Những vẫn đề chung 1/ Khái niệm kiểu bài nghị luận xã hội Nghị luận xã hội là thể văn hướng tới phân tích, bàn bạc về các vấn đề liên quan đến các mối quan hệ của con người trong đời s
Trang 1MÃ CHUYÊN ĐỀ: VAN_15
CHUYÊN ĐỂ:
CHỮA LỖI TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI CHO HỌC SINH GIỎI
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Dạng bài nghị luận xã hội là dạng bài luôn xuất hiện ở đề thi học sinh giỏi trong những năm gần đây Dạng bài này cho phép người viết phát huy các năng lực bản thân: năng lực tư duy, suy nghĩ, huy động vốn hiểu biết và năng lực trình bày một vấn
đề xã hội nào đó sao cho giàu sức thuyết phục Nó đòi hỏi ở người viết vốn sống phong phú, sâu sắc, sự độc lập tự chủ trong suy nghĩ và khả năng sáng tạo cao Do đó dạng bài này thường làm các em học sinh thích thú nhưng cũng gặp không ít khó khăn khi giải quyết các đề bài cụ thể Để khắc phục tình trạng trên, bên cạnh những đổi mới về phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá chúng tôi nhận thấy việc chỉ ra những lỗi và cách khắc phục lỗi của học sinh khi làm kiểu bài lí luận xã hội là rất quan trọng và cần thiết để nâng cao kĩ năng tư duy và trình bày vấn đề cho mỗi học sinh nhất là học sinh
trong đội tuyển Chuyên đề: Chữa lỗi trong bài văn nghị luận xã hội cho học sinh
giỏi được viết với mong muốn phần nào khắc phục tình trạng trên của học trò và phần
nào chia sẻ cùng đồng nghiệp để nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn trong tình hình hiện nay
2 Mục đích đề tài
- Tìm hiểu, chỉ ra những lối thường gặp trong khi làm những bài văn thuộc kiểu bài nghị luận xã hội của những học sinh thuộc đội tuyển học sinh giỏi môn Ngữ Văn
- Giúp học sinh đội tuyển học sinh giỏi nhận biết các lỗi, các hạn chế của bản thân khi làm bài và cách sửa chữa Nâng cao năng lực tự học và sáng tạo, khả năng vận dụng kiến thức lí luận để vận dụng vào bài làm được tốt nhất
- Nội dung nghiên cứu của đề tài còn phục vụ thiết thực cho giáo viên dạy môn Ngữ văn và là nguồn tư liệu góp phần phục vụ học sinh trong quá trình học và làm bài nghị luận xã hội
3 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp cơ bản đã vận dụng trong quá trình viết chuyên đề bao gồm:
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh
Trang 2- Phương pháp thống kê, phân loại
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Đối tượng nghiên cứu trực tiếp: Học sinh đội tuyển học sinh giỏi môn Ngữ văn mà nhóm tác giả đã trực tiếp giảng dạy
+ Đối tượng học thuật: kiến thức và kỹ năng của dạng bài nghị luận xã hội trong bài thi học sinh giỏi môn Ngữ văn
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu các lỗi cơ bản ở kiểu bài nghị luận xã hội trong bài thi học sinh giỏi môn Ngữ văn ở cấp độ đoạn văn và toàn văn bản
PHẦN NỘI DUNG
I Những vẫn đề chung
1/ Khái niệm kiểu bài nghị luận xã hội
Nghị luận xã hội là thể văn hướng tới phân tích, bàn bạc về các vấn đề liên quan đến các mối quan hệ của con người trong đời sống xã hội Mục đích cuối cùng là tạo ra những tác động tích cực đến con người và những mối quan hệ giữa người với người trong xã hội
2/ Yêu cầu của một bài nghị luận xã hội:
- Đảm bảo kĩ năng nghị luận nói chung: tập trung hướng sâu vào luận đề để bài viết đúng hướng, chặt chẽ, nhất quán với những dẫn chứng xác đáng, giàu sức thuyết phục
- Đảm bảo kiến thức mang màu sắc chính trị - xã hội: bài viết phải thể hiện được những hiểu biết về chính trị - pháp luật, truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, tâm lí – xã hội…, những tin tức thời sự cập nhật…
- Đảm bảo mục đích tư tưởng đúng đắn: phải xuất phát từ một lập trường tư tưởng tiến bộ, cao đẹp để bàn bạc, phân tích, đánh giá, đề xuất ý kiến
3/ Các dạng đề chính
