Học sinh không chỉ biết đến cuộc sống trong những tác phẩm văn học mà còn phải biết đến đời sống xã hội ngoài cuộc đời rộng lớn kia, biết suy nghĩ và dám bày tỏ chính kiến của mình về nh
Trang 1MÃ CHUYÊN ĐỀ: VAN_08
Chuyên đề:
CHỮA LỖI TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI CHO HỌC SINH GIỎI
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài
“Văn học là nhân học” (M.Gorki) – Học văn là học làm người Môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông có vai trò vô cùng to lớn Nó không chỉ giúp con người có suy nghĩ đúng đắn về cuộc sống mà còn giúp con người có bản lĩnh, cách ứng xử tích cực, biết hướng tới những điều tốt đẹp
Trong nhiều năm gần đây, xu hướng dạy văn gắn với đời sống được đặc biệt coi trọng Học sinh không chỉ biết đến cuộc sống trong những tác phẩm văn học mà còn phải biết đến đời sống xã hội ngoài cuộc đời rộng lớn kia, biết suy nghĩ và dám bày tỏ chính kiến của mình về những vấn đề mà các
em thấy được qua quan sát, trải nghiệm đời sống một cách thuyết phục Nghị luận xã hội – Một thể văn hướng tới việc tìm hiểu, phân tích, bàn bạc về những vấn đề liên quan đến các mối quan hệ phức tạp của con người, sẽ giúp học sinh mài sắc năng lực tư duy, phản biện đời sống, đồng thời giáo dục tư tưởng, đạo đức nhân sinh quan tích cực cho các em
Trong các kì thi lớn như thi THPT Quốc gia, thi Học sinh giỏi các cấp… Nghị luận xã hội là kiểu bài không thể vắng mặt, góp phần quan trong trong việc đánh giá năng lực tư duy cũng như năng lực sử dụng ngôn ngữ của học sinh Tuy nhiên, khác với bài nghị luận văn học, các em được cung cấp kiến thức, kĩ năng thì bài nghị luận xã hội không hoàn toàn có sẵn Chính điều này khiến nhiều em lúng túng và mắc nhiều lỗi như nhìn nhận vấn đề còn phiến diện, bài văn đơn điệu, nghèo nàn…
Nhận thức được vấn đề như vậy, chúng tôi thấy thực sự cần thiết khi cùng bàn luận về các lỗi thường gặp ở kiểu bài nghị luận xã hội Làm thế nào
để học sinh hiểu và có ý thức khắc phục những lỗi cơ bản là điều khiến chúng tôi trăn trở, thôi thúc chúng tôi thực hiện vấn đề này
2.Lịch sử vấn đề
Trang 3Kiểu bài nghị luận xã hội đã có từ lâu, đã có nhiều công trình nghiên cứu về cách làm bài khá bài bản, thể hiện rõ nhất trong các công trình nghiên cứu của một số trường THPT chuyên đã được trình bày trong hội thảo khoa học Trại hè Hùng Vương năm 2019 Nhưng đến nay vẫn chưa có tài liệu nào trình bày một cách cụ thể, rõ nét các lỗi thường gặp của học trò và cách khắc phục
Đọc cuốn Tuyển chọn những bài văn đạt giải quốc gia cấp THPT từ
năm 2014 đén năm 2018,tôi rất tâm đắc với những lời nhận xét của ban giám
khảo về ưu, nhược điểm của mỗi bài nghị luận xã hội Từ đây, kết hợp với những lỗi thấy được trong quá trình chấm chữa bài của học sinh, chúng tôi mạnh dạn tổng hợp những lỗi thường gặp, lưu ý cách sửa chữa, góp phần nâng cao chất lượng bài làm của học sinh
3 Nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
- Chỉ ra các lỗi học sinh thường mắc phải trong việc thực hiện kiểu bài, nêu
