Trong hoàn cảnh đó, ngày 25 - 11 - 1945, Trung Ương Đảng ra bản chỉ thị “Kháng chiến, kiến quốc”, xác định nhiệm vụ chiến lược, nhiệm vụ trước mắt và những chính sách lớn để chỉ đạo: Tí
Trang 1MÃ CHUYÊN ĐỀ: LSU_03
Chuyên đề TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG LẦN THỨ XVI NĂM 2020
A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn chuyên đề
Sử học (nói rộng ra là Khoa học Lịch Sử) là một trong những ngành tri thức sớm nhất của con người và luôn giữ vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, trong kho tàng tri thức nhân loại cũng như trong mọi hoạt động của con người, trong nhận thức thế giới và cải tạo thế giới Những tri thức lịch sử trang bị cho chúng ta những kiến thức tinh hoa của văn hóa nhân loại, của dân tộc để học hỏi, giao lưu, hội nhập Xu hướng toàn cầu hóa hiện nay đã làm cho các quốc gia dân tộc không phân biệt thể chế chính trị xích lại gần nhau Vì thế, muốn hội nhập phải nói rõ lịch
sử dân tộc mình cho thế giới hiểu đúng
Học tập nói chung và học tập môn Lịch sử nói riêng là quá trình tiếp thu kiến thức Kiến thức lịch sử lại hết sức phong phú và tăng lên với mức độ vô cùng nhanh chóng mà ở trường không sao truyền thụ hết được Trong khi đó khả năng hiểu biết và khả năng học tập của con người trong cả cuộc đời là có hạn Cho nên, dạy học ở trường phải phù hợp với đặc điểm tâm lí và khả năng nhận thức của học sinh, cần thiết phải làm cho quá trình học tập của học sinh trở thành quá trình chủ động học tập, tiến dần lên quá trình tự nghiên cứu độc lập Thứ trưởng Nguyễn Hữu Độ đã từng bày tỏ “Nếu nói việc dạy lịch sử chính là kể câu chuyện đã qua kết nối đến câu chuyện hiện tại, thầy cô sẽ kể lại câu chuyện ấy làm sao phải thật hấp dẫn cho học sinh Vì vậy, vai trò của thầy cô trong dạy học bộ môn này là vô cùng quan trọng, làm sao để học sinh chủ động tìm đến môn học, lĩnh hội kiến thức, hiểu lịch sử, biết vận dụng bài học của lịch sử vào thực tiễn, khơi gợi niềm tự hào dân
Trang 2tộc, thấy được trách nhiệm của mình trong việc giữ gìn, bảo vệ và phát triển đất nước ”
Ngoài nhiệm vụ dạy môn Lịch sử ở các lớp, giáo viên còn có nhiệm vụ phát
hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi Làm thế nào để phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi? Đây là trăn trở của nhiều thế hệ giáo viên giảng dạy môn Lịch sử, đặc biệt là
các thầy, cô giáo trường chuyên Bồi dưỡng học sinh giỏi là một nhiệm vụ rất nặng
nề, đòi hỏi sự đầu tư nhiều công sức, mà trước hết cần phải đổi mới nội dung và phương pháp dạy học, kể cả phương thức kiểm tra, đánh giá Trong rất nhiều những hoạt động để tăng cường rèn luyện cho học sinh cũng như giáo viên các trường chuyên, thì trại hè Hùng Vương là một trong những sân chơi được tổ chức thường niên từ năm 2004 đến nay
Trại Hè Hùng Vương là một hoạt động toàn diện của trường THPT Chuyên trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện tham gia của các trường THPT Chuyên khu vực miền núi phía Bắc Trại hè tạo ra sân chơi để phát triển tư duy môn học cho những học sinh có năng khiếu bộ môn văn hóa vừa hoàn thành chương trình lớp 10, lớp
11 khối THPT Chuyên theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo Đồng thời còn nhằm giúp cho các thầy cô giáo dạy ở các trường chuyên trong và ngoài khu vực có điều kiện giao lưu, trao đổi, học hỏi những kinh nghiệm dạy học các môn khoa học nói chung và môn Lịch sử nói riêng nhằm nâng cao hiệu quả việc dạy học và đáp ứng đòi hỏi của công cuộc đổi mới đất nước Trên cơ sở đó, nhóm chuyên môn chúng tôi thảo luận và biên soạn chuyên đề của môn Lịch sử tham gia
Trại hè Hùng Vương lần thứ XVI năm 2020 “Lịch sử Việt Nam 1945 - 1946, một thử thách mới đối với Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh” Trong tiến
trình Lịch sử Việt Nam nói chung và Lịch sử Việt Nam hiện đại từ năm 1919 đến năm 2000 nói riêng, giai đoạn Lịch sử Việt Nam 1945 - 1954 là một trong những nội dung quan trọng Giai đoạn lịch sử này tuy kéo dài 9 năm nhưng khối lượng kiến thức nhiều, có những vấn đề phức tạp, đòi hỏi học sinh không chỉ có kiến thức
Trang 3tốt, mà còn phải có trình độ tư duy, khái quát cao… Phần kiến thức của giai đoạn lịch sử này cũng là một trong những nội dung chính của đề thi THPT Quốc gia, của các đề thi chọn học sinh giỏi cấp Tỉnh, cấp Quốc gia hàng năm
lý tưởng Đối với học sinh giỏi điều này càng quan trọng, vì đó không chỉ là nguồn
để đào tạo nhân lực có chất lượng cao, mà còn có khả năng phát triển thành nhân tài của đất nước
Theo Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Hữu Độ, để đón đầu Chương trình
GDPT 2018, các nhà trường cần chuyển mạnh sang dạy học phát triển năng lực
cho học sinh Tuy nhiên, dạy học tiếp cận năng lực không có nghĩa là hoàn toàn bỏ qua kiến thức, mà là đổi mới phương pháp dạy học, thay đổi cách dạy lấy truyền thụ kiến thức là chính Thầy cô cần dạy thế nào để học sinh có khả năng sử dụng kiến thức giải quyết vấn đề trong thực tế đời sống Nếu nói dạy học Lịch sử là kể lại câu chuyện quá khứ, thầy cô cần kể câu chuyện ấy thật hấp dẫn
2 2.Về đối tượng dự thi Trại hè Hùng Vương
Học sinh giỏi dự thi Trại hè Hùng Vương là học sinh lớp 10 và 11 bậc THPT, các em đã bước vào độ tuổi “người lớn”, có tư chất thông minh, năng động, sáng tạo, lực học tốt, có khả năng tự quyết định được cái gì là quan trọng cần phải học, biết vận dụng những kiến thức Lịch sử vào giải quyết những bài tập khó Điều quan trọng hơn là các em có ý thức cầu tiến, say mê học tập, muốn vươn lên học tốt
