Sách giáo khoa chỉ cung cấp những kiến thức lý thuyết cơ bản như: Tìm hiểu chung về kiểu bài nghị luận, Khái niệm luận đề, luận điểm, luận cứ, lập luận; Cách viết đoạn văn trong bài văn
Trang 1MÃ CHUYÊN ĐỀ: VAN_16 CHUYÊN ĐỀ: CHỮA LỖI TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
CHO HỌC SINH GIỎI
PHẦN MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và học sinh giỏi văn nói riêng luôn là một công việc rất khó khăn, gian khổ, miệt mài, công phu, phức tạp, đòi hỏi rất nhiều thời gian, công sức, tâm huyết, trí tuệ Bởi vì, để có kết quả cuối cùng, cả giáo viên và học sinh cần phải giải quyết đến nơi đến chốn rất nhiều vấn đề từ kiến thức lẫn kĩ năng Văn học không phải là phép cộng giản đơn của những yếu tố Kiến thức về mọi mặt chỉ là lí thuyết để giải quyết vấn đề Kĩ năng mới chính là thứ biến lí thuyết ấy thành thực tế Mà thực tế của môn Văn cũng như mọi môn học chính là đời sống xã hội đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ xung quanh ta Thế nên,
để có thể vừa giúp học sinh thực hành kĩ năng làm văn nghị luận vừa có kiến thức đời sống, thực tế ngoài sách vở, kiểu bài nghị luận xã hội đã ra đời như một điều tất yếu, đáp ứng nhu cầu đổi mới giáo dục Trong đề thi học sinh giỏi các cấp quốc gia (từ năm 2007) và thi đại học (từ năm 2009), nghị luận xã hội trở thành kiểu bài không thể thiếu Những năm gần đây, với thang điểm 20 của đề thi, kiểu bài này thường chiếm một số lượng điểm lớn: 08/20 điểm, đòi hỏi học sinh phải đầu tư nhiều thời gian và tâm huyết dành cho câu hỏi này Nói cách khác, kĩ năng làm kiểu bài nghị luận xã hội đã trở thành một tiêu chí quan trọng để đánh giá năng lực của học sinh giỏi môn Văn Song thực tế làm bài cho thấy đây lại là câu hỏi mà học sinh thường hay mắc lỗi nhất, gặp nhiều khó khăn nhất trong cách xử lí kiến thức và áp dụng kĩ năng Mặc dù đã trở thành kiểu bài bắt buộc của đề thi học sinh giỏi các cấp từ nhiều năm nay nhưng điều đó không có nghĩa là học sinh đã thành thục trong năng lực xử lí kiểu bài này Bởi học sinh mỗi năm mỗi khác và hơn thế,
xu thế của xã hội cũng tạo ra những định hướng dần khác hơn cho kiểu bài này
Sách giáo khoa chỉ cung cấp những kiến thức lý thuyết cơ bản như: Tìm hiểu chung về kiểu bài nghị luận, Khái niệm luận đề, luận điểm, luận cứ, lập luận; Cách viết đoạn văn trong bài văn nghị luận; Nghị luận về một tư tưởng đạo lí; Nghị luận về một hiện tượng đời sống; Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm,… Với học sinh giỏi, chỉ có kiến thức chưa bao giờ là đủ Thực tế cho thấy nhiều em không có khả năng xử lí kiến thức sao cho nhuần nhuyễn, hợp lí Cần phải hình thành năng lực, kĩ năng cảm nhận và làm bài cho các em Muốn
Trang 2nâng cao chất lượng bài viết của học sinh giỏi, nâng cao chất lượng của môn Ngữ văn để tạo ra những lứa học sinh có tài năng thì cần phải làm tốt khâu đánh giá bài làm của học sinh Ngoài việc ghi nhận, trân trọng những cố gắng tìm tòi để biểu dương thì cũng cần nghiêm khắc và cảm thông trước những lỗi của học sinh, chỉ ra chính xác các lỗi cho các em và yêu cầu sửa một cách nghiêm túc Trên tinh thần
đó sẽ giúp cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi đạt được mục tiêu đề ra bằng việc khắc phục tối đa những lỗi trong bài viết
Con đường đi đến chân lí không bao giờ là duy nhất Có nhiều cách khác nhau để giúp học sinh tiến bộ Thông thường, giáo viên sẽ đi từ cái đúng, cái chuẩn
để dạy học sinh cái hay, cái tốt Nhưng đôi khi để đạt được mục tiêu giáo dục, ta lại phải đi từ việc phát hiện, khắc phục cái sai, cái dở mà các em mắc phải Đó chính là mục đích, tác dụng và bản chất của việc chữa lỗi Nhân vô thập toàn nên không ai hoàn hảo trong lời nói, hành động, suy nghĩ mọi lúc, mọi nơi Mắc lỗi là chuyện thường tình Ai cũng có lúc phạm phải sai lầm Lê-nin từng nói đại ý rằng chỉ những người không làm gì cả mới không mắc sai lầm Thậm chí, chúng ta có thể nói rằng chính những người không làm gì cả cũng đang mắc một sai lầm lớn,
đó là lãng phí cuộc đời Một khi lỗi lầm là điều khó có thể tránh khỏi thì điều quan trọng nhất là phải học cách hạn chế, khắc phục Trong đó, bước đầu tiên là phải phát hiện ra càng sớm càng tốt và biết nhận lỗi một cách chân thành, thẳng thắn Người dũng cảm nhận lỗi chẳng những không bị coi thường mà trái lại còn được tôn trọng vì hành động đó là dấu hiệu của đức tính khiêm nhường và sự chín chắn
Sau đó, bước tiếp theo là ta phải biết sửa chữa và rút ra bài học từ lỗi lầm Elliot từng nói: “Hãy nhìn lại lỗi lầm và rút ra bài học để tránh tái phạm Nhưng đừng
quá để tâm tới chúng đến mức cảm thấy nhụt chí” Điều này có vai trò vô cùng
quan trọng bởi nếu không làm được thì lỗi lầm bạn mắc phải một lần sẽ trở thành gánh nặng đeo bám suốt cuộc đời Ngược lại, nếu biết sữa lỗi và rút ra bài học, bạn chẳng những giảm thiểu được hậu quả mà còn có cơ hội làm được nhiều thành quả
