Nghe thì tưởng dễ, nhưng muốn bàn bạc về những vấn đề ấy, học sinh cần phải có những hiểu biết nhất định, phải có vốn sống phong phú, có sự trải nghiệm và có lập trường, quan điểm đúng đ
Trang 1CHUYÊN ĐỀ TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG
LẦN THỨ XVI NĂM 2020 Tên chuyên đề:
CHỮA LỖI TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
CHO HỌC SINH GIỎI
MÃ CHUYÊN ĐỀ: VAN_02
Trang 2
1 NGUYÊN NHÂN TỒN TẠI CÁC LỖI Ở KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI CỦA HỌC SINH
Trang 31.1 Nguyên nhân của lỗi tư duy 47
2 GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC LỖI TRONG BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI CHO HỌC SINH GIỎI 48
2.2 Xác định lập trường tư tưởng, thái độ đúng đắn; thể hiện tình cảm chân thành, nhiệt huyết 53
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Văn, nhất là bồi dưỡng để học sinh có được một bài văn thi cấp tỉnh, cấp Quốc gia đạt giải và đạt giải cao, quả thực là một công việc đầy vất vả của những thầy giáo, cô giáo đảm nhận vai trò đứng đội tuyển Thực tế, ở các trường trung học phổ thông, các thầy cô đã bạc cả tóc (theo đúng nghĩa đen) khi bồi dưỡng học sinh giỏi Từ việc chọn được học sinh
có năng lực, có đam mê, đến việc dạy kiến thức, truyền cảm hứng, cho đến việc chấm chữa bài cho học sinh để các em thấy lỗi sai, rút kinh nghiệm ở bài viết sau, thật sự rất mệt mỏi Công việc dạy Văn của những người thầy, người cô bên
cạnh yêu cầu là người dẫn đường, người truyền cảm hứng, người dạy kiến thức, còn một yêu cầu nữa đó là một “phu chữ” (chữ dùng của Nguyễn Tuân) khi
chấm bài, chữa bài cho học sinh
Thực tế, nhiều thầy cô rất ngại khi chấm bài, sửa lỗi cho học sinh Bởi mỗi bài văn là một “tác phẩm” của tâm hồn và trí tuệ của mỗi em Chữa theo yêu cầu chung, theo đáp án với từng đề văn đã là một nhiệm vụ khó khăn Nhưng chữa tỉ
mỉ, cặn kẽ từng lỗi của từng em, ở mỗi bài viết, lại là nhiệm vụ khó khăn gấp bội Có em yếu tư duy, có em yếu kiến thức, có em mạnh ở mảng nọ, có em mạnh ở mảng kia Nên khi cầm trên tay một bài văn học sinh giỏi của các em, thầy cô lại cần đọc chậm, đọc kĩ, phát hiện ra từng lỗi nhỏ của từng em, để kịp thời lấp những “lỗ hổng” về kĩ năng, về kiến thức Phải dày công khổ luyện, từ phía người học, và cả phía thầy cô giáo, mới có được những bài văn học sinh giỏi thực sự chất lượng
Việc phát hiện, nhận diện được những lỗi nhỏ của các em trong bài văn học sinh giỏi, thầy cô không chỉ giúp các em thấy được những khuyết điểm của bản thân trong kĩ năng viết văn, mà còn giúp các em có một tinh thần làm việc cẩn
thận, chỉn chu, khoa học Trong một bài báo có nhan đề: “Chấm bài văn của học
Trang 5chia sẻ: “Đã từng là một học sinh, tôi cảm ơn rất nhiều những thầy giáo, cô
giáo dạy văn đã “soi” thật kĩ bài làm của mình Những dấu mực đỏ gạch chân, những ghi chú bên lề giấy và cả lời phê tỉ mỉ, cần mẫn đã cho tôi những niềm vui, sự hụt hẫng đáng giá Giờ đây, tình cờ bắt gặp một bài văn nào đó dày đặc lời nhận xét của thầy cô dành cho con trẻ, tôi mững rỡ, ngấu nghiến đọc và bỗng nhen nhóm lên niềm vui nho nhỏ Và trong túi hành trang gõ đầu trẻ của mình, tôi luôn cố gắng sắp xếp một góc nhỏ cho chữ “Tâm” ”
Như chúng ta đã biết, đề thi học sinh giỏi môn Văn lâu nay đều có phần nghị luận xã hội Đây là một nội dung thi quan trọng, thường chiếm 30% số điểm trong bài thi của học sinh Học sinh cần phải đầu tư nhiều thời gian và tâm huyết dành cho câu hỏi này Bởi vì những vấn đề nghị luận xã hội được đề cập là rất rộng: có thể là một vấn đề tư tưởng đạo lí, một hiện tượng xã hội, một vấn đề đạo đức nhân sinh hay vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn chương Khi gặp dạng