Nghị luận xã hội ở nhà trường phổ thông có ba dạng chính:
- Nghị luận về một hiện tượng đời sống
- Nghị luận về một tư tưởng đạo lí
- Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
Tuy nhiên, sự phân định dạng này cũng chỉ mang tính tương đối, trong thực tế
có những đề bài đòi hỏi người viết phải có sự kết hợp linh hoạt các dạng bài trên
Trang 34/ Cách nhận diện đề và cách làm bài
a/ Cách nhận diện và cách làm đề nghị luận về một hiện tượng đời sống
* Cách nhận diện
Dạng đề này thường nêu lên một hiện tượng có thật trong đời sống (hiện tượng tích cực, hiện tượng tiêu cực, hiện tượng có cả mặt tích cực và tiêu cực) đòi hỏi người viết phải thể hiện được chủ kiến của mình, lập luận chặt chẽ, phân tích sắc sảo, toàn diện
để biểu dương, ngợi ca cái tốt, cái đẹp, cái tích cực, lên án cái xấu, cái ác, cái tiêu cực
Ví dụ:
Đề 1: Bạn nghĩ gì về du học và học trong nước
Đề 2: Người Việt trẻ hiện nay ngày càng không thích đọc sách
Đề 3: Bạn có thích học Lịch sử
Đề 4: Hiện nay, khủng bố đang là một vấn nạn có ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu Anh/chị suy nghĩ như thế nào về hiện tượng này?
* Cách làm bài
- Bước 1: Phân tích đề: Cần xác định:
+ Yêu cầu về thể loại (hình thức + các thao tác chính)
+ Yêu cầu về nội dung
+ Yêu cầu về phạm vi tư liệu
- Bước 2: Lập dàn ý
+ Mở bài: Giới thiệu được vấn đề cần nghị luận
+ Thân bài: Giải thích, bình luận hiện tượng ; mô tả thực trạng; hậu quả/kết quả tác động đến đời sống xã hội; nguyên nhân dẫn đến hiện tượng; giải pháp
+ Kết bài: Đánh giá ý nghĩa của hiện tượng đối với đời sống con người.; nhiệm vụ bản thân (bài học liên hệ)
- Một số chú ý khi làm dạng bài nghị luận về một hiện tượng đời sống:
Để viết dạng bài này, trước hết, học sinh phải biết nhận diện hiện tượng (sự việc, con người): các biểu hiện, dạng tồn tại, thậm chí cả số liệu cụ thể Thực hiện thao tác này đòi hỏi học sinh phải quan tâm và hiểu biết và có suy ngẫm sâu sắc về các vấn đề tồn tại trong xã hội, các em phải chú ý nghe thời sự hàng ngày, cập nhật thông tin về các vấn đề trong nước và quốc tế Những vấn đề xã hội được đặt ra trong các đề thường là những hiện tượng có ảnh hưởng rộng đến đời sống cộng đồng đặc biệt là cuộc sống của chính lứa tuổi học sinh
Trang 4Sau khi nhận diện hiện tượng, cần phân tích hiện tượng ở các mặt nguyên nhân, hậu quả, tìm ra giải pháp đề giải quyết vấn đề đó Trong quá trình tích lũy hiểu biết về hiện tượng, cần chú ý tới cách nói của các phóng viên, bình luận viên trên báo đài, quan tâm tới dư luận xã hội, chịu khó tìm hiểu về cuộc sống xung quanh Tuy nhiên khi tiếp nhận thông tin, cần tỉnh táo xem xét, chọn lọc và xử lí đích đáng trên cơ
sở hiểu biết, cố gắng xây dựng một lập trường vững vàng Khi phân tích nguyên nhân nên chú ý tới các mặt chủ quan – khách quan, khi đánh giá hậu quả cần xem xét ở phạm vi cá nhân – cộng đồng, hiện tại – tương lai…
Sau khi phân tích, bình luận về nguyên nhân, kết/hậu quả, cần đề xuất giải pháp Cần xem lại nguyên nhân vì nó là gợi ý tốt nhất để tìm ra các giải pháp
Bài nghị luận về một hiện tượng đời sống cần là sự bộc lộ vốn hiểu biết, lập trường thái độ của người viết về các hiện tượng nên bên cạnh việc nắm vững các bước làm bài, người viết còn phải thể hiện tiếng nói cá nhân, quan điểm đánh giá rõ ràng, sắc sảo thì bài viết mới có sức thuyết phục cao
b/Cách nhận diện và cách làm đề nghị luận về một tư tưởng đạo lí
* Cách nhận diện
Dạng đề này thường nêu lên một ý kiến, một quan điểm về tư tưởng, đạo lí (thường được gợi mở qua một câu danh ngôn: tục ngữ, ca dao, câu nói của các bậc hiền triết, lãnh tụ, các nhà văn hoá, khoa học, nhà văn nổi tiếng…
Ví dụ:
Đề 1: “Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động” Ý kiến trên của
