1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

13 đề tài chữa lỗi kiểu bài nghị luận xã hội cho học sinh giỏi

53 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: Văn nghị luận là thể loại văn viết về những vấn đề thuộc nhiều lĩnh vực đời sống khác nhau như chính trị, kinh tế, văn hoá, triết học…Mục đích

Trang 1

………

………

CHUYÊN ĐỀ:

CHỮA LỖI TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN

XÃ HỘI CHO HỌC SINH GIỎI

MÃ CHUYÊN ĐỀ: VAN_13

THÁNG 2/2020

Trang 2

Chương I Khái quát về kiểu bài nghị luận xã hội 6

3 Kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội 10 Chương II Một số loại lỗi thường gặp trong bài văn nghị luận

xã hội

16

Chương III Hướng dẫn chữa lỗi trong bài văn nghị luận xã hội

cho học sinh giỏi

33

Trang 4

xã hội vẫn luôn được xác định là một trong những kĩ năng quan trọng mà thầy cô phải thường xuyên trau dồi và nâng cao cho học sinh chuyên văn

Trong quá trình giảng dạy, bồi dưỡng học sinh giỏi, từ thực tế bài làm của học sinh, chúng tôi nhận thấy các em còn mắc một số loại lỗi phổ biến, xuất hiện trong hầu hết các bước làm bài văn nghị luận, từ khâu tìm hiểu đề, lựa chọn dẫn chứng đến thao tác tìm ý, lập luận và diễn đạt Việc tiến hành khảo sát, phân loại lỗi một cách khoa học trên cơ sở thực tiễn, đề xuất cách chữa lỗi làm bài văn nghị luận xã hội một cách bài bản cho học sinh giỏi là việc làm rất cần thiết và hết sức có ý nghĩa với giáo viên, học sinh tại các trường THPT

Với ý nghĩa ấy, chúng tôi tiến hành thực hiện chuyên đề Chữa lỗi trong bài văn nghị luận xã hội cho học sinh giỏi để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả

của công tác đào tạo, bồi dưỡng học sinh giỏi nói riêng cũng như nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Ngữ văn nói chung trong nhà trường phổ thông

2 Đối tượng nghiên cứu

Chữa lỗi trong bài văn nghị luận xã hội cho học sinh giỏi

3 Mục đích nghiên cứu

Trang 5

em phát hiện, có ý thức tránh những lỗi sai ấy khi làm bài, từ đó dần hoàn hiện kĩ năng viết, đáp ứng tốt yêu cầu một bài văn nghị luận xã hội của học sinh giỏi Mục đích nghiên cứu của chuyên đề nhằm hướng đến các vấn đề sau:

- Hệ thống kiến thức lí thuyết về kiểu bài nghị luận xã hội

- Kĩ năng học sinh giỏi với kiểu bài văn nghị luận xã hội

- Phân loại một số lỗi thường gặp, định hướng cách chữa lỗi cho học sinh giỏi trong bài làm văn nghị luận xã hội

4 Cấu trúc chuyên đề

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chuyên đề có cấu trúc như sau: Chương I: Khái quát về kiểu bài nghị luận xã hội

Chương II: Một số loại lỗi thường gặp trong bài văn nghị luận xã hội

Chương III: Hướng dẫn chữa lỗi cho học sinh giỏi trong bài văn nghị luận xã hội

Trang 6

NỘI DUNG

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

1 Đặc điểm văn nghị luận xã hội

1.1 Khái niệm:

- Văn nghị luận là kiểu bài làm văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc,

người nghe một tư tưởng, quan điểm nào đó Muốn thế, văn nghị luận phải có luận điểm rõ ràng, có lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục (SGK Ngữ văn 7, tập 2) Trong Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: Văn nghị luận là thể loại văn viết về những vấn đề thuộc nhiều lĩnh vực đời sống khác nhau như chính trị, kinh tế, văn hoá, triết học…Mục đích của văn nghị luận là bàn bạc, thảo luận, phê phán hay truyền bá tức thời một tư tưởng, quan điểm nào đó … đặc trưng cơ bản của văn nghị luận là tính chất luận thuyết- khác với văn học nghệ thuật, văn chương nghị luận trình bày tư tưởng và thuyết phục người đọc chủ yếu bằng lập luận, lí lẽ…

Như vậy, có thể hiểu: Văn nghị luận là một loại văn bản nhằm phát biểu tư tưởng, tình cảm, quan điểm của người viết nhằm thuyết phục người nghe, người đọc hiểu, tin và tán đồng về một vấn đề nào đó dựa trên những lí lẽ, dẫn chứng và cách lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục Căn cứ vào nội dung nghị luận, có thể chia văn nghị luận thành hai loại: nghị luận văn học và nghị luận xã hội

- Nghị luận xã hội là kiểu bài hướng tới phân tích, bàn bạc về các vấn đề liên

quan đến các mối quan hệ của con người trong đời sống xã hội mà mục đích cuối

cùng của nó là tạo ra những tác động tích cực đến con người và những mối liên hệ giữa con người với con người trong xã hội (PGS.TS Đỗ Ngọc Thống)

1.2 Yêu cầu của một bài văn nghị luận xã hội

- Đảm bảo kiến thức: Do đặc thù của kiểu bài, kiến thức trong bài văn nghị

luận xã hội phải mang màu sắc chính trị - xã hội Điều này đòi hỏi học sinh giỏi cần tích lũy vốn sống thực tế, có hiểu biết sâu rộng về các vấn đề xã hội, về lịch sử, văn hóa, văn học, đạo đức biết cập nhật những tin tức thời sự nóng hổi, những sự kiện lớn, trào lưu trong đời sống hàng ngày mà dư luận quan tâm để làm giàu thêm cho trang viết của mình

Trang 7

- Đảm bảo tư tưởng, thái độ: Bài văn nghị luận xã hội đòi hỏi người viết trước

hết phải thể hiện được tư tưởng, đánh giá của riêng mình về cuộc đời, con người Tư tưởng trong bài văn nghị luận xã hội phải là tư tưởng phù hợp đạo lí, lẽ phải, thể hiện trách nhiệm của người viết đối với đất nước, gia đình, xã hội, con người; lòng nhiệt tình vun đắp cho xã hội ngày một tốt đẹp; ý thức lên án, phê phán các hành vi trái đạo đức, trái lẽ phải Đó phải là tư tưởng chân thật, tự nhiên, những cảm xúc sâu sắc, mãnh liệt mang tâm thế của người trong cuộc Người viết cần xác định cho mình lập trường

và thái độ đúng đắn trên cơ sở những hiểu biết về chuẩn mực đạo đức cũng như các chuẩn đánh giá chung của xã hội

- Đảm bảo kĩ năng nghị luận: Người viết cần tập trung hướng đến luận đề để

bài viết không tản mạn, có ý thức triển khai thành những luận điểm chặt chẽ, nhất quán trên cơ sở luận cứ xác đáng, tiêu biểu, giàu sức thuyết phục và chất văn sâu sắc

Để thể hiện chính kiến, thái độ, quan điểm và khả năng tư duy sáng tạo, hướng đến đích thuyết phục người đọc, người nghe, người viết cũng cần kết hợp linh hoạt tất cả các thao tác lập luận, nhất là sử dụng tư duy phản biện trong bài làm