Trang 4Về cơ bản, các em đã có những kiến thức nhất định của môn học trong quá trình học tập ở bậc trung học cơ sở và tích luỹ qua những kênh thông tin khác nhau, các em hiểu được một số khái niệm cơ bản, có khả năng tư duy trừu tượng, tiếp nhận và xử lý thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, có khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề Đây là học sinh nguồn để bồi dưỡng cho đội tuyển học sinh giỏi quốc gia
2 3 Về đề thi
Cùng với đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy môn Lịch sử theo chương trình giáo dục phổ thông mới thì phải đổi mới cả phương pháp đánh giá kết quả học tập của học sinh nói chung và học sinh giỏi nói riêng Trong đánh giá thành tích học tập của HS không chỉ đánh giá kết quả mà chú ý cả đánh giá quá trình học tập Đánh giá thành tích học tập theo quan điểm phát triển năng lực không giới hạn vào khả năng tái hiện tri thức, ghi nhớ máy móc mà chú trọng khả năng vận dụng tri thức trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp, liên hệ những kiến thức Lịch sử của quá khứ, của thời đại trước, của thế giới cho việc giải quyết những vấn đề thời đại, dân tộc
Qua phân tích các đề thi HSG Trại hè Hùng Vương trong nhiều năm gần đây cho thấy: Việc thi chọn học sinh giỏi môn lịch sử hiện nay là viết bài tự luận Nội dung tiệm cận với nội dung đề thi HSG Quốc gia Câu hỏi trong đề thi thường mang hướng mở, chú trọng khả năng vận dụng tri thức trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp, liên hệ đương thời với đương đại, nêu/trình bày quan điểm các nhân về sự kiện hiện tượng Lịch sử Với thang điểm 20, các đề thi học sinh giỏi hiện nay thường giao động từ 5 đến 7 câu Nội dung đề thi hoàn toàn nằm trong chương trình Trung học phổ thông, bao gồm Lịch sử thế giới và Lịch sử Việt Nam chương trình lớp 10,11 (đối với HS khối 10); Lịch sử thế giới và Lịch sử Việt Nam chương trình lớp 11; phần thế giới của chương trình 12, phần Việt Nam đến năm
Trang 51945 (đối với HS khối 11) Sự phân bố tỷ lệ điểm giữa phần lịch sử Việt Nam và
lịch sử thế giới thường là 70% và 30%
Theo đề xuất của các nhà giáo dục Lịch sử, đối với câu hỏi của đề thi học sinh giỏi có thể sử dụng đề thi mở - một biện pháp đổi mới phương thức kiểm tra, đánh giá Với dạng đề thi có những câu hỏi “mở”, tạo điều kiện cho sự am hiểu sâu, sáng tạo của học sinh Học sinh có điều kiện nêu/trình bày nhận thức của mình về một nhận định, về một sự kiện hiện tượng lịch sử hoặc HS phân tích, đánh giá, so sánh, liên hệ một sự kiện hoặc một quá trình lịch sử, khuyến khích khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề
Trong mỗi câu hỏi thường có hai vế: vế 1 thường là kiến thức cơ bản, vế 2
thường là câu hỏi thông hiểu hoặc vận dụng Ví dụ: Trên cơ sở phân tích thái độ
chính trị của các thế lực đế quốc ở Việt Nam từ sau Cách mạng Tám năm 1945, anh/chị hãy xác định kẻ thù nguy hiểm nhất của nước ta thời điểm đó
Vế 1 của câu này là phân tích thái độ chính trị của các thế lực đế quốc ở nước
ta từ sau Cách mạng Tám năm 1945 Phần kiến thức cơ bản này vừa phải làm rõ
thái độ chính trị của các thế lực đế quốc ở nước ta từ sau Cách mạng tháng Tám năm
1945, trong sách giáo khoa lớp 12 (chương trình chuẩn và chương trình nâng cao) vừa đảm bảo kĩ năng của bài phân tích: vì sao? như thế nào? tác động/ý nghĩa
Vế 2 của câu này: xác định kẻ thù nguy hiểm nhất của nước ta thời điểm đó Đây là yêu cầu vận dụng nâng cao, đòi hỏi học sinh sau khi phân tích thái độ chính
trị của các thế lực đế quốc ở nước ta từ sau Cách mạng Tám năm 1945, học sinh
xác định được kẻ thù nguy hiểm nhất của nước ta ở thời điểm đó, lập luận thuyết
phục vì sao lại là thế lực đó mà không phải là thế lực khác
2 4.Về học liệu biên soạn chuyên đề
Việc dạy và học môn lịch sử nói chung và chuyên đề này nói riêng là thực hiện theo bộ sách giáo khoa lịch sử do Bộ Giáo dục - Đào tạo biên soạn và được bổ sung theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương
Trang 6Đảng Khoá VIII về giáo dục và đào tạo: "Rà soát lại và đổi mới một bước sách giáo khoa, loại bỏ những nội dung không thiết thực, bổ sung những nội dung cần thiết theo hướng đảm bảo kiến thức cơ bản, cập nhật với tiến bộ của khoa học và công nghệ”
Tuy nhiên đối với học sinh giỏi, sách giáo khoa là một tài liệu quan trọng nhất, ngoài ra học sinh còn phải đọc một số tài liệu khác Đặc biệt, với chuyên đề này cần một số giáo trình, sách chuyên khảo được xuất bản phục vụ cho nghiên cứu lịch sử Việt Nam giai đoạn từ năm 1858 đến năm 2000
Trên cơ sở xác định và nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí, chức năng, chương trình môn học, đối tượng tham gia kỳ thi HSG Trại hè Hùng Vương, cấu trúc đề thi HSG Trại hè Hùng Vương và học liệu phần thi, chúng tôi biên soạn chuyên đề này nhằm chia sẻ với các thầy, cô giáo dạy lịch sử nói chung và các thầy, cô giáo đang dạy đội tuyển học sinh giỏi khu vực cũng như HSG Quốc gia môn lịch sử nói riêng về những kiến thức cơ bản và phương pháp ôn luyện về giai đoạn lịch sử quan trọng này
3 Cấu trúc của chuyên đề
- Lịch sử Việt Nam từ sau ngày 2/9/1945 đến trước ngày 19/12/1946
- Một số chủ đề có tính chất minh hoạ việc nâng cao kiến thức và năng lực tư duy lịch sử cho học sinh giỏi Lịch sử Việt Nam từ sau ngày 2/9/1945 đến trước ngày 19/12/1946
- Một số vấn đề về kiểm tra đánh giá HSG Lịch sử Việt Nam từ sau ngày 2/9/1945 đến trước ngày 19/12/1946
Trang 73 3 Phần kết luận
- Rút ra những vấn đề quan trọng của Chuyên đề
- Đưa ra những đề xuất, ý kiến
1 Những thuận lợi
Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời Đảng và nhân dân Việt Nam có bộ máy chính quyền nhà nước làm cộng cụ để xây dựng và bảo vệ đất nước