M.Xi-xê-rông – nhà triết học La Mã cổ đại gợi cho anh (chị) những suy nghĩ gì về việc tu dưỡng và học tập của bản thân
Đề 2: Phân tích và làm sáng tỏ câu nói: Đường đi khó không phải vì ngăn song cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông (Nguyễn Bá Học)
Đề 3: Nghĩ về sức mạnh tinh thần
Đề 4: Nhà văn Nga L.Tôn-xtôi nói: Lí tưởng như ngọn đèn chỉ đường Không
có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định mà không có phương hướng thì không có cuộc sống Hãy trình bày suy nghĩ của anh chị về ý kiến trên
* Cách làm bài
- Bước 1: Phân tích đề: Cần xác định:
+ Yêu cầu về thể loại (hình thức + các thao tác chính)
+ Yêu cầu về nội dung
+ Yêu cầu về phạm vi tư liệu
- Bước 2: Lập dàn ý
Trang 5+ Mở bài: Giới thiệu được vấn đề cần nghị luận
+ Thân bài: Giải thích ý kiến (giải thích từ ngữ, giải thích nghĩa của cả câu, ý nghĩa
của câu nói: ý kiến muốn nhấn mạnh, phê phán, khẳng định…điều gì); Bình luận,
phân tích, chứng minh(ý kiến đúng, có tác động tích cực đến người đọc; tại sao;
chứng minh (thực tế đời sống và văn học), ý kiến sai; tại sao; chứng minh; ý kiến có
phần đúng, có phần hạn chế; tại sao; chứng minh); thái độ, hành động (Đồng tình,
biểu dương, trân trọng những tư tưởng, đạo lí có ý nghĩa tích cực; phê phán những tư tưởng có ý nghĩa tiêu cực; nhận thức rõ những đóng góp - hạn chế của của tư tưởng
để phát huy và bổ khuyết; phương hướng hành động; rút ra bài học cho bản thân (có thể chuyển xuống phần kết bài)
+ Kết bài: Đánh giá ý nghĩa tư tưởng, đạo lí được bàn luận
- Một số chú ý khi làm dạng bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí:
Khi giải thích khái niệm tùy từng yêu cầu cụ thể mà mức độ và cách giải thích
có thể sẽ khác nhau Có những đề bài khâu giải thích có thể làm gọn gàng, đơn giản , nhất là trong các đề bài mà yêu cầu, nhận định không có các khái niệm phức tạp, khó hiểu hay những hình ảnh có ý nghĩa sâu xa Nhưng cũng có những đề bài khâu giải
thích làm rất công phu như quan niệm của Viên Mai: “Làm người không thể không phân biệt giữa nhu mì và nhu nhược, giữa cứng cỏi và cường bạo, giữa tiết kiệm và keo kiệt, giữa trung hậu và khờ khạo, giữa sáng suốt và cay nghiệt, giữa tự trọng và
tự đại, giữa khiêm tốn và hèn hạ Mấy cái ấy hình như giống nhau mà thực là khác nhau” Nếu không giải thích tường tận, thấu đáo những mệnh đề trong quan niệm thì
không xác định nổi ý nghĩa, phạm vi ý nghĩa trong quan niệm
Khi phân tích, lí giải để làm sáng tỏ bản chất vấn đề cùng các khía cạnh và mối quan hệ của nó cần phải tách vấn đề thành từng khía cạnh nhỏ để xem xét, nghiên cứu Cách đơn giản nhất là đặt ra các câu hỏi để khảo sát, tìm hiểu
Khi bình luận, đánh giá, cần nhìn nhận đánh giá ở các bình diện, khía cạnh khác nhau: ý nghĩa, tư tưởng, ý nghĩa thực tế mức độ đúng – sai, đóng góp, hạn chế…Từ đó cần nhìn nhận giá trị của vấn đề như một bài học kinh nghiệm trong cuộc sống và trong học tập, trong nhận thức cũng như trong tình cảm Ngoài ra, học sinh giỏi có thể linh hoạt đề xuất nhiều ý, nhiều bố cục khác miễn là làm sáng tỏ được vấn
đề và có sức thuyết phục cao
c/ Cách nhận diện và cách làm đề nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
* Cách nhận diện:
Dạng dề này thường đề cập đến các vấn đề có ý nghĩa xã hội được đặt ra trong tác phẩm văn học Các vấn đề xã hội có ý nghĩa trong tác phẩm được đưa ra bàn bạc
có thể lấy từ hai nguồn chính:
Trang 6- Từ các tác phẩm đã học trong chương trình
- Từ những mẩu chuyện nhỏ hoặc những văn bản ngắn gọn chưa được học nhưng dễ tiếp nhận
Ví dụ:
Đề 1: Trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ, nhân
vật Trương Ba nói: không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được Tôi muốn được là tôi toàn vẹn Câu nói trên để lại cho anh (chị) những suy nghĩ gì?