2 Các dạng bài nghị luận xã hội chính

2.1 Nghị luận xã hội về một vấn đề tư tưởng, đạo lí

Nghị luận xã hội về một vấn đề tư tưởng, đạo lí là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo đức trong tâm hồn, nhân cách cá nhân; trong các quan hệ gia đình,

xã hội; trong cách ứng xử; lối sống của con người Những vấn đề này thường được gợi mở qua các câu danh ngôn, những ý kiến bàn về tư tưởng, đạo đức, lối sống trong kho tàng ca dao, tục ngữ hay câu nói của các nhà văn hóa, nhà hiền triết, các danh nhân Người viết phải làm sáng rõ vấn đề tư tưởng, đạo lí bằng cách giải thích, chứng minh, so sánh, đối chiếu, phân tích… lật đi lật lại ý kiến để bộc lộ quan điểm, thái độ, đánh giá của mình

Ví dụ:

1 Trên đường đời, hành lí con người cần mang theo là lòng kiên trì và tính chịu đựng (V Mayakovsky)

Suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên

Học sinh cần trình bày quan điểm của mình về tính đúng đắn của ý kiến, khẳng định hành trang cần thiết của con người là lòng kiên trì và tính chịu đựng

2 Có ý kiến cho rằng: Áp lực có thể ăn mòn bạn

Trang 8

Thomas Carlyle lại nói: Không có áp lực, không có kim cương

Suy nghĩ của anh/chị về hai ý kiến trên

Học sinh cần đọc kĩ hai ý kiến và thể hiện quan điểm của mình thật hợp lí và

có sức thuyết phục, như: áp lực có tác động tích cực, là động lực để con người làm việc và phát triển bản thân nhưng quá nhiều áp lực có thể gây tổn hại đến sức khỏe và tinh thần của con người

Đề thi học sinh giỏi Ngữ văn nhiều năm gần đây thường là dạng bài nghị luận

xã hội về một tư tưởng, đạo lí Ví dụ:

- Nếu không sống bằng cái đầu của mình thì có nghĩa là bạn đang sống bằng cái đầu của người khác Ý kiến trên gợi cho bạn những suy nghĩ gì?

(Đề thi HSG Quốc gia năm 2014 - 2015)

- Suy nghĩ của anh/chị về ý kiến của Oliver Wendell Holmes: “Điều quan trọng

không phải là chúng ta có được vị trí nào trong cuộc đời, mà là đích đến cuối cùng của chúng ta ở đâu”

(Đề thi HSG Quốc gia năm 2015 - 2016)

- Suy nghĩ của anh/chị về quan niệm: Sống tức là thay đổi

(Đề thi HSG Quốc gia năm 2017 - 2018)

- “Hãy để tâm đến tiếng nói nội tâm nhỏ bé nhưng bền vững trong bạn hơn là những tiếng nói ồn ào, náo loạn từ bên ngoài” Anh/chị hãy bình luận ý kiến trên?

(Đề thi HSG Quốc gia năm 2018 - 2019)

2.2 Nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống

Nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống là bàn về một hiện tượng, sự việc

có thật trong cuộc sống, có ý nghĩa đối với xã hội Đó có thể là một hiện tượng tích cực hoặc tiêu cực, cũng có thể là hiện tượng có cả hai mặt tích cực và tiêu cực Trên

cơ sở nhận thức của mình, người viết phải nêu được quan điểm, cách đánh giá về hiện tượng, từ đó rút ra bài học, liên hệ với bản thân: đề cao cái đẹp, cái thiện; lên án những hiện tượng tiêu cực Để làm bài nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống, học sinh cần phải nhận diện đúng hiện tượng thông qua khái niệm, các biểu hiện, các dạng tồn tại hay những số liệu cụ thể của hiện tượng ấy Bài viết phải làm rõ được sự việc, hiện

Trang 9

tượng có vấn đề, phân tích các mặt, chỉ ra nguyên nhân và bày tỏ thái độ, ý kiến, góc cảm thụ riêng của người viết

Ví dụ:

1 Nhiều năm qua, khách du lịch và những nhà hảo tâm khi lên tỉnh vùng cao

phía Bắc thường cho tiền hoặc mua bánh kẹo, quần áo để làm quà cho trẻ em nơi

đây Nhưng gần đây, ở một địa phương, xuất hiện nhiều tấm biển: Quý khách không

cho trẻ em tiền, bánh kẹo Trẻ em sẽ bỏ học đi xin tiền, bánh kẹo Viết bài văn nghị

luận nêu suy nghĩ của anh/chị về nội dung những tấm biển đó

Học sinh cần xác định rõ vấn đề: thực trạng việc làm từ thiện hiện nay, từ đó thể hiện quan điểm, suy nghĩ, ý kiến của mình về vấn đề

2 Suy nghĩ của anh/chị về hiện tượng cá chết hàng loạt ở ven biển miền Trung

Việt Nam

Trên cơ sở xác định rõ hiện tượng, học sinh đi sâu phân tích nguyên nhân, tác động (tích cực, tiêu cực hoặc cả hai mặt) đến đời sống con người bằng lí lẽ sắc bén, thuyết phục, từ đó, thể hiện tiếng nói cá nhân, quan điểm của mình và rút ra bài học đúng đắn, rõ ràng

2.3 Nghị luận xã hội về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học

Nghị luận xã hội về một vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học là dạng đề tổng hợp, đòi hỏi học sinh giỏi phải có sự kết hợp kiến thức ở cả hai mảng văn học và đời sống, phải vận dụng linh hoạt kĩ năng cảm thụ văn học và phân tích, đánh giá các vấn

đề xã hội Dạng đề này thường xác lập từ một vấn đề xã hội có ý nghĩa trong tác phẩm văn học để học sinh suy nghĩ, bàn luận nâng cao, thể hiện chính kiến của mình Vấn

đề xã hội được bàn bạc có thể rút ra từ một tác phẩm văn học đã học trong chương trình, cũng có thể rút ra từ một câu chuyện ngắn, giàu ý nghĩa ngoài chương trình

Ví dụ:

1 Từ quan niệm về tình yêu của Xuân Quỳnh trong bài thơ Sóng, anh/chị hãy

phát biểu suy nghĩ của mình về vấn đề tình yêu trong xã hội hiện đại

Học sinh cần phải hiểu trong bài thơ Sóng, Xuân Quỳnh đã thể hiện quan niệm tình yêu như thế nào, từ đó thể hiện cách đánh giá, nhìn nhận của mình về tình yêu hiện nay, như: biểu hiện cụ thể, vai trò của tình yêu đối với mỗi con người

Trang 10

2 Thần thoại Hy Lạp kể rằng: “Ngày xưa, có một ngôi sao đến xin thần Dớt

thay đổi vị trí của mình trên bầu trời Ngôi sao nói: Con không thích đứng ở góc

đường chân trời Ở đó con không có gì nổi bật cả Thần Dớt trả lời ngôi sao nhỏ: Quan trọng là ngươi có tỏa sáng ở nơi mình đang đứng hay không.”