Nhân dân Việt Nam có truyền thống yêu nước và truyền thống cách mạng, được hưởng những thành quả của cách mạng, nên có quyết tâm bảo vệ chế độ mới
Đảng đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh dạn dày kinh nghiệm lãnh đạo, đã trở thành đảng cầm quyền, là trung tâm đoàn kết toàn dân trong công cuộc đấu tranh để xây dựng và bảo vệ chế độ cộng hoà dân chủ
Hệ thống xã hội chủ nghĩa hình thành, uy tín và ảnh hưởng của Liên Xô đang phát triển mạnh mẽ; phong trào giải phóng dân tộc dâng cao ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, làm lay chuyển hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc; phong
Trang 8trào đấu tranh vì hoà bình, dân chủ phát triển ở nhiều nước tư bản chủ nghĩa Chủ nghĩa đế quốc có phần suy yếu sau Chiến tranh thế giới thứ hai
2 Những khó khăn
a Giặc ngoại xâm và nội phản:
Việt Nam là một bộ phận của thế giới nên đã chịu tác động lớn của cuộc đối đầu gay gắt và phức tạp giữa một bên là lực lượng hòa bình dân chủ và CNXH với bên kia là các nước đế quốc và lực lượng phản động do đế quốc Mĩ cầm đầu Vừa mới ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã bị chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động liên kết với nhau bao vây, chống phá quyết liệt:
Quân đội các nước đế quốc, dưới danh nghĩa quân Đồng minh giải giáp quân đội Nhật Bản, lũ lượt kéo vào Việt Nam
Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc có gần 20 vạn quân Trung Hoa dân quốc có Mĩ hậu thuẫn, theo sau Trung Hoa Dân quốc là Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc), Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) vào nước ta với âm mưu xúc tiến thành lập một chính phủ bù nhìn Dã tâm của chúng là tiêu diệt Đảng Cộng sản, phá tan mặt trận Việt Minh, lật đổ chính quyền cách mạng còn non trẻ của nhân dân Việt Nam
Ở miền Nam, tình hình còn nghiêm trọng hơn Ngoài việc lấy danh nghĩa là quân đồng minh vào giải giáp quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở vào có hơn 1 vạn quân Anh, đồng lõa và tạo điều kiện cho Pháp trở lại xâm lược Việt Nam lần thứ hai
Ngoài lực lượng quân Tưởng, quân Anh, Pháp, trên đất nước ta còn có 6 vạn quân Nhật đang chờ để giải giáp Một bộ phận theo lệnh đế quốc Anh đánh lại lực lượng vũ trang cách mạng, tạo điều kiện cho quân Pháp mở rộng chiếm đóng Nam
Bộ
Dựa vào thế lực của quân đội nước ngoài, các lực lượng phản cách mạng trong nước đã lần lượt ngóc đầu dậy chống phá chính quyền cách mạng
Trang 9Chưa bao giờ trên đất nước Việt Nam lại có nhiều loại kẻ thù đế quốc cùng xuất hiện một lúc như vậy
b Về chính trị:
Trong khi đó, lực lượng mọi mặt của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa kịp củng cố và phát triển Chính quyền cách mạng còn non trẻ, chưa được củng cố Đảng và nhân dân Việt Nam chưa có kinh nghiệm giữ chính quyền
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chưa được nước nào công nhận và đặt quan hệ ngoại giao Cách mạng Việt Nam ở trong tình thế bị bao vây, cô lập
Lực lượng vũ trang cách mạng còn non trẻ, trang bị kém, thiếu thốn đủ mọi
bề, kinh nghiệm chiến đấu còn quá ít
c Về kinh tế:
Nền kinh tế của đất nước vốn nghèo nàn, lạc hậu, đã bị kiệt quệ nặng nề do chính sách vơ vét, bóc lột của Pháp - Nhật trong mấy mươi năm thống trị và bóc lột của chúng Công nghiệp lạc hậu và đình đốn, nông nghiệp tiêu điều vì hơn 50% ruộng đất ở Bắc Bộ bị bỏ hoang, thương nghiệp ngừng trệ, bế tắc, hàng hóa khan hiếm
Ngân sách Nhà nước hầu như trống rỗng, Chính quyền cách mạng chưa quản lí được ngân hàng Đông Dương Trong khi đó quân Trung Hoa Dân quốc tung ra thị trường các loại tiền của Trung Quốc đã mất giá, càng làm cho nền tài chính thêm rối loạn
Nạn đói cuối năm 1944 đầu năm 1945, đã cướp đi sinh mệnh của 2 triệu đồng bào ta chưa được khắc phục thì nguy cơ mộ trận đói mới đang đe dọa nhân dân ta Nạn lụt lớn, làm vỡ đê ở 9 tỉnh Bắc Bộ, tiếp theo đó là hạn hán kéo dài làm cho hơn một nửa diện tích ruộng đất không thể cày cấy được
d Về văn hoá, xã hội:
Các “di sản” văn hoá lạc hậu do chế độ thực dân phong kiến để lại hết sức nặng nề, hơn 90% dân số bị mù chữ
Trang 10Các tệ nạn xã hội cũ như mê tín dị đoan, rượu chè, cờ bạc, nghiện hút rất trầm trọng và phổ biến
Giặc ngoài, thù trong, khó khăn chồng chất khó khăn đè nặng lên đất nước
ta, đặt chính quyền cách mạng đứng trước tình thế hiểm nghèo Vận mệnh dân tộc như “ngàn cân treo sợi tóc”
3 Nhiệm vụ mới của dân tộc
Vận mệnh độc lập tự do của dân tộc vừa mới giành được đứng trước nguy
cơ mất còn Trọng trách nặng nề đối với dân tộc đã giao phó cho Đảng và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do Hồ Chí Minh đứng đầu
Trong hoàn cảnh đó, ngày 25 - 11 - 1945, Trung Ương Đảng ra bản chỉ thị
“Kháng chiến, kiến quốc”, xác định nhiệm vụ chiến lược, nhiệm vụ trước mắt và
những chính sách lớn để chỉ đạo:
Tính chất và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam “vẫn là giải phóng dân tộc”, khẩu hiệu của nhân dân là “dân tộc trên hết”, “ Tổ quốc trên hết”
Kẻ thù chính là thực dân Pháp xâm lược;
Chỉ thị đã đề ra 4 nhiệm vụ cấp bách trước mắt là củng cố chính quyền cách mạng, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân;
Bảo vệ và củng cố chính quyền là nhiệm vụ bao trùm, khó khăn và nặng nề nhất vì trong điều kiện nước ta lúc bấy giờ “việc giành chính quyền dễ bao nhiêu thì việc giữ chính quyền càng khó bấy nhiêu”
Phương hướng đối ngoại là kiên trì nguyên tắc bình đẳng, hợp tác”, “thêm bạn, bớt thù”, đối với quân Trung Hoa Dân quốc thực hiện khẩu hiệu “Hoa, Việt thân thiện”, đối với Pháp thực hiện “độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh tế”
