1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

1 chuyên đề “lựa chọn nội dung và phương pháp ôn luyện học sinh giỏi phần lịch sử việt nam giai đoạn 1945 – 1954”

40 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

XÂY DỰNG CHUYÊN ĐỀ ÔN LUYỆN HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA: NHỮNG THẮNG LỢI TRÊN MẶT TRẬN QUÂN SỰ TRONG CUỘC và tự lực cánh sinh”, toàn dân tộc Việt Nam đã bước vào cuộc kháng chiến 9 năm 1945 -

Trang 2

XÂY DỰNG CHUYÊN ĐỀ ÔN LUYỆN HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA: NHỮNG THẮNG LỢI TRÊN MẶT TRẬN QUÂN SỰ TRONG CUỘC

và tự lực cánh sinh”, toàn dân tộc Việt Nam đã bước vào cuộc kháng chiến 9 năm (1945 - 1954) chống thực dân Pháp, với những vũ khí thô sơ như gậy tầm vông, bom ba càng, qua các chiến dịch Việt Bắc (năm 1947), Biên Giới (năm 1950)…và kết thúc bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ tháng 5 năm 1954

Sau cách mạng tháng Tám 1945, cách mạng nước ta thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược vừa kháng chiến, vừa kiến quốc Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, một Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tẩng tư tưởng và kim chỉ nam hành động, quân dân ta đã chiến đấu kiên cường, thông minh, sáng tạo lập nên những kì tích vĩ đại, mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc mọt trong những trang sử hào hùng và chói lọi nhất

Lịch sử sau kháng chiến chống thực dân Pháp chứng minh nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân Việt Nam, điển hình trực tiếp nhất là nghệ thuật nắm bắt đúng thời cơ chiến lược, hạ quyết tâm chính xác, kịp thời, phân tích đánh giá đúng thế trận phòng ngự chiến lược của địch, chọn hướng tiến công chiến lược và mục tiêu chiến lược mở đầu chính xác

Từ lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954), nhiều vấn đề được đặt ra trong quá trình ôn luyện học sinh giỏi các cấp, đặc biệt là học sinh giỏi cấp quốc gia môn Lịch sử: Tình hình Việt Nam sau cách mạng tháng Tám đến trước

Trang 3

quân sự và nghệ thuật quân sự của Đảng trong cuộc kháng chiến chống Pháp, vấn

đề xây dựng hậu phương trong kháng chiến chống Pháp 1945-1954… Từ những

băn khoăn đó tôi lựa chọn đề tài: Xây dựng chuyên đề ôn luyện học sinh giỏi quốc gia: Những thắng lợi trên mặt trận quân sự trong cuộc kháng chiến chống Pháp

(1945-1954)

2 Mục đích của đề tài

Chuyên đề: Những thắng lợi trên mặt trận quân sự trong cuộc kháng chiến

chống Pháp (1945-1954) được xây dựng nhằm đi sâu nghiên cứu và làm rõ các

thắng lợi quân sự và nghệ thuật quân sự của Đảng trong kháng chiến chống Pháp

(1945-1954)

Chuyên đề cũng nhằm giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc, niềm tin với Đảng của học sinh Qua đó học sinh biết rút ra bài học và vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Qua hệ thống kiến thức của chuyên đề, tác giả xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập với các mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp, vận dụng cao Bài tập vận dụng chuyên đề được triển khai ở nhiều dạng câu hỏi và bài tập lịch sử Tuy nhiên tôi chú trọng phương pháp kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh, cung cấp nhiều tư liệu gốc qua các bài tập, yêu cầu học sinh tìm tòi, suy nghĩ, phát biểu ý kiến, tìm ra chân lí… từ các tư liệu được cung cấp

Qua chuyên đề, nhằm cung cấp một số tư liệu lịch sử làm tài liệu tham khảo phục vụ cho giáo viên và học sinh các trong giảng dạy và ôn luyện đội tuyển các

cấp và cấp quốc gia môn Lịch sử

B PHẦN NỘI DUNG

PHẦN I: KIẾN THỨC CƠ BẢN CỦA CHUYÊN ĐỀ

I Kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ

1 Thực dân Pháp bội ước và tiến công nước ta

Trang 4

- Sau hiệp định sơ bộ và tạm ước 14.9 thực dân Pháp vẫn đẩy mạnh xâm lược nước ta:

+ Tiến công ta ở Nam bộ, Nam trung bộ

+ Ở Bắc Bộ: khiêu khích ở Hải Phòng, Lạng Sơn

- Ở Hà Nội: bắn súng, ném lựu đạn ở nhiều nơi Ngày 18.12.1946 gửi tối hậu thư đòi ta giao quyền kiểm soát thủ đô cho chúng Nếu không thì chậm nhất là sáng 20.12 chúng sẽ hành động