để bù đắp lại Khi đó, thành công hoàn toàn có thể đến sau khi ta vấp ngã vì lỗi lầm Câu nói thất bại là mẹ thành công hoàn toàn không phải là một khẩu hiệu để
hô hào hay an ủi, động viên mà thực sự là một chân lí muôn đời Đúng như Vera
từng khẳng định: “Mình cố gắng xem các lỗi lầm là những bài học để hoàn thiện
bản thân và biết cách xử lý tình huống tốt hơn trong lần tới Có quan điểm như thế rất hữu ích vì nó giúp bạn trưởng thành”
Giáo viên phải coi mỗi lỗi lầm học sinh và chính mình mắc phải là một thử thách cần thiết để rèn luyện mình thành con người năng động, linh hoạt, nhanh nhạy, biết ứng phó với mọi tình huống phát sinh Bởi vậy, sẽ rất đáng khen nếu bạn luôn hoàn thành tốt công việc nhưng cũng có thể sẽ rất nguy hiểm nếu bạn ít khi mắc lỗi Bởi kinh nghiệm ứng phó với những điều nằm ngoài dự định của bạn sẽ gần như bằng không Mà cuộc sống này lại luôn luôn có chỗ cho những điều bất
Trang 3ngờ kiểu như vậy Do đó, lỗi là điều không ai mong muốn nhưng cũng không phải
là thứ hoàn toàn tiêu cực như nhiều người vẫn nghĩ Có người từng nói không có quyển sách nào hay với người không biết đọc và cũng không có quyển sách nào dở với người biết khám phá Tương tự như vậy, ta cũng có thể nói không có cơ hội nào là thuận lợi với người không biết đón nhận, không có lỗi lầm nào là vô nghĩa với những người khôn ngoan Điều này đúng cuộc sống phong phú, rộng lớn nói chung và với công tác giáo dục nói riêng, trong đó có việc dạy kiểu bài nghị luận
xã hội học sinh giỏi môn Ngữ văn
Căn cứ vào những lí do nêu trên, chuyên đề này chúng tôi hướng đến chỉ ra
và khắc phục những lỗi thường gặp đối với kiểu bài nghị luận xã hội
II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Vấn đề kĩ năng làm bài văn nghị luận nói chung và nghị luận xã hội nói riêng đã được đặt ra từ lâu và có những công trình nghiên cứu nghiêm túc, công phu, giá trị, giúp ích cho cả người dạy lẫn người học qua nhiều thế hệ Tiêu biểu
trong số đó là cuốn sách “Kĩ năng làm văn nghị luận phổ thông” (1998) Trong đó,
tác giả Nguyễn Quốc Siêu bàn đến rất nhiều vấn đề của văn nghị luận một cách chi tiết, cẩn thận, lớp lang, khoa học như: Tinh luyện và xác định luận điểm, lựa chọn
và vận dụng luận cứ, luận chứng lập luận, luận chứng phản bác, sắp xếp cấu trúc lô gic, cách thức vận dụng kĩ năng thuyết lí, chất văn trong biện luận, tình cảm trong biện luận, mĩ học trong biện luận, những thể loại nghị luận thường dùng,… Đáng tiếc là ngay cả trong một công trình đồ sộ như thế này (gần 500 trang), dù đã bàn đến rất nhiều vấn đề một cách tỉ mỉ nhưng tác giả của cuốn sách lại không hề đả động đến việc chữa lỗi trong bài văn nghị luận của học sinh Thậm chí, trong cách phân chia các thể văn nghị luận (bình luận tư tưởng, chính luận, bài nói, cảm nghĩ, tâm đắc, thu hoạch, báo cáo điều tra, tổng kết, tạp văn, bình luận văn nghệ, luận văn học thuật), tác giả cũng không nói tới nghị luận xã hội dù đây là một kiểu bài quan trọng Đây cũng là thực trạng chung của những cuốn sách cùng loại ra đời trong giai đoạn này
Thực trạng này không phải là ngẫu nhiên mà có nguyên nhân hết sức dễ hiểu Đó là trước đây, trong các đề thi đại học và thi học sinh giỏi do Bộ Giáo dục Đào tạo tổ chức chưa hề có câu nghị luận xã hội Phải từ đề thi học sinh giỏi Quốc gia năm 2007 và đề thi đại học năm 2009, Bộ Giáo dục mới chính thức đưa câu nghị luận xã hội vào Từ đó đến nay, khoảng thời gian hơn 10 đã qua giúp chúng ta
có một độ lùi cần thiết để suy ngẫm, trăn trở, tìm tòi về những cách dạy sao cho hiệu quả, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thi học sinh giỏi môn Ngữ văn
Nói vậy để thấy vấn đề chữa lỗi trong bài văn nghị luận nói chung và nghị luận xã hội nói riêng chỉ đến những năm gần đây mới thực sự được chú trọng Còn trước kia, chúng ta thường quan tâm đến việc làm sao để viết một bài văn nghị luận
Trang 4thật đúng, thật hay Nói cách khác, cách dạy ngày trước thường đi xuôi chiều, hướng học sinh đến thẳng những điều đúng, những cái tích cực Còn ngày nay, chúng ta lại có cách tiếp cận vấn đề ngược lại: muốn đạt được cái đúng, cái hay trước hết ta phải biết nhận ra, loại bỏ và sửa chữa cái sai, cái dở
Sau này, trong chương trình Ngữ văn cấp THPT đã có những bài Chữa lỗi
lập luận trong văn nghị luận Có lẽ đây là tài liệu có tính lí thuyết duy nhất đề cập
đến vấn đề nhận diện các lỗi trong văn nghị luận Ngoài ra trong Phân phối
chương trình Ngữ văn, Kế hoạch giảng dạy có các tiết học chữa trả bài kiểm tra 90
phút, đây chính là các tiết học giáo viên trên cơ sở chấm bài đã tìm và chỉ ra các ưu khuyết điểm trong bài viết của học sinh, giúp các em phát huy ưu điểm, hạn chế, sửa chữa những lỗi sai Nhưng chưa có bài học nào tập trung phát hiện và khắc phục các lỗi trong bài làm văn nói chung (nghị luận xã hội và nghị luận văn học)