Suy nghĩ của anh/chị về triết lí nhân sinh trong câu chuyện trên

Học sinh cần đọc kĩ câu chuyện, nhất là lời thoại của các nhân vật để từ đó nhận diện chính xác vấn đề Từ lời nói của các nhân vật, học sinh có thể rút ra bài học mà câu chuyện gửi gắm là vấn đề thái độ sống của con người,

Tuy nhiên, không thể chỉ gói gọi các vấn đề xã hội trong ba dạng văn trên Thực tế làm bài cho thấy đề văn nghị luận xã hội vô cùng phong phú không chỉ

ở nội dung xã hội được đặt ra mà còn ở cách thức đặt vấn đề, có thể thông qua một ý kiến, hai ý kiến, thông qua một câu chuyện hay qua một bức tranh Hơn nữa, không phải lúc nào các vấn đề trong bài cũng tách biệt rạch ròi theo dạng nghị luận về một hiện tượng đời sống hay nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí Sự phân tách các dạng bài thực chất chỉ mang tính tương đối, nhiều khi một vấn đề nhưng có sự giao thoa giữa vấn đề tư tưởng, đạo lí và hiện tượng trong đời sống Song, dù thuộc dạng nào thì người viết vẫn cần nắm vững các kĩ năng làm văn nghị luận xã hội để lập luận, thể hiện chính kiến của bản thân

3 Kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội

3.1 Kĩ năng tìm hiểu đề

- Xác định vấn đề nghị luận (luận đề): Vấn đề có thể được nêu trực tiếp, có khi

ẩn trong một nhận định, một câu danh ngôn, một câu thơ/đoạn thơ, một câu chuyện bài học cuộc sống, một tác phẩm văn học, những sự kiện, câu chuyện cuộc sống được liệt kê Việc xác định đúng yêu cầu của đề là vô cùng quan trọng bởi bước này sẽ giúp học sinh định hướng tìm ra vấn đề cần giải quyết, không bị lạc đề hoặc tản mạn,

đi xa trọng tâm của đề bài Để làm tốt bước này, học sinh cần đọc kĩ đề bài, xác định

những từ khóa trong đề đối với dạng đề có trích dẫn một ý kiến, hai ý kiến khác nhau

hay một mẩu tin; đọc kĩ tác phẩm, xác định rõ nội dung đối với dạng đề có trích dẫn một truyện ngắn hoặc một đoạn thơ

- Xác định thao tác nghị luận: Thao tác nghị luận thường được thể hiện rõ ngay

ở yêu cầu của đề, ví dụ: Ngạn ngữ có câu: Bộ lông làm đẹp con công, học vấn làm đẹp con người Anh/chị hãy bình luận về ý kiến trên Nhưng cũng có những đề lại

Trang 11

không chỉ rõ thao tác lập luận cần sử dụng, ví dụ: Đối xử với bản thân bằng lí trí, đối

xử với người khác bằng tấm lòng Anh/chị suy nghĩ gì về ý kiến trên? Vì thế, khi làm

bài văn nghị luận xã hội, người học sinh giỏi không thể chỉ sử dụng một hay hai thao tác nhất định mà cần phải vận dụng tổng hợp tất cả các thao tác giải thích, phân tích, chứng minh, so sánh, bình luận, bác bỏ Người viết phải hệ thống luận điểm, xác định các thao tác chính và thao tác bổ trợ để có thể vận dụng linh hoạt, tránh cho lập luận

bị lộn xộn, thiếu logic

- Xác định phạm vi kiến thức: học sinh cần sử dụng tổng hợp kiến thức xã hội

và kiến thức văn học Những kiến thức này tạo nên hệ thống dẫn chứng sinh động, hấp dẫn cho bài viết Tuy nhiên, khi vận dụng kiến thức, người học sinh giỏi phải lưu

ý hạn chế việc lấy dẫn chứng trong tác phẩm văn học, nên tập trung lấy những danh ngôn, nhận định của những nhân vật có uy tín, những chân lí đã được thừa nhận, những câu chuyện người thật việc thật đang diễn ra trong đời sống…

3.2 Kĩ năng viết mở bài

Yêu cầu viết mở bài là học sinh phải giới thiệu được vấn đề nghị luận của bài Viết mở bài là một kỹ năng quan trọng cho thấy người viết có xác định đúng và trúng vấn đề hay không Mở bài thường là một đoạn văn ngắn gọn có ba phần: Phần đầu đoạn là dẫn dắt có liên quan đến vấn đề chính của bài Phần giữa đoạn nêu vấn đề chính Phần cuối đoạn nêu giới hạn vấn đề và phạm vi tư liệu mà bài viết sẽ trình bày Khi viết mở bài cần lưu ý nêu đúng vấn đề, tránh dẫn dắt lan man bằng ngôn từ sáo rỗng, tạo cảm giác lạc đề, không hiểu yêu cầu đề

Mở bài thường có hai cách là mở bài trực tiếp và mở bài gián tiếp Mở bài trực tiếp là cách mở bài đi thẳng vào vấn đề Ưu điểm của cách mở bài này là ngắn gọn, đúng trọng tâm, tránh được lỗi xa đề, lạc đề, học sinh không bị mất nhiều thời gian khi vận dụng vào quá trình làm bài Tuy nhiên, thường xuyên sử dụng mở bài trực tiếp dễ khiến bài viết khô khan, thiếu chất văn Còn mở bài gián tiếp là cách người viết đi từ vấn đề khác có liên quan đến vấn đề nghị luận chính Cách mở bài gián tiếp tạo cho bài viết chất văn, sự bay bổng, sáng tạo, đem đến những mới mẻ, bất ngờ cho người đọc Tuy nhiên, nếu không khéo léo, cách viết này dễ khiến học sinh lan man, dài dòng, sa đà vào vấn đề khác dẫn đến mất quá nhiều thời gian không cần thiết vào phần mở bài hoặc thậm chí xa đề, lạc đề Dù mở bài theo cách nào, học sinh giỏi cũng cần xác định rõ vấn đề, nắm vững các thao tác lập luận và biết căn cứ theo đề bài cụ thể để lựa chọn cách mở bài hay, nhanh chóng, dễ dàng

Trang 12

3.3 Kĩ năng lập dàn ý phần thân bài

3.3.1 Kĩ năng giải thích, cắt nghĩa vấn đề

Để xác định rõ vấn đề, học sinh cần có kĩ năng giải thích, cắt nghĩa các từ khóa, hiện tượng xã hội được đề cập, những chi tiết, hình ảnh quan trọng trong câu chuyện hoặc bức tranh Sau khi giải thích các từ ngữ, hình ảnh, học sinh cần chú ý các mối liên hệ trong ý kiến, trong hiện tượng đời sống được đề cập hay trong câu chuyện, trong bức tranh

- Đề bài là danh ngôn, lời nhận định: học sinh bám vào từ khóa để giải thích và chỉ ra vấn đề nghị luận

- Đề bài trực tiếp yêu cầu bàn luận về một hiện tượng đời sống, hoặc hiện tượng

ấy được gián tiếp đặt ra qua loạt sự kiện, qua một bức tranh, trong một câu chuyện (ví

dụ về vấn đề môi trường, an toàn giao thông ): học sinh xác định từ khóa, hình ảnh

để chỉ ra vấn đề cùng những biểu hiện của vấn đề, trả lời những câu hỏi là gì, như thế

nào

- Đề bài là vấn đề trong tác phẩm văn học hay một câu chuyện cuộc sống: học sinh bám sát vào những chi tiết quan trọng (thông thường là lời thoại, hành động của nhân vật, lời bình của tác giả ở đoạn kết) để xác định, cắt nghĩa vấn đề nghị luận

3.3.2 Kĩ năng bình luận, chứng minh:

Sau khi nhận thức bản chất của vấn đề, học sinh sẽ phân tích vấn đề ra thành các phương diện, các khía cạnh khác nhau để bàn luận, tức là đặt ra các câu hỏi và trả lời các câu hỏi ấy Việc đặt ra câu hỏi, tìm dẫn chứng, lí lẽ để trả lời câu hỏi chính là quá trình các em thể hiện suy nghĩ, quan điểm của mình về vấn đề nghị luận Với học sinh giỏi văn càng cần chú ý đặt ra hệ thống câu hỏi logic, rõ ràng, chặt chẽ để hình thành lập luận sâu sắc, thuyết phục Phần này học sinh có thể triển khai ý bằng loạt

các câu hỏi như Vấn đề đúng hay sai? Tích cực hay tiêu cực? Nên hay không nên? Có

ý nghĩa như thế nào trong cuộc sống? Vì sao lại phải làm thế hay không nên như thế? Nếu như vậy thì điều gì sẽ xảy ra?