đề này, học sinh dựa trên những kĩ năng cơ bản, có thể tự do bàn luận, trình bày suy nghĩ quan điểm của mình về một nội dung được đề cập Nghe thì tưởng dễ, nhưng muốn bàn bạc về những vấn đề ấy, học sinh cần phải có những hiểu biết nhất định, phải có vốn sống phong phú, có sự trải nghiệm và có lập trường, quan điểm đúng đắn, tiến bộ Và thực chất, khi tiến hành kiểm tra và chấm các bài viết nghị luận xã hội của học sinh, giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn dễ dàng thấy rằng, kĩ năng viết của các em còn khá yếu Bên cạnh đó, khả năng phân tích vấn đề, làm sáng tỏ vấn đề, xác định luận điểm của các em chưa tốt
Đứng trước một đề văn nghị luận xã hội, nhiều em rất lúng túng, không biết
sẽ bắt đầu làm bài từ đâu, có những ý gì, sắp xếp bố cục ra sao? Hệ quả là, nhiều bài viết của các em còn sơ sài, không nói hết được vấn đề, trình bày theo kiểu nghĩ gì viết nấy, không đúng với qui cách một bài Nghị luận xã hội cả về nội dung và hình thức
Kĩ năng làm kiểu bài nghị luận xã hội đã trở thành một tiêu chí quan trọng
để đánh giá năng lực của một học sinh giỏi môn Ngữ Văn Để các em làm được
Trang 6một bài văn nghị luận xã hội có chất lượng tốt, cần cả một quá trình dạy học, chấm bài, chữa bài tỉ mỉ, cẩn thận của thầy cô và sự nỗ lực sửa chữa lỗi của học trò trong bài văn của mình Việc nhận diện ra những lỗi thường gặp và chữa lỗi cho bài văn học sinh giỏi trong kiểu bài nghị luận xã hội là việc làm vô cùng quan trọng
Chính vì tầm quan trọng và thực tế đó mà người viết đã xây dựng chuyên
đề : “Chữa lỗi trong bài văn Nghị luận xã hội cho học sinh giỏi” với hi vọng
đóng góp một vài kinh nghiệm nhỏ có tính ứng dụng cụ thể đối với giáo viên
và học sinh; cùng nhau trao đổi, chia sẻ, thảo luận để hoàn thiện nâng cao hơn nữa phương pháp giảng dạy trong quá trình bồi dưỡng cho học sinh giỏi văn
2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
Thứ nhất, với học sinh, mục đích của đề tài này là nhận diện và chỉ ra những
lỗi trong bài văn của học sinh để các em tự mình rèn luyện kĩ năng viết văn Người phương Tây có câu ngạn ngữ: “Practice makes perfect” (Có công mài sắt
có ngày nên kim) Nếu không biết mình mắc lỗi gì, bài văn viết xong không
“được” thầy cô phê đỏ cả trang giấy, sẽ khó tiến bộ
Thứ hai, với thầy cô dạy học sinh giỏi, đề tài này cung cấp những định
hướng để thầy cô rèn kĩ năng cho học sinh giỏi TS Chu Văn Sơn đã chỉ ra
“cách kiểm tra đánh giá của giáo viên cũng chưa ổn bởi cách hiểu về năng lực chưa đúng, thậm chí còn hiểu nhầm giữa kĩ năng và năng lực Kĩ năng là kĩ thuật, quy trình, còn năng lực thuộc về tố chất, kĩ năng là phương tiện để phát triển năng lực, nhưng kĩ năng không phải là năng lực” (trích bài “Học sinh chán môn văn trong nhà trường”– Vnexpress.net) Khi chọn học sinh giỏi, thầy
cô cần có khả năng nhạy bén phát hiện được những học sinh vừa có tố chất, vừa
có kĩ năng Thực tế, có những học sinh có tố chất nhưng không được luyện kĩ năng, dẫn đến chất lượng bài văn học sinh giỏi không cao Hoặc ngược lại, với những học sinh không có năng lực, thầy cô phải rèn kĩ năng vô cùng vất vả
Trang 73 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trong đề tài này, phạm vi nghiên cứu của chúng tôi là các lỗi thường gặp ở kiểu bài Nghị luận xã hội trong bài thi học sinh giỏi môn Văn Do bài thi học sinh giỏi môn Văn được chấm tại các Hội đồng thi Học sinh giỏi các cấp tỉnh, Quốc gia, chúng tôi không thể có điều kiện tiếp xúc Hơn nữa các bài văn được tuyển chọn trong các cuốn sách là những bài đã có chất lượng tốt
Do vậy, phạm vi nghiên cứu các lỗi trong bài văn học sinh giỏi ở đề tài này của chúng tôi là:
– Các bài thi khảo sát môn chuyên hàng tháng ở các khối 10, 11, 12 chuyên Văn
– Các bài thi hàng tuần của đội tuyển quốc gia năm học 2018– 2019 và
2019– 2020
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong đề tài này, chúng tôi lựa chọn và sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:
– Phương pháp phân loại và hệ thống hoá lí thuyết
– Phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết
– Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm
Trong đó, phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết, phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm thực tiễn (thực tiễn chấm bài văn học sinh) là hai phương pháp quan trọng nhất giúp chúng tôi hoàn thành được nhiệm vụ của đề tài Từ kiến thức được truyền thụ, học sinh thể hiện trên bài làm, căn cứ vào yêu cầu của một bài văn học sinh giỏi, chúng tôi thống kê các lỗi làm kiểu bài nghị luận xã hội và đề xuất hướng chữa lỗi kiến thức và kĩ năng cho học sinh
5 CẤU TRÚC CỦA CHUYÊN ĐỀ:
Chuyên đề gồm ba phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận
Trang 9PHẦN NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI DÀNH CHO HỌC SINH GIỎI
1 KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Nghị luận
Nghị luận là một thể văn ra đời từ rất lâu Tại Trung Hoa, văn nghị luận có
từ thời Khổng Tử (551– 479 TCN)
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Nghị luận: bàn và đánh giá cho rõ về một vấn đề
nào đó Văn nghị luận là thể văn dùng lí lẽ và dẫn chứng để phân tích giải quyết một vấn đề”
Từ điển thuật ngữ văn học cũng nêu rõ: “Văn nghị luận: thể văn nghị luận
viết về những vấn đề nóng bỏng thuộc nhiều lĩnh vực đời sống khác nhau: chính trị, xã hội, triết học, văn hoá Mục đích của văn chính luận là bàn bạc, thảo luận, phê bình hay truyền bá tức thời một tư tưởng, một quan điểm nào đó Đặc trưng
cơ bản nhất của văn chính luận là tính chất luận thuyết Văn chính luận trình bày
tư tưởng và thuyết phục người đọc chủ yếu bằng lập luận, lí lẽ ”
Như vậy, có thể hiểu, văn nghị luận là một loại văn bản nhằm phát biểu tư
tưởng, tình cảm, thái độ, quan điểm của người viết một cách trực tiếp về các vấn
đề văn học, chính trị, đạo đức, lối sống và được trình bày bằng một thứ ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục Đây là loại văn phổ biến trong nhà trường, thường được lấy làm yêu cầu của phần làm văn trong các đề thi hiện nay Vì văn nghị luận thể hiện năng lực
tư duy, lo-gic của người viết; vừa cho thấy khả năng diễn đạt, trình bày quan điểm riêng một cách thuyết phục Nội dung và cấu trúc của một văn bản nghị
luận được hình thành từ các yếu tố cơ bản là: Vấn đề cần nghị luận (luận đề),
luận điểm, luận cứ và lập luận (luận chứng)
Trang 10Căn cứ vào nội dung nghị luận, có thể chia văn nghị luận thành hai loại: nghị
luận văn học và nghị luận xã hội Theo đó: Nghị luận văn học có nội dung bàn luận về một vấn đề văn học, còn Nghị luận xã hội lại hướng tới bàn luận về một
vấn đề nảy sinh trong xã hội
1.1.2 Nghị luận xã hội
Dựa theo cách hiểu của Từ điển từ và ngữ Hán Việt về xã hội (“xã hội là
một tập thể người cùng sống, gắn bó với nhau trong quan hệ sản xuất và các
quan hệ khác”); chúng ta có thể hiểu Nghị luận xã hội là kiểu bài hướng tới
phân tích, bàn bạc về các vấn đề liên quan đến các mối quan hệ của con người trong đời sống xã hội Phạm vi của nghị luận xã hội rất rộng, có thể kể tới những nội dung quan trọng như: mối quan hệ của con người với môi trường sống, mối quan hệ của cá nhân với cộng đồng, các vấn đề về lối sống, lí tưởng sống, những hiện tượng tích cực hoặc tiêu cực của đời sống xã hội Việc bàn luận về những vấn đề trên sẽ góp phần làm cho nhận thức và tâm hồn của con người thêm phong phú, tạo cho mỗi người ý thức chăm sóc cuộc sống tinh thần của mình và xây dựng các mối quan hệ trong xã hội, trong cộng đồng ngày càng văn minh, tốt đẹp hơn Không chỉ vậy, nó còn có khả năng rèn năng lực tư duy, giúp con người có thể đối
diện với các vấn đề xã hội và biết cách giải quyết những vấn đề ấy
1.2 Phân loại
Nghị luận xã hội gồm ba dạng đề cơ bản: Nghị luận về một tư tưởng đạo lí; nghị luận về một hiện tượng đời sống; nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong một tác phẩm văn học
1.2.1.Dạng đề nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
Dạng đề nghị luận về một tư tưởng, đạo líthường nhân một câu danh ngôn, một nhận định, đánh giá nào đó để yêu cầu người viết bàn luận và thể hiện tư tưởng, quan điểm, thái độ của mình
Có các kiểu đề nghị luận xã hội về tư tưởng đạo lí như sau:
Trang 11– Kiểu đề nghị luận về một ý kiến (một câu danh ngôn, châm ngôn,
tục ngữ )