và kiểu bài nghị luận xã hội nói riêng, mặc dù chương trình THCS và THPT có đưa ra các dạng bài làm văn nghị luận: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí; Nghị luận về một hiện tượng đời sống
Tuy nhiên ngay cả trong giai đoạn hiện nay, khi đội ngũ chuyên gia, nhà giáo đã quan tâm đúng mức đến kiểu bài nghị luận xã hội thì những nỗ lực nghiên cứu vẫn chỉ dùng lại ở những bài viết rời rạc trên các trang báo, chưa xuất hiện những công trình nghiên cứu cụ thể, hệ thống, chuyên sâu về vấn đề này Vì vậy công tác khảo cứu không thể thực hiện được Nhìn sang kiểu bài nghị luận văn học, thực trạng cũng tương tự Trong cố gắng tìm kiếm những tài liệu tham khảo thực hiện chuyên đề, chúng tôi đã thấy một tư liệu quan trọng Đó chính là chuyên
đề hội thảo khoa học trại hè Hùng Vương 2018 với nội dung: “Các lỗi thường gặp
ở kiểu bài lý luận văn học trong bài thi HSGQG môn Ngữ Văn” Tập hợp những
bài nghiên cứu của giáo viên chuyên về vấn đề này, chúng tôi phát hiện ra rất nhiều phát hiện ý nghĩa, thú vị, thiết thực, khoa học, hiệu quả về các lỗi thường gặp
và phương pháp khắc phục lỗi cho học sinh giỏi như: Lỗi về kiến thức (thiếu, sai, lan man,…), lỗi về kĩ năng (tìm hiểu đề, huy động kiến thức, giải thích, cắt nghĩa vấn đề, chứng minh, bàn luận, phản đề, diễn đạt,…) Từ kiểu bài lý luận văn học, chúng tôi thấy hoàn toàn có thể vận dụng sang kiểu bài nghị luận xã hội trong vấn
đề phát hiện và sửa lỗi cho học sinh Bởi xét về gốc, nghị luận xã hội hay lí luận văn học đề là kiểu bài nghị luận, đề có những nét tương đồng nhất định Vì thế, đây chính là một nguồn tư liệu hết sức đắc lực mà chúng tôi đã tham khảo, học hỏi, trích dẫn, vay mượn của đồng nghiệp để hoàn thành chuyên đề của mình Thực tiễn trên trở thành nguồn động lực để chúng tôi quyết tâm viết chuyên đề này để mong
có được một tài liệu ban đầu phục vụ trực tiếp trong công tác giảng dạy, bồi dưỡng học sinh giỏi
Trang 5III NHIỆM VỤ, PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhằm mục đích giúp học sinh khắc phục những lỗi sai trong bài văn với
kiểu bài nghị luận xã hội, đề tài Chữa lỗi trong bài văn nghị luận xã hội cho học
sinh giỏi đặt ra và hướng tới việc giải quyết các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất: Khái quát lại về kiểu bài nghị luận xã hội để giúp giáo viên và học sinh có cái nhìn đúng đắn về kiểu bài này
Thứ hai: Hệ thống lại những lỗi thường gặp của học sinh trong quá trình làm bài
Thứ ba: Đề xuất một số giải pháp để khắc phục những lỗi thường gặp của học sinh trong bài nghị luận xã hội
Với mục tiêu trình bày vấn đề một cách dễ hiểu và các nội dung nêu ra có thể phục vụ cho mục đích thiết thực nhất của công tác bồi dưỡng HSG Ngữ văn; chúng tôi chủ trương trình bày từ lí thuyết đến thực hành, từ nội dung khái quát đến những vấn đề chi tiết
2 Phạm vi nghiên cứu
Những vấn đề xã hội được đặt ra trong kì thi học sinh giỏi quốc gia nói riêng và học sinh giỏi các cấp nói chung thường là những vấn đề căn bản nhất Vì vậy, khi thực hiện chuyên đề này chúng tôi tập trung làm rõ những lỗi thường gặp trong kiểu bài nghị luận xã hội ở những vấn đề mang tính chất căn bản ấy
Thực tiễn bài làm của học sinh thì rất đa dạng, phức tạp bởi trình độ và năng lực của các em khác nhau nên khả năng tiếp thu, lĩnh hội cũng vì thế mà có
sự phân hóa Từ thực tiễn đó, chúng tôi còn xem xét một cách kĩ lưỡng bài viết trên lớp và trong các cuộc thi của học sinh để làm tư liệu trong quá trình thực hiện chuyên đề này
3 Đóng góp mới của chuyên đề
- Đề tài hệ thống hóa các lỗi thường gặp trong bài viết của học sinh trong bài văn nghị luận xã hội, trình bày đặc điểm và cách khắc phục một cách tường minh, chi tiết Đây là nội dung chưa được giới thiệu các tài liệu tham khảo khác
- Đề tài cũng giới thiệu một số bài viết cụ thể của học sinh có ý nghĩa minh họa cho phần lý thuyết; khả dĩ phục vụ thiết thực trong công tác rèn kĩ năng làm bài cho HSG của GV
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp: thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh,…
Trang 6V CẤU TRÚC CỦA ĐÊ TÀI
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo… đề tài của chúng tôi được chia thành ba chương Cụ thể:
- Chương I Những yêu cầu cơ bản đối với kiểu bài nghị luận xã hội
- Chương II Một số loại lỗi cơ bản trong kiểu bài nghị luận xã hội
- Chương III Đề xuất các biện pháp khắc phục lỗi của học sinh trong kiểu bài nghị luận xã hội
Trang 7PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG YÊU CẦU CƠ BẢN ĐỐI VỚI KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
1 Đề thi học sinh giỏi những năm gần đây
Khảo sát các đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh và quốc gia của những năm gần đây, chúng tôi nhận thấy đề thi luôn có một câu nghị luận xã hội Điều đó thể hiện