Trong quá trình bàn luận, để tăng thêm sức thuyết phục, học sinh có thể đưa ra các dẫn chứng Muốn thế, người viết cần tự xây dựng cho bản thân một hệ thống dẫn chứng cụ thể, khoa học ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống như sự kiện thời

sự, nhân vật hay số liệu cụ thể về vấn đề… Học sinh cũng có thể lấy dẫn chứng là các câu chuyện giàu ý nghĩa, dẫn chứng các tác phẩm đã học, đã đọc và đọc thêm trong

Trang 13

hay ngoài chương trình Các dẫn chứng này cần được sắp xếp hợp lí trên cơ sở vận dụng linh hoạt các thao tác lập luận

- Đề bài là câu nói, ý kiến, danh ngôn: học sinh có thể đặt ra các câu hỏi, như:

Tại sao vấn đề đó đúng? Vấn đề đúng thì đem lại kết quả gì? Vấn đề có đúng hoàn toàn trong mọi hoàn cảnh không? Dẫn chứng nào chứng tỏ điều ấy? để phân tích,

bình luận vấn đề Khi bàn luận, cần dùng lập luận, lí lẽ và dẫn chứng để chứng minh tính đúng đắn của vấn đề, đánh giá khách quan, hợp lí

- Đề bài là một hiện tượng đời sống: học sinh có thể đặt ra một số câu hỏi chính:

Hiện tượng diễn ra như thế nào? Vì sao lại như thế? Ảnh hưởng, tác động như thế nào với cuộc sống, với con người? Chúng ta cần làm gì (cách khắc phục)? Khi phân

tích thực trạng hiện tượng, cần đưa ra những thông tin, số liệu cụ thể; phân tích nguyên nhân của hiện tượng và tác động (tích cực/tiêu cực hoặc cả tích cực và tiêu cực) cần đặt hiện tượng trong nhiều mối quan hệ kinh tế - xã hội, cá nhân – cộng đồng, từ đó đưa các giải pháp khả thi để giải quyết thực trạng

- Đề bài là một vấn đề trong tác phẩm văn học, câu chuyện hoặc bức tranh: học sinh cần bàn luận về vấn đề trọng tâm đã được rút ra trong tác phẩm Khi phân tích vấn đề đặt ra trong tác phẩm cùng các phương diện biểu hiện của nó, cần lưu ý tác phẩm văn học chỉ là cơ sở để nghị luận, không nên đi quá sâu vào việc phân tích tác

phẩm Khi bàn luận, học sinh có thể đặt ra các câu hỏi: Vấn đề đúng hay không? Thái

độ đồng tình hay phản đối? Khẳng định hay phủ định? Sử dụng lí lẽ, dẫn chứng minh

xác, thuyết phục để làm sáng rõ vấn đề

3.3.3 Kĩ năng mở rộng, liên hệ bài học

Bàn luận mở rộng, nâng cao là việc đánh giá vấn đề một cách toàn diện, nhìn nhận vấn đề ở nhiều chiều, nhiều góc độ Thực chất, rèn luyện kĩ năng mở rộng là rèn cho học sinh tư duy phản biện để thể hiện chính kiến, quan điểm độc lập về các vấn

đề xã hội Với học sinh giỏi thì yêu cầu về kĩ năng mở rộng, nâng cao vấn đề rất quan trọng, giúp việc đánh giá, bàn luận về vấn đề thêm khách quan và có sức thuyết phục Học sinh sẽ sử dụng các hình thức phản đề, liên tưởng, mở rộng từ vấn đề này suy luận đến vấn đề rộng hơn, phát huy tốt tư duy phản biện để tăng thêm sức hấp dẫn của bài làm

Sau khi đã suy nghĩ sâu sắc về vấn đề, để bài viết nghị luận xã hội thêm thiết thực, phù hợp với nhu cầu của xã hội hiện đại, học sinh cần viết liên hệ bài học, rút

Trang 14

ra bài học nhận thức và bài học hành động từ vấn đề, liên hệ với cuộc sống của bản thân và cộng đồng Học sinh giỏi cần lập ý rõ ràng, sử dụng lí lẽ và dẫn chứng chính xác, khách quan, phù hợp, góp phần thúc đẩy suy nghĩ và hành động để hướng đến

một cộng đồng tốt đẹp hơn Có thể hệ thống thành các câu hỏi, ví dụ: Vấn đề này giúp

ta hiểu sâu sắc điều gì? Điều gì có ý nghĩa với bản thân? Ta cần có hành động như thế nào để thực hiện được vấn đề đã nêu ra?

- Đề bài là câu nói, ý kiến, danh ngôn: Học sinh có thể bàn luận mở rộng, nâng cao bằng cách bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề hoặc chỉ ra những mặt hạn chế, chưa toàn diện của vấn đề Với đề đưa ra hai vấn đề (hai nhận định) hoặc một vấn đề có hai mặt thì khi bàn luận mở rộng, người viết cần chỉ ra mối quan hệ giữa hai khía cạnh đó Chú ý đặt bản thân trong mối quan hệ với ý kiến để liên hệ thêm sức thuyết phục

- Đề bài là một hiện tượng đời sống: Học sinh cần đánh giá chung về hiện tượng

đã bàn Nếu là hiện tượng tích cực thì cần khái quát về ý nghĩa của nó trong đời sống, chỉ ra những biểu hiện chưa phù hợp có liên quan đến vấn đề Đối với vấn đề tiêu cực,

mở rộng nâng cao cần chỉ ra nguyên nhân của vấn đề (khách quan, chủ quan), từ đó rút ra bài học nhận thức và hành động cho bản thân

- Đề bài là một vấn đề trong tác phẩm văn học, câu chuyện hoặc bức tranh: Học sinh cần khẳng định lại vấn đề trong tác phẩm, nhìn vấn đề từ nhiều góc độ, liên hệ thực tế bản thân một cách hợp lí, rút ra bài học nhận thức và hành động Cần chú ý tạo thế đối sách vấn đề nghị luận với các nội dung trái ngược để đánh giá sâu hơn vai trò, ý nghĩa của vấn đề đang bàn luận

3.4 Kĩ năng viết phần kết bài

Kết bài là phần rất quan trọng để kết thúc vấn đề đã đặt ra ở phần mở bài và giải quyết ở phần thân bài Tuy nhiên, trong thực tế làm bài của học sinh, chúng tôi nhận thấy kết bài thường là phần viết kém nhất Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này Nguyên nhân khách quan là do thiếu thời gian, học sinh chưa có đủ điều kiện hoàn chỉnh bài làm Nguyên nhân chủ quan là do người viết chưa hiểu sâu sắc tầm quan trọng của kết bài, chỉ viết cho đầy đủ bố cục bài làm mà dẫn đến tình trạng lặp ý ở phần trước hoặc sơ sài, không có gì để viết

Đối với bài làm của học sinh giỏi, phần kết bài cần sáng tạo, ấn tượng và nói chung rất linh hoạt chứ không nhất thiết theo công thức tóm tắt lại nội dung toàn bài