=> Nhân dân ta chỉ còn 1 con đường, cầm vũ khí đứng lên chống Pháp

2 Đường lối kháng chiến chống Pháp của Đảng

- 12.12.1946, Thường vụ trung ương Đảng ra chỉ thị Toàn dân kháng chiến

- 18,19.12.1946 hội nghị Ban thường vụ Trung ương Đảng (tại Vạn Phúc - Hà Đông) quyết định phát động cả nước kháng chiến

- Tối 19.12.1946, kháng chiến toàn quốc chống bùng nổ, lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của chủ tịch HCM được truyền đi khắp cả nước

- 9.1947 Trường Chinh viết cuốn "Kháng chiến nhất định thắng lợi"

- Ba văn kiện trên đã nêu lên đường lối kháng chiến: Toàn dân, toàn diện, trường

kì, tự lực cánh sinh và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế

-Ý nghĩa: Đường lối kháng chiến có tác dụng động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đứng lên chống Pháp xâm lược để bảo vệ độc lập

II Cuộc chiến đấu ở các đô thị phía Bắc vĩ tuyến 16

- Mục đích: Giam chân địch trong các đô thị nhằm tiêu hao 1 bộ phận sinh lực

đich, không cho chúng thực hiện đánh nhanh thắng nhanh, ta có thời gian chuẩn bị

lực lượng kháng chiến lâu dài

* Diễn biến:

- Đêm 19.12.1946 nhân dân các đô thị ở bắc vĩ tuyến 16 lần lượt nổ súng

- Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt tại: Bắc Giang, Bắc Ninh, Nam Định, Huế, Đà

Trang 5

- Tiêu biểu là cuộc đấu tranh oanh liệt trong 60 ngày đêm ở Hà Nội để bảo vệ cơ quan đầu não của Đảng, Chinh phủ

+ Trung đoàn thủ đô được thành lập, sau 2 tháng chiến đấu kiên cường, giữa tháng 2.1947, quân ta rút khỏi thành phố an toàn

III Chiến dịch Việt Bắc thu - đông năm 1947

a Âm mưu của thực dân Pháp

- Tấn công Việt Bắc nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não của ta, nhanh chóng kết thúc chiến tranh

b Diễn biến

- 7.10.191947 pháp huy động 12000 quân mở cuộc tấn công lên Việt Bắc theo 2 hướng:

+ Một bộ phân quân nhảy dù xuống Bắc Cạn, Chợ Mới

+ Một binh đoàn từ Lạng Sơn theo đường số 4 lên Cao Bằng, Bắc Cạn, tạo thành 1 gọng kìm bao vây Việt Bắc từ phía Đông

+ 9.10.1947 hỗn hợp thủy, bộ từ Hà Nội ngược sông Hồng sông, Lô lên Tuyên Quang, Chiêm hóa bao vây Việt Bắc từ phía Tây

=> Các cánh quân hẹn gặp nhau ở Đài Thị - gần trung tâm đầu não bản Thi của Đảng

* Chủ trương của ta: Phải phá tan cuộc tấn công mùa đông của giặc Pháp

* Chiến thắng của ta:

- Đối với quân dù: bao vây, tập kích tại Bắc Cạn, Chợ Mới, Chợ Đồn, Ngân Sơn…

Trang 6

- Đối với quân bộ: quân ta phục kích chặn đánh địch trên đường số 4, tiêu biểu là trân đèo Bông lau (30.10.1947)

- Đối với quân thủy: ta phục kích trên sông Lô, tiêu biểu là trận Đoan Hùng, Khe Lau đánh chìm nhiều tàu chiến, ca nô của địch

- Chiến trường cả nước phối hợp với Việt Bắc, địch lâm vào tình thế nguy khốn

- 19.12.1947 đại bộ phận quân Pháp phải rút khỏi Việt Bắc

IV Hoàn cảnh lịch sử mới và chiến dịch Biên giới thu - đông năm 1950

1 Hoàn cảnh lịch sử mới của cuộc kháng chiến

* Thuận lợi:

- 1.10.1949 Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa ra đời – nối liền Việt Nam với các nước Xã hội chủ nghĩa

- 1.1950 các nước Xã hội chủ nghĩa công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với ta

- Phong trào nhân dân Pháp phản đối chiến tranh xâm lược Đông Dương của Pháp phát triển mạnh

* Khó Khăn:

- Mĩ can thiệp ngày càng sâu vào chiến tranh Đông Dương 5.1950 với sự đồng ý của Mĩ, Pháp đưa ra kế hoạch Rơve:

Trang 7

+ Khóa chặt biên giới Vệt - Trung bằng cách tăng cường phòng ngự trên đường số

4

+ Thiết lập hành lang Đông - Tây, cắt đứt liên lạc giưa Việt Bắc với đồng bằng khu III, IV