– Kiểu đề nghị luận bàn về hai ý kiến trở lên: là dạng đề bài tổng hợp Đây
là dạng đề khá phức tạp vì có liên quan tới nhiều phương diện, nhiều chiều nhận thức, đòi hỏi ở học sinh nhiều kiến thức, kĩ năng, đặc biệt là kĩ năng tổng hợp,
phản biện, đánh giá vấn đề
– Kiểu đề nghị luận về tư tưởng đạo lí rút ra từ một bức tranh: Đây là kiểu
đề thi khá mới mẻ, đòi hỏi học sinh phải có sự quan sát tinh tế, tư duy sáng tạo
để tìm ra được thông điệp mà tác giả gửi từ bức tranh
1.2.2 Dạng đề nghị luận về một hiện tượng đời sống
Dạng đề nghị luận về một hiện tượng đời sống thường nêu lên một hiện tượng, một vấn đề có tính thời sự, được dư luận xã hội trong nước cũng như cộng đồng quốc tế quan tâm
1.2.3 Dạng đề nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
Dạng đề nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học kết hợp kiểm tra được cả về năng lực đọc – hiểu tác phẩm văn học, cả về kiến thức
xã hội và khả năng nghị luận với hai hình thức sau: Từ một tác phẩm đã học, đề yêu cầu người viết bàn về một ý nghĩa xã hội nào đó Cũng có thể từ một tác phẩm chưa được học, thường là câu chuyện nhỏ (truyện mi ni), đề yêu cầu bàn
về ý nghĩa xã hội đặt ra trong đó
1.3 Yêu cầu chung của bài văn nghị luận xã hội
* Đảm bảo kiến thức mang màu sắc chính trị – xã hội:
– Những hiểu biết về chính trị, pháp luật;
– Kiến thức về lịch sử, văn hoá, đạo đức, tâm lí xã hội
– Những tin tức thời sự cập nhật
* Đảm bảo kĩ năng nghị luận:
– Tập trung hướng tới luận đề để bài viết không tản mạn
Trang 12– Có ý thức triển khai thành các luận điểmchặt chẽ
– Dẫn chứng xác đáng, tiêu biểu
– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục
– Ngôn ngữ trong sáng, vừa có màu sắc luận lí vừa có sắc thái mĩ cảm
* Đảm bảo mục đích, tư tưởng đúng đắn:Phải xuất phát từ một lập trường tư tưởng đúng đắn, tiến bộ, cao đẹp, vì con người, vì sự tiến bộ chung của toàn xã hội hoặc từ các nguyên tắc đạo lí làm người để bàn bạc, phân tích, khen chê,
2.2 Xác lập và trình bày luận điểm
– Xác lập luận điểm
Luận điểm là linh hồn của bài văn nghị luận Không có nó, bài văn chỉ là cái xác vô hồn, trống rỗng Luận điểm thực chất là sự cụ thể hoá của luận đề ở những phương diện khác nhau Luận điểm trong nghị luận xã hội phải rõ ràng, sát hợp với đề, phải đúng đắn, có tính khái quát và có ý nghĩa thực tế với xã hội Muốn tìm luận điểm, người viết phải trả lời các câu hỏi:
Trang 13+ Phần giải thích (nhận diện vấn đề) thực chất là trả lời các câu hỏi: Là gì? Như thế nào? Ngụ ý gì?
+ Phần bình (khẳng định hoặc bác bỏ vấn đề) thực chất là trình bày quan điểm, đánh giá về vấn đề Phần này nhằm trả lời các câu hỏi đúng hay sai? Vì sao như thế là đúng(sai)? Dựa trên những cơ sở nào mà nhận định đúng (sai)? + Phần luận (mở rộng, nâng cao vấn đề) thực chất là bàn bạc mở rộng về vấn
đề Phần này nhằm trả lời các câu hỏi: vấn đề cần được nhìn nhận trọn vẹn từ nhiều chiều, nhiều mặt như thế nào? Và đưa ra giải pháp: làm thế nào để có phẩm chất, nhận thức đúng, ứng xử đúng?
– Trình bày luận điểm
Có luận điểm rồi, người viết cần sắp xếp lô gic, đặt luận điểm trong các mối quan hệ chặt chẽ (nguyên nhân/ hệ quả, lí lẽ/thực tiễn ) Việc trình bày luận điểm không tách rời với cách đánh giá và cách lập luận Cần vận dụng thao tác lập luận giải thích, định nghĩa xác lập cách hiểu làm cơ sở, sau đó chọn cách nhìn để nêu luận điểm Với mỗi luận điểm, cần chọn một thao tác lập luận chủ yếu để triển khai
Luận điểm phải được trình bày sáng rõ, bám đề; bài làm phải liên kết và hướng tâm mới có nội lực đủ mạnh để tác động, thuyết phục người đọc
2.3 Lựa chọn luận cứ và thao tác lập luận
Văn nghị luận xã hội không thể thuyết phục nếu chỉ có luận điểm mà không
có luận cứ Các loại luận cứ (lí lẽ và dẫn chứng) chính là nền tảng và chất liệu để tạo nên bài nghị luận xã hội Muốn có kho luận cứ phong phú phải có ý thức tích luỹ dần kiến thức về: các vấn đề thời sự, sự kiện lịch sử; cuộc đời và sự nghiệp của các bậc danh nhân; các tư tưởng, lí luận của những nhà tư tưởng lớn như Mác, Khổng Tử, Đức Phật ; các tục ngữ, cách ngôn kết tinh trí tuệ của dân gian