Trang 15

Người viết phải lưu ý phần kết bài chỉ nêu lên những ý khái quát, không trình bày, nhận xét một cách chi tiết như ở phần thân bài Phần kết bài có nhiệm vụ tổng kết, đánh giá chung vấn đề đã được nghị luận Kết bài có thể là tóm tắt quan điểm, tổng hợp những ý chính đã nêu ở thân bài; cũng có thể là một câu hỏi gợi mở suy tư ở người đọc; có thể là một trải nghiệm của bản thân người viết hay một sự đề xuất về lối sống, thái độ sống… Dù kết bài như thế nào, học sinh cũng cần khắc sâu quan điểm, thái độ bản thân, nhấn mạnh ý nghĩa và mở rộng, nâng cao vấn đề hơn, để lại

ấn tượng cho người đọc

Trang 16

- Lỗi xác định vấn đề nghị luận

- Lỗi viết mở bài, kết bài

- Lỗi lập dàn ý phần thân bài

đề của học sinh còn hạn chế, tư duy chưa sâu sắc, chỉ đọc lướt, đọc qua, không bám chắc vào các từ khóa, hình ảnh quan trọng trong đề Việc xác định không đúng vấn

đề thường biểu hiện ngay ở phần giải thích

Ví dụ:

Đề bài: Chim ưng thường bay một mình, trong khi những con quạ, con sáo thường bay cùng nhau (John Websten)

Suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa được gợi ra từ câu nói trên?

“Chim ưng” là loài chim khỏe, có khả năng săn mồi một mình, hình ảnh “chim ưng thường bay một mình” gợi về khả năng sống và làm việc độc lập, tự chủ của con

Trang 17

người “Quạ, sáo” là những loài động vật nhỏ hơn và thường phải đi kiếm ăn theo đàn, hình ảnh “những con quạ, con sáo thường bay cùng nhau” là ẩn dụ cho khả năng hợp tác, cùng phát triển của con người Bằng cách nói tượng trưng với những hình ảnh ẩn dụ, John Websten đã nêu lên hai hình thức sống và làm việc của con người, đó là độc lập, tự chủ và hợp tác để cùng phát triển Hai trạng thái ấy tưởng chừng như đối lập nhưng thực chất lại cùng bổ sung cho nhau để hoàn thiện hơn cách sống của con người Trong cuộc sống, để thành công và muốn có được kết quả công việc tốt nhất, chúng ta cần phải biết kết hợp cả hai hình thức làm việc, vừa trau dồi khả năng độc lập vừa biết hợp tác để cùng phát triển

(Bài làm của học sinh)

Có thể dễ dàng nhận ra đoạn giải thích trong bài văn trên chưa làm rõ được vấn đề nghị luận Cách giải thích của học sinh chưa nắm đúng trọng tâm cũng như

ý nghĩa của câu nói chưa được xác định một cách rõ ràng và thỏa đáng Chim ưng là

một loài chim săn mồi, khỏe, bá chủ bầu trời, biểu tượng cho con người có cá tính, có

khát vọng và năng lực Con sáo, con quạ là những loài chim nhỏ biểu tượng cho

những con người tầm thường, không có nét riêng Cách nói mang hàm nghĩa so sánh

Chim ưng thường bay một mình, trong khi những con quạ, con sáo thì thường bay cùng nhau gợi ra tương quan đối lập giữa ưng và loài sáo, quạ Nếu ưng mạnh mẽ

khẳng định bản lĩnh thì sáo, quạ lại nhợt nhạt, tầm thường Ý nghĩa câu nói hay vấn

đề mà học sinh cần nghị luận là nhận thức được sự đối lập trong cách sống của đối tượng, biết vượt lên sự bình thường, mờ nhạt để chủ động, mạnh mẽ, tự tin khẳng định cá tính và năng lực bản thân Trong khi đó, bài viết của học sinh lại định hướng

vấn đề là độc lập, tự chủ và hợp tác để cùng phát triển Như thế, đây là cách giải thích

không đúng trọng tâm, đi xa vấn đề nghị luận Khi đã xác định không đúng vấn đề thì chắc chắn bài làm sẽ không bám sát yêu cầu đề, lập luận sẽ thiếu tính thuyết phục đối với người đọc

2 Lỗi viết mở bài, kết bài

2.1 Lỗi viết mở bài

Mở bài là phần đặt vấn đề, giới thiệu vấn đề nghị luận Mở bài tốt và hay sẽ tạo được ấn tượng sâu sắc cho người đọc Nhưng để có một mở bài tốt, mở bài đúng không phải là một điều dễ dàng Nhiều học sinh chưa chú ý đến phần mở bài, chỉ đặt bút là viết theo cảm tính, nghĩ gì viết nấy, viết chung chung, tràn lan, không có chọn

Trang 18

lọc Vì thế mà phần mở bài chưa hay, còn mắc lỗi diễn đạt, thiếu logic hoặc thậm chí

là chưa đúng, chưa bắt được vấn đề

Ví dụ 1:

Đề bài: Chim ưng thường bay một mình, trong khi những con quạ, con sáo thường bay cùng nhau (John Websten)

Suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa được gợi ra từ câu nói trên?

Cuộc sống là một hành trình dài rộng đòi hỏi mỗi chúng ta phải không ngừng

nỗ lực vươn lên để hoàn thiện và phát triển bản thân Sự trưởng thành của mỗi cá nhân được hình thành không chỉ nhờ vào sự cố gắng của bản thân mà còn được học hỏi thêm rất nhiều kinh nghiệm nhờ vào việc hợp tác phát triển cùng những người xung quanh Nói về điều ấy, bằng những hình ảnh ẩn dụ thật sâu sắc, John Websten cũng đã từng khẳng định: Chim ưng thường bay một mình, trong khi những con quạ, con sáo thường bay cùng nhau

(Bài làm của học sinh)

Có thể thấy xác định chưa trúng vấn đề khiến cho phần mở bài của học sinh đi

xa đề, đặt hướng phát triển ý chưa đúng Khi đó, việc triển khai, phát triển các luận điểm ở phần thân bài của học sinh cũng sẽ đi xa đề, thậm chí lạc đề

Ví dụ 2:

Đề bài: Cuộc đời có một bầu trời, còn ta có một đôi cánh

Từ ý kiến trên, hãy chia sẻ về đôi cánh giúp anh/chị bay giữa cuộc đời

Khu vườn đẹp đẽ nhờ những bông hoa, cuộc đời lấp lánh vì những ước mơ Mơ mộng điểm sáng sự sống, vì “bên trong chúng ẩn chứa cánh cổng vào cõi vĩnh hằng” Ước mơ còn là đôi cánh của con người, đưa con người bay đến bến bờ hi vọng “Cuộc đời có một bầu trời, còn ta có một đôi cánh” Ý nghĩa của giấc mơ đối với mỗi người rất lớn lao

(Bài làm của học sinh)

Ở đoạn văn trên, học sinh đã xác định rõ vấn đề là đôi cánh – ước mơ bay giữa

cuộc đời, giúp con người vươn cao, vươn xa cùng với khát khao khám phá, làm chủ cuộc sống Tuy nhiên, diễn đạt phần mở bài của học sinh còn thiếu logic, cụt ý, tạo cảm giác hụt hẫng cho người đọc Việc diễn đạt thiếu logic, có phần cảm tính, chưa

Trang 19

chọn lọc của học sinh dễ dàng khiến sức thuyết phục của bài viết không cao, không gây được ấn tượng cho người đọc, người chấm