+ Tấn công Việt Bắc lần hai, kết thúc chiến tranh

2 Chiến dịch Biên giới thu - đông năm 1950

a Chủ trương của ta

- 6.1950 ta chủ động mở chiến dịch Biên Giới nhằm:

+ Tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực dịch

+ Khai thông biên giới Việt - Trung

+ Mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc

b Diễn biến

- Sáng 16.9.1950, ta tấn công cụm cứ điểm Đông Khê

- 18.9 ta chiếm được Đông Khê, Cao bằng bị cô lập, Thất Khê bị uy hiếp Địch rút khỏi Cao Bằng bằng cuộc hành quân kép:

+ Một mặt cho quân đánh lên Thái Nguyên nhằm thu hút chủ lực của ta

+ Một khác cho quân từ Thất khê lên chiếm lại Đông Khê, đón cánh từ Cao Bằng rút về

- Từ 1-8.10 ta mai phục và chặn đánh địch trên đường số 4 khiến cho hai cánh quân không gặp được nhau làm sụp đổ kế hoạch rút quân của địch

- Pháp lần lượt phải rút khỏi các cứ điểm trên đường số 4 bị ta truy kích, tiêu diệt

- Thắng lợi có sự phối hợp với các chiến trường trong cả nước: đồng bằng Bắc Bộ, Bình - Trị - Thiên…

c Kết quả, ý nghĩa

* Kết quả:

- Ta tiêu diệt 8000 địch, khai thông biên giới Việt – Trung

- Chọc thủng hành lang Đông- Tây, củng cố và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc

Trang 8

* Ý nghĩa:

- Đây là chiến dịch chủ động tấn công đầu tiên của ta

- Ta giành được thế chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ, đẩy Địch vào thế bị động

V Những chiến dịch tiến công giữ vững quyền chủ động trên chiến trường (Từ sau Biên giới 1950 đến trước ĐX 1953-1954)

1 Các chiến dịch ở Trung du và đồng bằng Bắc Bộ (cuối năm 1950 đến giữa 1951)

- Để giữ vững quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ, đẩy địch vào thế bị động đối phó, từ cuối 1950 đến giữa 1951, quân ta liên tục mở 3 chiến dịch:

+ Chiến dịch Trần Hưng Đạo (chiến dịch trung du)

+ Chiến dịch Hoàng Hoa Thám (chiến dịch đường số 18)

+ Chiến dịch Quang Trung (chiến dịch Hà-Nam-Ninh)

- Đây là những chiến dịch có quy mô lớn của quân dân ta đánh vào phòng tuyến kiên cố của địch ở trung du và đồng bằng, loại khỏi vòng chiến đấu nhiều sinh lực địch, phá vỡ từng mảng kế hoạch bình định của chúng Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân và lựa chọn địa bàn 3 chiến dịch chưa phù hợp với khả năng tác chiến của bộ đội ta nên kết quả chiến đấu bị hạn chế

2 Chiến dịch hòa bình Đông xuân 1951-1952

- Sau 1 năm ra sức củng cố thế phòng ngự, tích cực bình định thực dân Pháp thu được 1 số kết quả Thực dân Pháp quyết định phản công giành lại quyền chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ

- Ngày 9.11.1951 Đờ lát đơ Tátxinhi sử dụng 1 lực lượng lớn quân cơ động đánh chiếm chợ Bến, đến 14.11 đánh chiếm khu vực Hòa Bình nhằm nối lại hành làng Đông - Tây chia cắt Việt Bắc với LK III, IV, củng cố tinh thần quân lính, tranh thủ

Trang 9

- Nhằm tiêu diệt sinh lực địch ở Hòa Bình, phá kế hoạch bình định của chúng ở đồng bằng Bắc bộ và đẩy mạnh chiến tranh du kích của ta, từ giữa tháng 11/1951 đến cuối tháng 2/1952 ta mở chiến dịch phản công địch ở Hòa Bình

- KQ: sau hơn 3 tháng ta giải phóng hoàn toàn khu vực Hòa Bình - Sông Đà rộng

2000 Km2 với 15 vạn dân

+ Các căn cứ du kích của ta được mở rộng nối liền từ Bắc Giang, xuống Bắc Ninh, sát đường số 5

3 Chiến dịch Tây Bắc thu-đông 1952

- Tây Bắc là vùng chiến lược quan trọng bị địch chiếm đống, từ đó uy hiếp căn cứ địa Việt Bắc của ta, che chở cho vùng Thượng Lào của chúng

- Từ ngày 14.10.1952 ta mở chiến dịch Tây Bắc, cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt ở Mộc Châu, Thuận Châu, Lai Châu, Sơn La, Yên Bái