II Bước đầu xây dựng chính quyền cách mạng, giải quyết nạn đói, nạn dốt và khó khăn về tài chính
1 Xây dựng chính quyền cách mạng
Trang 11Chính quyền là công cụ sắc bén để bảo vệ thành quả của cách mạng, bảo vệ quyền độc lập tự do Vì vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là phải củng cố và tăng cường sức mạnh của bộ máy chính quyền từ Trung ương đến địa phương, làm cho chính quyền đó thực sự là của dân, do dân và vì dân
Ngày 6-1-1946, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đã diễn ra sôi nổi trong cả nước Nhiều địa phương, nhất là Nam Bộ, cuộc bầu cử diễn ra dưới làn mưa bom đạn của kẻ thù Hơn 90% cử tri đã đi bầu 333 đại biểu vào Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Thắng lợi của Tổng tuyển cử bầu Quốc hội có ý nghĩa to lớn, thể hiện ý chí
và quyết tâm của nhân dân Việt Nam là xây dựng một nước Việt Nam thống nhất, độc lập; giáng một đòn mạnh mẽ vào âm mưu chia rẽ, lật đổ và xâm lược của đế quốc và tay sai, tạo cơ sở pháp lí vững chắc cho nhà nước cách mạng để thực hiện nhiệm vụ đối nội, đối ngoại trong thời kì mới
Sau cuộc bầu cử Quốc hội, tại các địa phương Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đã tiến hành bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp, thành lập Ủy ban hành chính các cấp
Ngày 2-3-1946, Quốc hội Khoá I Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà họp phiên đầu tiên, thông qua danh sách Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm chủ tịch và lập ra Ban dự thảo Hiến pháp Ngày 9-11-1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được Quốc hội thông qua
Quân đội quốc gia Việt Nam ra đời (5-1946) Lực lượng dân quân tự vệ được củng cố và phát triển Viện Kiểm soát nhân dân và Toà án nhân dân được thành lập
Ý nghĩa: Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển củ và các kì họp của Quốc hội là thắng lợi của khối đại đoàn kết toàn dân, bộ máy chính quyền nhà nước được kiện toàn, trở thành công cụ sắc bén phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước
2 Giải quyết nạn đói và khó khăn về tài chính
a Giải quyết nạn đói:
Trang 12Đứng trước những khó khăn về kinh tế, nhất là hậu quả của nạn đói cũ đang hoành hành, nạn đói mới đang có nguy cơ đe dọa, tại phiên họp ngày 3-9-1945 theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính phủ đã quyết định phải chống “giặc đói”
Biện pháp trước mắt: xuất phát từ truyền thống đồng cam cộng khổ “một miếng khi đói bằng một gói khi no”, đồng bào cả nước hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và noi gương Người: Quyên góp, điều hoà thóc gạo, tổ chức
hũ gạo cứu đói, tổ chức “ngày đồng tâm” nhịn ăn, “lập hũ gạo cứu đói”, không
dùng lương thực để nấu rượu
Biện pháp lâu dài: toàn dân thi đua hăng hái tham gia sản xuất với các khẩu hiệu “Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa”, “Tấc đất, tấc vàng” Bãi bỏ thuế thân và các thứ thuế vô lí khác, giảm tô 25%, chia lại ruộng đất công một cách công bằng
Các ngành kinh tế công thương nghiệp, giao thông vận tải cũng dần dần
được khôi phục sản xuất, kinh doanh
Nhờ có những biện pháp tích cực nói trên, chỉ sau một thời gian ngắn nạn đói bị đẩy lùi, đời sống nhân dân nhất là nông dân được cải thiện, sản xuất nông nghiệp cả nước nhanh chóng được phục hồi Nhân dân phấn khởi, tin tưởng vào chính quyền cách mạng Đây “thực là một kì công của chế độ dân chủ” (Võ
Nguyên Giáp)
b Giải quyết những khó khăn về tài chính:
Biện pháp trước mắt: Nhà nước xóa bỏ các thứ thuế vô lí và bất công của chế độ cũ; đã động viên nhân dân đóng góp bằng các hình thức như xây dựng “Quỹ độc lập”, thực hiện “Tuần lễ vàng”, “quỹ Nam Bộ”, “quỹ kháng chiến” Kết quả chỉ sau một thời gian ngắn nhân dân cả nước đã góp được 370 kg vàng và 20 triệu đồng vào Quỹ độc lập, 40 triệu cho quỹ đảm phụ quốc phòng
Trang 13Biện pháp lâu dài: Ngày 23-11-1946, tại kì họp thứ 2 của Quốc hội quyết định lưu hành tiền Việt Nam trong cả nước Những khó khăn về tài chính từng bước được đẩy lùi
c Về văn hoá – xã hội:
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, vì vậy Người đã chủ trương mở một chiến dịch chống nạn mù chữ Ngày 8-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh thành lập Nha bình dân học vụ, cơ quan chuyên trách việc chống “giặc dốt” Người kêu gọi toàn dân đi học Chỉ sau 1 năm trên toàn quốc đã tổ chức gần 76.000 lớp học và có trên 2,5 triệu người thoát nạn mù chữ
Các trường phổ thông và đại học sớm được khai giảng nhằm đào tạo công dân, cán bộ có năng lực phụng sự Tổ quốc Nội dung và phương pháp giáo dục đổi mới theo tinh thần dân tộc, dân chủ
Việc bài trừ các tệ nạn xã hội như mê tín dị đoan được quần chúng nhân dân hưởng ứng sôi nổi; kết hợp với xây dựng nếp sống văn hoá mới
Ý nghĩa: Góp phần nâng cao trình độ hiểu biết của nhân dân, xây dựng đời sống mới Thành quả một năm kiến quốc, xây dựng chế độ mới đã đặt nền móng vững chắc, tạo sức mạnh to lớn của dân tộc trên nền tảng dân chủ nhân dân để chiến đấu và chiến thắng giặc ngoài thù trong, đưa nước nhà vượt qua tình thế hiểm nghèo vào những năm 1945 - 1946
III Đấu tranh chống ngoại xâm và nội phản, bảo vệ chính quyền cách mạng
Cùng với việc xây dựng chế độ mới, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải tiến hành cuộc đấu tranh gay go phức tạp và quyết liệt chống lại âm mưu lật đổ, bành trướng của quân Tưởng và phát động cuộc kháng chiến toàn quốc chống lại cuộc xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp
1 Kháng chiến chống Pháp trở lại xâm lược ở Nam Bộ
Tháng 8 - 1945, cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 trên khắp cả nước đã giành được thắng lợi Nước nhà đã được độc lập, tự do Khát vọng ngàn