Đề 2: Từ bài thơ Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến, nghĩ về danh và thực trong
xã hội chúng ta hiện nay
Đề 3: Suy nghĩ của anh chị từ câu chuyện sau:
Hoa Hồng Tặng Mẹ
sống ở cách chỗ anh khoảng 300km Khi bước ra khỏi xe, anh thấy một bé gái đang đứng khóc trên vỉa hè Anh đến và hỏi nó sao lại khóc
- Cháu muốn mua một bông hoa hồng để tặng mẹ cháu - Nó khóc nức nở - nhưng cháu chỉ có bảy mươi lăm xu trong khi giá hoa hồng lên đến hai đôla
Anh liền mua cho cô bé và lại đặt một bó hoa hồng gửi cho mẹ mẹ anh Xong xuôi anh hỏi cô bé có cần đi nhờ xe về nhà không Nó vui mừng nhìn anh và trả lời:
- Dạ, chú cho cháu đi nhờ đến nhà mẹ cháu
Rồi nó chỉ đường cho anh lái xe đến một nghĩa trang, nơi có một phần mộ vừa mới đắp Nó chỉ ngôi mộ và nói:
- Đây là nhà của mẹ cháu
Nói xong nó ân cần đặt nhánh hoa hồng lên mộ Tức thì anh quay lại tiệm bán hoa hủy bỏ dịch vụ gửi hoa vừa rồi và mua một bó hồng thật đẹp Suốt đem đó anh lái
xe một mạch 300km về nhà mẹ anh và trao tận tay bà bó hoa
* Cách làm bài
- Bước 1: Phân tích đề: Cần xác định:
+ Yêu cầu về thể loại (hình thức + các thao tác chính)
+ Yêu cầu về nội dung
+ Yêu cầu về phạm vi tư liệu
- Bước 2: Lập dàn ý
+ Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm có vấn đề cần nghị luận; Giới thiệu vấn đề được đưa ra bàn bạc
Trang 7+ Thân bài: Nêu vấn đề được đặt ra trong tác phẩm văn học (Vấn đề đó là gì? Được thể hiện như thế nào trong tác phẩm?); từ vấn đề rút ra, tiến hành nghị luận xã hội + Kết bài: Khẳng định ý nghĩa của vấn đề trong việc tạo nên giá trị tác phẩm và trong cuộc sống con người (ý nghĩa thời sự); rút ra bài học cho bản thân
- Một số chú ý khi làm dạng bài nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
Để làm dạng bài này, người viết trước hết phải nêu và phân tích làm rõ vấn đề
xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học cùng với các khía cạnh, các phương diện biểu hiện của nó Sau khi đã xác định chính xác vấn đề xã hội, cần xem xét ý nghĩa của nó ở thời điểm tác phẩm ra đời rồi mới nghị luận về ý nghĩa của vấn đề đó trong cuộc sống hôm nay
Khi bàn về mối liên hệ của vấn đề với cuộc sống hôm nay, ta tuỳ theo tính chất của vấn đề mà xử lí cụ thể Có những vấn đề thuộc về hiện tượng xã hội, có những vấn đề thuộc tư tưởng đạo lí, có những vấn đề vừa mang màu sắc tư tưởng đạo lí, vừa mang dáng dấp của một hiện tượng đời sống
Cũng cần lưu ý dạng bài này rất dễ lẫn với bài nghị luận văn học vì buộc phải
có khâu phân tích tác phẩm để xác định vấn đề nghị luận để tránh nhầm lẫn, cần xác định và phân biệt rõ sự khác biệt về mục đích, cách thức tiến hành Mục đích của nghị luận văn học là bàn bạc, phân tích, đánh giá chất lượng nội dung và nghệ thuật tác phẩm còn mục đích của nghị luận xã hội chỉ nhằm rút ra và làm sáng tỏ vấn đề xã hội được đặt ra ở văn bản tác phẩm đó trước khi nghị luận ở phần chính Vì thế khi nghị luận văn học cần bình giá, cắt nghĩa cái hay cái đẹp của các yếu tố văn bản như ngôn ngữ, hình tượng về cả hai phương diện nội dung, ý nghĩa và đặc sắc nghệ thuật còn nghị luận xã hội lại chỉ cần chú ý tới mặt nội dung