ra phương hướng sửa chữa, khắc phục và những kết quả bước đầu đạt được
Từ đó, có được những bài học kinh nghiệm quý báu, vận dụng có hiệu quả hơn trong hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi tiếp theo
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghị luận xã hội rất rộng Ở đây chúng tôi nghiên cứu, chỉ ra các lỗi thường gặp trong bài văn của các em dự thi học sinh giỏi quốc gia và định hướng khắc phục Đây là việc làm thiết thực nhằm nâng cao chất lượng bài làm của học sinh
3 Phương pháp nghiên cứu
Trang 4Trong đề tài này chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp khảo sát, phân tích – tổng hợp, rút kinh nghiệm
4 Cấu trúc của chuyên đề
Chuyên đề gồm 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận
Phần nội dung gồm hai chương
Chương 1: Kiểu bài nghị luận xã hội – những yêu cầu cơ bản
Chương 2: Các lỗi ở kiểu bài nghị luận xã hội và hướng khắc phục
Trang 5PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1
I KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI – NHỮNG YÊU CẦU CƠ BẢN
Văn nghị luận muốn thuyết phục người đọc người nghe phải sâu sắc về tư tưởng, tình cảm, văn phong trong sáng, chặt chẽ Nghị luận xã hội là kiểu bài thể hiện vốn hiểu biết, năng lực tư duy, sử dụng ngôn ngữ trong bày tỏ chính kiến của học sinh về các vấn đề xã hội Đây là kiểu bài khó, muốn làm tốt học sinh cần đảm bảo các yêu cầu sau:
1.Yêu cầu về kiến thức
1.1 Kiến thức lí thuyết về kiểu bài nghị luận xã hội
Kiểu bài nghị luận xã hội cho phép người viết tự do bày tỏ chính kiến của mình Tuy nhiên không có nghĩa là tùy tiện, viết sao cũng được Mỗi dạng bài nghị luận xã hội cần tuân theo một cấu trúc riêng
1.1.1 Dạng bài nghị luận về một hiện tượng đời sống
a Mô tả hiện tượng:
- Giải thích khái niệm
- Chỉ ra những thực trạng của hiện tượng đó (có dẫn chứng cụ thể, xác thực)
b Bàn luận tính chất đúng/sai, lợi/ hại của hiện tượng đó (có minh chứng), thể hiện rõ tư tưởng, tình cảm, thái độ của người viết
c Bàn luận mở rộng:
- Lí giải nguyên nhân chủ quan, khách quan của hiện tượng
- Đề xuất giải pháp phát huy/khắc phục, bài học nhận thức và hành động của bản thân
1.1.2 Dạng bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
a Giải thích tư tưởng đạo lí cần bàn luận
b Bàn luận, chứng minh: vấn đề đúng hay sai? Vì sao? Chứng minh bằng thực tiễn đời sống như thế nào?
c Mở rộng, nâng cao
Trang 6- Phê phán, bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan dến tư tưởng đạo lí
- Rút ra bài học nhận thức và hành động
1.1.3 Dạng bài nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra từ tác phẩm văn học
a Giải thích tác phẩm và rút ra vấn đề xã hội cần bàn luận
b Bàn luận, chứng minh về vấn đề (giá trị/ tác hại của nó đối với cá nhân, cộng đồng, xã hội) có dẫn chứng minh họa
c Bàn luận, mở rộng, nâng cao
- Phê phán, bác bỏ những biểu hiện sai lệch
- Rút ra bài học nhận thức và hành động
1.2 Kiến thức xã hội
Ngoài lí thuyết về kiểu bài, muốn làm tốt bài nghị luận xã hội học sinh cần