2.2 Lỗi viết kết bài

Kết bài là phần tổng kết, nhấn mạnh ý nghĩa của vấn đề, thể hiện quan điểm, thái độ của người viết và tạo âm vang, dư ba cho bài văn trong lòng người đọc Tuy nhiên, trong quá trình làm bài, do phân phối thời gian chưa hợp lí, chưa nhận thức rõ

về tầm quan trọng của kết bài, học sinh dễ rơi vào tình trạng viết vội, trình bày lan man, dài dòng, cố viết cho hoàn chỉnh bố cục mà thiếu sự đầu tư, chưa viết được một kết bài hay

Ví dụ 1:

Đề bài: Cuộc đời có một bầu trời, còn ta có một đôi cánh

Từ ý kiến trên, hãy chia sẻ về đôi cánh giúp anh/chị bay giữa cuộc đời

Một nhóm nhạc nổi tiếng từng có câu hát ý nghĩa:

Kể cả khi tôi trầy trụa vì vấp ngã Tôi nguyện sẽ trung thành với giấc mơ của mình

Ước mơ có ý nghĩa nhiều đến nhường nào Bằng khát khao, con người có thể quên đi mọi thương tổn để đạt đến vinh quang Còn ngần ngại gì mà không bay đi bằng đôi cánh mang sắc màu của riêng ta

(Bài làm của học sinh)

Ở đoạn văn trên, sau khi tập trung phân tích, bình luận về đôi cánh ước mơ và

giá trị của nó trong cuộc sống con người, học sinh viết phần kết bài Kết bài của người

viết có khẳng định ý nghĩa của đôi cánh ước mơ, có sử dụng dẫn chứng để tăng thêm

chất văn và sức thuyết phục cho bài làm Tuy nhiên, giữa lí lẽ và dẫn chứng (câu hát của nhóm nhạc) còn thiếu sự liên kết Vì thế, kết bài này chưa khái quát, nâng cao vấn

đề, chưa tạo được ấn tượng sâu sắc với người đọc

Ví dụ 2:

Đề bài: Câu chuyện sau gợi cho anh/chị suy nghĩ gì?

Xén lá Mẫu đơn là vua các loài hoa Có anh nhà giàu, mua được một gốc, trồng ở giữa sân Khi hoa nở, màu đỏ rực rỡ, lá xanh rợp mát Người nào đi qua trông

Trang 20

thấy cũng thốt lên: Hoa đẹp biết bao Anh nhà giàu nghe người ta chỉ khen hoa,

mà không thấy nói gì đến cành lá bèn xén trụi cành lá Rốt cuộc ai thấy cũng lắc

đầu, nhíu mày bỏ đi Anh nhà giàu hoang mang không hiểu, làu bàu: Sao hôm qua thì ngợi khen hoa thế, mà hôm nay, thấy hoa lại lắc đầu như vậy?

(Theo Ngụ ngôn thi thoại)

Câu chuyện Xén lá là một trong vô vàn trường hợp đề cập tới vấn đề cái đẹp

hoàn hảo dựa trên nhiều sự kết hợp, tổng thể làm bởi nhiều yếu tố Trong đời sống hội nhập ngày nay, mỗi chúng ta cần nhận thức sâu sắc điều đó để không đánh mất giá trị cuộc sống

(Bài làm của học sinh)

Có thể thấy rõ kết bài trên của học sinh là một đoạn viết vội vàng, thiếu sự đầu

tư Cách viết của học sinh còn khô khan, máy móc, chưa khái quát hết vấn đề và nâng cao ý nghĩa của nó trong đời sống xã hội Kết bài hời hợt, không có chiều sâu chưa xứng với trình độ của một học sinh giỏi

3 Lỗi lập dàn ý phần thân bài

3.1 Lỗi lặp ý, sắp xếp ý lộn xộn

Trong quá trình lập dàn ý, nhiều học sinh còn thiếu sót kĩ năng trình bày, triển khai luận điểm dẫn đến việc sót ý, lặp ý hoặc các ý sắp xếp không theo trật tự, thiếu

tính logic Đặc thù bài viết nghị luận xã hội yêu cầu chất văn cao độ khiến đa phần

học sinh chỉ tập trung vào lối diễn đạt bay bổng, có hình ảnh, nhiều khi rườm rà, dài dòng phân tích, lí giải khiến luận điểm trở nên mơ hồ, thiếu chính xác Bài làm của học sinh thường gặp tình huống lặp ý hoặc các ý dàn trải, không có điểm nhấn, không gây được ấn tượng với người đọc

Ví dụ:

Đề bài: Câu chuyện sau gợi cho anh/chị suy nghĩ gì?

Xén lá Mẫu đơn là vua các loài hoa Có anh nhà giàu, mua được một gốc, trồng ở giữa sân Khi hoa nở, màu đỏ rực rỡ, lá xanh rợp mát Người nào đi qua trông

thấy cũng thốt lên: Hoa đẹp biết bao Anh nhà giàu nghe người ta chỉ khen hoa,

mà không thấy nói gì đến cành lá bèn xén trụi cành lá Rốt cuộc ai thấy cũng lắc

Trang 21

đầu, nhíu mày bỏ đi Anh nhà giàu hoang mang không hiểu, làu bàu: Sao hôm qua thì ngợi khen hoa thế, mà hôm nay, thấy hoa lại lắc đầu như vậy?

(Theo Ngụ ngôn thi thoại)

Với đề bài trên, sau khi giải thích câu chuyện, xác định vấn đề: vạn vật trong cuộc sống nói chung và cái đẹp nói riêng chỉ đạt đến độ viên mãn khi có sự hài hòa giữa các yếu tố, các bộ phận; nếu đi ngược lại quy luật này, mọi thứ dễ trở nên khập khiễng, không trọn vẹn, học sinh cần phải lập luận, triển khai các luận điểm để làm sáng tỏ vấn đề Khi bình luận, có học sinh đã viết như sau:

Tuy nhiên, nhiều khi tạo hóa lại thật trớ trêu, số phận thật nghiệt ngã có những con người sinh ra không được lành lặn, hoàn thiện Nhưng với những nỗ lực cố gắng,

họ vẫn trở nên vĩ đại, cuộc đời họ vẫn cứ đẹp như những bông hoa rực rỡ ngoài đời Một nữ nhà văn Mĩ đã viết: “Tôi đã khóc khi không có giày để đi cho đến khi nhìn thấy một người không có chân để đi giày” Xung quanh chúng ta vẫn còn rất nhiều mảnh đời bất hạnh như vậy, nhưng họ vẫn tồn tại thật đáng ngưỡng mộ Beethoven

dù mất khả năng thính giác nhưng vẫn góp cho đời những bản Sonata bất hủ Tuổi thơ của Nguyễn Ngọc Kí là chuỗi dài gian nan, vất vả Tuy không thể viết với bàn tay lành lặn nhưng anh dùng chân để viết, để học tập Đến giờ cũng vậy nhưng thử hỏi nhiều người lành lặn nhưng xấu xa, độc ác liệu có bằng được anh?