- Kết quả: sau gần 2 tháng ta giải phóng 28.000 km2 với 25 vạn dân, phá 1 phần

âm mưu lập "xứ Thái tự trị" của địch

4 Chiến dịch Thượng Lào xuân-hè 1953

- Thượng Lào là vùng chiến lược quan trọng, là hậu phương an toàn của địch Sau thất bại ở Tây Bắc, địch tăng cường phòng thủ ở đây

- Đầu 1953 Trung ương Đảng và Chính phủ ta cùng Chính phủ kháng chiến Lào và mặt trận Itxala mở chiến dịch Thượng Lào nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai, đẩy mạnh cuộc kháng chiến của nhân dân Lào

- Chiến dịch diễn ra từ 8/4/1953 sau hơn 1 tháng liên quân Việt - Lào đã giải phóng toàn bộ Sầm Nưa, 1 phần Xiêng Khoảng và Phongxali với trên 30 vạn dân

- Phối hợp với chiến trường chính Bắc bộ từ 1951 đến 1953 ở các chiến trường trung, nam bộ quân dân ta đã tận dụng các hình thức chiến tranh du kích, tiêu hao sinh lực địch, phá hủy nhiều tổ chức tề ngụy và nhiều cơ sở kinh tế của chúng

Trang 10

Những chiến dịch tiến công trên chứng tỏ ta vẫn giữ vững và phát huy thế chủ động trên chiến trường, là cơ sở để Đông Xuân 1953-1954 ta mở cuộc tiến công chiến lược cuối cùng đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi

VI Thực dân Pháp đẩy mạnh chiến tranh xâm lược Đông Dương

1 Mĩ can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh

- Đầu 1949 Mĩ từng bước can thiệp vào chiến tranh Đông Dương:

+ 23.12.1950 Mĩ kí với Pháp hiệp ước phòng thủ chung Đông Dương Mĩ từng bước thay chân Pháp ở Đông Dương

+ 9.1951 Mĩ kí với Bảo Đại hiệp ước hợp tác kinh tế Việt - Mĩ nhằm ràng buộc chính phủ Bảo Đại vào Mĩ

2 Kế hoạch Đờlát đơ Tátxnhi

- Dựa vào viện trợ Mĩ cuối 1950, Pháp đề ra kế hoạch Đờlát đơ Tátxnhi nhằm nhanh chóng kết thúc chiến tranh

* Nội dung:

- Tập trung xây dựng lực lượng cơ động mạnh, ra sức phát triển ngụy quân

- Xây dựng các Boong-ke, lập "vành đai trắng" bao quanh trung du và đồng bằng Bắc Bộ, nhằm ngăn chặn chủ lực của ta và kiểm soát việc ta đưa nhân lực, vật lực

ra vùng tự do

- Tiến hành chiến tranh tổng lực, bình định vùng tạm chiếm…

- Đánh phá hậu phương của ta bằng biệt kích, thổ phỉ… Kết hợp oanh tạc bằng phi pháo với chiến tranh tâm lí và chiến tranh kinh tế

=> Cuộc chiến tranh của xâm lược của Pháp ở Đông Dương phát triển lên quy mô lớn, gây cho ta nhiều khó khăn, nhất là ở vùng sau lưng địch

VII Âm mưu mới của Pháp - Mĩ ở Đông Dương Kế hoạch Na Va

a Hoàn cảnh ra đời của kế hoạch Na va

Trang 11

- Pháp: Sau hơn 8 năm chiến tranh, Pháp gặp khó khăn về mọi mặt: Quân sự, kinh

tế, chính trị, xã hội Bị loại khỏi vòng chiến đấu 39 vạn tên, ngày càng lâm vào thế

bị động trên chiến trường

- Pháp tìm một lối thoát: Kế hoạch Na va

- Mĩ: Can thiệp ngày càng sâu vào chiến tranh Đông Dương Tích cực viện trợ, ép

Pháp kéo dài và mở rộng chiến tranh, tích cự chuẩn bị thay chân Pháp

- 7/5/1953 theo thỏa thuận của Mĩ, Pháp cử Na va sang làm Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương, vạch ra kế hoạch Na va, dự định thực hiện trong vòng 18 tháng

b Nội dung: Chia làm 2 bước:

- Bước 1: Thu - đông 1953 và xuân 1954, giữ thế phòng ngự chiến lược ở Bắc bộ, tiến công chiến lược để bình định Trung bộ và Nam Đông dương, giành lấy nguồn nhân lực, vật lực mạnh

- Bước 2: Thu-đông 1954 tấn công chiến lược miền Bắc, giành thắng lợi quyết định, buộc ta phải đàm phán có lợi cho chúng

c Biện pháp: Tăng viện trợ cho quân viễn chinh, tăng cường ngụy quân đưa lực

lượng cơ động mạnh lên 84 tiểu đoàn, trong đó có 44 tiểu đoàn tập trung ở đồng bằng bắc bộ, càn quét, bình định vùng chiếm đóng, mở cuộc tiến công lớn vào Ninh Bình, Thanh Hóa