Trang 14đời, cuộc đấu tranh 15 năm đầy hy sinh, gian khổ của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản do Hồ Chí Minh đứng đầu đã mang lại cho nhân dân
Việt Nam niềm vui được giải phóng, được “đổi đời” với bản Tuyên ngôn độc
lập bất hủ: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập Toàn thể dân tộc
Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”
Tuy nhiên, trước dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, niềm vui tự do và độc lập của nhân dân ta đã không thể kéo dài Ngày 23-9-1945, được sự giúp sức của quân Anh, thực dân Pháp nổ súng đánh úp trụ sở Uỷ ban Nhân dân Nam Bộ và cơ quan tự vệ Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần hai
Vì danh dự của Tổ quốc, vì độc lập dân tộc, ngay khi thực dân Pháp trở lại xâm lược, nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn cùng nhân dân Nam Bộ đứng lên kháng chiến Lực lượng vũ trang đột nhập sân bay Tân Sơn Nhất, phá kho tàng, triệt phá nguồn tiếp tế, dựng chướng ngại vật trên đường phố, bao vây và tấn công quân Pháp trong thành phố
Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng nhân dân cả nước hướng
về “Thành đồng tổ quốc”, đồng thời tích cực chuẩn bị đối phó với âm mưu của Pháp muốn mở rộng chiến tranh ra cả nước Các đoàn quân “Nam tiến” sát cánh cùng nhân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ kháng chiến
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tái xâm lược của quân và dân ta trong những ngày đầu ở Nam bộ có ý nghĩa rất to lớn, làm thất bại âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp Đồng thời, tỏ rõ tinh thần yêu nước nồng nàn, ý chí quật cường và tinh thần chiến đấu anh dũng để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền của dân tộc ta; thực hiện chủ trương của Đảng cần phải tập trung đánh mạnh quân Pháp ở Nam bộ, quyết tâm giành thắng lợi ở chiến trường Nam Bộ để tạo điều kiện cho việc đấu tranh với quân Tưởng ở ngoài miền Bắc
2 Đấu tranh với quân Trung Hoa Dân quốc
Trang 15Để giữ vững chính quyền cách mạng, để bảo vệ những thành quả cách mạng
mà nhân dân đã đạt được, trên lĩnh vực ngoại giao, Đảng, Chính phủ đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối chính trị vô cùng linh hoạt, sáng tạo đó là
"cứng rắn về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược", hoà hoãn với quân Trung Hoa Dân quốc, triệt để lợi dụng mẫu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, tránh trường hợp một
mình đối phó với nhiều kẻ thù cùng một lúc
Biện pháp:
Chấp nhận một số yêu sách về kinh tế, tài chính của quân đội Trung Hoa Dân quốc như: cung cấp một phần lương thực, thực phẩm, phương tiện giao thông, chấp nhận lưu hành tiền Quan kim và Quốc tệ đã mất giá trên thị trường Việt Nam
Đồng ý nhường cho Việt Quốc, Việt Cách 70 ghế trong Quốc hội và 4 ghế trong Chính phủ liên hiệp mà không qua bầu cử Mặt khác, chính quyền cách mạng dựa vào quần chúng đã kiên quyết vạch trần âm mưu và hành động chia rẽ, phá hoại của các thế lực phản động Những kẻ phá hoại có đủ bằng chứng thì bị trừng trị theo pháp luật
Đảng rút vào hoạt động bí mật với danh nghĩa “tự giải tán” (11/11/1945), để tránh mũi nhọn tiến công của kẻ thù
Ý nghĩa:
Chủ trương nhân nhượng của ta là kịp thời, táo bạo và đúng đắn Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đảng phải dùng mọi cách để sống còn, hoạt động và phát triển, lãnh đạo kín đáo và hiệu quả hơn, và có thời gian để dần củng
Trang 16a Hoàn cảnh:
Sau khi chiếm đóng các đô thị ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, thực dân Pháp thực hiện kế hoạch tiến quân ra Bắc nhằm thôn tính cả nước Việt Nam Đó là một
kế hoạch mạo hiểm, vì lúc đó ở miền Nam lực lượng quân đội viễn chinh Pháp đã
có trên 65.000 người song Pháp không thể bình định được Nam Bộ và Nam Trung
Bộ Nếu đưa quân ra Bắc thì phải đụng đầu trực tiếp với một lực lượng kháng chiến mạnh gấp nhiều lần mà họ đã đọ sức ở miền Nam Hơn nữa trên miền Bắc còn có 20 vạn quân Tưởng đang là nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật
Trong tình hình trên, Chính phủ Pháp đã tìm một giải pháp chính trị thích hợp là phải thương lượng với Chính phủ Tưởng Giới Thạch và tìm cách điều đình với Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa để “hòa bình” đưa quân ra Bắc
Lúc này, Chính phủ Tưởng Giới Thạch đang gặp nhiều khó khăn: Ở Trung Quốc, lực lượng cách mạng phát triển mạnh, nên Trung Hoa Dân quốc cần rút quân ở Đông Dương về để đối phó Các thế lực đế quốc do Mĩ cầm đầu vừa muốn tiêu diệt cách mạng Trung Quốc, lại vừa muốn chống cách mạng Việt Nam Nội bộ Trung Hoa Dân quốc mẫu thuẫn giữa các phe phái Các cuộc tiếp xúc giữa Pháp và Tưởng đã được diễn ra
Ngày 28-2-1946, chính quyền Tưởng Giới Thạch và thực dân Pháp ký Hiệp ước Hoa - Pháp tại Trùng Khánh Theo Hiệp ước này, quân đội Tưởng rút về nước nhường cho quân Pháp quyền giải giáp quân đội Nhật của chúng ở miền Bắc Đông Dương Đổi lại, Pháp trả lại các tô giới và nhượng địa của Pháp trên đất Trung Hoa, bán cho Tưởng đoạn đường sắt Côn Minh - Hồ Kiều, nhượng cho Tưởng một đặc khu ở cảng Hải Phòng, hàng hóa của Tưởng vận chuyển qua miền Bắc sẽ được miễn thuế
“Hiệp ước Hoa – Pháp” là một sự chà đạp thô bạo đối với độc lập, chủ quyền của Việt Nam; buộc Đảng và nhân dân ta phải lựa chọn một trong hai con đường: hoặc là đánh Pháp ngay từ khi chúng đưa quân ra miền Bắc, hoặc là chủ
Trang 17động hoà hoãn với Pháp để đuổi 20 vạn quân Tưởng về nước, tránh tình thế cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù, bảo toàn thực lực, tranh thủ thời gian hòa hoãn để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn
Lựa chọn giải pháp “hoà để tiến” với thực dân Pháp, Ban Thường vụ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ lập trường đàm phán của chúng
ta là: “Pháp phải thừa nhận quyền dân tộc tự quyết của dân ta… và sự thống nhất quốc gia của ta” Vào thời điểm đó, Pháp cũng cần hoà với Việt Nam để có thể đưa quân ra miền Bắc một cách dễ dàng và kéo dài thời gian chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn
Chủ trương hòa với thực dân Pháp được tiến hành thông qua việc ký kết bản
“Hiệp định Sơ bộ” (6-3-1946) vàbản “Tạm ước” (14-9-1946) giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đại diện Chính phủ Pháp
b Nội dung cơ bản của Hiệp định Sơ bộ:
Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng, nằm trong Liên bang Đông Dương, thuộc khối Liên hiệp Pháp
Chính phủ Việt Nam đồng ý cho 15.000 quân Pháp ra miền Bắc làm nhiệm
vụ giải giáp quân Nhật và rút dần trong thời hạn 5 năm
Hai bên ngừng mọi xung đột ở miền Nam đi đến cuộc đàm phán chính thức Việt Nam và Pháp tiếp tục đàm phán ở Hội nghị trù bị Đà Lạt (4 - 1946) và Hội nghị Phôngtennơblô (7 - 1946), nhưng không thu được kết quả gì
Ngày 14-9-1946, Hồ Chí Minh kí với đại diện Chính phủ Pháp bản Tạm ước, nhân nhượng thêm cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế và văn hoá
c Ý nghĩa:
Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946 có thể coi là bản hiệp ước quốc tế đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký với nước ngoài dưới sự chứng kiến của đại diện các nước Mỹ, Anh, Trung Hoa Bản Hiệp định chứng tỏ nước ta là một nước
Trang 18tự do, không còn là nước thuộc địa của Pháp mà ngược lại Pháp phải công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội riêng Đây là một thắng lợi lớn mang ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị và ngoại giao của ta
Nhân nhượng để cho 15.000 quân Pháp kéo ra miền Bắc là sự chia lửa với đồng bào miền Nam, tận dụng thời gian hòa hoãn để tập trung sức lực chuẩn bị thế trận cho cả nước bước vào kháng chiến với tinh thần: “Điều cốt tử là trong khi mở cuộc đàm phán với Pháp không những không ngừng một phút công việc sửa soạn, sẵn sàng chiến đấu bất cứ lúc nào và ở đâu, mà hết sức xúc tiến việc sửa soạn ấy và nhất định không để cho việc đàm phán với Pháp làm nhụt tinh thần quyết chiến của dân tộc ta”.
Hơn nữa việc ký hiệp định Sơ bộ còn đạt được mục tiêu loại bớt kẻ thù, thúc đẩy quân Tưởng cùng bè lũ tay sai của chúng sớm rời Việt Nam, tránh cho cách mạng Việt Nam cùng lúc đối phó với nhiều kẻ thù
Tỏ rõ thiện chí hoà bình của Chính phủ và nhân dân Việt Nam
Hạn chế: Hiệp định mới chỉ công nhận tính thống nhất mà chưa công nhận
nền độc lập của Việt Nam, lại để cho quân Pháp ra Bắc một cách an toàn
Cùng với những giá trị về lịch sử, Hiệp định Sơ bộ cũng để lại những giá trị hiện thực sâu sắc Đó chính là quan điểm giữ vững nguyên tắc chiến lược, linh hoạt
về sách lược trong đấu tranh, đã và đang được Đảng ta vận dụng có hiệu quả trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đặc biệt hiện nay, với chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”, Đảng ta xác định rõ nguyên tắc chiến lược mang tính bao trùm là giữ vững độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Trong một thế giới đang biến đổi sâu sắc, đặt ra nhiều vấn đề cấp bách, phức tạp, Đảng đã chủ động điều chỉnh sách lược cho phù hợp với mục tiêu và yêu cầu hội nhập; nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế, tận dụng thời cơ, thúc đẩy hợp tác kết hợp với đấu tranh một cách hài hòa, linh hoạt để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; đồng thời, tránh đối đầu và rơi vào thế cô lập
Trang 192 Một số nội dung có tính chất minh hoạ trong việc ôn luyện học sinh giỏi của giai đoạn lịch sử Việt Nam từ ngày 2-9-1945 đến 19-12-1946
Nội dung 1 Tình hình nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau Cách mạng tháng Tám năm
- Lí giải, phân tích, đánh giá, nhận xét, liên hệ, chứng minh nhận định một
sự kiện, hiện tượng lịch sử
3 Phương pháp
- Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề qua việc tiếp cận nội dung, tiếp cận mục tiêu, tiếp cận năng lực, kĩ năng
4 Câu hỏi, bài tập
Câu 1 Phân tích những thuận lợi và khó khăn của nước Việt Nam sau ngày cách mạng tháng Tám thành công
Gợi ý
a Thuận lợi
* Thế giới:
- Chủ nghĩa phát xít bị sụp đổ, chủ nghĩa thực dân suy yếu
- Chủ nghĩa xã hội đang được hình thành, trở thành chỗ dựa cho phong trào đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc dân chủ và tiến bộ xã hội
Trang 20- Phong trào cách mạng giải phóng dân tộc trên thế giới đang phát triển mạnh mẽ ở Á, Phi, Mĩ la tinh
- Phong trào đấu tranh vì hòa bình dân chủ tiến bộ cũng phát triển mạnh mẽ
* Trong nước
- Nhân dân ta đã giành quyền làm chủ đất nước, đây là thuận lợi cơ bản nhất
- Nhân dân có truyền thống yêu nước và cách mạng, bước đầu được hưởng quyền lợi do chính quyền cách mạng đem lại nên rất phấn khởi, gắn bó với chế độ,
đó là nguồn sức mạnh vô tận giúp Nhà nước cách mạng còn đang trong thời kì trứng nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách
- Cách mạng nước ta có Đảng, đứng đầu là Hồ Chí Minh sáng suốt lãnh đạo Trải qua quá trình đấu tranh, Đảng ta ngày càng trưởng thành, dày dạn kinh nghiệm chiến đấu Sau khi đất nước độc lập, Đảng kịp thời mở rộng đội ngũ, đào tạo cán bộ, tăng cường sự lãnh đạo trên mọi mặt hoạt động, chuẩn bị tổ chức toàn dân bước vào cuộc đấu tranh mới Đứng đầu Đảng và Nhà nước là lãnh tụ Hồ Chí Minh thiên tài, có uy tín tuyệt đối trong toàn dân, tượng trưng cho tinh hoa dân tộc, cho ý chí kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam, là ngọn cờ tập hợp các tầng lớp nhân dân xung quanh Đảng và Chính phủ