và nhân loại
Trang 14Luận cứ phải xác thực, tiêu biểu, nội dung luận cứ phải thống nhất với nội dung của luận điểm
2.4 Diễn đạt giàu chất văn, hấp dẫn
Để giúp người đọc hiểu vấn đề, thuyết phục người đọc đồng tình với quan điểm của người viết, bài văn nghị luận xã hội không chỉ cần luận điểm mạch lạc, lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, dẫn chứng tiêu biểu, phù hợp mà còn cần có chất văn hấp dẫn về hình thức diễn đạt
Trang 15Chương 2 CÁC LỖI THƯỜNG GẶP TRONG BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI CỦA HỌC SINH GIỎI
1 MỘT SỐ ĐỀ BÀI MINH HOẠ
Những đặc trưng và yêu cầu của nghị luận xã hội là những chỉ dẫn hữu hiệu
về kĩ năng cho học sinh Tuy nhiên, từ lí thuyết đến thực hành, từ nhận thức đến hành động là một khoảng cách Một số học sinh nắm được lí thuyết nhưng khi làm bài nghị luận xã hội vẫn trượt theo quán tính của thói quen Một số lại lúng túng khi vận dụng kĩ năng chung vào việc làm những đề văn rất cụ thể
Đề tài này được chúng tôi triển khai trên thực tế bài văn của những học sinh giỏi đang học trong trường để thuận tiện trong công tác kiểm tra, đánh giá học sinh, giúp các em hoàn thiện năng lực và kĩ năng của mình, và trong quá trình chữa lỗi, chúng tôi xin mạn phép viết tắt tên các học sinh
Chúng tôi thu thập bài viết của học sinh từ các dạng đề nghị luận xã hội khác nhau, và các minh chứng chủ yếu xoay quanh một số đề cụ thể như sau:
ĐỀ SỐ 1:
“Cái không đáng khóc bây giờ ta sẽ khóc mai sau”– Chế Lan Viên
“Rồi có thể sau 10 năm ra đi, ta sẽ lại khóc cho những điều ngày hôm nay chưa biết” – Chu Minh Khôi
Anh/chị có suy nghĩ gì về hai ý kiến trên
Yêu cầu cần đạt
1.Giải thích
– “Khóc” là trạng thái bộc lộ sự rung động đến cực điểm hay xúc động cao
độ “Khóc” ở trong hai câu thơ của Chế Lan Viên và Chu Minh Khôi là sự tiếc nuối, buồn thương, ân hận
– “Bây giờ”/”mai sau”; “ngày hôm nay”/ “10 năm”: mối quan hệ giữa hiện tại và tương lai
Trang 16– Cái không đáng khóc bây giờ/ những điều ngày hôm nay chưa biết – những điều nhỏ bé, giản dị nhưng ý nghĩa mà chúng ta (đặc biệt là tuổi trẻ, chưa được trải nghiệm )dễ dàng bỏ qua, lãng quên trong cuộc sống
– Đặt trong toàn bộ câu nói → Hai ý kiến có mối quan hệ bổ sung: khóc là trạng thái luyến tiếc, buồn thương, ân hận vì đã không biết trân trọng những điều nhỏ bé, giản dị nhưng đầy ý nghĩa trong cuộc sống
2 Bình luận
* Cuộc sống là vô vàn những điều kỳ diệu, Mỗi khoảnh khắc, mỗi lát cắt cuộc sống dù vui hay buồn đều góp phần tạo nên bức tranh cuộc sống đa sắc màu của mỗi người
+Những điều lớn lao được bắt đầu từ cái nhỏ bé, giản dị
+ Tương lai xây nên từ hiện tại và quá khứ
* Mỗi người cần nhận thức đầy đủ ý nghĩa của cuộc sống, đừng để cuộc sống trôi đi một cách vô ích rồi ta mới tiếc nuối, đừng để mất đi những điều đáng trân trọng rồi ta mới ân hận, mới “khóc”
– Những điều lớn lao, vĩ đại rất đáng trân trọng, ngưỡng mộ nhưng không phải vì những thứ ấy mà chúng ta quên đi những điều nhỏ bé, bình dị, khiêm nhường gần gũi bên cạnh chúng ta Ai cũng mong làm những điều lớn lao nhưng lại quên rằng cuộc đời bắt đầu từ những điều nhỏ bé Có những điều, những con người tưởng như nhỏ bé giản dị nhưng lại hàm chứa cả vô vàn điều lớn lao
– Những giây phút của hiện tại cần được nâng niu, trân trọng để không bao giờ cảm thấy ân hận, hối tiếc:
+ Con người không nên đắm mình trong quá khứ: Quá khứ là những gì đã qua và không bao giờ quay trở lại Nếu mải mê trong quá khứ, con người sẽ không thể vượt thoát để dành thời gian cố gắng trong thời điểm hiện tại
Trang 17+ Con người không nên “ảo tưởng về tương lai”: Tương lai là những điều chưa xảy ra.Tương lai hoàn toàn phụ thuộc vào những nỗ lực, cố gắng của con người trong hiện tại, vì thời gian là giá trị vô hình “một đi không trở lại”
– Song, cũng không nên mãi quẩn quanh trong những điều nhỏ nhặt tầm thường
3 Bài học nhận thức và hành động
