vạn quân Trung Hoa dân quốc kéo theo các tổ chức phản động Việt Nam quốc dân đảng (Việt Quốc) và Việt Nam cách mạng đồng minh hội (VIệt Cách) nhằm lật đổ chính quyền cách mạng của nhân dân ta, thành lập chính quyền tay sai
Ở phía Nam vĩ tuyến , cùng với danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật, hơn 1 vạn quân Anh vào chiếm đóng, ra sức mở đường cho thực dân Pháp trỏ lại xâm lược nước ta lần thứ hai
Trên đất nước ta lúc này còn khoảng 6 vạn quân Nhật đang giải giáp, trong đó có một bộ phận theo lệnh của đế quốc Anh đánh bại lực lượng vũ trang của ta, tạo điều kiện cho quân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng
Lợi dụng sự chiếm đóng của quân Trung Hoa dân quốc, Anh, Pháp , Nhật trên đất nước ta, các thế lực phản động ở trong nước nổi dậy hoạt động chống phá
* Đối nội
Trong khi đó, chính quyền cách mạng mới ra đời, chưa được củng cố, lực lượng vũ trang còn yếu, trang bị thô sơ, thiếu kinh nghiệm chiến đấu
Kinh tế chủ yếu là nông nghiệp thì nghèo nàn, lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá nặng
nề, thiên tai liên tiếp xảy ra Hậu quả nạn đói do Nhật- Pháp gây ra cuối năm 1944 đầu 1945 vẫn chưa được khắc phục thì nguy cơ nạn đói mới xuất hiện, đe doạn nghiêm trọng đời sống của nhân dân Lụt lội, hạn hán kéo dài làm cho đông ruộng không cày cấy được Các cơ sở công nghiệp của ta chưa phục hồi được sản xuất hàng hoá khan hiếm, giá cả tăng vọt…
Ngân sách nhà nước lúc này hầu như trống rỗng, chính quyền cách mạng chưa nắm đựơc Ngân hàng Đông Dương Quân Trung Hoa Dân quốc tung ra thị trường các loại tiền của Trung Quốc đã mất giá, làm cho tài chính nước ta càng thêm rối loạn
Các tệ nạn xã hội cũ cùng với những tàn dư văn hóa của chế độ thực dân pk để lại hết sức tai hại, đặc biệt là hơn 90 % dân ta không biết chữ
Như vậy, khó khăn của ta lúc này là rất lớn, đã trực tiếp đe doạ đến sự tồn tại của Nhà nước cách mạng , đặt nước ta trong tình trạng “ngàn cân treo sợi tóc”
b Thuận lợi cơ bản
* Trong nước
Tuy nhiên, chung ta đã có những thuận lợi rất cơ bản Đó là, đất nước đã được độc
lập; nhân dân ta đã giành được quyền làm chủ, lại có truyền thống yêu nước, đoàn kết, bất khuất, kiên cường, rất tha thiết với độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc; đảng ta đã được tôi
luyện và trưởng thành, có lãnh tụ thiên tài và có uy tín tuyệt đối trong toàn dân Tình hình
trên đặt ra một yêu cầu cấp bách trước mắt cho toàn Đảng, toàn dân ta là phải bảo vệ nền
độc lập tự do, bảo vệ chính quuyền cách mạng vừa giành được
* Thế giới :
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt lực lượng đế quốc bị suy yếu Một loạt các nước dân chủ nhân dân Đông Âu ra đời,làm cho chủ nghĩa xã hội từ một nước dần dần hình thành hệ thống thế giới phong trào giải phóng dân tộc ở các
Trang 5nước thuộc địa phụ thuộc lên cao, phong trào đấu tranh đòi dân chủ phát triển mạnh mẽ ở các nứoc TBCN Sự thay đổi so sánh lực lượng như vậy đã đem lại cho phong trào cách mạng thế giới , nhất là phong trào giải phóng dân tộc những thuận lợi căn bản
2 Đảng ta có chủ trương và biện pháp giải quyết khó khăn như thế nào?
Đứng trứơc hoàn cảnh trên, Đảng ta chủ trương tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân , nhiệm vụ dân tộc đặt lên hàng đầu, tiến hành đồng thời cùng một lúc các nhiệm vụ cụ thể: Xây dựng, củng cố chế độ mới, giải quyết những khó khăn trước mắt; tiến hành cuộc đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao để chống thù trong giặc ngoài, bảo vệ chính quyền cách mạng
a Bước đầu xây dựng và củng cố chế độ mới về mọi mặt, giải quyết nạn đói, nạn dốt và khó khăn về tài chính
* Xây dựng và củng cố chính quyền
Xây dựng chế độ mới là xây dựng nền móng chính quyền dân chủ nhân dân , một chính quyền vững mạnh, thật sự là của dân, do dân bầu ra và được nhân dân tin yêu ủng hộ Đây là một yêu cầu cấp bách của toàn Đảng, toàn dân ta,công việc này được thể hiện qua các sự kiện:
Ngày 6/1/1946 cuộc Tổng tuyển cử được tiến hành thắng lợi Kết quả là hơn 90% cử tri đã đi bỏ phiếu, bầu được 333 đại biểu Quốc hội Đây là lần đầu tiên trong lịch sử dân
tộc, nhân dân ta được thực hiện quyền công dân
Ngày 2/3/1946, Quốc hội đã thông qua danh sách Chính phủ liên hiệp kháng chiến
do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu và lập ra Ban dự thảo Hiến pháp
Sau đó, ở khắp các đia phưong tiến hành bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp theo hình thức phổ thông đầu phiếu
Ngày 9/11/1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được Quốc hội thông qua
* Củng cố, xây dựng lực lượng quân sự, chính trị
Vệ quốc đoàn đổi thành quân đội Quốc gia Việt Nam
Về lực lượng chính trị : để tăng cường đoàn kết lực lượng dân tộc , bên cạnh Mặt trận Việt Minh , ngày 29-5-1946, Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam được thành lập Hội đề
ra chính sách đoàn kết tất cả các đảng phái yêu nước, đồng bào yêu nước không phân biêt tôn giáo, xu hướng chính trị , chủng tộc để làm cho nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ , giàu mạnh
* Diệt giặc đói
Đây là nhiệm vụ cấp bách Để giải quyết nạn đói, biện pháp trước mắt là Đảng và
Chính Phủ đã đề ra nhiều biện pháp như tổ chức quyên góp, điều hoà thóc gạo giữa các địa phương trong cả nước, nghiêm trị những kẻ đầu cơ tích trữ Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân
Trang 6cả nước “nhường cơm sẻ áo” Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh , trên khắp
cả nước, nhân dân đã lập “Hũ gạo cứu đói”, tổ chức “ngày đồng tâm”
Biện pháp lâu dài để giải quyết nạn đói là đẩy mạnh tăng gia sản xuất Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi “ Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa!”, “ tấc đất tấc vàng”, giảm tô 25%, giảm thuế 20%, tạm cấp ruộng đất bỏ hoang cho nông dân thiếu ruộng
Kết quả: Nhờ những biện pháp trên, sản xuất nông nghiệp nhanh chóng được phục hồi, nạn đói được đẩy lùi
* Diệt giặc dốt
Đảng và Chính phủ xác định nạn dốt là một trong ba kẻ thù cần phải tiêu diệt (giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm) Ngày 8/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh thành lập Nha bình dân học vụ để phụ trách công tác xoá nạn mù chữ
Kết quả: Trong vòng 1 năm, trên toàn quốc đã tổ chức gần 76 000 lớp học, xoá mù chữ cho hơn 2,5 triệu người Trường học các cấp phổ thông và đại học sớm được khai giảng nhằm đào tạo những công dân và cán bộ trung thành, có năng lực phụng sự tổ quốc Nội dung và phương pháp giáo dục bước đầu được đổi mới theo tinh thần dân tộc dân chủ
* Giải quyết khó khăn về tài chính
Giải quyết nạn khan hiếm về tài chính cũng là môt nhiệm vụ cấp bách trong lúc này Biện pháp trước mắt: Để khắc phục tình trạng trống rỗng, trước mắt Chính phủ phát động “ Tuần lễ vàng”; “Quỹ độc lập”… nhằm động viên sự đóng góp cuả đồng bào toàn quốc ủng hộ nền độc lập của đất nước
Kết quả: Chỉ trong thời gian ngắn nhân dân đã tự nguyện góp được 370 kg vàng, 20 triệu đồng vào Quỹ độc lập, 40 triệu đồng vào “Quỹ đảm bảo quốc phòng”…
Biện pháp lâu dài: Mặt khác, về lâu dài để ổn định tài chính, chính phủ đã phát hành tiền Việt Nam thay cho giấy bạc Đông Dương cũ.Tháng 11/1946, đồng tiền Việt Nam được lưu hành
b Đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài, bảo vệ chính quyên cách mạng
* Từ ngày 2/9/1945 đến trước ngày 6/3/1946
Kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại xâm lược Nam Bộ:
Với dã tâm của thực dân Pháp muốn xâm lược nước ta lần nữa: Ngày 2/9/1945, thực
dân Pháp đã xả súng vào những người dự mít tinh Đêm 22 rạng 23.9.1945, được sự giúp
đỡ của quân Anh, thực dân Pháp cho quân đánh úp trụ sở UBND Nam Bộ và cơ quan tự vệ thành phố Sài Gòn, mở đầu cho cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần hai
Quân dân ta kiên quyết đánh Pháp ở miền Nam vì thực dân Pháp đã vi phạm trắng trợn độc lập chủ quyền của dân tộc ta
Nhân dân Sài Gòn- Chợ Lớn, nhân dân Nam Bộ đã nhất tề đứng lên chiến đấu bảo
vệ tổ quốc, đột nhập sân bay Tân Sơn Nhất, đốt cháy tàu Pháp vừa cập bến Sài Gòn, đánh phá kho tàng, phá nhà giam…
Phối hợp với các lực lượng vũ trang, nhân dân SG-Chợ Lớn triệt phá nguồn tiếp tế, dựng chương ngại vật và chiến luỹ trên đường phố, Quân Pháp trong thành phố bị bao vây
và luôn bị tấn công
Trang 7TƯ Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời đề ra những chủ trương
để lãnh đạo cuộc kháng chiến ở miền Nam, huy động lực lượng cả nước chi viện cho miền Nam Các đoàn quân “Nam tiến” từ thủ đô Hà NỘi, căn cứ Việt Bắc, các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ đã tấp nập lên đường vào Nam đánh giặc, cứu nước
Ý nghĩa: Đã ngăn chặn từng bước tiến công của địch, hạn chế âm mưu “đánh nhanh thắng nhanh” của chúng; Giữ vững và mở rộng lực lượng , tích luỹ được kinh nghiệm chiến đấu; góp phần bảo vệ củng cố chính quyền cách mạng; tạo điều kiện cho cả nước có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng về mọi mặt cho cuộc kháng chiến về sau
Đối với quân Trung Hoa dân quốc và bọn phản cách mạng miền Bắc:
Chủ trương: Ta chủ trương hoà hoãn đối với quân Trung Hoa dân quốc ở miền Bắc
vì tránh cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù, nhằm tập trung lực lượng để đánh Pháp đang xâm lược miền Nam
Biện pháp:
Chúng ta nhân nhượng một số yêu sách về kinh tế , chính trị của quân Trung Hoa dân quốc như: nhận tiêu tiền “ Quan kim”, “quốc tệ”, cung cấp một phần lương thực cho chúng, đồng ý nhường cho các đảng Việt Quốc, Việt Cách 70 ghế trong Quốc hội không qua bầu
cử và 4 ghế Bộ trưởng trong Chính phủ liên hiệp kháng chiến
Song mọi sự nhân nhượng đều đảm bảo nguyên tắc: chính quyền phải được giữ vững, Hồ Chí Minh phải đứng đầu Chính phủ, độc lập chủ quyền của đất nước phải được tôn trọng Vì vậy, đối với bọn phản động tay sai của quân Trung Hoa dân quốc ra mặt chống phá cách mạng thì kiên quyết vạch trần bộ mặt bán nước, hại dân của chúng bọn phản động gây tội ác đều bị trừng trị theo pháp luật
Ý nghĩa: chủ trương nhân nhượng với quân Trung Hoa dân quốc là cần thiết, đúng
đắn Do vậy, chúng ta đã hạn chế và vô hiệu hoá đến mức thấp nhất các hoạt động chống phá của bọn chúng, làm thất bại âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng của chúng
* Từ 6/3/1946 đến ngày 19/12/1946: Hòa Pháp đuổi quân Trung Hoa dân quốc
dân quốc , hai là lực lượng cách mạng Việt Nam ở miền Bắc
Bên cạnh đó, sau một thời gian dài dùng lực lượng vũ trang xâm lược miền Nam, quân Pháp không đạt được kết quả như mong muốn- không thể đánh nhanh thắng nhanh