xu hường thay đổi nhằm điều chỉnh lại thực tiễn dạy học, mở rộng hiểu biết về văn học cho học sinh Với câu nghị luận xã hội, nhiều đề Văn được ra theo hướng mở, gây được hứng thú cho học sinh giỏi, kích thích được sự say mê, sáng tạo của các
em Những hướng ra đề phổ biến như đưa ra một ý kiến, nhận định, một câu chuyện, một sự việc, một hiện tượng để yêu cầu học sinh giải thích, bình luận ý kiến và làm sáng tỏ Mục đích của dạng đề này là kiểm tra kiến thức xã hội Ví dụ
cụ thể như:
2010 Anh (chị) hãy giải thích và bình luận ý kiến sau đây của Hứa
Hành: “Kẻ trách mình, có thể làm nên điều hay cho người khác Kẻ
trách người thật là làm thêm cái dở cho mình”
2011 Bàn về phương thức giáo dục con người, nhà văn Nhật
Kakura khẳng định :
“Con người không phải là cái bình nước cần được đổ
đầy, mà là một ngọn đèn cần được thắp sáng ”
Anh/chị có suy nghĩ gì về ý kiến trên
2012 Trong cuốn nhật kí của liệt sĩ Đặng Thuỳ Trâm có những
dòng như sau: Cuộc sống vô cùng anh dũng, vô cùng gian nan, chết
chóc hi sinh còn dễ dàng hơn ăn một bữa cơm Vậy mà người ta vẫn bền gan chiến đấu Con cũng là một trong muôn nghìn người đó, con sống, chiến đấu và nghĩ rằng mình sẽ ngã xuống vì ngày mai của dân tộc Ngày mai trong tiếng ca khải hoàn sẽ không có con đâu Con tự hào vì đã dâng trọn đời mình cho Tổ quốc
Là thế hệ trẻ được may mắn sống trong những ngày tháng hòa
bình tươi sáng hôm nay, anh/chị suy nghĩ gì về dòng nhật kí trên
2014 Ngày nay, với sự phát triển không ngừng của mạng internet
và đặc biệt là của các trang mạng xã hội, dường như có nhiều người đang sống rất thực với thế giới ảo trong máy tính, nhưng lại sống rất
ảo với thế giới thực ngoài cuộc đời
Hãy trình bày suy nghĩ của anh/chị về hiện tượng trên
2018 Suy nghĩ của anh, chị về câu nói: Sống tức là thay đổi
Trang 82019 Hãy để tâm đến tiếng nói nội tâm nhỏ bé nhưng bền
vững bên trong bạn hơn là những tiếng ồn ào, náo loạn từ bên ngoài
(John Mason – Sinh ra như một bản thể, đừng chết như một bản sao)
Anh, chị hãy bình luận ý kiến trên
2 Những yêu cầu cơ bản đối với kiểu bài nghị luận xã hội
a Yêu cầu về kiến thức
Kiến thức là nền tảng quan trọng cho bài văn Để viết được một bài nghị luận xã hội hay, người viết phải sử dụng rất nhiều loại kiến thức cơ bản khác nhau
Dĩ nhiên, tùy mỗi vấn đề cụ thể của đề ra mà xác định những loại kiến thức cần và
đủ, loại nào là chính, loại nào là kiến thức bổ trợ Mặt khác, không phải bài viết nào cũng đưa vào tất cả những kiến thức mình có Nhưng muốn có đủ khả năng để đáp ứng kiểu bài nghị luận xã hội thì học sinh cần trang bị cho mình một vốn kiến thức cơ bản, phong phú, có hệ thống Đặc biệt kiểu bài nghị luận xã hội cần đảm bảo những kiến thức xã hội lấy từ thực tế cuộc sống hoặc thông qua sách vở Đó là những thứ đã và đang diễn ra không ngừng trong cuộc sống xung quanh chúng ta,
ở tất cả các phạm vi, mức độ: địa phương, quốc gia, quốc tế, Đây thường là những vấn đề nóng hổi, mang tính thời sự, tính cấp thiết, có ảnh hưởng, tác động tới nhiều người nên đáng được qua tâm, bàn luận, đánh giá Đó chính là những kiến thức từ người thực, việc thực hoặc sự việc, hiện tượng có thực mà học sinh có thể được trực tiếp trải nghiệm hoặc biết tới qua các phương tiện thông tin, qua sách báo,
Kiến thức xã hội là thứ học sinh có thể lấy ngay trong thực tế đời sống nhưng cũng có thể tích lũy được qua sách vở về những vấn đề khác nhau như văn học, lịch sử, triết học, khoa học tự nhiên, kinh tế, chính trị,
b Yêu cầu về kĩ năng
Trong bài văn nghị luận xã hội, học sinh không chỉ cần kiến thức đời sống
xã hội mà còn phải đảm bảo những kĩ năng cơ bản như sau:
- Kĩ năng nhận diện vấn đề và huy động kiến thức
- Kĩ năng giải thích, cắt nghĩa vấn đề
- Kĩ năng bàn luận: phân tích, chứng minh, khái quát, tổng hợp
- Kĩ năng phản đề (tư duy phản biện)
- Kĩ năng liên hệ thực tế (quốc gia, dân tộc, thời đại, thế giới, )
- Kĩ năng đánh giá, mở rộng, nâng cao vấn đề
- Kĩ năng rút ra bài học nhận thức và hành động
Ngoài những kĩ năng làm văn cơ bản đặc trưng của kiểu bài nghị luận xã hội, bài viết cần đảm bảo các kĩ năng khác của bài văn nghị luận như: Mở bài, kết bài, viết đoạn, viết câu, chuyển đoạn, chuyển ý, chọn và trình bày dẫn chứng, diễn
Trang 9đạt, liên kết, tạo chất văn, tạo cảm xúc, hình ảnh, tạo giọng điệu riêng, cách dùng
từ vừa chính xác vừa mới lạ, độc đáo để làm cho bài viết hay và hấp dẫn,
Trang 10CHƯƠNG 2: MỘT SỐ LỖI CƠ BẢN CỦA HỌC SINH KHI LÀM KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
1 Lỗi về kiến thức
Kiến thức xa rời thực tế: Đây là lỗi đầu tiên cần phải kể đến trong kiểu bài nghị luận xã hội – vốn là dạng bài hướng đến thực tế cuộc sống nhiều nhất Vấn đề này không chỉ của riêng học sinh mà còn là thực trạng còn tồn tại trong cả hệ thống giáo dục của chúng ta từ trước đến nay Từ nội dung chương trình đến phương pháp giáo dục đều có xu hướng nặng về lí thuyết hơn thực hành, giáo điều hơn thực tiễn, tư duy trừu tượng hơn trực quan sinh động Vì thế, học sinh thường khó tránh khỏi lỗi này Các em có thể biết nhiều kiến thức sách vở nhưng lại ú ớ, ngu ngơ khi phải giải quyết các vấn đề liên quan tới đời sống bên ngoài Tình trạng này