– Con người cần nhận thức được vai trò, ý nghĩa của cuộc sống hiện tại – Con người cần trân trọng cuộc sống từ những điều nhỏ bé, giản dị nhất, cố gắng hết mình cho hiện tại,
– Phê phán cách sống hời hợt, lãng phí thời gian, cuộc đời, mải mê theo những ảo tưởng lớn lao mà quên đi những điều nhỏ bé, giản dị hàng ngày
Trang 18– Hình ảnh những quyển sách: Biểu tượng cho kiến thức – những kiến thức được con người tích lũy và truyền bá qua thời gian, không gian
– Hình ảnh người nhảy bungee: Biểu tượng cho con người đang làm một công việc mạo hiểm Sợi dây bảo hiểm cột ở chân anh ta chính là dây đánh dấu sách, nghĩa là anh ta thực hiện “cú nhảy” trong đời mình khi vừa đọc được một điều gì đó từ trong sách, anh ta coi sách vở là một bệ phóng hoàn hảo, an toàn của mình
Bức tranh này nói về những người sống theo sách vở, họ có niềm tin mãnh liệt vào những gì họ đọc được trong sách, đặt cược cả cuộc sống của mình
để thực hiện giống như sách mà không màng đến những nguy hiểm Đây là một cách thức sống, hành động hạn hẹp, cần phải thay đổi
2 Bàn luận, mở rộng vấn đề
2.1 Hãy tiếp nhận những điều đáng quý từ sách vở
– Những kiến thức phong phú được tích lũy, sàng lọc
– Những cảm hứng, lí tưởng, những động lực để sáng tạo
2.2.Nhưng không nên sống thụ động, khuôn ép mình theo sách vở
– Giữa lí thuyết và thực tế luôn có khoảng cách, con người nếu chỉ đọc sách rồi mù quáng làm theo sẽ dễ dẫn đến thất bại
– Những điều trong sách không thể đúng cho tất cả, bởi vậy nếu máy móc thực hiện con người sẽ thành ép buộc bản thân mình theo khuôn mẫu của những người khác
– Sống lí thuyết, sách vở, con người có thể sẽ tự triệt tiêu sự sáng tạo, năng lực riêng của bản thân
2.3 Nên sống cân bằng, có sự kết hợp đúng đắn giữa sách vở và thực tiễn
– Trước những “cú nhảy” quan trọng, con người cần trang bị tốt cho mình không chỉ lí thuyết mà còn cả những kĩ năng, trải nghiệm thực tế
Trang 19– Con người cần tự mình kiểm nghiệm những điều trong sách, linh hoạt giữa những chỉ dẫn của sách với hoàn cảnh và phẩm chất bản thân
– Con người cần có ý thức tự viết nên quyển sách của cuộc đời mình – dám
có ý tưởng mới, dám tiên phong, đi đầu
Bàn luận về ý kiến sau:
“Cuộc sống của ta nếu bị chi phối bởi định kiến của bản thân đã là điều
rất tệ, nên nếu bị điều khiển bởi định kiến của những người khác hẳn còn tệ hơn nhiều”
Trang 20– Khi ta có định kiến về chính bản thân mình, chúng ta sẽ tự giới hạn mình lại, không dám vượt qua “vùng an toàn”– những thói quen mòn cũ, để khám phá cuộc sống và khám phá năng lực của mình
– Nếu ta có định kiến về người khác, ta có thể không thấy được những điều tốt đẹp của họ và điều đó có thể sẽ khiến ta không có cách cư xử tốt và đúng mực
b.“Nếu bị điều khiển bởi định kiến của những người khác hẳn còn tệ hơn nhiều”
– Nhắm mắt tin theo những định kiến của người khác rất dễ khiến ta mất đi cách nhìn nhận của riêng mình, khó có thể đưa ra ý kiến đúng đắn, có thể làm nảy sinh các mâu thuẫn không đáng có với những người xung quanh
– Bị định kiến của người khác chi phối ta sẽ không dám sống thật với bản thân mình
Dù một hạt sương rơi Nhưng trong hạt sương ấy
Có bao nhiêu mặt trời?
(Trần Mạnh Hảo – Trích “Hoa vừa đi vừa nở”, NXB Kim Đồng, 1981)
Trình bày suy nghĩ của anh/chị về vấn đề mà bài thơ đặt ra
Trang 21Yêu cầu cần đạt
1 Giải thích, rút ra ý nghĩa triết lí của bài thơ
– Mặt trời và hạt sương là hai hình ảnh ẩn dụ, mang ý nghĩa tượng trưng, tạo nên tính triết lí sâu sắc cho bài thơ Mặt trời lớn lao, vĩ đại, bất tử, vĩnh hằng còn hạt sương thì mong manh, nhỏ bé, khiêm nhường Cứ ngỡ dưới ánh nắng chói chang của mặt trời, hạt sương sẽ tan biến; tuy nhiên, có những lúc nhờ hạt sương nhỏ bé mà chúng ta cảm nhận được ánh sáng rực rỡ của mặt trời – Không có mặt trời thì hoa không nở, sự sống chẳng thể sinh sôi nhưng mặt
trời không thể giữ được hạt sương nhỏ bé Hạt sương dù mong manh nhưng dù