được Ngoài ra chúng muốn ra miền Bắc bằng con đường ngoại giao
Về phía quân Trung Hoa dân quốc : Lúc này cần tập trung lực lượng đối phó với
lực lượng cách mạng của Đảng cộng sản Trung Quốc Bọn tay sai của chúng ở Việt Nam đã
lộ rõ mặt phản dân hại nước, không có cơ sở chính trị , xã hội trong nước và cúng thấy rằng không thể tiêu diệt được lực lượng cách mạng Việt Nam
Chính vì vậy, thực dân Pháp và quân Trung Hoa dân quốc đã kí Hiệp ước Hoa- Pháp
với nội dung :
Trang 8Theo Hiệp ước Hoa- Pháp , quân Trung Hoa dân quốc được Pháp trả lại các tô giói
và nhượng địa của Pháp trên đất Trung Quốc và được vận chuyển hàng hoá qua cảng Hải Phòng vào Vân Nam không phải đóng thuế
Đổi lại, Pháp được đưa quân ra Bắc thay cho quân Trung Hoa dân quốc làm nhiệm
vụ giải giáp quân Nhật
Tình hình đó đặt đặt nước ta vào tình thế phải lựa chọn một trong hai con đưòng: Một là cầm súng đánh Pháp ngay khi chúng đặt chân lên miền Bắc; Hai là, hoà hoãn với Pháp để nhanh chóng đuổi quân Trung Hoa dân quốc về nước Trước tình hình trên, Đảng
và Chính phủ đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn giải pháp đàm phán với Pháp -
“hoà để tiến” Chiều 6-3-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà kí với đại diện Chính phủ Pháp bản hiệp định Sơ bộ
Nội dung Hiệp định Sơ bộ:
Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là một quốc gia tự do,
có Chính phủ riêng, nghị viện riêng, quân đội riêng, tài chính riêng và nằm trong khối Liên hiệp Pháp
Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà thoả thuận cho 15 000 quân Pháp ra Bắc thay thế quân Trung Hoa dân quốc làm nhiệm vụ giáp quân Nhật, số quân này sẽ đóng ở những điạ điêm quy định và rút dần trong thời hạn 5 năm
Hai bên ngừng mọi cuộc xung đột ở miền Nam và giữ nguyên quân đội của quân mình tại vị trí cũ, tạo không khí thuận lợi đi đến cuộc đàm phán chính thức bàn các vấn đề
về ngoại giao cuả Việt Nam , chế độ tương lai của Đông Dương , quyền lợi kinh tế và văn hóa của người Pháp ở Việt Nam
Ý nghĩa:
Việc kí Hiệp định Sơ bộ là một chủ trương đúng đắn và kịp thời của Đảng và Chính phủ ta Ta đã tránh được cuộc chiến đấu bất lợi vì phải chống lại nhiều kẻ thù cùn một lúc, đẩy được 20 vạn quân Trung Hoa dân quốc cùng tay sai ra khỏi nước ta, có thêm thời gian hoà bình để củng cố chính quyền cách mạng , chuẩn bị lực lượng mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp
Về mặt pháp lí: Chính phủ Pháp đã phải thừa nhận Việt Nam là một quốc gia tự do, không còn là thuộc địa của Pháp
Sau khi kí Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946, cuộc đàm phán chính thức giữa hai Chính phủ Việt Nam và Pháp được tổ chức tại Phông-ten-nơ-b-lô (7/1946) thất bại vì Pháp ngoan cố không chịu công nhận độc lập và thống nhất của nước ta Trong khi đó, ở Đông Dương, quân Pháp tăng cường những hoạt động khiêu khích, quan hệ Việt- Pháp ngày cảng căng thẳng, có nguy cơ nổ ra chiến tranh
Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh , lúc đó đang ở thăm nước Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp , đã kí với đại diện Chính phủ Pháp bản Tạm ước ngày 14-9-1946, tiếp tục nhân nhượng Pháp một số quyền lợi kinh tế - văn hóa ở Việt Nam
Việc kí Bản Tạm ước đã tạo điều kiện cho ta kéo dài thời gian hoà hoãn để xây dựng, củng cố lực lượng , chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp không thể tránh khỏi
Trang 9Như vậy, trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm và nội phản, bảo vệ chính quyền cách mạng , chúng ta đã giành được thắng lợi Có được thắng lợi đó là do toàn thể nhân dân Việt Nam đã đoàn kết chặt chẽ chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh , với đường lối chính trị vô cùng sáng suốt, vừa cứng rắn về nguyên tắc, vừa mềm dẻo về sách lược, lúc thì tạm hoà hoãn với quân Trung Hoa dân quốc để đối phó với Pháp, khi thì tạm hoà hoãn với Pháp để đuổi quân Trung Hoa dân quốc và quét sạch bọn phản động tay sai của chúng
II Thắng lợi trên mặt trận quân sự trong cuộc kháng chiến chống Pháp 1945 - 1954
1 Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ
a Âm mưu và hành động chiến tranh của Pháp
Mặc dù đã kí Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3 và Tạm ước ngày 14/9/1946, thực dân Pháp vẫn đẩy mạnh việc chuẩn bị chiến tranh xâm lược.Ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, thực dân Pháp mở các cuộc tiến công Ở Bắc Bộ, hạ tuần tháng 11/1946, quân Pháp tiến công ở Hải Phòng, Lạng Sơn, cho quân đổ bộ lên Đà Nẵng, sau đó chiếm đóng Hải Phòng Tháng 12 –
1946, Pháp gây hấn ở Hà Nội, chiếm trụ sở Bộ Tài chính, gây ra vụ thảm sát ở phố Hàng Bún (Khu phố Yên Ninh)… Ngày 18/12/1946, quân Pháp gửi tối hậu thư đòi giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu, để cho Pháp làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự ở Hà Nội, nếu không chúng
sẽ giành toàn quyền hành động vào sáng ngày 20/12/1946
Tình thế khẩn cấp đã buộc Đảng và Chính phủ phải có quyết định kịp thời Ngày 18 –
12 1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc
Tối ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, phát động nhân dân cả nước kháng chiến chống Pháp, bảo vệ nền độc lập dân tộc
b Đường lối kháng chiến chống Pháp của Đảng
Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng ta thể hiện trong Chỉ thị Toàn dân kháng chiến của Trung ương Đảng (12/12/1946), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh (19/12/1946) và được giải thích cụ thể trong tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của Trường Chinh (tháng 9/1947)
Nội dung của đường lối kháng chiến:
Xác định mục đích kháng chiến là đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập
tự do: “Thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô
lệ”
Kháng chiến toàn dân: xuất phát từ truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc, từ tư tưởng “chiến tranh nhân dân” của Hồ Chí Minh, thực hiện toàn dân đánh giặc và đánh gặc bằng mọi vũ khi có trong tay.… Có lực lượng toàn dân mới thực hiện được kháng chiến
toàn diện và tự lực cánh sinh;
Kháng chiến toàn diện: kháng chiến trên trên tất cả các mặt: quân sự, chính trị, kinh
tế, văn hoá, xã hội và ngoại giao, nhằm làm thất bại mọi thủ đoạn của thực dân Pháp
Mặt khác phải xây dựng hậu phương kháng chiến toàn diện;
Kháng chiến lâu dài: vì so sánh lực lượng lúc đầu chưa có lợi cho cuộc kháng chiến; cần có thời gian để vừa kháng chiến vừa kiến quốc; chống lại chiến lược “đánh nhanh, thắng
Trang 10nhanh” của địch; từng bước làm thay đổi so sánh lực lượng, tiến lên giành thắng lợi quyết định
Tự lực cánh sinh: nhằm phát huy mọi nỗ lực chủ quan, tránh tư tưởng bị động trông
chờ vào sự giúp đỡ bên ngoài; mặt khác vẫn coi trọng sự ủng hộ quốc tế
Đường lối kháng chiến của Đảng là đường lối chiến tranh nhân dân, là ngọn cờ cổ
vũ, dẫn dắt cả dân tộc Việt Nam đứng lên kháng chiến, là xuất phát điểm cho mọi thắng lợi
của cuộc kháng chiến
2 Những thắng lợi trên mặt trận quân sự
a Cuộc chiến đấu ở ở Hà Nội và các đô thị phía Bắc vĩ tuyến 16
Ở Hà Nội, khoảng 20 giờ ngày 19/12/1946, sau tín hiệu tắt điện toàn thành phố, cuộc chiến đấu bắt đầu Vệ quốc quân, tự vệ chiến đấu… tiến công các vị trí quân Pháp Nhân dân khiêng bàn ghế, tủ… làm chướng ngại vật trên đường phố Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt, hai bên giành nhau từng khu nhà, góc phố như ở Bắc Bộ Phủ, Bưu điện Bờ Hồ, ga Hàng Cỏ, phố Khâm Thiên….Trung đoàn thủ đô được thành lập, đánh địch quyết liệt ở Bắc
Bộ Phủ, Chợ Đồng Xuân Sau hai tháng chiến đầu, ngày 17/2/1947, Trung đoàn rút về hậu
phương để chuẩn bị kháng chiến lâu dài
Quân dân các đô thị ở Bắc vĩ tuyến 16 kiên cường chiến đấu, gây nhiều khó khăn cho địch: vây hãm địch trong thành phố Nan Đinh từ tháng 12/1946 đến tháng 3/1947; buộc
địch ở Vinh phải đầu hàng…
Kết quả và ý nghĩa: Tiêu hao một bộ phận sinh lực địch, giam chân chúng trong thành phố, làm thất bại một bước kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” của chúng, tạo điều kiện cho cả nước đi vào cuộc kháng chiến lâu dài
b Chiến dịch Việt Bắc thu-đông năm 1947
* Thực dân Pháp tiến công căn cứ địa Việt Bắc
Tháng 3/1947, Chính phủ Pháp cử Bô-la-e sang làm cao uỷ Pháp ở Đông Dương, thay cho Đác-giăng-liơ Bô-la-e vạch ra kế hoạch tiến công Việt Bắc Âm mưu: xoá bỏ căn
cứ địa, tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến và quân chủ lực, triệt đường liên lạc quốc tế; tiến tới thành lập chính phủ bù nhìn toàn quốc và nhanh chóng kết thúc chiến tranh Ngày 7/10/1947, Pháp đã huy động 12.000 quân, gồm cả không quân, lục quân, và thuỷ quân với
hầu hết máy bay có ở Đông Dương chia thành ba cánh tiến công lên Việt Bắc
* Chiến dịch Việt Bắc
Trung ương Đảng ra chỉ thị: “phải phá tan cuộc tiến công mùa đông của giặc Pháp” Diễn biến: Bao vây tiến công địch ở Bắc Kạn, Chợ Mới, Chợ Đồn, Chợ Rã, buộc Pháp phải rút khỏi Chợ Đồn, Chợ Rã (cuối tháng 11/1947) Ở mặt trận hướng đông: chặn đánh địch trên đường số 4, tiêu biểu là ở đèo Bông Lau (30/10/1947).Ở hướng Tây: phục kích, đánh địch trên sông Lô, tiêu biểu là trận Đoan Hùng, Khe Lau, bắn chìm nhiều tàu chiến, tiêu diệt hàng trăm tên địch
Kết quả, ý nghĩa: Sau 75 ngày đêm chiến đấu, buộc đại bộ phận quân Pháp phải rút chạy khỏi Việt Bắc (ngày 19/12/1947); bảo toàn được cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến; bộ đội chủ lực thêm trưởng thành Loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 quân địch; bắn rơi 16 máy bay, bắn chìm và cháy 11 tàu chiến, ca nô; phá huỷ nhiều xe quân sự và pháo các loại, thu nhiều vũ khí và hàng chục tấn quân trang quân dụng
Trang 11Là chiến dịch phản công lớn đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Chứng minh đường lối kháng chiến của Đảng là đúng, chứng minh tính vững chắc của căn
cứ địa Việt Bắc Làm thất bại hoàn toàn chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của giặc Pháp, buộc chúng phải chuyển sang đánh lâu dài
c Chiến dịch Biên giới thu – đông năm 1950:
* Hoàn cảnh lịch sử mới
Thuận lợi: Ngày 1/10/1949, cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ra đời Đầu năm 1950, Trung Quốc, Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa khác lần lượt công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, viện trợ vật chất cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam
Khó khăn: Mĩ can thiệp sâu hơn vào Đông Dương Tháng 5/1949, Pháp đề ra kế hoạch Rơve, tăng cường hệ thống phòng thủ trên đường số 4, lập hành lang Đông – Tây:
Hải Phòng – Hoà Bình – Sơn La, chuẩn bị tiến công Việt Bắc lần thứ hai
* Chiến dịch Biên giới