có thể không phải là vấn đề quá nghiêm trọng khi làm các bài nghị luận văn học nhưng sẽ không thể chấp nhận được khi làm các bài nghị luận xã hội Việc thiếu kiến thức đời sống sẽ khiến học sinh không hiểu, không thấu được vấn đề cần bàn Thậm chí, người viết còn không tìm nổi dẫn chứng trong thực tế mà phải lấp chỗ trống bằng cách lấy tác phẩm văn học trong trương trình ra để phân tích Điều đó
vô tình làm cho bài nghị luận xã hội trở thành bài nghị luận văn học lúc nào không hay Bởi nó sẽ khiến bài viết không có màu sắc đặc trưng của nghị luận xã hội: hơi thở đời sống, tính thời sự, tính thực tiễn, tính hành động,
Thiếu kiến thức: Học sinh trải nghiệm thực tế và đọc sách quá ít Điều đó
có thể do hạn chế chung của giáo dục nước nhà, do sự rụt rè, thụ động và thiếu tích cực, chưa chăm chỉ của chính người học Hậu quả là khi cần huy động kiến thức
để làm bài, người viết sẽ rơi vào tình trạng bí bách, quẩn quanh Không có kiến thức đồng nghĩa với việc ta không có cách nhìn, cách đánh giá và làm sáng tỏ vấn
đề đúng đắn, toàn diện, sâu sắc mà chỉ có thể nhìn hiện tượng một cách đơn lẻ Khi
ấy, bài viết nghị luận xã hội không nâng được vấn đề lên thành quy luật khái quát
mà chỉ nhìn một cách hời hợt, đơn giản; không biết khai thác cho sâu, mở rộng cho phong phú mà chỉ suy nghĩ chờn vờn ở hiện tượng bề ngoài Khi ấy, bài viết chỉ như một bản tin thời sự, chỉ nói được sự kiện nóng hổi nhất thời ở một địa điểm và đối tượng cụ thể, xác định mà không thể nâng lên thành vấn đề chung cho mọi người
Kiến thức thiên lệch, phiến diện: Hiện nay, ngày càng có nhiều học sinh mang tâm lí học tủ, chỉ tập trung vào thứ mình yêu thích mà học qua loa những thứ không phải sở trường, không thuộc gu tiếp nhận Điều này đúng việc việc học văn nói chung và nhất là với việc học kiểu bài nghị luận xã hội nói riêng Vì đề xã hội vốn là đề mở, không có giới hạn nê học sinh cũng chẳng biết ôn vào đâu cho trúng Điều này dễ nảy sinh kiểu học tùy hứng Kết quả là có những vấn đề các em nắm rất sâu, rất rộng, rất chắc, làm bài có kết quả rất khả quan Nhưng ngược lại, có vấn
Trang 11đề các em lại làm rất hời hợt, nhạt nhẽo, cầm chừng, thậm chí bỏ dở Điều đó khiến cho người học có phong độ thất thường, phập phù, lúc được lúc không, rất khó đoán biết, phụ thuộc nhiều vào may rủi, hên xui Học tập không phải là chuyện vui chơi cầu may mà phải thực sự mang đến một nền tảng, một năng lực vững chắc cho con người tiến bộ, trưởng thành, thích nghi, làm chủ hoàn cảnh Vì thế, kiểu học tủ, học lệch rõ ràng là lợi bất cập hại, là đi ngược lại với tôn chỉ và mục đích của việc học
Kiến thức cũ mòn: Với kiểu đề thường có xu hướng mở như nghị luận xã hội, nếu học sinh không có ý thức tự học, tự trau dồi để mở rộng kiến thức thì bài viết chắc chắn sẽ hạn chế, bó hẹp, cũ mòn, trùng lặp Cùng một thầy dạy, cùng một chương trình đào tạo nếu mỗi học sinh không biết tự tìm tòi, bồi đắp, tích lũy thêm thì mãi sẽ chỉ đứng trong đám đông nhạt nhòa, vô danh Những kiến thức xã hội và sách vở nằm ngoài chương trình chính là một thử thách quan trọng giúp ta đánh giá, phân biệt được năng lực của học sinh Vì đó là nơi các em không thể chỉ biết làm theo thói quen, đi theo lối mòn, thao tác theo những điều lặp đi lặp lại mà phải thực sự chủ động trong việc lựa chọn, xử lí, chiếm lĩnh kiến thức mới lạ
Không làm chủ được kiến thức: Đây là điều thường xảy ra với học sinh chịu khó, chăm chỉ đọc nhiều, học nhiều nhưng lại không có phương pháp ghi nhớ, tiêu hóa, hệ thống hóa kiến thức Điều đó làm cho tri thức được thu nạp một cách tùy tiện, tùy hứng, lẫn lộn Người thiếu kiến thức thì chẳng khác gì căn phòng trống rỗng, muốn tìm một thứ gì đó hữu ích để dùng cũng chẳng có Còn người không làm chủ được kiến thức thì giống như căn phòng có rất nhiều đồ đạc ngổn ngang, bề bộn Khi cần tìm thứ mình muốn, bạn cũng không thể thấy ngay được
mà phải mất công lục lọi Như thế, vừa mất thời gian, vừa mất công sức mà chưa chắc đã có kết quả Đó là một phần lí do vì sao nhiều học sinh chăm chỉ, chịu khó, kiến thức phong phú mà vẫn không có kết quả tương xứng khi thi cử Ngoài ra, khi chưa thật sự làm chủ và ngấm kiến thức, người viết sẽ không thể viết chắc tay, sẽ dễ phân tích, đánh giá sơ sài, hời hợt hoặc lệch lạc, phiến diện, không thỏa mãn yêu cầu
đề bài đặt ra.Lỗi này lại có thể được chia nhỏ thành các biểu hiện cụ thể như sau:
Thông thường trong phần giải thích học sinh cần phải giải thích, cắt nghĩa các từ ngữ, khái niệm, thuật ngữ, mệnh đề nhằm rút ra ý nghĩa của nhận định, xác định vấn đề xã hội được đưa ra Cho nên nếu sử dụng không đúng hoặc hiểu không chính xác các khái niệm, thuật ngữ học sinh sẽ không xác định trúng vấn đề, bài viết sẽ không đi đúng hướng