nắng gắt, bão tố nó vẫn ẩn mình trong cỏ cây, đem đến sự sống, màu xanh cho cuộc đời Trong cuộc sống cũng vậy, không có từng cá nhân thì không có xã hội Mỗi cá nhân, dù rất nhỏ bé vẫn góp phần làm nên sự đa dạng, phong phú cho cộng đồng, xã hội
Bài thơ đặt ra vấn đề: mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân và cộng đồng, mối quan hệ giữa những điều nhỏ bé với những điều lớn lao vĩ đại
2 Phân tích, bình luận, mở rộng
Đảm bảo những ý cơ bản sau:
– Trong cuộc sống, mối quan hệ giữa tập thể, cộng đồng với cá nhân, cá thể
là cộng hưởng, tôn vinh nhau Tập thể là cái nôi cho cá nhân thể hiện tài năng; ngược lại, cá nhân sẽ góp phần làm nên sức lan toả lớn lao của tập thể
– Trong cuộc sống, có những điều lớn lao, vĩ đại rất đáng trân trọng, ngưỡng
mộ nhưng không phải vì những thứ ấy mà chúng ta quên đi những điều nhỏ bé, bình dị, khiêm nhường gần gũi bên cạnh chúng ta
– Ai cũng mong làm những điều lớn lao nhưng lại quên rằng cuộc đời bắt đầu từ những điều nhỏ bé Chính từ những cái bình thường như hạt sương, chúng ta mới cảm nhận được giá trị cao quý như mặt trời Có những điều, những con người tưởng như nhỏ bé giản dị nhưng lại hàm chứa cả vô vàn điều lớn lao
Trang 223 Mở rộng, nâng cao, bài học
– Bài thơ không chỉ gợi ra mối quan hệ cá nhân – cộng đồng, mối quan hệ giữa những điều lớn lao phi thường với những điều nhỏ bé, khiêm nhường, bình
dị Bài thơ còn gợi cách nhìn, cách nghĩ, cách đánh giá sự việc, con người Cần
có cái nhìn đúng đắn, toàn diện về sự việc con người Nếu chỉ nhìn hời hợt, qua loa thì sẽ ko đánh giá đúng được vẻ đẹp, đóng góp của mỗi sự việc, con người trong đời sống Phải cố tìm mà hiểu họ Làm thế nào để mỗi mặt trời trong những hạt sương được lung linh toả sáng?
– Không chỉ là cách nhìn của người khác mà còn là của chính mặt trời, của giọt sương về vĩ đại và nhỏ nhoi ấy của bản thân.Có những con người cứ tưởng mình phi thường vĩ đại nhưng thực chất lại không có ý nghĩa gì Có những người cũng không nên mặc cảm tự ti về sự nhỏ bé của mình bởi chính những điều nhỏ bé khiêm nhường góp phần tạo nên sự vĩ đại Nếu biết sống ý nghĩa thì
dù nhỏ bé cũng vẫn toả sáng theo cách riêng mình
– Bài thơ ngắn nhưng ý nghĩa sâu sắc, nhắc nhở chúng ta có ý thức tôn trọng tập thể, hoà mình vào cộng đồng và tập thể, lấy tập thể làm điểm tựa để vươn lên trong cuộc sống Mỗi cá nhân phải ý thức sâu sắc vai trò, trách nhiệm của mình trong đời sống, dù ở công việc nào, vị trí nào Phải biết trân trọng những điều nhỏ bé, bình dị xung quanh chúng ta Chính những điều đó góp phần tạo nên sự
kì diệu, đẹp đẽ của cuộc sống
– Một số biểu hiện của lối sống tiêu cực nên tránh xa: sống nhạt nhoà, trở thành bản sao của người khác, bị hoà lẫn vào đám đông, dựa dẫm vào tập thể ; chỉ hướng tới những điều lớn lao phi thường mà quên đi những điều bình dị của cuộc sống
ĐỀSỐ 5:
“Ta lớn dần lên khi ta biết làm vơi bớt những ham muốn tầm thường và giữ
đầy những khát vọng sống”
Trang 23(Trích Đầy vơi, Hà Nhân, Báo Hoa học trò)
Suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên
Yêu cầu cần đạt
1.Giải thích
– “ham muốn”: những mong muốn mãnh liệt, chi phối, điều khiển nhận
thức, hành động của con người
– “ham muốn tầm thường”: những mong muốn vụn vặt, tủm mủn; những
tham vọng ích kỉ, tư lợi
– “khát vọng sống”: những ước mơ, hoài bão chân chính; những đam mê, lí
tưởng sống cao đẹp
– “lớn lên”: sự trưởng thành trong nhận thức, tâm hồn của mỗi người
Ý kiến thể hiện một quan niệm sống đẹp, giàu sự trải nghiệm: con người
ta sẽ trưởng thành hơn khi biết chế ngự những ham muốn bản năng, những ham muốn ích kỉ, tư lợi và vun đắp, nuôi dưỡng những hoài bão, khát khao nâng cao giá trị của bản thân, hoàn thiện nhân cách
– “Làm vơi bớt những ham muốn tầm thường” chính là quá trình làm chủ được bản năng, kìm chế được phần “rắn rết” trong mỗi con người Chế ngự được những ham muốn tầm thường đòi hỏi cần có ý chí, nghị lực Đó là sự đấu tranh
Trang 24để chiến thắng chính bản thân mình Vì vậy, vượt lên được những ham muốn tầm thường chính là quá trình tôi luyện bản lĩnh, hoàn thiện nhân cách để trưởng thành – “lớn dần lên” của mỗi người