có hiểu biết xã hội Nếu thiếu nó, các em sẽ không thể bày tỏ chính kiến của mình, hoặc bày tỏ mà hời hợt, phiến diện, non nớt…
Kiến thức xã hội không được trình bày trong một cuốn sách cụ thể, duy nhất Học sinh phải tự hình thành qua quá trình quan sát, trải nghiệm đời sống; đọc, tích lũy kiến thức… Những vấn đề có tính thời sự của đời sống thực tại, những câu chuyện về người thật, việc thật có thể dùng làm minh chứng cho những vấn đề nghị luận xã hội cần được các em thu thập, tích lũy, ghi nhớ
2 Yêu cầu về kĩ năng
2.1 Nhận diện đề và huy động kiến thức
* Nhận diện đề để xác định đúng yêu cầu của đề, tránh lạc đề, thiếu ý, làm cơ sở cho lập dàn ý
Ví dụ đề bài: Có ý kiến cho rằng: “Hãy đi con dường của mình, mặc kệ người ta nói”, nhưng có ý kiến khác lại cho rằng: “Người hay hỏi sẽ không lạc đường”
Suy nghĩ của anh / chị về hai ý kiến trên
Vấn đề cần nghị luận là: Để thành công, con người vừa chủ động, có chính kiến riêng, vừa phải lắng nghe những góp ý của người khác
Trang 7Đề nghị luận xã hội thường được thể hiện bằng hình ảnh bóng bẩy, ẩn ý Đây thực sự là một thử thách đối với học sinh Nhận diện đề sai dẫn tới mọi nỗ lực trong bài làm đều trở nên vô nghĩa
* Huy động kiến thức: kiến thức về lí thuyết dạng bài và kiến thức xã hội
- Sau khi đọc đề, xác định đó là dạng bài nào thì vận dụng cấu trúc dạng bài đó, xác định các thao tác lập luận tương ứng
- Kiến thức xã hội sẽ sử dụng: nhận thức xã hội qua quan sát, trải nghiệm cuộc sống; dẫn chứng từ thực tế, từ lịch sử…
Đối với bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí rút ra từ tác phẩm văn học, nên tóm tắt, lí giải… rồi rút ra vấn đề nghị luận
Viết phần giải thích học sinh cần linh hoạt, không phải từ nào cũng giải thích, chỉ chọn những từ khóa, xem xét mối quan hệ giữa các mệnh đề Đoạn văn giải thích cần mềm mại, uyển chuyển
2.3 Bàn luận
Sử dụng thao tác bình luận, phân tích để làm rõ các khía cạnh của vấn đề, giúp người đọc thấy rõ những giá trị hay tác hại của nó đối với bản thân mỗi con người, với đời sống xã hội…
Đây là lúc học sinh cần thể hiện suy nghĩ sâu sắc của mình, vận dụng kiến thức xã hội mà mình có được để xem xét vấn đề đúng hay sai, hay vừa đúng vừa sai? Vì sao dẫn đến điều đó? Để lí lẽ thuyết phục cần đưa thêm những ý kiến của các nhà bác học, triết học, lãnh tụ, nhà văn có uy tín
2.4 Chứng minh
Trang 8Là khi người viết đưa ra các cứ liệu, dẫn chứng xác đáng để làm sáng tỏ điều mình bàn luận ở trên là đúng, thuyết phục người đọc tin vào vấn đề được bàn luận Dẫn chứng phải chọn lọc, sát với vấn đề nghị luận, có ý nghĩa đối với đời sống xã hội Đặc biệt ưu tiên những dẫn chứng có tính thời sự, các sự kiện, nhân vật có tính đương đại để chứng tỏ người viết luôn quan tâm đến đời sống xã hội, nhạy bén, hòa nhịp với thời đại
Khi viết đoạn văn chứng minh tránh sa đà, lan man, dài dòng Cần nêu ngắn gọn dẫn chứng, phân tích ý nghĩa của vấn đề thể hiện qua dẫn chứng