Lỗi trích dẫn sai các ý kiến nhận định, các câu danh ngôn, ngạn ngữ, tục ngữ, thành ngữ về các vấn đề đời sống, xã hội, nhân sinh Khi làm kiểu bài nghị luận xã hội, người viết cần phải có vốn nhất định về các ý kiến, nhận định liên quan đến vấn đề cần bàn Vốn nhận định đó sẽ được sử dụng để minh chứng cho lí
lẽ của người viết khi giải thích, bàn luận vấn đề nhằm thuyết phục người đọc rằng
Trang 12đó là vấn đề đúng đắn, có cơ sở lí luận đã được thừa nhận Nhưng có một thực tế đang xảy ra là nhiều học sinh ghi nhớ thiếu chính xác, không có hệ thống, chú thích sai nguồn khiến cho ý kiến nhận định đưa ra không có sức thuyết phục, phản tác dụng
Bên cạnh đó, còn tồn tại một lỗi sai nữa mà học sinh thường hay mắc phải
là chưa biết cách lựa chọn, hình thức trích dẫn trực tiếp hay gián tiếp, đưa vào trong ngoặc kép tùy tiện những ý kiến không ghi nhớ chính xác; lỗi tham kiến thức, trích dẫn quá nhiều ý kiến, nhận định vào bài viết
Nguyên nhân dẫn đến những lỗi sai trên là do học sinh chưa có thói quen tích lũy, ghi chép hệ thống và ghi nhớ các ý kiến, nhận định về xã hội, chưa có kĩ năng sử dụng luận cứ trong bài nghị luận
2 Lỗi kĩ năng
Lỗi kĩ năng tìm hiểu đề
Lạc đề là cơn ác mộng của bất kì giáo viên, học sinh nào Có một sự thật rõ như ban ngày và nghiệt ngã vô cùng: một khi bạn lạc đề thì mọi công sức bạn đổ vào bài viết sẽ đổ sông đổ bể Lạc đề là cơn ác mộng thành hiện thực, khi đó bạn thất bại ngay từ bước chân đầu tiên Việc lạc đề có nhiều nguyên nhân mà trước hết là do không đọc kỹ đề trước khi làm bài Trong quá trình học còn chưa chủ động về mặt kiến thức, tình trạng học tủ, học lệch và máy móc, rập khuôn trong quá trình làm bài Mặt khác có thể do câu hỏi mang tính chất đánh lừa tư duy nhưng thí sinh không nhận ra và dẫn đến làm sai Bên cạnh đó, nhẹ hơn lạc đề là lỗi lan man, sa đà xảy ra khi học sinh tham kiến thức hoặc không xác định được trọng tâm Các em không làm tốt bước phân tích được đề, không xác định trúng vấn đề cần nghị luận, chưa lựa chọn được đúng phần kiến thức để đưa vào giải quyết vấn đề Nguyên nhân của các lỗi này như sau:
Học sinh không đọc kĩ đề: Đề bài thường nêu vấn đề bằng cách trích dẫn một câu nói, một ý kiến, nhận xét của một danh nhân, một học giả , yêu cầu học sinh giải thích, bình luận ý kiến và làm sáng tỏ Thông thường có hai cách hỏi: nêu trực tiếp, tường minh vấn đề trong chỉ dẫn của đề bài và hỏi gián tiếp bằng những cách nói, những hình ảnh bóng bẩy, hàm ẩn Dù hỏi trực tiếp hay gián tiếp thì đề bài cũng có 2 phần: phần dẫn và câu lệnh Đọc kĩ đề là đọc kĩ cả phần dẫn và câu lệnh, tìm hiểu cấu trúc câu văn trong đề, xác định các từ khóa, xác định mối quan
hệ giữa các câu, các mệnh đề Học sinh thường đọc đề không kĩ dẫn đến nhận thức chưa đúng hoặc chưa đầy đủ vấn đề cần nghị luận, từ đó chưa có hướng đi đúng cho bài viết của mình
Người viết nhận diện không trúng vấn đề: Học sinh chưa đặt ra và trả lời câu hỏi: Đề hỏi vấn đề xã hội nào ? Thực chất, khâu nhận diện đề gắn chặt với kĩ năng giải thích vấn đề Khi đứng trước một đề bài, học sinh chưa có thói quen phân
Trang 13tích nhận định của đề bài, phát hiện chính xác bản chất của vấn đề cần bàn luận Đây là bước đầu tiên cũng là khâu quan trọng nhất của bài viết vì có xác định đúng vấn đề thì bài viết mới khai thác đúng hướng, đúng yêu cầu Ở đây cần lưu ý những đề có cách diễn đạt dễ gây ngộ nhận cho học sinh về bản chất đề Việc tìm
ra vấn đề nghị luận xã hội không phải dễ dàng bởi trong phần nhận diện đề, học sinh chưa biết giải thích nhận định để tìm ra vấn đề xã hội mà đề yêu cầu Học sinh chưa chú ý những từ ngữ, cụm từ then chốt, các từ khóa ; chưa xác định những hình ảnh, giải nghĩa chính xác những từ ngữ, hình ảnh Trước một vấn đề chưa rõ, học sinh chưa biết đặt ý kiến đó trong sự đối sánh với ý kiến khác đồng hoặc trái quan điểm
Học sinh cũng thường mắc các lỗi như nhận diện không đúng dạng đề, kiểu bài; xác định chưa đủ các thao tác nghị luận, sự vận dụng linh hoạt và tỉ lệ sử dụng các thao tác nghị luận trong bài văn Đối với những đề văn thông thường, bên cạnh những chỉ dẫn về nội dung, mỗi đề bài thường có những chỉ dẫn về cách thức nghị luận (kiểu bài) như: giải thích, chứng minh, bình luận hoặc nghị luận tổng hợp… Tuy nhiên, đối với kiểu bài nghị luận về vấn đề xã hội dành cho học sinh giỏi, đề bài thường không định hướng về kiểu bài, học sinh phải căn cứ vào yêu cầu của đề để xác định dạng đề Điều đó khiến cho học sinh thường quá sa đà vào các thao tác lập luận như bình luận, phân tích, dành tỉ lệ chưa đúng cho các thao tác khác như chứng minh, bác bỏ
Lỗi trong kĩ năng huy động kiến thức