- Mục tiêu chính: Giành lại quyền chủ động trên chiến trường

VIII Cuộc tiến công chiến lược Đông- Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954

1 Cuộc tiến công chiến lược Đông- Xuân 1953-1954

a Chủ trương, kế hoạch của ta

+ Tập trung lực lượng mở những cuộc tiến công vào những hướng quan trọng mà

địch tương đối yếu nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng đất đai + Chủ động phân tán lực lượng địch, tạo điều kiện tiêu diệt chúng

Trang 12

b Các cuộc tiến công chiến lược

* Mặt trận chính diện

- 10/12/1953 ta tiến công và giải phóng thị xã Lai Châu -> Na va phải tăng viện

cho Điện Biên Phủ Điện Biên Phủ trở thành nơi tập trung quân thứ 2 của địch

- Đầu 12/1953, Liên quân Lào- Việt tấn công Trung Lào, giải phóng Thà Khẹt, uy

hiếp Xavanakhet và Sê nô Nava phải tăng quân cho Sê nô trở thành nơi tập trung quân thứ 3 của địch

- Cuối 1/1954 Liên quân Lào -Việt tiến công địch ở Thượng Lào, giải phóng Nậm

hu, Phong xa lì, căn cứ kháng chiến Lào được mở rộng Na va tăng cường cho

Luông Pha băng và Mường Sài Đây trở thành nơi tập trung binh lực thứ 4 của địch

- Đầu 2/1954 ta tiến công địch ở Bắc Tây Nguyên , giải phóng Kon Tum, uy hiếp

P lâycu Plâycu Nơi tập trung binh lực thứ 5 của địch

* Vùng sau lưng địch: Phong trào chiến tranh du kích phát triển mạnh: Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Bình- Trị- Thiên, Đồng bằng Bắc bộ

- Ta thực hiện được chủ trương đề ra, địch không thực hiện được âm mưu của

chúng

c Ý nghĩa: kế hoạch Na va bước đầu bị phá sản, tạo điều kiện thuận lợi cho ta giành thắng lợi trong chiến dịch Điện Biên Phủ

2 Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ ( 1954 )

a Âm mưu của địch:

- ĐBP có vị trí chiến lược quan trọng Nava cho xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương

+ Tổng số quân địch lên tới 16.200 quân, bố trí thành 3 phân khu: Bắc, Trung tâm, Nam với 49 cử điểm

- Pháp coi "Điện Biên Phủ là một pháo đài bất khả xâm phạm"

Trang 13

b Chủ trương của ta: Đầu 12/1953 bộ chính trị và Trung ương Đảng quyết định

mở chiến dịch Điện Biên Phủ Điện Biên Phủ trở thành điểm quyết chiến chiến lược giữa ta và địch

* Công tác chuẩn bị:

- Ta huy động mọi phương tiện và lực lượng vận chuyển hàng chục nghìn tấn vũ khí đạn dược, gạo… ra mặt trận Đầu tháng 3/1954 công tác chuẩn bị đã xong

* Diến biến:

- Đợt 1: 13/3-17/3/1954, ta tấn công tiêu diết cứ điểm Him Lam và toàn bộ phân

khu Bắc, diệt 2000 tên

- Đợt 2, từ 30/3-26/4/1954:

+ Ta tấn công các cứ điểm phía Đông khu trung tâm E1, D1, C1,C2, A1… Ta chiếm phần lớn các cứ điểm của địch, tạo điều kiện để bao vây, chia cắt, khống chế địch

+ Mĩ viện trợ khẩn cấp cho Pháp, đe dọa ném bom nguyên tử xuống Điện Biên Phủ

- Đợt 3, từ 1-7/5/1954 : Ta tấn công khu Trung tâm và phân khu Nam, 17h 30'

ngày 7/5/54 tướng Đờ Catxtơri cùng toàn bộ bộ tham mưu của địch đầu hàng Chiến dịch kết thúc thắng lợi

+ Trên các chiến trường quân ta hoạt động mạnh tạo điều kiện cho Điện Biên Phủ giành thắng lợi

* Kết quả

- Trong Đông- xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ ta loại khỏi vòng chiến đấu 128 200 tên, thu 19 000 súng các loại, phá hủy 162 máy bay, 81 đại bác…

- Riêng Điện Biên Phủ, ta loại khỏi vòng chiến đấu 16 200 tên, hạ 62 máy bay, thu toàn bộ phương tiện chiến tranh

Trang 14

* Ý nghĩa:

- Chiến cuộc Đông - Xuân 1953-1954 đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ ta đã đập tan kế hoạch Nava, giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh ở Đông Dương, tạo điều kiện cho cuộc đấu tranh ngoại giao của ta giành thắng lợi

- Là chiến thắng oanh liệt nhất của quân và dân ta trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và can thiệp Mĩ, thể hiện tinh thần quyết chiến, quyết thắng và chủ nghĩa

anh hùng cách mạng của quân và dân ta

IX Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954 )

* Chủ quan

- Sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng đứng đầu là Hồ Chủ Tịch với đường lối kháng chiến đúng đắn và sáng tạo

- Sự đoàn kết, dũng cảm của toàn quân ta trong chiến đấu và sản xuất

- Có chính quyền dân chủ nhân dân

+ Có hậu phương vững chắc, mặt trận dân tộc thống nhất được củng cố và mở rộng

+ Lực lượng vũ trang được xây dựng và không ngừng lớn mạnh

* Khách quan

- Sự đoàn kết chiến đấu của nhân dân Lào, Campuchia

- Sự ủng hộ của Trung quốc, Lien Xô nhân dân Pháp và nhân dân tiến bộ trên thế giới

2 Ý nghĩa lịch sử

* Đối với dân tộc

- Chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược và ách thống trị của thực dân Pháp trong gần 1 thế kỉ ở Việt Nam

Trang 15

- Miền Bắc được giải phóng chuyển sang giai đoạn cách mạng XHCN làm cơ sở cho cuộc đấu tranh giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước

PHẦN II: BÀI TẬP CHUYÊN ĐỀ

1 Phân tích nội dung đường lối kháng chiến của Đảng được vạch ra trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến Phân tích một nội dung cần phát huy trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, nhất là vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo VN hiện nay

- Giới thiệu sự ra đời của đường lối kháng chiến:

- Nêu nội dung đường lối kháng chiến

- Phân tích 4 nội dung của đường lối kháng chiến: toàn dân, toàn diện,…

+ Tự lực cánh sinh, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế:

Trang 16

+ Dựa vào sức mình là chính, trong nửa đầu cuộc kháng chiến Việt Nam không nhận được sự ủng hộ giúp đỡ nào từ bên ngoài

+ Việt Nam vẫn hết sức coi trọng sự giúp đỡ của quốc tế, ra sức tuyên truyền vận động tranh thủ mọi sự ủng hộ của quốc tế cả về vật chất và tinh thần để tăng thêm sức mạnh từ bên trong

- Đường lối kháng chiến của Đảng là ngọn cờ cổ vũ, dẫn dắt cả dân tộc Việt Nam đứng lên kháng chiến Xuất phát điểm cho mọi thắng lợi của cuộc kháng chiến

* Phân tích một nội dung cần phát huy trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, nhất

là vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam hiện nay

- HS chọn một nhân tố cần phát huy: kháng chiến toàn diện Kiên trì đấu tranh hòa bình những cũng tích cực xây dựng chuẩn bị lực lượng mọi mặt…

2 Trong Kể tên các thắng lợi quân sự tiêu biểu của quân dân ta trong Kháng chiến chống Pháp Qua các thắng lợi đó làm rõ nghệ thuật quân sự của Đảng trong cuộc kháng chiến

a Kể tên các thắng lợi quân sự tiêu biểu:

b Nghệ thuật quân sự của Đảng trong Kháng chiến chống Pháp:

* Từ chiến tranh du kích tiến lên chiến tranh chính quy

- Đấu tranh vũ trang của ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp đi từ chiến tranh du kích lên chiến tranh chính quy Khi xuất hiện chiến tranh chính quy - tác chiến tập trung đánh lớn của bộ đội chủ lực - thì việc kết hợp chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích là nội dung cơ bản của nghệ thuật phát động toàn dân đánh giặc, lấy lực lượng vũ trang ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích) làm nòng cốt Đây cũng là một quy luật của đấu tranh vũ trang và chiến tranh cách mạng Việt Nam

* Xác định hướng tiến công đúng

- Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng ta luôn nắm vững và vận

Trang 17

chiến lược, tiến lên đánh thắng hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của chúng Trên cơ sở phán đoán, nắm bắt các yếu tố chiến lược và đánh giá kế hoạch chiến lược của địch trong từng thời kỳ, ta đã định ra kế hoạch thích hợp, lần lượt làm thất bại từng âm mưu trong các kế hoạch đó dẫn đến làm phá sản hoàn toàn các kế hoạch của quân Pháp