* * *
* *
Lưu ý chung:
- Mô hình các dạng đề trên chỉ là tương đối, học sinh đặ biệt là học sinh đội tuyển phải có sự vận dụng linh hoạt khi vận dụng chứ không được máy móc
- Trong thao tác chứng minh ở các dạng bài, người viết có thể tổ chức thành một phần riêng nhưng cũng có thể linh hoạt gắn việc chứng minh với các khâu khác trong quá trình viết bài, mỗi ý kiến lí giải, đánh giá đều có thể gắn với thực tế đời sống để làm rõ tính chân thực của nó Các dẫn chứng có thể lấy từ nhiều nguồn song chú trọng nguồn dẫn chứng từ thực tiễn đời sống bởi chúng có tính xác thực, cụ thể,
có sức thuyết phục cao Đưa dẫn chứng nên kèm thái độ, quan điểm đánh giá rõ ràng trên cơ sở lập trường nhân văn, tinh thần vì tiến bộ chung để làm nổi bật tính tư tưởng của bài viết
Trang 8- Khi liên hệ, người viết cần có thái độ chân thành, nghiêm túc, tránh cách nói sáo mòn, gượng ép, giả tạo Phần mở bài và kết bài cố gắng tạo ấn tượng, tạo tính hấp dẫn cho bài viết
II CÁC LỖI THƯỜNG GẶP VÀ CÁCH CHỮA LỖI Ở KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI TRONG BÀI THI HỌC SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN
Những đặc trưng và yêu cầu, cách thức làm bài của nghị luận xã hội là những chỉ dẫn hữu hiệu về kĩ năng cho học sinh Tuy nhiên từ lí thuyết đến thực hành, từ nhận thức đến hành động là một khoảng cách Một số học sinh đội tuyển dù nắm được
lí thuyết, có hiểu biết về vấn đề nghị luận nhưng khi làm bài vẫn trượt theo quán tính của thói quen Một số lại lúng túng khi vận dụng kĩ năng chung vào việc làm những
đề văn rất cụ thể Vì thế, qua thực tế chấm chữa bài nhiều năm, chúng tôi đã nhận ra một số lỗi các em thường mắc và đúc kết một số kinh nghiệm nhỏ giúp học sinh khắc phục lỗi như sau
1 Lỗi xác định chưa chính xác trọng tâm vấn đề nghị luận và cách khắc phục
Biểu hiện của dạng lỗi này là học sinh xác định trọng tâm nghị luận thường rộng hơn yêu cầu của đề ra, do đó bài làm bị vênh với đề, luận điểm vừa thừa vừa thiếu
Ví dụ 1 Bình luận câu nói của Tônxtôi: “Bạn đừng chờ đợi những quà tặng bất ngờ từ cuộc sống, mà hãy tự mình làm nên cuộc sống” Học sinh xác định vấn đề nghị
luận là: Phải sống chủ động, tích cực, trong lúc trọng tâm vấn đề hẹp hơn: phải chủ động, tích cực để tự mang lại hạnh phúc thành công cho chính mình
Ví dụ 2 Suy nghĩ về ý kiến “Thật hạnh phúc khi biết cho mà không nhớ, biết nhận mà không quên” Có học sinh xác định vấn đề nghị luận là bàn về cho và nhận
trong cuộc sống, trong lúc trọng tâm nghị luận hẹp hơn, là một trường hợp cụ thể của cho và nhận: Cho mà không nhớ, nhận mà không quên
Ví dụ 3 Suy nghĩ về quan niệm “Hạnh phúc cũng như lửa, càng chia ra càng được nhân lên” Có học sinh xác định vấn đề nghị luận là bàn về hạnh phúc, trong lúc
trọng tâm nghị luận rất hẹp, là bàn về một quan niệm rất cụ thể về hạnh phúc: Hạnh phúc là chia sẻ (Khác các quan niệm khác như: Hạnh phúc là đấu tranh, Hạnh phúc là
tự do )