Chưa xác định chính xác phạm vi kiến thức cần huy động: Do trong quá trình nhận diện đề, học sinh nhận diện chưa đúng vấn đề mà đề yêu cầu nên chưa biết dùng kiến thức nào để bàn luận Đây là loại lỗi thường gặp khi học sinh đứng trước một đề bài khó, nhận định trong đề phức tạp hoặc có nhiều vấn đề dẫn đến những cách hiểu khác nhau về vấn đề cần bàn luận
Huy động quá nhiều kiến thức, thiếu chọn lọc: Bài viết của học sinh thường khoe quá nhiều kiến thức xã hội Do chưa có hiểu biết chắc chắn, chưa làm chủ được kiến thức nên khi nhận diện được vấn đề nghị luận mà đề yêu cầu, học sinh thường huy động hết những kiến thức được học về vấn đề ấy mà chưa biết chắt lọc những khái niệm, những luận điểm cốt lõi, đặc trưng của các vấn đề đáp ứng đúng yêu cầu của đề bài Điều đó khiến cho bài viết trở thành bài tung ra một mảng kiến thức xã hội khô khan, nặng nề, thiếu sự chặt chẽ, nhuần nhuyễn Học sinh cũng thường mắc lỗi huy động trong bài viết của mình quá nhiều những ý kiến, nhận định, câu chuyện, sự việc, sự kiện có liên quan đến vấn đề nghị luận đề yêu cầu mà không biết chọn lọc, làm cho bài viết lan man, nặng nề
Huy động kiến thức xã hội quá sơ sài, tùy tiện: Một loại lỗi khác cũng thường gặp trong bài làm của học sinh giỏi là huy động kiến thức xã hội chưa đầy
đủ, chưa đáp ứng được yêu cầu của đề bài Do học sinh chưa có thói quen phân
Trang 14tích đề, chưa ghi ra nháp những kiến thức cần huy động và sắp xếp các kiến thức
ấy theo một trình tự hợp lí Học sinh cũng chưa xác định rõ phần kiến thức trọng tâm mà đề yêu cầu, phần kiến thức có liên quan, chưa chú ý mối quan hệ giữa vấn
đề đặt ra trong đề bài với vốn kiến thức mình có dẫn đến việc huy động kiến thức trong bài viết đôi khi không logic với vấn đề mà đề yêu cầu
Lỗi trong kĩ năng giải thích, cắt nghĩa vấn đề
Hiểu chưa đúng những khái niệm, thuật ngữ, những hình ảnh biểu tượng Khi giải thích, học sinh thường đi từ cắt nghĩa từ ngữ, hình ảnh, khái niệm, thuật
ngữ ở nhận định Đối với đề bài trực tiếp đưa ra khái niệm, hiện tượng, do chưa
nắm vững nội dung của những thuật ngữ, khái niệm nên học sinh có thể giải thích sai, hiểu chưa trúng vấn đề cần nghị luận Có một thực tế là, học sinh thường chưa
có đủ vốn hiểu biết về các thuật ngữ, các vấn đề xã hội, điển hình như công dân toàn cầu, trí tuệ nhân tạo, cách mạng 4.0, thế giới phẳng, Các em phải làm bài trong một khoảng thời gian có hạn, nên sẽ gặp nhiều khó khăn Đối với những đề bài không trực tiếp đưa ra khái niệm, thuật ngữ, hiện tượng mà dùng cách nói, câu chuyện, hình ảnh hàm ẩn, biểu tượng , học sinh phải giải thích những hình ảnh biểu tượng, cách nói hàm ẩn để tìm ra các khái niệm, các vấn đề xã hội mà đề muốn kiểm tra Với những đề phức tạp, những hình ảnh biểu tượng khó, học sinh thường mắc lỗi giải thích chưa kĩ lưỡng, hiểu chưa đúng các biểu tượng hoặc lựa chọn không đúng những hình ảnh biểu tượng cần giải thích dẫn đến hiểu sai lệch
đề tổng hợp đặt ra nhiều vấn đề xã hội Đối với đề bài này, cần phải xác định vấn
đề nào là chính, vấn đề nào có ý nghĩa bổ sung, phụ trợ cho vấn đề chính rồi lần lượt giải thích và bàn luận, chứng minh từng vấn đề Nhưng có học sinh lại hiểu một cách máy móc, cố ép nhận định đó vào một vấn đề làm cho bài viết phiến diện, thiếu hụt
Lỗi về kĩ năng chứng minh, bàn luận vấn đề
Chứng minh, bàn luận dàn trải không tập trung vào vấn đề, không có luận điểm Hiện tượng mắc loại lỗi này trở thành phổ biến trong các bài thi học sinh giỏi ở kiểu bài nghị luận xã hội Sau khi giải thích, học sinh cũng có ý thức sử dụng kiến thức sách vở để bàn luận, nhằm thấy gốc rễ, bản chất của vấn đề Nhưng khi trình bày không có ý thức bám sát vào bước một (giải thích), không hình dung
Trang 15hướng giải quyết vấn đề, không xây dựng được hệ thống luận điểm nên khâu này không có kĩ năng cụ thể, chỉ là sự bày biện dàn trải, chung chung, thiếu lớp lang Thậm chí có những bài viết học sinh chỉ bám vào một ý rồi diễn đạt loanh quanh không đâu vào đâu Kiến thức rối rắm, tư duy lộn xộn, mạch ý không có, tạo cảm giác khó hiểu cho người chấm/đọc bài
Chứng minh, bàn luận không gắn với chứng minh bằng thực tiễn đời sống: Xác định đây là lỗi trong bài làm của học sinh, chúng tôi dựa trên quan điểm: khi bàn luận bằng kiến thức sách vở để làm cơ sở lí thuyết cho vấn đề Trong khi giới thuyết về lí luận, HS nên thường xuyên nêu các dẫn chứng sinh động của đời sống
xã hội Nhưng để tránh trùng lặp với dẫn chứng mà người viết cần tập trung làm sáng tỏ trong phần chứng minh; nên khuyến khích HS chọn những dẫn chứng tiêu biểu, có ý nghĩa khái quát cho mọi xã hội, mọi dân tộc, thời đại Nếu không có thao tác trên tức là học sinh chỉ bàn luận “chay”, thuyết lí chung chung khiến cho lí lẽ
trở nên nặng nề, lan man, thiếu cơ sở khó thuyết phục người đọc bài
Lỗi trong kĩ năng phản đề