- Mặt trận Việt Minh phát triển nhanh chóng, thực sự trở thành ngọn cờ đoàn kết dân tộc rộng rãi, giữ vai trò rất quan trọng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân; các hội cứu quốc trong công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ được tổ chức thống nhất trong cả nước
- Lực lượng vũ trang bao gồm các đơn vị giải phóng quân, các đội tự vệ chiến đấu phát triển nhanh chóng, tất cả đều có tinh thần chiến đấu dũng cảm, là lực lượng chủ chốt trong cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng
b Khó khăn
* Quốc tế:
Trang 21- Chủ nghĩa đế quốc núp dưới danh nghĩa đồng minh giải giáp phát xít đã quay trở lại xâm lược các nước thuộc địa của mình
- Sau chiến tranh, Mĩ có tham vọng làm bá chủ thế giới - là kẻ thù nguy hiểm nhất đối với cách mạng thế giới
* Trong nước
- Chính trị, quân sự, đối ngoại
+ Thực hiện thông cáo của Hội nghị Pôt đam, ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành công, quân đồng minh lũ lượt kéo vào nước ta:
+ Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc, 20 vạn quân Tưởng dưới danh nghĩa đồng minh vào giải giáp phát xít Nhật, chúng đóng quân rải khắp các tỉnh từ Lạng Sơn đến Bắc vĩ tuyến 16 Khi vào đến VN chúng đã đưa ra các yêu sách: cung cấp lương thực, thực phẩm, phương tiện đi lại; đòi ta tiêu tiền Quan kim Quốc tệ đã mất giá Theo sau chúng là bon Việt Quốc, Việt Cách ra sức chống phá chính quyền cách mạng
+ Từ vĩ tuyến 16 vào Nam, quân Anh chiếm đóng, tạo điều kiện cho quân Pháp quay trở lại xâm lược
+ Ngoài ra trên cả nước còn 6 vạn quân Nhật đang chờ giải giáp Một bộ phận quân Nhật theo lệnh quân Anh đánh lại lực lượng vũ trang của ta, tạo điều kiện cho quân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng
+ Được sự giúp đỡ của Anh, ngày 2-9-1945, khi đồng bào Sài Gòn đang tổ chức mít tinh mừng ngày độc lập, thực dân Pháp đã xả súng vào đoàn người biểu tình và làm 47 người chết và nhiều người bị thương Ngày 23-9-1945, nổ súng tấn công vào trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ và cơ quan tự vệ Sài Gòn, chính thức trở lại xâm lược Việt Nam
+ Lợi dụng tình hình trên, các lực lượng phản động nổi dậy chống phá cách mạng, âm mưu thay thầy đổi chủ
Trang 22Tất cả những kẻ thù này dẫu có mâu thuẫn về quyền lợi nhưng thống nhất với nhau trong mục tiêu: thủ tiêu chính phủ Hồ Chí Minh, giải tán Đảng Cộng sản, tiêu diệt mặt trận Việt Minh, biến Việt Nam thành thuộc địa
Tuy nhiên khó khăn lớn nhất là giặc ngoại xâm và nội phản vì nó là mối nguy đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại của chính quyền, sự tồn vong của quốc gia dân tộc Chính quyền cách mạng vừa mới thành lập, chưa được củng cố và thiếu kinh nghiệm quản lí, lực lượng vũ trang còn non yếu Việt Nam chưa có một quốc gia nào công nhận độc lập, ở thế cô lập, ta phải chiến đấu trong vòng vây của kẻ thù
* Kinh tế
- Nông nghiệp vốn đã lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề Lũ lụt thường xuyên xảy ra: lũ 8-1945 vỡ đê sông Hồng, đe dạo cuộc sống của nhân dân 9 tỉnh Bắc Bộ; hạn hán kéo dài khiến cho nửa tổng số ruộng đất không canh tác được Nạn đói cuối 1944, đầu19 45 chưa được khắc phục thì nguy cơ nạn đói mới sắp tiếp diễn Công thương nghiệp bị đình đốn, hàng hóa khan hiếm, đắt đỏ, đời sống của nhân vô cùng khó khăn
- Những “di sản” văn hóa thực dân phong kiến tồn tại: 90% dân số mù chữ
Tệ nạn xã hội hoành hành: ma túy, rượu chè, cờ bạc…
Việt Nam bị rơi vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, đe dọa đến vận mệnh dân tộc, thành quả cách mạng tháng Tám có thế bị tiêu diệt Giữa thuận lợi và khó khăn thì khó khăn là cơ bản chính vì vậy đòi hỏi Đảng, chính phủ đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh phải có biện pháp đưa đất nước thoát khỏi khó khăn
Trang 23Câu 2.Trên cơ sở phân tích thái độ chính trị của các thế lực đế quốc ở nước ta sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, anh/ chị hãy xác định kẻ thù nguy hiểm nhất của nước ta thời điểm đó
Gợi ý
Thái độ chính trị:
- Nhật: 6 vạn quân Nhật đang chờ giải giáp, trong đó có một bộ phận theo lệnh quân Anh đánh lại lực lượng vũ trang của ta, tạo điều kiện cho quân Pháp mở rộng chiếm đóng.Nhật là nước bại trận trong Chiến tranh thế giới thứ hai Quân Nhật ở Đông Dương đang chờ về nước, vì thế Nhật không phải là kẻ thù chính cuả cách mạng Việt Nam lúc đó
- Anh: hơn 1 vạn quân Anh vào miền Nam dưới danh nghĩa Đồng minh giải giáp quân đội Nhật nhưng thực chất là để dọn đường cho quân Pháp trở lại xâm lược Đông Dương
+ Sau chiến tranh thế giới hai, phong trào giải phóng dân tộc bùng nổ mạnh
mẽ Cuộc đấu tranh đòi độc lập đang phát triển ở các thuộc địa của Anh, Anh phải tập trung lực lượng để đối phó Do đó, Anh không có khả năng ở lại Đông Dương lâu dài
+ Mặt khác Anh cũng hết sức giúp đỡ Pháp tái chiếm Đông Dương vì nếu Pháp giữ được Việt Nam và Đông Dương thì Anh cũng giữ được thuộc địa của mình ở Châu Á và Đông Nam Á Hơn nữa, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mĩ cũng muốn có ảnh hưởng ở Đông Nam Á để thực hiện Chiến lược toàn cầu nhưng
vì lợi ích chung của các nước đế quốc là muốn ngăn chặn ảnh hưởng của cách mạng Việt Nam ở khu vực Đông Nam Á nên Mĩ, Anh, Pháp phải cấu kết với nhau tạo điều kiện cho Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam.Vì vậy Anh không phải là
kẻ thù nguy hiểm nhất