Vì thế, cần xác định đúng và trúng trọng tâm của vấn đề cần nghị luận Để làm được điều đó phải xem xét từ khoá trong ngữ cảnh chung của cả câu, tìm ra cốt ý của
cả câu, tránh việc nghị luận chung chung về vấn đề được nêu trong từ khoá
2 Luận điểm không rõ ràng, sắp xếp ý lộn xộn và cách khắc phục
Biểu hiện của dạng lỗi này là học sinh không lập ý khi làm bài hoặc lập ý mà thiếu kĩ năng trình bày dẫn đến thiếu luận điểm, luận điểm không nổi bật vì bị lẫn vào
Trang 9những câu phân tích, lí giải ; một số em diễn đạt rườm rà, cầu kì khiến luận điểm
mơ hồ, thiếu chính xác
Ví dụ: Suy nghĩ về ý nghĩa câu chuyện sau: Nhờ rất nhiều số không đi theo mà
số một trở thành khổng lồ Trở thành khổng lồ, những số không vinh dự và tự hào lắm, đi đâu cũng kể lể, vỗ ngực rằng “Ta khổng lồ” Có học sinh đã viết “…Từ câu
chuyện trên, ta nhận ra trong đời sống hàng ngày, có không ít nhưng câu chuyện như vậy Ngoài xã hội rộng lớn, vẫn còn những người chưa hiểu hết về giá trị bản thân Trước hết muốn nhận ra được hướng đi riêng cho mình, mỗi chúng ta cần đặt cho mình một mục tiêu nhất định, phải có tâm, có lòng với dự định đặt ra để có thể thực hiện nó một cách thành công Phải tự ý thức được mình có khả năng gì, năng lực làm việc của mình đến đâu để từ đó định được hướng đi trong cuộc đời và thấy được giá trị của bản thân mình Trước tiên ta thấy điều đó ở con người Mark Zucherberg - lập trình viên kiêm doanh nhân mảng công nghệ Internet, đồng sáng lập Facebook Mark nổi tiếng với những sáng tạo của mình trên toàn thế giới nhưng anh không tự cao, tự mãn, luôn bắt đầu với niềm đam mê và mục đích hướng tới sự phát triển của xã hội Không chỉ ở Mark, ta còn có thể kể đến Bác Hồ - vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Đau đớn trước cuộc sống nô lệ lầm than của dân tộc, Bác đã ra đi tìm đường cứu nước Bác đã cực nhọc bôn ba khắp năm châu, bốn bể để tìm ra con đường đưa đất nước, dân tộc đến với độc lập tự do…” Đoạn văn luận điểm không rõ, ý văn lộn xộn với việc khai thác dẫn chứng không làm sáng vấn đề nghị luận
Nghị luận xã hội cần bày tỏ trực tiếp, công khai quan điểm của người viết; phê phán, bác bỏ các quan điểm sai lệch; khẳng định và bảo vệ những quan điểm đúng đắn, tích cực Vì thế nên trình bày luận điểm theo kiểu diễn dịch, quy nạp hoặc tổng phân hợp Luận điểm cần diễn đạt sáng rõ, để người đọc dễ nắm bắt quan điểm của người viết Học sinh có thể tham khảo từ các cách trình bày luận điểm sau đây:
a Tăng tiến
Từ luận đề: Bạn là người đến với ta khi mọi người đã bỏ ta đi, có thể triển khai
thành các luận điểm sau: Sức sống cao đẹp không dựa trên những giá trị vật chất của tình bạn là điều đáng quý nhất mà phát biểu đã nêu Phát biểu đã ngầm khẳng định chân giá trị của những người bạn đối với cuộc đời mỗi con người Đó là giá trị nâng
đỡ về tinh thần trong mỗi hoàn cảnh…Những vẻ đẹp của tình bạn không chỉ như vậy Một người bạn thực sự không chỉ vẫn tin tưởng, tìm đến ta khi mọi người đã bỏ ta đi Người bạn thực sự còn là người vẫn có thể nhìn rõ, hiểu rõ ta cả khi ta ở trên đỉnh cao của sự thành công…
b Đẳng lập