- Ta đã chọn mục tiêu và hướng tiến công chính xác, đồng thời chỉ đạo các chiến trường phối hợp chặt chẽ, nên đã giành thắng lợi Sau thắng lợi của chiến dịch

phản công Việt Bắc trong Thu Đông 1947, đánh bại chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp, nhận thấy vùng sau lưng địch có nhiều sơ hở, ta đẩy

mạnh chiến tranh du kích trong các vùng địch tạm chiếm, mở ra hướng tiến công chiến lược khá nguy hiểm trong lòng địch, làm cho địch lâm vào thế tiến thoái lưỡng nan và bị sa lầy trong thế trận chiến tranh nhân dân Đến Thu Đông năm

1950, trên cơ sở lực lượng bộ đội chủ lực phát triển, ta mở chiến dịch tiến công quy mô cấp đại đoàn ở biên giới Việt - Trung, trên địa bàn các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, phá tan thế bị địch bao vây, tạo bước ngoặt chuyển biến cuộc kháng chiến của ta từ hình thái chiến tranh du kích tiến lên chiến tranh chính quy, kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy ở trình độ cao hơn

- Trong Đông Xuân 1953 - 1954, bằng nhiều đòn tiến công chiến lược trên hầu khắp các chiến trường vùng rừng núi ở cả ba nước Đông Dương, đặc biệt là ở hướng Tây Bắc Bắc bộ, mà Điện Biên Phủ là trung tâm, ta đã tiêu diệt, làm tan rã gần 1/4 lực lượng cơ động chiến lược của địch Nhờ hạ quyết tâm chiến lược chính xác, tập trung nỗ lực lớn nhất của cả nước, nên Đông Xuân 1953 - 1954, quân và dân ta đã làm nên đại thắng lợi vớái trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ

* Chọn đúng hình thức tác chiến

- Nghệ thuật quân sự của ta trong kháng chiến chống thực dân Pháp là nghệ thuật vận dụng sáng tạo các hình thức tác chiến và thủ đoạn chiến thuật, là nghệ thuật

Trang 18

xác định cách tổ chức và sử dụng lực lượng thích hợp để đánh bại mọi biện pháp tác chiến và chiến thuật của địch Thực tế lịch sử cho thấy, trong những năm đầu kháng chiến, ta đẩy mạnh chiến tranh du kích bằng các đội vũ trang tuyên truyền, đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung rồi từng bước đẩy mạnh vận động tiến tới dần dần tổ chức các chiến dịch quy mô nhỏ, với lực lượng là bộ đội chủ lực phối hợp với các lực lượng vũ trang địa phương Sau đó, các chiến dịch quy mô vừa và lớn, được thực hiện, vận dụng rộng rãi linh hoạt các hình thức tác chiến vận động, đánh công kiên Nhằm thích ứng với các hình thức tác chiến đó, bộ đội chủ lực ta được

tổ chức thành các đại đoàn, chủ yếu là bộ binh, có thành phần binh chủng kỹ thuật phối hợp Các hình thức tác chiến (đánh du kích, đánh vận động, đánh công kiên) kết hợp với nhau ngày càng chặt chẽ, linh hoạt, tạo hiệu quả tiêu hao, tiêu diệt địch với quy mô ngày càng lớn Nhờ đó, ta đã lần lượt đánh bại các biện pháp tác chiến bằng hệ thống đồn bốt và các đội quân ứng chiến nhỏ, đến các cứ điểm, cụm cứ điểm, cao nhất là tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ với lực lượng địch lúc cao nhất lên tới hơn 16.200 binh sỹ

- Nghệ thuật chiến dịch của ta hình thành và phát triển từ các chiến dịch quy mô nhỏ đến vừa và lớn, với những loại hình thích hợp, kết hợp tiến công và phản công Chiến thuật của ta kế thừa di sản đánh giặc cứu nước xa xưa của tổ tiên được nâng lên một trình độ mới, phát huy cao độ sức mạnh của tinh thần chiến đấu và sự mưu trí, sáng tạo, phát huy sở trường đánh gần, đánh đêm, tận dụng các loại vũ khí cả thô sơ và hiện đại để chiến thắng các thủ đoạn tác chiến cùng binh khí kỹ thuật hiện đại của quân đội Pháp

* Chủ động, kiên quyết, sáng tạo, bí mật, bất ngờ

- Chủ động tìm địch mà đánh, kiên quyết tiến công tiêu diệt địch là nét nổi bật trong nghệ thuật quân sự của ta Điều đó được thể hiện sinh động qua nhiều trận chiến đấu, nhiều chiến dịch, trên từng vùng miền, khắp cả nước, suốt cả cuộc

Trang 19

- Một nét nổi bật khác của nghệ thuật quân sự Việt Nam là sự mưu trí và tính sáng tạo Chính nhờ dựa vào sức mạnh toàn dân, vào tinh thần dũng cảm, kết hợp với mưu trí, sáng tạo mà chúng ta đánh thắng đội quân xâm lược của thực dân Pháp Thực tế lịch sử cho thấy nhiều tấm gương sáng ngời về sự mưu trí, sáng tạo bao gồm cả bộ đội và nhân dân, của các cấp chỉ huy Cuộc kháng chiến chống Pháp thực sự là đấu trí quyết liệt và phần thắng đã thuộc về ta, một phần do tài trí của ta hơn địch