Chủ trương của Đảng và Chính phủ: Tháng 6/1950, Đảng, Chính phủ quyết định mở chiến dịch Biên giới nhằm tiêu hao một bộ phận sinh lực địch; khai thông đường sang Trung Quốc và thế giới; mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, đồng thời tạo những thuận lợi mới thúc đẩy cuộc kháng chiến tiến lên
Diễn biến: Mở màn chiến dịch bằng trận đánh Đông Khê (ngày 16/9/1950) Mất Đông Khê, quân địch ở Thất Khê bị uy hiếp, Cao Bằng bị cô lập Trước nguy cơ bị tiêu diệt, quân Pháp rút lui khỏi Cao Bằng theo đường số 4 Chặn đánh nhiều nơi trên đường số
4, tiêu diệt và bắt sống toàn bộ hai cánh quân của địch Từ ngày 8/10/1950 đến ngày
22/10/1950, quân Pháp phải rút khỏi hàng loạt vị trí trên đường số 4
Kết quả: Loại khỏi vòng chiến đấu hơn 8.000 quân địch Giải phóng đường biên giới
từ Cao Bằng đến Đình Lập với 35 vạn dân, chọc thủng hành lang Đông – Tây Thế bao vây
của địch đối với căn cứ Việt Bắc bị phá vỡ, kế hoạch Rơve bị phá sản
Ý nghĩa: Là chiến dịch tiến công lớn đầu tiên của bộ đội chủ lực Việt Nam trong cuộc kháng chiến Mở đường liên lạc quốc tế, làm cho cuộc kháng chiến thoát khỏi tình thế
bị bao vây cô lập Mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc; bộ đội thêm trưởng thành và tích luỹ được nhiều kinh nghiệm Giành được thế chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ,
mở ra bước phát triển mới của cuộc kháng chiến
d Cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953 – 1954
* Kế hoạch quân sự Nava:
Trải qua 8 năm kháng chiến kiến quốc, lực lượng kháng chiến ngày càng lớn mạnh Thực dân Pháp thiệt hại ngày càng lớn: bị loại khỏi vòng chiến đấu 39 vạn quân, lâm vào thế bị động trên chiến trường Mĩ ngày càng can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh ở Đông Dương
Ngày 7/5/1953, được sự thoả thuận của Mĩ, chính phủ Pháp cử tướng Nava làm tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương Nava đề ra một kế hoạch quân sự với hi vọng trong 18 tháng giành thắng lợi quyết định để “kết thúc chiến tranh trong danh dự”
Kế hoạch Nava được chia thành 2 bước:
Trang 12Bước 1: từ thu đông 1953 – xuân 1954: giữ thế phòng ngự chiến lược ở Bắc Bộ, tiến công chiến lược để bình định Trung Bộ và Nam Đông Dương, đồng thời tăng cường xây dựng quân đội tay sai, tập trung binh lực xây dựng lực lượng cơ động chiến lược mạnh
Bước 2: từ thu – đông 1954, chuyển lực lượng ra chiến trường Bắc Bộ, thực hiện tiến công chiến lược, cố giành thắng lợi quân sự quyết định buộc Việt Minh phải đàm phán theo những điều kiện có lợi cho Pháp, nhằm kết thúc chiến tranh
Thực hiện kế hoạch: Từ thu đông 1953, Nava tập trung lực lượng quân cơ động ở đồng bằng Bắc Bộ là 44 tiểu đoàn (trong tổng số 84 tiểu đoàn cơ động chiến lược trên toàn Đông Dương), mở rộng hoạt động thổ phỉ, biệt kích ở vùng rừng núi, biên giới, mở cuộc tiến công lớn vào vùng giáp giới Ninh Bình, Thanh Hoá
* Cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953 – 1954
Chủ trương, kế hoạch: Trước sự thay đổi của cục diện chiến tranh ở Đông Dương và
trên cơ sở nhận định âm mưu mới của Pháp – Mĩ, tháng 9/1953, Bộ Chính trị trung ương Đảng họp và đề ra kế hoạch tác chiến đông – xuân 1953 – 1954
Phương hướng chiến lược: Tập trung lực lượng mở những cuộc tiến công lớn vào những hướng quan trọng mà địch tương đối yếu, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng đất đai, buộc địch phải bị động phân tán lực lượng để đối phó ở những nơi xung yếu mà chúng không thể bỏ, tạo điều kiện thuận lợi cho ta tiêu diệt từng bộ phận sinh lực địch
Phương châm chiến lược: “Tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt”, “đánh ăn chắc, tiến ăn chắc, chắc thắng thì đánh cho kì thắng, không chắc thắng kiên quyết không đánh”
Diễn biến chính:
Ngày 10/12/1953, tiến công địch ở Lai Châu, bao vây uy hiếp địch ở Điên Biên Phủ Địch điều quân tăng cường cho Điên Biên Phủ, biến Điện Biên Phủ trở thành nơi tập trung binh lực thứ hai sau đồng bằng Bắc Bộ
Đầu tháng 12/1953, phối hợp với quân, dân Lào tiến công Trung Lào Nava lại phải vội vã điều quân từ đồng bằng Bắc Bộ sang ứng cứu cho Xênô (nơi tập trung binh lực thứ ba)
Đầu tháng 2/1954, tiến công địch ở Bắc Tây Nguyên, giải phóng Kon Tum uy hiếp Plâyku Nava lại phải điều quân từ Nam Tây nguyên lên ứng cứu cho Plâyku, biến Plâyku thành nơi tập trung binh lực thứ tư
Tháng 2/1954, mở cuộc tấn công ở Thượng Lào, giải phóng Nậm Hu, Phongxalì, uy hiếp Luông Phabang và Mường Sài Nava lại phải tăng cường lực lượng chốt giữ Luông Phabang, biến nơi này thành nơi tập trung binh lực thứ năm của địch
Phối hợp với mặt trận chính diện, chiến tranh du kích vùng sau lưng địch phát triển mạnh, tiêu diệt, hiêu hao nhiều sinh lực địch làm cho chúng không có khả năng tiếp ứng cho nhau
Kế hoạch quân sự Nava bị đảo lộn Địch điều chỉnh kế hoạch, chọn Điện Biên Phủ làm khâu chính
e Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (1954)
* Hoàn cảnh của chiến dịch
Trang 13Do kế hoạch Na-va không thực hiện dược theo dự kiến, Pháp quyết định xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương, với lực lượng lúc cao nhất lên đến 16200 quân, được bố trí thành một hệ thống phòng thủ chặt chẽ gồm 49 cứ điểm Cả Pháp và Mĩ đều coi Điện Biên Phủ là pháo đài “bất khả xâm phạm” Như vậy, từ chỗ không có trong kế hoạch, Điện Biên Phủ đã trở thành trung tâm của kế hoạch Na-va