Từ luận đề: Vô tuyến truyền hình là phương tiện truyền thông cần thiết cho mỗi gia đình, có thể triển khai thành các luận điểm sau: Vô tuyến truyền hình là một
Trang 10nguồn tri thức phong phú cho mọi người… Vô tuyến truyền hình là một của sổ để từ
đó quan sát xã hội và thế giới… Vô tuyến truyền hình là một sân khấu nhỏ trong nhà
c Đối chiếu
Từ luận đề: Hãy để các thần tượng khích lệ mình phấn đấu vươn lên, có thể
triển khai thành các luận điểm: Có nhiều học sinh sùng bái thần tượng, thuộc tên nhiều cầu thủ, ca sĩ, diễn viên, người mẫu, rồi chỉ bắt chước bề ngoài như trang phục, kiểu tóc của họ… Tuy nhiên, không ít bạn học sinh, khi sùng bái thần tượng, đã biến
họ thành nguồn khích lệ cho mình để phấn đấu vươn lên trong học tập
3 Luận điểm, luận cứ thiếu gắn kết và cách khắc phục
Biểu hiện cho dạng lỗi này là học sinh đã tạo khoảng chân không lơ lửng giữa luận điểm và luận cứ Học sinh nêu luận điểm rồi dùng luôn dẫn chứng để minh hoạ Cách làm này khiến người đọc bài cảm thấy hụt hẫng, bài nghị luận xã hội sẽ nông cạn, thiếu sự sắc sảo của lập luận, lí lẽ
Ví dụ: “Mỗi con vật khi sinh ra đều là tất cả những gì nó có Chỉ có con người
là ngay từ thuở lọt lòng thì chẳng là gì cả Mèo con vừa mới sinh ra đã được thừa
hưởng tất cả những đặc điểm của mèo bố mẹ Màu lông bao phủ cơ thể giống với bố hoặc mẹ móng vuốt sắc nhọn phục vụ cho thói quen bắt chuột sau này Hay một đàn rùa con vừa cắn đứt vỏ trứng chui ra ngoài về với biển khơi nhưng tại sao thú non yếu
ớt như vậy làm sao bơi được trong dòng nước lạnh lẽo kia nhưng mẹ tạo hoá đã ban cho chúng khả năng đó hai chân như hai mái chèo có thể di chuyển dễ dàng trong làn nước….” Đoạn văn thiếu sự gắn kết giữa câu nêu luận điểm và chứng minh, để có sự liên kết người viết cần đưa ra những lí lẽ diễn giải rồi mới nêu dẫn chứng, chẳng hạn:
“Mỗi con vật khi sinh ra đều là tất cả những gì nó có Chỉ có con người là ngay từ thuở lọt lòng thì chẳng là gì cả" Thoạt nghe thì vô lý nhưng quả thực đây đúng là
một quy luật của tự nhiên Điều rõ ràng nhất ta có thể thấy được chính là thú non của một giống loài nào đó khi sinh ra đều mang tất cả những đặc điểm hình thái và cả tính chất của bố mẹ Mèo con vừa mới sinh ra …”
Vì thế khi triển khai, phân tích luận điểm nghị luận xã hội sau luận điểm cần có
lí lẽ, diễn giải vì sao lại như thế rồi mới đưa dẫn chứng minh hoạ Lí lẽ phải hướng về dẫn chứng sắp trích, dẫn chứng phải hướng về những lí lẽ đã trình bày, như thế mới tạo nên sự liên kết, liền mạch trong bài văn
4 Công thức, cứng nhắc trong các bước làm bài và cách khắc phục
Các bước kĩ năng nghị luận xã hội không phải là công thức toán học, nó cần có
độ mềm dẻo, linh hoạt trong khi vận dụng vào từng đề ra cụ thể Tuy nhiên có những học sinh rất máy móc khi áp dụng các bước làm bài Chẳng hạn: với đề bài sau
“Trong cuộc đời con người có ba thứ trôi qua thì không lấy lại được: thời gian, lời nói, cơ hội” Nếu học sinh làm lần lượt các bước giải thích – phân tích – chứng minh
cho cả ý kiến thì sẽ khó tránh được sự trùng lặp, khó kết nối ý văn, vậy nên cách tốt