Dù trong nhiều trường hợp, cái đẹp chỉ hoàn thiện khi kết hợp nhiều yếu tố tuy nhiên cũng không nên xem thường những điều thiếu hụt, không lành lặn Mỗi một sự vật, hiện tượng được tạo ra đều mang một chức năng nhất định, dù chính dù phụ vẫn góp phần tạo nên vẻ đẹp cho đời Không nên xem thường coi nhẹ bất kì điều gì Và đặc biệt xem xét một vấn đề nên dựa trên tổng thể các mối quan hệ Người ta vẫn thường hay nói: “Quân với dân như cá với nước” Chẳng ai phân định nổi quân và dân đâu là cá đâu là nước Chỉ biết rằng giữa họ có một mối quan hệ khăng khít không thể tách rời

Có thể thấy ở phần bài trên, học sinh đã tư duy lật lại vấn đề, xem xét vấn đề

từ góc độ ngược lại để đưa ra đánh giá khách quan, hợp lí: Cái đẹp là sự hài hòa, mọi vật trong cuộc sống đều được tạo nên từ sự kết hợp hài hòa giữa các bộ phận, ngay cả con người cũng vậy Nhưng thực tế cho thấy có không ít những điều khuyết thiếu, không lành lặn (con người, sự vật) vẫn có ý nghĩa với cuộc đời và cần được tôn trọng Tuy nhiên, khi triển khai phần này, người viết đã bị lặp ý, sắp xếp ý lộn xộn, thiếu logic, khiến hai đoạn văn cùng lặp lại một vấn đề:

Trang 22

- Đoạn 1: Tuy nhiên, nhiều khi tạo hóa lại thật trớ trêu, số phận thật nghiệt ngã

có những con người sinh ra không được lành lặn, hoàn thiện Nhưng với những nỗ lực cố gắng, họ vẫn trở nên vĩ đại, cuộc đời họ vẫn cứ đẹp như những bông hoa rực

rỡ ngoài đời

- Đoạn 2: Dù trong nhiều trường hợp, cái đẹp chỉ hoàn thiện khi kết hợp nhiều

yếu tố tuy nhiên cũng không nên xem thường những điều thiếu hụt, không lành lặn… Không nên xem thường coi nhẹ bất kì điều gì

Điều này khiến cho lập luận của học sinh chưa chặt chẽ, thiếu sức thuyết phục, không sáng rõ được vấn đề nghị luận Dù người viết có tư duy phản biện nhưng do cách trình bày, sắp xếp ý chưa hợp lí nên bài viết không tạo được điểm nhấn, không thể hiện được hết trình độ của một học sinh giỏi văn

3.2 Lỗi lập ý sơ sài

Một bài văn nghị luận xã hội hay, giàu sức thuyết phục được hình thành trên

cơ sở lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén và dẫn chứng xác đáng Việc lập ý chặt chẽ, sâu sắc đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong bài văn nghị luận Mỗi luận điểm như một điểm sáng để thể hiện tư tưởng, tạo nên phương hướng rõ ràng của bài Tuy nhiên, khi triển khai hệ thống ý, không ít học sinh vẫn còn gặp khó khăn như thiếu ý, lí lẽ đưa ra còn sơ sài, chưa có sức thuyết phục

Trang 23

nước đó những tri thức về lịch sử Nhà triết gia Ấn Độ Ta-go có vốn tri thức phong phú bởi ông nhận được từ tri thức nhân loại nhiều điều, nhận được ở xã hội Ấn Độ những bài học lối sống, và “nhận” được những bi kịch trong cuộc đời của chính mình Những trải nghiệm sâu sắc cùng với tinh thần ham học hỏi đã giúp Ta-go nhận được nhiều điều Bởi vậy, ông được coi là người có trí tuệ thông thái Trí tuệ thường gắn liền với thông minh và sắc sảo Nhưng không chỉ vậy! Nó còn gắn liền với sự cần

cù, ham học hỏi, tích lũy vốn sống Chính những điều ấy mà nhân loại thế giới đã xuất hiện bao trí tuệ lỗi lạc như Loui Pasteur, Edison, A Einstein…

Có thể thấy, ở đoạn văn trên, học sinh đã nêu được một số lí lẽ khẳng định tính

đúng đắn trong vế 1 của ý kiến Trí tuệ giàu lên nhờ cái nó nhận được Tuy

nhiên, lí lẽ còn sơ sài và chưa được đào sâu Người viết còn có những lập luận khá

ngô nghê, như: Ngay từ khi lọt lòng, ai trong chúng ta cũng đã có trong mình một trí

tuệ Nhưng trí tuệ ấy liệu có được giàu lên nếu như con người không lớn khôn, không học hỏi, tìm tòi hay Con người có trí tuệ, biết về lịch sử của đất nước khi nhận ở đất nước đó những tri thức về lịch sử Thực tế, trí tuệ của con người biểu hiện ở khả năng

nhận thức; trình độ nhận thức của con người không thể được nâng cao khi người đó không biết đặt bản thân giữa cuộc đời, không ngừng trải nghiệm, tích lũy tri thức, kĩ năng từ kho tàng tinh hoa nhân loại Không đưa ra được đầy đủ các lí lẽ cũng như mài sắc lập luận sẽ khiến cho bài viết chưa thực sự thuyết phục

3.2 3.3 Lỗi mở rộng, liên hệ máy móc, thiếu thực tế

Mục đích của bài văn nghị luận xã hội là thể hiện tư tưởng, suy nghĩ của học sinh về một vấn đề trong đời sống, hướng đến hoàn thiện về nhân cách cho các em Bởi vậy, trong bài viết, phần mở rộng, liên hệ, rút ra bài học cho bản thân có vai trò rất quan trọng Mở rộng đa chiều, liên hệ thực tiễn sâu sắc sẽ thể hiện tư duy thông minh, nhanh nhạy và sự quan tâm của học sinh với vấn đề nghị luận bằng tâm thế người trong cuộc Bởi việc làm văn không chỉ đơn thuần là giải một đề thi, mà quan trọng hơn đó là một dịp đối diện với bản thân, là tâm sự chuyện của mình, từ mình và cho mình Tuy nhiên, nhiều học sinh chưa thật sự đầu tư cho phần này Nhiều bài viết rơi vào tình trạng hô hào cổ động hời hợt, sáo rỗng, không có ý nghĩa thiết thực với chính bản thân các em

Ví dụ 1:

Đề bài: Lối sống tối giản của người Nhật

Trang 24

Tuy nhiên, tôi nhận thấy rằng, lối sống giản dị khác với việc con người sống

hà tiện, cẩu thả, buông tuồng Nếu con người sống xa hoa, không sống tối giản mà chạy theo lối sống tối đa thì con người sẽ có nhiều áp lực trong cuộc chạy đua về vật chất, tiền tài, nhiều khi sa vào lòng tham, khoa trương, xa hoa, cầu kì, chạy theo tiền bạc, tiện nghi Là một người còn trẻ tuổi, trẻ lòng, tôi luôn tự hứa với lòng mình cần phải rèn luyện lối sống tối giản, đạt được sự thanh cao trong tâm hồn Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, con người ta thường chạy theo sự giàu có về vật chất, nhưng cái mà tôi cần là sự giàu có về tâm hồn, tình cảm Tôi sẽ sống tối giản nhất có thể và

sẽ bồi đắp tình cảm cho tâm hồn để giúp đỡ, chia sẻ những con người nghèo khổ hơn, biết cho đi những tình cảm để được đón nhận lại những tình cảm

(Bài làm của học sinh)