* Chủ trương của Đảng:
Đầu tháng 12/1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, nhằm tiêu diệt lực lượng địch ở đây, giải phóng Tây Bắc, tạo điều kiện giải phóng Bắc Lào; giành thắng lợi quyết định, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh ngoại giao
để kết thúc chiến tranh
* Diễn biến chiến dịch: chia làm 3 đợt:
Đợt I (từ 13/3 đến 17/3/1954): tiến công địch ở phân khu Bắc, tiêu diệt cứ điểm Him Lam, Độc Lập, buộc địch ở Bản Kéo phải ra hàng
Đợt II (từ 30/3/ đến 26/4/1954): liên tiếp mở nhiều đợt tiến công đánh vào các vị trí phòng thủ phía đông phân khu Trung tâm, gồm hệ thống phòng thủ trên các dãy đồi A1, D1, C1, E1 Mĩ phải tăng cường viện trợ khẩn cấp cho Pháp ở Đông Dương
Đợt III (từ 1/5 đến 7/5/1954): đồng loạt tiến công tiêu diệt các điểm đề kháng của địch Chiều 7/5/1954, quân ta đánh vào sở chỉ huy của địch, 17 giờ 30 phút ngày 7/5/1954 tướng
Đờ Cátxtơri cùng toàn bộ Ban Tham mưu của địch bị bắt
* Kết quả, ý nghĩa:
Trong đông – xuân 1953 – 1954, loại khỏi vòng chiến đấu 128.200 quân địch, thu 19.000 súng, bắn rơi và phá huỷ 162 máy bay, giải phóng nhiều vùng rộng lớn trong cả nước Riêng tại mặt trận Điện Biên Phủ, loại khỏi vòng chiến đấu 16.200 địch, bắn rơi và phá huỷ 62 máy bay, thu toàn bộ vũ khí và đồ dùng quân sự
Thắng lợi của cuộc tiến công Đông – Xuân 1953 – 1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ đã đập tan hoàn toàn kế hoạch Nava, giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh, tạo cơ sở thực lực về quân sự cho cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Giơnevơ, kết thúc cuộc kháng chiến
III Vấn đề xây dựng hậu phương trong kháng chiến chống Pháp 1945-1954
1 Quan điểm của Đảng về hậu phương chiến tranh nhân dân
Hậu phương là nơi xây dựng, dự trữ tiềm lực của chiến tranh về chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, khoa học-kĩ thuật; là nơi chi viện chủ yếu sức người, sức của cho tiền tuyến, là chỗ dựa về chính trị tinh thần của tiền tuyến Do vậy, hậu phương là một trong những nhân tố thường xuyên có tính quyết định thắng lợi của chiến tranh
Việc xây dựng hậu phương là một bộ phận chiến lược của đường lối chiến tranh nhân dân mà nội dung là giải quyết vấn đề cốt tử của bất kì cuộc chiến tranh nào, đó là: Dựa vào đâu, lấy sức đâu mà đánh giặc?
Hậu phương chiến tranh nhân dân là một hệ thống căn cứ, bao gồm các cơ sở chính trị ở thành thị và nông thôn, các khu du kích và các căn cứ du kích trong vùng tạm bị địch chiếm, các cùng tự do rộng lớn nằm trên khắp lãnh thổ đất nước Hậu phương của ta còn là lòng dân và sự đóng góp của nhân dân ngay trong vùng địch tạm chiếm
Trang 14Liên minh chiến đấu Việt- Miên- Lào, sự ủng hộ vật chất và tinh thần của các nước XHCN, sự ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân Pháp, nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới cũng được coi là hậu phương của nhân dân ta trong kháng chiến chống thực dân Pháp
2 Công cuộc chuẩn bị hậu phương trước khi phát động toàn quốc kháng chiến (9/1945-12/1946)
Sau Cách mạng tháng Tám đến trước khi phát động toàn quốc kháng chiến, đất nước
ta đứng trước muôn vàn khó khăn và bị chủ nghĩa đế quốc bao vây bốn bề…
Những khó khăn về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa đặt ra nhiệm vụ cơ bản nhất là giữ vững chính quyền dân chủ nhân dân, bảo vệ và xây dựng chế độ mới
Trước âm mưu, hành động xâm lược và phá hoại của các thế lực đế quốc và tay sai, nhân dân cả nước đoàn kết chặt chẽ xung quanh Chính phủ Hồ Chí Minh, hăng hái tham gia Mặt trận Việt Minh Các tổ chức Cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh được xây dựng rộng khắp, tập hợp thêm nhiều tầng lớp mới tham gia Việt Minh thực sự trở thành một lực lượng chính trị hùng hậu, có vai trò rất quan trọng trong công cuộc bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân Đây chính là cơ sở vững chắc để xây dựng, phát triển lực lượng mọi mặt của cách mạng, là nền tảng để thực hiện vũ trang toàn dân, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang nhân dân Đây cũng là cơ sở vững chắc để xây dựng hậu phương kháng chiến
Cùng với việc giáo dục chính trị cho quần chúng, xây dựng khối đoàn kết toàn dân,
tổ chức và phát triển các đoàn thể cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang, Đảng và Chính phủ đã đề ra nhiều chủ trương lớn xây dựng hậu phương trước khi xảy ra chiến tranh trên phạm vi cả nước
Tăng gia sản xuất lương thực để cứu đói và nuôi dưỡng quân đội là một nhiệm vụ bức thiết Ngày 3/9/1945, tại phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ lâm thời, Chủ tịch
Hồ Chí Minh nêu lên 6 việc cấp bách cần làm ngay, trong đó có việc chống giặc đói Người kêu gọi đồng bào cả nước nhường cơm sẻ áo cho nhau và chính Người nêu gương thực hiện đầu tiên
Để giải quyết khó khăn về tài chính, Chính phủ kiên quyết cắt giảm các khoản chi tiêu chưa thực sự cần thiết và kêu gọi sự tham gia quyên góp của toàn dân Ngày 4/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh số 4/SL xây dựng Quỹ Độc lập và phát động Tuần lễ vàng (17-24/9/1945), động viện mọi người dân tự nguyện đóng góp ủng hộ việc xây dựng
và bảo vệ nền độc lập của đất nước…