Một bài nghị luận xã hội được coi là thành công không bao giờ thiếu một cái nhìn đa chiều, toàn diện, sâu sắc Muốn vậy, người viết phải biết lật đi, lật lại vấn đề từ nhiều điểm nhìn, góc nhìn khác nhau Có khi ta phải nhìn xuôi chiều, có lúc lại phải nhìn theo chiều ngược lại Người ta gọi đó là tư duy phản biện Tư duy phản biện là một quá trình tư duy biện chứng gồm phân tích và đánh giá một thông tin đã có theo một cách nhìn khác cho vấn đề đã đặt ra nhằm làm sáng tỏ và khẳng định lại tính chính xác của vấn đề Lập luận phản biện phải rõ ràng, lôgíc, đầy đủ bằng chứng, tỉ mỉ và công tâm Tư duy phản biện không đơn thuần chỉ là sự tiếp nhận và duy trì thông tin thụ động Đó có thể tóm tắt là quá trình tư duy tìm lập luận phản bác lại kết quả của một quá trình tư duy khác để xác định lại tính chính xác của thông tin
Vì vậy việc hình thành cho học sinh tư duy phản biện là hết sức cần thiết với những lợi ích quan trọng như: Tư duy phản biện giúp học sinh suy nghĩ một vấn đề theo nhiều hướng khác nhau với những cách giải quyết khác nhau; khắc phục tình trạng nhìn nhận vấn đề một chiều, phiến diện, chủ quan, duy ý chí; suy nghĩ để giải quyết vấn đề theo hướng xem xét kỹ ở mọi góc độ, khía cạnh, đưa ra nhiều phương án khác nhau và lựa chọn phương án tối ưu với những lập luận có cơ
sở vững chắc; ý thức rõ ràng hơn trong việc lắng nghe và tôn trọng ý kiến người khác khi tranh luận; sẵn sàng chấp nhận sự thật khách quan, lắng nghe ý kiến khác với ý kiến của mình và cố gắng tìm hiểu bản chất của vấn đề trước khi đưa ra kết luận; dám thừa nhận cái chưa đúng, sẵn sàng thừa nhận cái đúng của người khác và
vì vậy, dễ dàng thiết lập mối quan hệ tốt đẹp với mọi người Tư duy phản biện giúp học sinh có phương pháp tư duy độc lập, nhìn ra những hạn chế, sai lầm dễ mắc phải trong quá trình tư duy của mình, từ đó đưa ra những nhận định, phán đoán tối
Trang 16ưu; có suy nghĩ tích cực, giảm thiểu trạng thái tâm lý buồn rầu, thất vọng, mất lòng tin; khám phá những tiềm năng vốn có của bản thân, tạo động lực vượt lên chính mình, tự khẳng định mình, hình thành nhân cách tự chủ, độc lập và sáng tạo; nỗ lực cập nhật, chắt lọc những thông tin cần thiết, có giá trị, bổ ích cho bản thân; nâng cao kỹ năng tiếp cận và xử lý thông tin; trình bày vấn đề một cách sáng tạo; đưa ra luận điểm/luận cứ một cách rõ ràng; tăng cường khả năng suy nghĩ theo hướng mở,
rõ ràng, đáng tin cậy, không hấp tấp, vội vàng; dễ dàng hòa đồng vào tập thể, cộng đồng
Tuy vậy, bài làm của thí sinh vẫn thường mắc lỗi ở kĩ năng quan trọng này Phổ biến nhất là tình trạng bài viết thiếu phản đề, thiếu phần lật ngược vấn đề Học sinh chỉ biết nhìn một cách xuôi chiều, một phía: nếu là vấn đề tích cực thì khen hết lời, ngược lại nếu là vấn đề tiêu cực thì chỉ biết chê bai, phê phán, lên án Các
em không chỉ ra được 2 mặt vốn luôn tồn tại trong một đối tượng hay một hiện tượng: không có thứ gì chỉ hoàn toàn tốt cũng như chỉ hoàn toàn xấu Bên cạnh đó, nhiều thí sinh vẫn nhớ làm phần phản đề nhưng cách nghĩ rất hời hợt, đơn giản, nói cho có, cho đủ các phần trong bài mà không đạt chất lượng, phản đề thiếu sắc sảo, thiếu thuyết phục nên thành khiên cưỡng, gò ép Ví như đề yêu cầu thí sinh nêu suy nghĩ của mình về lời nói dối, sau khi đã nêu tác hại của lời nói dối ở phần chứng minh, đa phần thí sinh chỉ biết phản đề bằng cách ca ngợi những người trung thực, thẳng thắn Điều đó không sai nhưng không tạo ra điểm nhấn đặc biệt cho bài viết Các em cần phải nói được rằng không phải lúc nào lời nói dối cũng đồng nghĩa với cái xấu, có những lời nói dối đôi khi còn tốt hơn cả lời nói thật nếu
nó thực sự vì lợi ích của người nghe Trong một số hoàn cảnh, lời nói thật lại trở thành vô cảm, tàn nhẫn, còn lời nói dối lại mang đến một sức mạnh tinh thần to lớn (động viên, khích lệ những người mắc bệnh hiểm nghèo, không thể qua khỏi) Thậm chí, có những công việc, những nhiệm vụ bắt buộc người ta phải nói nói dối
vì lợi ích của cộng đồng, dân tộc, đất nước, đó là trường hợp của những chiến sĩ tình báo hoạt động trong lòng địch thời chống Pháp hay chống Mĩ Ngoài ra, một
số thí sinh còn mắc lỗi phản đề ở chỗ gò ép, khiên cưỡng, thậm chí phản đề một cách phi lí, vô nghĩa, như thể cố đẽo chân cho vừa giày Đơn cử như đề yêu cầu bàn về thói vô cảm của con người trong xã hội hiện đại Sau khi đã nêu tác hại của hiện tượng đó trong phần chứng minh, có thí sinh lại phản đề bằng cách cố gắng chỉ ra những mặt tích cực của thói vô cảm Điều này muôn vàn lần không nên bởi
dù tác dụng của sự vô cảm là có thật đi nữa thì ta cũng không nêu nêu ra vì như thế
sẽ chẳng khác gì một sự dung túng hoặc cổ xúy cho thói xấu đó
Lỗi trong kĩ năng liên hệ thực tế, rút ra bài học
Bài nghị luận xã hội có nhiều điểm khác biệt với bài nghị luận văn học, một trong những điều tạo nên sự khác biệt đó chính là việc liên hệ thực tế, rút ra bài học cho bản thân và mọi người về một vấn đề nào đó Nghị luận xã hội luôn có