Để tránh rời rạc, chứng minh thường không tách rời bình luận, mà nên đan xen nhau Khi bình luận học sinh đưa ra quan điểm bằng lí lẽ và soi sáng bằng dẫn chứng phù hợp
2.5 Bàn luận mở rộng nâng cao
Học sinh cần khẳng định lại vấn đề Nếu vấn đề hoàn toàn đúng đắn thì phê phán, bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề; nếu là vấn đề tiêu cực cần chỉ ra nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn đến ; có thể chỉ ra mặt hạn chế, chưa toàn diện của vấn đề…
Tiếp đó là rút ra bài học nhận thức và hành động một cách sâu sắc, chân thành, tích cực
2.6 Lập luận, diễn đạt
Bài văn hay trước hết là bài văn đúng: đúng về kiến thức,về cách triển khai vấn
đề Nhưng để có bài văn hay thực sự, việc lập luận, diễn đạt cũng vô cùng quan trọng
Lập luận thể hiện trong hệ thống ý được sắp xếp một cách mạch lạc, logic đồng thời cũng thể hiện trong trình bày, lí giải, bàn luận… sao cho có lí, có tình, không
“đá” nhau giữa ý nọ với ý kia, không bị người đọc phản bác
Bài văn hay cũng thể hiện ở khả năng diễn đạt của học sinh Diễn đạt trôi chảy, lưu loát, văn có hình ảnh luôn nhận được cảm tình của người đọc
2.7 Viết Mở bài, Kết bài
Mở bài cần nêu được trúng vấn đề cần bàn luận Một mở bài hay cần ngắn gọn, độc đáo, đầy đủ Có thể sử dụng cách mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp Với bài
Trang 9văn của học sinh giỏi, mở bài gián tiếp hay hơn, gây được ấn tượng hơn Tuy nhiên, cách này thường cuốn học sinh vào lan man, vòng vo, xa đề… Người viết có thể sử dụng các cách mở bài gián tiếp như diến dịch, quy nạp, so sánh tương đồng, tương liên…
Kết bài hay cũng góp phần làm nên thành công của bài nghị luận xã hội Kết bài chỉ nêu những ý khái quát, không trình bày lan man, dài dòng hoặc lặp lại điều
đã nói ở thân bài Có thể sử dụng các kiểu kết bài như: tóm lược, phát triển mở rộng thêm vấn đề, liên tưởng, …
Trang 101 Lỗi về nhận diện đề và huy động kiến thức
1.1 Lỗi về nhận diện đề
a Như đã nói trên, vấn đề trong kiểu bài nghị luận xã hội thường được nêu ra bằng những ý kiến, những đoạn thơ, câu chuyện… Vấn đề nghị luận thường được gợi lên qua các ẩn dụ, biểu tượng, đặc biệt hơn, có đề còn được đặt ra qua một bức tranh, đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ kĩ mới nhận ra vấn đề Thực tế, nhiều em vãn mắc phải lỗi xác định chưa chính xác, chưa trúng trọng tâm vấn đề nghị luận, dẫn đến bài viết xa đề hoặc hoàn toàn chệch hướng
Ví dụ: Suy nghĩ của anh chị về câu nói của nhà văn Hellen (Mĩ): Tôi đã khóc khi không có giày để đi, cho tới khi nhìn thấy một người không có chân để đi giày
Có em đã xác định vấn đề nghị luận là: tình yêu thương, chia sẻ với những người tàn tật (?)
Trong khi vấn đề lại là: khi bạn đau khổ vì thiếu thốn vật chất, hãy nghĩ đến những người còn thiệt thòi hơn bạn mà không tuyệt vọng
Đối với học sinh giỏi văn, nhận diện đề không chỉ ở cấp độ đúng mà còn phải trúng vấn đề Ví như trước đề bài:
“Rồi có thể sau 10 năm ra đi, ta sẽ lại khóc cho những điều ngày hôm nay chưa biết” (Chu Minh Khôi)
Suy nghĩ của anh/chị?