Nhờ biết dựa vào dân, Đảng và Chính phủ đã từng bước đưa đất nước vượt qua khó khăn, ra sức chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong cả nước
Cùng với việc huy động sự đóng góp của nhân dân, Đảng và Chính phủ cũng đề ra và thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp bồi dưỡng sức dân như quy định giảm tô 25%, bãi bỏ các thứ thuế vô lí, bất công của chế độ cũ (thuế thân, thuế chợ, thuế đò), phát hành giấy bạc Việt Nam …
Một trong những việc được Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm đặc biệt là thanh toán nạn mù chữ, từng bước mở mang kiến thức cho nhân dân lao động Ngày 3/9/1945, tại phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “ Nạn dốt là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng
Trang 15ta…Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu Vì vậy, tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạnh mù chữ” Ngày 8/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh thành lập Nha bình dân học vụ…
Cuộc vận động Đời sống mới do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xướng được đông đảo nhân dân cả nước hưởng ứng, nhằm xây dựng đạo đức mới với nội dung Cần- Kiệm- Liêm- Chính; bài trừ các tệ nạn xã hội cũ với những hủ tục ra khỏi đời sống xã hội …
Để đối phó với âm mưu mở rộng chiến tranh xâm lược ra cả nước ta của thực dân Pháp và chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến, vấn đề mở rộng khối đoàn kết toàn dân được đặt ra một cách bức thiết Theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 25/5/1946, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam được thành lập bao gồm các tổ chức, đảng phái và cá nhân yêu nước chưa tham gia vào mặt trận Việt Minh…
Trước những hành động khiêu khích, xâm lược ngày càng trắng trợn của thực dân Pháp từ sau cuộc đàm phán ở Phôngtennơblô tan vỡ, Hội nghị quân sự toàn quốc (19/10/1946) khẳng định: Không sớm thì muộn, Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp Từ đó, mọi công việc chuẩn bị cho kháng chiến càng được tiến hành khẩn trương…Cả nước được chia làm 12 chiến khu Các phương án tác chiến được vạch ra Vùng rừng núi Việt Bắc được củng cố làm căn cứ địa vững chắc, trong đó một số huyện thuộc các tỉnh Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang được chọn làm nơi xây dựng An toàn khu của Trung ương, sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến lâu dài…
Những hoạt động trên là sự chuẩn bị thiết thực cho việc xây dựng hậu phương khi cả nước bước vào cuộc kháng chiến
3 Xây dựng hậu phương kháng chiến:
- Trong đấu tranh cách mạng nói chung và trong đấu tranh vũ trang nói riêng, Đảng
và Chính phủ nhận thấy cần phải dựa vào lực lượng to lớn nhất là nông dân, phải có cơ sở vững chắc trong nhân dân để động viên nhân tài, vật lực cho cuộc kháng chiến Do đó tất yếu phải đặt vấn đề xây dựng hậu phương Khu giải phóng hình thành trong thời kì tiền khởi nghĩa là hình ảnh đầu tiên về hậu phương chiến tranh nhân dân ở nước ta Trong quá trình kháng chiến, nhờ có đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng, hậu phương chiến tranh nhân dân sớm hình thành, bao gồm ba vùng tự do lớn (Việt Bắc, Thanh-Nghệ-Tĩnh và khu V), các vùng tự do, khu căn cứ rộng lớn ở Đồng Tháp Mười, U Minh Thượng, U Minh Hạ và Đông Nam Bộ
Xây dựng hậu phương kháng chiến chống thực dân Pháp là một quá trình giành đất, giành dân giữa ta và địch Trong quá trình diễn biến chiến tranh trong phạm vi cả nước, đã dần dần hình thành hai vùng rõ rệt: Vùng tự do và vùng đich tạm chiếm
Hậu phương chiến tranh nhân dân được xây dựng toàn diện, bao gồm nhiều lĩnh vực: Chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, vừa xây dựng vừa bảo vệ
Từ năm 1951, trước hoàn cảnh cảnh của cuộc kháng chiến cùng với tư tưởng chỉ đạo
“tất cả để chiến thắng”, hậu phương Việt Nam ngày càng được củng cố Dù là ở những
vùng bị địch tạm chiếm hay những vùng tự do thì công tác xây dựng và củng cố hậu phương luôn luôn được Đảng đẩy mạnh ở mọi mặt: kinh tế, chính trị, văn hóa – y tế - giáo dục
a Về chính trị
Trang 16Trong mọi cuộc chiến tranh, công tác quản lý, tổ chức, giác ngộ quần chúng nhân dân luôn luôn được đề cao bởi Đảng phải tạo được sự tin tưởng trong lòng dân thì Đảng mới
có thể đứng vững và mọi cơ quan đoàn thể phải được tổ chức một cách chặt chẽ, hợp lý thì mới phát huy được sức mạnh Để có hậu phương vững mạnh về mọi mặt, phải lấy chính trị làm nhiệm vụ hàng đầu Bởi vậy Đảng và Chính phủ rất coi trọng rất coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục quần chúng, làm cho quần chúng giác ngộ về mục tiêu và nhiệm vụ cách mạng, nâng cao lòng yêu nước, yêu chế độ và quyết tâm kháng chiến
Chính phủ đã có nhiều biện pháp để kiện toàn bộ máy chính quyền dân chủ nhân dân các cấp theo nguyên tắc dân chủ, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, kiện toàn các cơ quan nhà nước:
Trong năm 1952, một số nơi đã tiến hành bầu cử Hội đồng nhân dân tỉnh và xã khóa III, đồng thời kiện toàn bộ Uỷ ban kháng chiến Hành chính theo tinh thần các thông tư, sắc lệnh của Chính phủ
Đảng còn củng cố và tăng cường chính quyền cấp xã Ngày 23/3/1951, Bộ Nội vụ ra
Thông tư số 62 về “Kế hoạch củng cố chính quyền cấp xã” quy định những người tham gia