- Nghệ thuật quân sự của ta coi trọng yếu tố bất ngờ, bởi nó là một yếu tố tạo nên thế mạnh Trong rất nhiều trận đánh, nhiều chiến dịch, ta đã làm cho địch bị bất ngờ về hướng, về mục tiêu, về thời gian, về cách dùng lực lượng và phương tiện, quy mô và cách đánh Về tổng quát, quân và dân ta đã làm cho địch bất ngờ cả về chiến lược, chiến dịch và chiến đấu, đẩy quân địch thường xuyên lâm vào thế bị động đối phó

- Nghệ thuật quân sự coi trọng vấn đề thời cơ Chúng ta không những chú trọng nắm thời cơ mà còn chủ động tạo thời cơ để tiến công tiêu diệt địch Nhiều trận đánh và nhiều chiến dịch, trong đó các chiến dịch Biên Giới, Hòa Bình, Tây Bắc, Bắc Tây Nguyên, Thượng Lào, Điện Biên Phủ là những điển hình thành công về nghệ thuật chọn thời cơ và tạo thời cơ

3 Chứng minh nhận định: ”từ 1 1948-12.1950 Đảng đẩy mạnh kháng chiến toàn dân, toàn diện, phát triển chiến tranh du kích, từng bước tiến lên vận động chiến, làm thất bại một bước âm mưu kéo dài và mở rộng chiến tranh và chính sách "dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh"của thực dân Pháp”

Đây là nhận định đúng

Các nghị quyết, chỉ thị của Đảng giai đoạn này tập trung vào việc đẩy mạnh cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, phát triển chiến tranh du kích, từng bước

Trang 20

tiến lên vận động chiến, làm thất bại một bước âm mưu kéo dài, mở rộng chiến tranh và chủ trương “dùng người Việt đánh người Việt, Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của thực dân Pháp, giành thắng lợi cơ bản Thể hiện trên các nội dung:

Phát triển chiến tranh du kích bằng phương thức sử dụng các đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung luồn vào vùng địch chiếm đóng, gây cơ sở, hỗ trợ chiến tranh

du kích; lập làng chiến đấu; chống phá càn quét, phá hội tề, phá chính quyền cơ sở địch

Từng bước xây dựng hoàn chỉnh lực lượng vũ trang 3 thứ quân gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích, làm nòng cốt cho phong trào toàn dân đánh giặc Đến 8-1949, đã xây dựng được đại đoàn chủ lực đầu tiên

Từng bước tiến từ du kích chiến lên vận động chiến: chủ động mở 20 chiến dịch nhỏ và đợt hoạt động trên khắp các chiến trường cả nước để bộ đội chủ lực tập đánh vận động vì nếu chỉ đánh du kích thì cuộc kháng chiến sẽ không có sự đột phá

Tiến hành kháng chiến toàn diện, xây dựng thực lực kháng chiến theo phương châm dựa vào sức mình là chính vì lúc đó ta vẫn phải tiến hành chiến đấu trong vòng vây

Phối hợp chiến đấu với Lào, Cămpuchia, Trung Quốc (chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn từ tháng 6 đến tháng 10 năm 1949)

Thắng lợi trên mặt trận ngoại giao: Chính phủ VNDCCH được Trung Quốc, Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân Đông Nam Âu công nhận, mở ra khả năng hiện thực nhận được sự giúp đỡ về vật chất của quốc tế

Ngày đăng: 19/08/2021, 12:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Quang Hiển (cb), Bộ đề thi môn Lịch sử, NXB Giáo dục, 2015 Khác
2. Nguyễn Huy Toàn, 30 năm chiến tranh cách mạng Việt Nam (1945- 1975): Hỏi và đáp, NXB lý luận chính trị, 2005 Khác
3. Lê Mậu Hãn (cb), Đại cương lịch sử Việt Nam, tập III (1945- 1995), NXB Giáo dục, 2000 Khác
4. Trần Huy Đoàn, Trần Thùy Chi, Hướng dẫn ôn thi bồi dưỡng Học sinh giỏi THPT, Chuyên đề lịch sử, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2015 Khác
5. Vũ Quang Hiển (cb), Ôn tập môn Lịch Sử, chuẩn bị cho kì thi THPT Quốc gia, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015 Khác
6. Phan Ngọc Liên (cb), Từ điển Thuật ngữ Lịch sử phổ thông, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008 Khác
7. Nguyễn Thị Hương (cb), Tài liệu ôn thi THPT Quốc gia môn Lịch sử, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w