Nếu ý kiến trên được hiểu là “Khóc vì những điều mình chưa biết, chưa nhận
thức rõ” mới chỉ là đúng Hiểu trúng phải là: “Hãy biết trân trọng những gì nhỏ bé
nhưng đầy ý nghĩa của cuộc sống hiện tại để sau này không phải hối tiếc”
Trang 11Nhận diện trúng càng khó hơn đối với đề đưa ra là một câu chuyện Trong
đề: suy nghĩ của anh/chị về vấn đề được gợi ta từ câu chuyện Người đi săn và con vượn
“Ngày xưa có một người săn bắn rất tài Nếu con thú rừng nào không may gặp bác ta thì hôm ấy coi như ngày tận số Một hôm, người đi săn xách nỏ vào rừng Bác thấy mọt con vượn lông xám đang ngồi ôm con trên tảng đá Bác nhẹ nhàng rút mũi tên bắn trúng vượn mẹ
Vượn mẹ giật mình, hết nhìn mũi tên lại nhìn về phía người đi săn bằng đôi mắt căm giận, tay không rời con Máu ở vết thương rỉ ra loang khắp ngực
Người đi săn đứng im chờ kết quả…
Bỗng vượn mẹ nhẹ nhàng đặt con xuống, vơ vội nắm bùi nhùi gối lên đầu con, rồi hái cái lá to, vắt sữa và đặt lên miệng con Sau đó, vượn mẹ nghiến răng, giật phắt mũi tên ra, hét lên một tiếng thật to rồi ngã xuống
Người đi săn đứng lặng Haigiotj nước mắt từ từ lăn trên má Bác cắn môi,
bẻ gãy nỏ và lẳng lặng quay gót về
Từ đó, bác không bao giờ đi săn nữa.” (Theo L.Tônxtôi)
Sau khi cho học sinh phân tích đề, các em đưa ra những vấn đề khác nhau
như: tình mẫu tử thiêng liêng, con người cần tôn trọng sự sống của động vật hoang
dã, … Đúng là vậy,nhưng xác định trúng phải là : tình yêu thương có sức mạnh
thức tỉnh sự xám hối của con người
Hiểu vấn đề sai, tất sẽ dẫn đến bàn luận sai Hiểu vấn đề chưa trúng sẽ dẫn đến bàn luận thiếu chiều sâu Vậy nên, khắc phục lỗi nhận diện đề là vô cùng cần thiết
b Sửa lỗi nhận diện đề
* Nguyên nhân của thiếu sót trong nhận diện đề nghị luận xã hội là biên độ kiến thức rất rộng, quan điểm đa chiều nên học sinh thường không thể chuẩn bị trước vấn đề, phải đến khi tiếp xúc với đề mới tìm hiểu, khám phá, trong khi đó thời gian làm bài lại hạn chế nên các em thường hoang mang Trong thực tế, cùng một
đề văn, nhưng kết quả xác định luận đề lại khác nhau
Trang 12* Để hạn chế lỗi nhận diện đề, học sinh cần được rèn kĩ năng phân tích đề thường xuyên Đề nghị luận xã hội vô cùng phong phú nên việc nhận diện đề cũng hết sức linh hoạt
- Đầu tiên là đọc kĩ đề Xác định đâu là ngữ liệu dẫn dắt, đâu là câu lệnh của đề, tìm hiểu cấu trúc câu văn trong đề bài; xác định mối quan hệ giữa các mệnh đề trong câu, giữa các câu trong đề bài để phân định đâu là yêu cầu chính, đâu là yêu cầu mở rộng
- Nhận diện đề phải bám vào hình thức của đề bài
+ Nếu đề bài đưa ra ý kiến, nhận định: tìm các từ khóa, xem xét cấu trúc ngữ pháp, các lớp nghĩa của nhận định để tìm trúng vấn đề nghị luận
Ví dụ: Anh/chị hãy bày tỏ suy nghĩ của mình về ý kiến của Williams: “Nếu bạn được đưa giấy có dòng kẻ, hãy viết bằng mặt còn lại”
“giấy có dòng kẻ”- có định hướng sẵn, dễ dàng thực hiện công việc nhưng người
thực hiện bị lệ thuộc vào dòng kẻ, không có con đường đi của riêng mình
“mặt còn lại” (không có dòng kẻ), thiếu định hướng, khó thực hiện hơn nhưng ta
có thể viết theo cách của mình
Các mệnh đề Nếu bạn được đưa… Hãy chọn…=> lời khuyên
=> câu nói khuyên ta hãy chọn cách làm việc có sáng tạo
+ Nếu đề bài đưa ra câu chuyện, bài thơ, hình ảnh:
(+) cần căn cứ vào câu lệnh của đề như suy nghĩ về lòng hiếu thảo, suy nghĩ về nhu cầu được sống là chính mình,
(+) Căn cứ vào những chi tiết quan trọng của văn bản
Ví dụ: Suy nghĩ của anh/chị về vấn đề trong đoạn trích sau:
“Ta hỏi một con chim: ngươi cần gì?
Chim trả lời: ta cần bay
Một con chim được ăn kê báo trong lồng sẽ trở thành con gà bé bỏng, tội nghiệp và
vô dụng
Ta hỏi một dòng sông: người cần gì?
Sông trả lời: ta cần chảy