vào bộ máy chính quyền được bầu cử một cách dân chủ Uỷ ban Kháng chiến Hành chính là Ban chấp hành của Hội đồng Nhân dân, quyền chấp hành đều tập trung vào Uỷ ban Kháng chiến Hành chính xã và theo nguyên tắc tập trung dân chủ, dưới nữa có các văn phòng và các bộ phận chuyên môn Đầu tháng 1/1051, Bộ Nội vụ tổ chức Hội nghị tổng kết củng cố
xã, xây dựng Đề án củng cố xã và trình Hội đồng Chính Phủ thông qua tháng 12/1951
Ngày 14/6/1952, Sắc lệnh số 95/SL được ban hành quy định số lượng bầu cử và chỉ định Ủy ban Kháng chiến Hành chính xã
Các cơ quan chuyên môn cũng được củng cố Ngày 10/10/1951, Bộ Nội Vụ ra Nghị
định số 438 về việc tổ chức trong phạm vi cả nước Ban Công an xã – trực thuộc hệ thống
Việt Nam Công an vụ, dưới quyền điều khiển của Ủy ban Kháng chiến Hành chính xã và chấp hành mệnh lệnh của cấp trên theo ngành dọc, có nhiệm vụ bảo vệ tài sản của nhân dân, giữ gìn an ninh và vệ sinh công cộng trong xã, ngăn ngừa và bài trừ các tệ nạn xã hội Ngày 16/2/1953, Sắc lệnh 141/SL được ký về việc đổi Việt Nam Công an vụ thuộc Bộ Nội cụ thành Thứ Bộ công an, đặt dưới quyền lãnh đạo của một Thứ trưởng Đến tháng 8/1953, Hội đồng Chính phủ quyết định đổi Thứ Bộ Công an thành Bộ Công an trở thành một bộ của chính phủ
Khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố và mở rộng
Vào tháng 3/1951, Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt được thống nhất lại thành một mặt trận duy nhất gọi là Liên Việt Cũng trong tháng 3 này vào ngày 11, khối Liên minh Việt – Miên – Lào được thành lập
Kết quả: Các cơ quan chính quyền gọn nhẹ, làm việc có hiệu quả, thu hút được
nhiều thành phần nhân dân lao động tham gia
Nhờ tập trung cấp xã, nhiều nơi đã có thể bỏ được cấp thôn Việc chấn chỉnh tổ chức chính quyền các cấp đã tạo nên những chuyển biến mới cả về tổ chức và lề nối làm việc, nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo điều hành mọi mặt công tác kháng chiến, kiến quốc ở cơ sở
Trang 17Sự ra đời của Liên minh Việt – Miên – Lào là một thắng lợi lớn tạo nên sức mạnh của khối đại đoàn kết quốc tế nhằm đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đi đến thắng lợi
b Về kinh tế - tài chính
Để phát triển tiềm lực kháng chiến, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 1 (3/1951) xác: Muốn kháng chiến trường kỳ phải luôn tăng cường tiềm lực kinh tế, tài chính; phải coi kinh tế, tài chính là nhiệm vụ rất quan trọng; các cấp phải tăng cường lãnh đạo kinh tế
Đảng ta đã xác định chính sách kinh tế là tăng gia sản xuất, chính sách tài chính là tăng thu giảm chi, giúp đỡ tư sản dân tộc kinh doanh và gọi vốn tư nhân để phát triển công – thương nghiệp, phát triển công thương, mở mang mậu dịch với nước bạn Đây là chủ trương chung của Đảng trong việc xây dựng và củng cố hậu phương về mặt kinh tế - tài chính
Về nông nghiệp:
Thứ nhất, Đảng vận động quần chúng nhân dân tăng gia sản xuất Tháng 4/1951, Hội
đồng chính phủ mở cuộc vận động Thi đua sản xuất, lập công, thành lập và kiện toàn các cơ
quan chỉ đạo kinh tế: Khuyến nông, Khai hoang, Tín dụng, Lâm chính, Địa chính, Thủy nông Từ năm 1952, cuộc đại vận động sản xuất và tiết kiệm được phát động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân
Thứ hai, Đảng và chính phủ tiếp tục thực hiện cải cách ruộng đất từng bước theo đường lối riêng biệt phù hợp với tình hình xã hội Việt Nam Từ năm 1949, Đảng và Chính phủ đề ra sắc lệnh giảm tô, chia lại ruộng đất công bằng hợp lý
Tháng 1/1953, Ban chấp hành trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ 4 để kiểm điểm
về việc thi hành chính sách ruộng đất và đề ra 5 công tác chính trong năm 1953 là: phát động quần chúng triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức, đẩy mạnh công tác chỉnh quân, tăng
cường công tác kinh tế - tài chính, công tác vùng sau lưng địch, trong đó công tác chính số
một là phát động quần chúng triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức Hội nghị thông qua bản
Dự thảo cương lĩnh của Đảng Lao động Việt Nam về chính sách ruộng đất
Tháng 11/1953, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Hội nghị đại
biểu toàn quốc của Đảng thông qua Cương lĩnh ruộng đất, tổ chức thực hiện cải cách ở vùng tự do Tháng 12/1950, Quốc hội thông qua Luật cải cách ruộng đất
Thứ ba, từ tháng 6/1951, Hội đồng Chính phủ quyết định về thể lệ sử dụng công điền, công thổ, xác định nguyên tắc sử dụng công điền công thổ là phải làm lợi cho tăng gia sản xuất, củng cố đoàn kết nông thôn, sát với tình hình địa phương, dân chủ và công bằng
Ngày 5/3/1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh số 87/SL, ban hành Điều lệ tạm thời sử
dụng công điền công thổ, quy định nguyên tắc chia, dối tượng được chia, cách chia, nghĩa
vụ và quyền hạn của người được lĩnh công điền, công thổ
Thứ tư, Chính phủ chủ trương khuyến khích địa chủ không phải là Việt gian, nhất là địa chủ lớn ở Nam Bộ hiến ruộng cho nhà nước
Kết quả: Phong trào thi đua sản xuất được nhân dân hưởng ứng mạnh mẽ, sản lượng
lương thực không ngừng tăng lên, tính riêng trong vùng tự do, năm 1951 sản xuất được 2.727.600 tấn lương thực, đến năm 1953 là 2.916.000 tấn
Việc thực hiện chính sách giảm tô cũng đã đạt được kết quả lớn Tính từ Liên khu IV trở ra, đến năm 1953, đã có 397.000 ha ruộng đất được giảm tô 25%