- Trung Hoa Dân quốc: Theo nghị quyết của Hội nghị Poxđam, quân Tưởng vào miền Bắc Việt Nam với danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật Mặc dù âm mưu
Trang 24rất thâm độc như: tiêu diệt Đảng Cộng sản, phá tan Việt Minh, lật đổ chính quyền cách mạng còn non trẻ của nhân dân ta nhưng những hoạt động chống phá của chúng chủ yếu thông qua bọn tay sai và có tính chất uy hiếp
+ Mặt khác lúc bấy giờ, phong trào cách mạng trong nước đang phát triển nên chúng sẽ phải về nước đối phó
+ Dự tính của Đảng ta về một cuộc điều đình giữa Mĩ – Tưởng – Anh – Pháp Mỹ và Tưởng sẽ nhân nhượng với Anh Pháp để nhường Đông Dương cho Pháp
Trên cơ sở phân tích đó, khả năng quân Tưởng ở lại lâu dài trên đất nước ta cũng không như chúng mong muốn Vậy nên Tưởng cũng không phải là kẻ thù nguy hiểm
- Mỹ: Hậu thuẫn cho THDQ xâm chiếm nước ta
+ Sau chiến tranh thế giới hai, trọng tâm chiến lược toàn cầu của Mỹ là Tây
Âu nhằm biến các nước này thành đồng minh vững chắc để tạo đối trọng với phe XHCN Vì thế trong chiến tranh, Mỹ lớn tiêng lên án chính phủ Pháp ở cả chính quôc và thuộc địa làm tay sai cho phát xít, phản đối quyết liệt Pháp trở lại Đông Dương nhưng sau chiến tranh để lôi kéo Pháp, Mỹ quay lại ủng hộ Pháp
+ Hiện tại Mĩ chưa có mặt ở Việt Nam và đang tập trung quan tâm đến các
vị trí chiến lược ở khu vực châu Âu và Trung Quốc nên chưa có điều kiện can thiệp vào Đông Dương
- Pháp: Việt Nam là thuộc địa truyền thống, có nhiều quyền lợi cho Pháp, Pháp quyết tâm xâm lược
+ Trong chiến tranh dù Pháp dâng Đông Dương cho Nhật nhưng vẫn có mưu
đồ khi Nhật đầu hàng Đồng minh sẽ chiếm lại Đến khi Pháp được giải phóng, chính phủ Đờ gôn đã lên kế hoạch tái chiếm Đông Đương
+ Khác với các thế lực có mặt và dấu mặt, thực dân Pháp đã thực hiện dã tâm xâm lược của mình trong cả hành động, việc làm, tư duy, lời nói
Trang 25Vì vậy, kẻ thù nguy hiểm nhất : “kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng”
Câu 3: Vì sao nói: Ngay khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, thực dân Pháp là kẻ thù chính của cách mạng Việt Nam?
Gợi ý
- Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các nước đế quốc vào Việt Nam làm nhiệm
vụ quân Đồng minh giải giáp quân phát xít Nhật Chúng khác nhau về màu da và tiếng nói nhưng lại thống nhất trong hành động xâm lược Việt Nam Trên đất nước
có nhiều kẻ thù là đế quốc xâm lược nhưng TW Đảng xác định thực dân Pháp là kẻ thù chính, nguy hiểm nhất, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng
- Pháp là đế quốc ngoan cố, bám giữ lập trường thực dân, nuôi hy vọng dùng quân sự để xâm lược trở lại nước Việt Nam Khi còn lưu vong ở nước ngoài, chính quyền Đờ-gôn vẫn luôn tuyên bố Đông Dương là thuộc địa của Pháp Khi nước Pháp được giải phóng, chính quyền ấy vẫn giữ nguyên lập trường, ráo riết chuẩn bị lực lượng tái chiếm Đông Dương Mặc dù Hội nghị Pôx đam không quy định trách nhiệm gì cho Pháp ở Đông Dương nhưng Pháp vẫn đưa lực lượng quân sự trở lại Đông Dương Khi Cách mạng tháng Tám thành công nước VNDCCH ra đời họ đưa ra đòi hỏi vô lí rằng Chính phủ VNDCCH phải có trách nhiệm thực hiện các điều khoản mà nhà Nguyễn đã kí với Pháp trước đó
- Ý chí thực dân của Pháp được các nước Mĩ và Anh giúp sức
+ Mĩ: sau chiến tranh thế giới hai, trọng tâm chiến lược toàn cầu của Mỹ là Tây Âu nhằm biến các nước này thành đồng minh vững chắc để tạo đối trọng với phe XHCN Vì thế trong chiến tranh, Mỹ lớn tiêng lên án chính phủ Pháp ở cả chính quôc và thuộc địa làm tay sai cho phát xít, phản đối quyết liệt Pháp trở lại Đông Dương nhưng sau chiến tranh để lôi kéo Pháp, Mỹ quay lại ủng hộ Pháp nhằm tranh thủ Pháp trong việc thiết lập liên minh Tây Âu, đồng thời lợi dụng Pháp để phản kích phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á
Trang 26+ Anh: Sau chiến tranh thế giới hai, phong trào giải phóng dân tộc bùng nổ mạnh mẽ Cuộc đấu tranh đòi độc lập đang phát triển ở các thuộc địa của Anh, Anh phải tập trung lực lượng để đối phó Do đó, Anh không có khả năng ở lại Đông Dương lâu dài Mặt khác, Anh cũng hết sức giúp đỡ Pháp tái chiếm Đông Dương
vì nếu Pháp giữ được Việt Nam và Đông Dương thì Anh cũng giữ được thuộc địa của mình ở Châu Á và Đông Nam Á
+ Trung Hoa Dân quốc: Theo nghị quyết của Hội nghị Poxđam, quân Tưởng vào miền Bắc Việt Nam với danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật mặc dù âm mưu rất thâm độc như: tiêu diệt Đảng Cộng sản, phá tan Việt Minh, lật đổ chính quyền cách mạng còn non trẻ của nhân dân ta nhưng những hoạt động chống phá của chúng chủ yếu thông qua bọn tay sai và có tính chất uy hiếp Mặt khác lúc bấy giờ , phong trào cách mạng trong nước đang phát triển nên chúng về nước đối phó Nội
bộ chính quyền Trung Hoa Dân quốc cũng có mâu thuẫn: giữa chính quyền trung ương Tưởng Giới Thạch với các thế lực quân phiệt địa phương, vì thế họ không có khả năng ở lại Đông Dương lâu dài, mà sớm muộn cũng sẽ nhường cho Pháp Trên thực tế tháng 2-1946, Trung Hoa Dân quốc đã kí với Pháp bản Hiệp ước Hoa Pháp nhường cho Pháp thay mình tại Bắc Việt Nam
+ Nhật: còn 6 vạn quân ở nước ta đang chờ giải giáp, trong đó có một bộ phận theo lệnh quân Anh đánh lại lực lượng vũ trang của ta, tạo điều kiện cho quân Pháp mở rộng chiếm đóng Nhật là nước bại trận trong chiến tranh thế giới thứ hai Quân Nhật ở Đông Dương đang chờ về nước, vì thế Nhật không phải là kẻ thù chính cuả cách mạng Việt Nam lúc đó
Như vậy, cả trong tư duy và hành động, trong lời nói và việc làm, thực dân Pháp đã bộc lộ rõ dã tâm dùng quân sự xâm lược nước ta lần hai Vì thế, thực dân Pháp là kẻ thù chính, nguy hiểm nhất, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng
Chủ đề 2