Có thể thấy, đề bài trên yêu cầu học sinh nghị luận về lối sống tối giản – một lối sống có ý nghĩa đang được đề cao trong những năm gần đây Học sinh có tư duy

sâu về vấn đề bằng lập luận lối sống giản dị khác với việc con người sống hà tiện, cẩu

thả, buông tuồng, chỉ ra nếu con người sống xa hoa, không sống tối giản thì cuộc sống

của chính họ sẽ thay đổi ra sao Tuy nhiên, cách triển khai ý của học sinh còn khô

khan, máy móc, thiếu thực tế, chưa có chiều sâu: tôi luôn tự hứa, tôi sẽ sống tối giản

nhất có thể, thậm chí có đoạn viết còn sáo rỗng: con người ta thường chạy theo sự giàu có về vật chất, nhưng cái mà tôi cần là sự giàu có về tâm hồn, tình cảm Chính

vì thế, phần viết mở rộng, liên hệ của học sinh khá nhạt nhòa, hời hợt, chưa tạo được

ấn tượng sâu sắc và sức hấp dẫn cho bài làm

Với đề bài trên, sau khi giải thích hai câu thơ, bình luận, làm sáng tỏ cho vấn

đề sống nhanh và sống chậm của giới trẻ hiện nay, học sinh cần biết lập luận mở rộng,

nâng cao vấn đề và liên hệ thực tế cho bản thân Có học sinh đã viết như sau:

Sống nhanh để tận hưởng, sống chậm để tâm hồn được an vui Con người phải biết kết hợp hai cách thức sống thì mới sống theo đúng nghĩa và cảm nhận trọn vẹn,

Trang 25

đầy đủ nhất ý nghĩa và giá trị cuộc sống Chúng ta phải sống năng động, lành mạnh, yêu lao động, sáng tạo, cống hiến Bên cạnh đó, ta cũng phải phê phán những người chọn lối sống buông thả, vô trách nhiệm, sống vội, sống gấp, tiêu tốn thời gian vào thú vui nhất thời, chỉ theo đuổi cái mới mà quên đi những giá trị bền vững Không chỉ riêng học sinh chúng ta phải biết sống nhanh sống chậm mà bất cứ lứa tuổi nào, trình

độ nào giữa thời đại ngày nay cũng cần học cách sống nhanh và sống chậm Sống nhanh, sống chậm là những kĩ năng cần thiết Chúng ta cần nỗ lực học hỏi, thu nhận kiến thức để có thể sống nhanh cùng thời đại; ta cũng nên dành thời gian lắng nghe,

mở rộng tâm hồn, biết chia sẻ, cảm nhận những điều dù nhỏ nhặt nhất để sống chậm cho tâm hồn

Ở đoạn văn trên, học sinh đã xác định được hai mặt của vấn đề sống nhanh và

sống chậm, từ đó khẳng định mỗi người phải biết kết hợp hai cách thức sống Tuy

nhiên, cách lập luận của học sinh còn khô khan, máy móc, thiên về hô hào tư tưởng hơn là đưa ra góc nhìn cá nhân, thể hiện trải nghiệm và suy nghĩ của mình Cách triển khai ý tương ứng với các lí lẽ:

4 Lỗi sử dụng dẫn chứng

Cũng như lí lẽ, dẫn chứng đóng vai trò cực kì quan trọng trong bài văn nghị luận nói chung và nghị luận xã hội nói riêng Thiếu dẫn chứng, bài văn nghị luận sẽ chỉ có luận lí, thiếu đi chất sống, không còn sinh động, hấp dẫn Dẫn chứng trong bài văn nghị luận xã hội thường lấy từ vốn sống, sự trải nghiệm của học sinh Thực tế, trong khi làm bài, nhiều học sinh giỏi nắm vững kiến thức cơ bản, xác định rõ vấn đề, bài viết có lí lẽ song lại khó khăn ở việc lấy dẫn chứng Chúng tôi nhận thấy học sinh thường mắc các lỗi lấy dẫn chứng như:

- Dẫn chứng sơ sài

- Dẫn chứng quá nhiều, sa vào kể lể

Trang 26

- Thiên về lấy dẫn chứng văn học, thiếu dẫn chứng thực tế

- Lấy dẫn chứng nhưng không biết phân tích sâu sắc

ta được cha tha thứ và mở tiệc vui mừng vì con đã trở về Người anh thấy vậy rất tức tối Bởi anh ta làm lụng suốt ngày mà không được cha cho mổ một con heo Vậy mà thằng em hư đốn lại được mổ heo khi nó trở về Con tim của con người là vậy Có thể tha thứ nhưng cũng có thể ích kỉ, nhỏ nhen Cho đi yêu thương, tha thứ cho kẻ thù của mình là một việc rất khó khăn Nhưng khi cho đi được những thứ ấy, con người sẽ trở nên thanh thản hơn, cuộc sống sẽ trở nên tốt đẹp hơn Cho đi rồi sẽ được nhận lại, sự cảm thông, chia sẻ giữa con người với con người mới là đẹp nhất, thiện căn nhất

(Bài làm của học sinh)

Ở đoạn văn trên, học sinh đã bình luận tính đúng đắn của vế 2 Con tim giàu lên

nhờ cái nó cho đi Người viết đã lấy một câu chuyện ngắn làm dẫn chứng kết hợp với

lí lẽ làm sáng tỏ vấn đề Tuy nhiên, người viết lập luận còn nông, chưa sáng rõ được

Ngày đăng: 19/08/2021, 11:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên), Đỗ Ngọc Thống (2002), Văn bồi dưỡng học sinh giỏi trung học phổ thông, tập hai, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Văn bồi dưỡng học sinh giỏi trung học phổ thông
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên), Đỗ Ngọc Thống
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
Năm: 2002
2. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 2011), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
3. Lê Anh Xuân, Vũ Thị Dung, Ngô Thị Bích Hương, Nguyễn Thị Hương Lan (2011), 100 đề chuyên bồi dưỡng học sinh giỏi văn trung học phổ thông, NXB Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: 100 đề chuyên bồi dưỡng học sinh giỏi văn trung học phổ thông
Tác giả: Lê Anh Xuân, Vũ Thị Dung, Ngô Thị Bích Hương, Nguyễn Thị Hương Lan
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2011
4. Đỗ Ngọc Thống (2012), Tài liệu chuyên văn, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu chuyên văn
Tác giả: Đỗ Ngọc Thống
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
5. Đỗ Ngọc Thống (2012), Tài liệu chuyên văn, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu chuyên văn
Tác giả: Đỗ Ngọc Thống
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
6. Đỗ Ngọc Thống (2012), Tài liệu chuyên văn, tập ba, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu chuyên văn
Tác giả: Đỗ Ngọc Thống
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
7. Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên), Đỗ Ngọc Thống (2002), Văn bồi dưỡng học sinh giỏi trung học phổ thông, tập một, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bồi dưỡng học sinh giỏi trung học phổ thông
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên), Đỗ Ngọc Thống
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
Năm: 2002
8. Nguyễn Văn Tùng, Thân Phương Thu (2012), Tuyển tập đề và bài văn nghị luận xã hội, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập đề và bài văn nghị luận xã hội, tập một
Tác giả: Nguyễn Văn Tùng, Thân Phương Thu
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
9. Nguyễn Văn Tùng, Thân Phương Thu (2012), Tuyển tập đề và bài văn nghị luận xã hội, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập đề và bài văn nghị luận xã hội, tập hai
Tác giả: Nguyễn Văn Tùng, Thân Phương Thu
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
10. Nguyễn Văn Tùng, Thân Phương Thu (2012), Tuyển tập đề và bài văn nghị luận xã hội, tập ba, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập đề và bài văn nghị luận xã hội, tập ba
Tác giả: Nguyễn Văn Tùng, Thân Phương Thu
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w