b “Ta lớn dần lên khi ta biết giữ đầy những khát vọng sống”
– “Khát vọng sống” giúp con người có mục đích, có quyết tâm, có động lực
để thực hiện những hoài bão, mơ ước lớn lao, cao đẹp Đồng thời, khát vọng sống cũng giúp con người nuôi dưỡng đam mê, sẵn sàng dấn thân, trải nghiệm, đương đầu với mọi thử thách
– “Giữ đầy những khát vọng sống” là luôn nuôi dưỡng trong mình những ước mơ, hoài bão, lí tưởng sống cao đẹp, từ đó bồi đắp cho tâm hồn, trí tuệ ngày một thêm giàu có Để làm được điều đó con người cần giữ vững ý chí, không nản lòng trước những khó khăn thất bại trên con đường chinh phục những ước
mơ Đây chính là quá trình con người trưởng thành, góp ích cho đời và hoàn thiện nhân cách
3 Mở rộng, nâng cao, bài học kinh nghiệm
– Phê phán những con người chỉ biết sống với những “ham muốn tầm
thường”
– Mỗi người cần có sựtrải nghiệm để nhận biết, phân biệt đâu là những ham muốn tầm thường, đâu là những khát vọng sống cao đẹp, từ đó xác định cho mình mục đích sống, hành động sống đúng đắn
ĐỀ SỐ 6:
“Khi các vị sư bắt đầu đặt chân tới một vùng đất mới, họ phải tự xây dựng
tất cả mọi thứ Họ mua đất, gạch, dụng cụ và bắt tay vào làm việc Một chỉ tiêu được giao xây bức tường với 1000 viên gạch
Chú tiểu rất tập trung vào công việc, luôn kiểm tra xem viên gạch đã thắng hay chưa, hàng gạch có ngay ngắn không Công việc tiến triển khá chậm, vì chủ làm rất kĩ lưỡng Tuy nhiên, chủ không lấy đó làm phiền lòng, bởi vì chỉ biết
Trang 25mình sắp sửa xây một bức tường tuyệt đẹp đầu tiên trong đời Cuối cùng, chủ đã hoàn thành công việc của mình vào lúc hoàng hôn buông xuống
Khi đứng ra xa để ngắm lại thành quả công trình lao động của mình, chú bỗng cảm thấy vô cùng thất vọng Mặc dù chú tiểu đã rất cẩn thận khi xây bức tường, song vẫn có hai viên gạch bị đặt nghiêng Và điều tồi tệ nhất là hai viên gạch đỏ nằm ngay chính giữa bức tường, chúng như đôi mắt đang trùng trùng nhìn chú
Kể từ đó, mỗi khi du khách đến thăm ngôi đền, chú tiểu đều dẫn họ đi khắp nơi, trừ chỗ bức tường mà mình xây dựng
Một hôm, có hainhà sư già đến tham quan ngôi đền Chú tiểu đã cố đưa họ sang hướng khác nhưng hai người vẫn nằng nặc đòi đến khu vực có bức tường
(Theo Quà tặng cuộc sống.com)
Câu chuyện trên gợi cho anh/chị những suy nghĩ gì trong cuộc sống?
Yêu cầu cần đạt
1 Giải thích thông điệp trong câu chuyện
Trong cuộc sống, đôi khi chúng ta chỉ nhìn được những lầm lỗi dù rất nhỏ của người khác, nhưng lại không thể nào nhận ra phía mặt tốt đẹp trong họ thực
sự còn nổi trội hơn rất nhiều
2 Bàn luận
Trang 26– Đôi khi chúng ta quá cầu toàn, quá nghiêm khắc với bản thân mình, cứ luôn nghiền ngẫm những lầm lỗi ấy và quy trách nhiệm cho mình mà quên mất phần quan trọng là những điều tốt đẹp mà chúng ta đã làm được
– Và đôi khi chúng ta lại quá nhạy cảm với lỗi lầm của người khác Khi gặp
ai mắc lỗi, ta nhớ kĩ từng chi tiết, hễ có ai nhắc đến tên người đó, ta lại liên hệ ngay đến lỗi lầm của họ mà quên đi những điều tốt đẹp họ đã làm
– Con người luôn mơ ước chinh phục được đỉnh cao hoàn mỹ Nhưng để trở thành con người “thập toàn” mẫu mực là rất khó, không dễ tìm con người ấy giữa cuộc sống đời thường Vậy nên chúng ta cũng cần phải bằng lòng chấp nhận sống vui với cái hiện tại mình đang có, như “hai viên gạch xấu xí” đang nằm giữa một bức tường đẹp
3 Bài học nhận thức và hành động
Chúng ta cần phải học cách rộng lượng với người khác và cả chính mình Một thế giới nhân ái trước hết là nơi mà ở đó, lỗi lầm được tha thứ Phê phán những người có cái nhìn phiến diện khi đánh giá người khác
– Nhà ngoại ở cuối con đê
Trên đê chỉ có mẹ, có con
Lúc nắng, mẹ kéo tay con:
– Đi nhanh lên, kẻo nắng vỡ đầu ra
Con cố
Lúc râm, con đi chậm, mẹ mắng:
– Đang lúc mát trời, đi nhanh lên, kẻo nắng đến bây giờ
Trang 27Con ngỡ ngàng: sao nắng, râm đều phải vội?
Trời vẫn nắng, vẫn râm
Mộ mẹ cỏ xanh, con mới hiểu: đời, lúc nào cũng phải nhanh lên!
Câu chuyện nhỏ trên gợi cho anh/chị suy nghĩ gì về những bài học trong cuộc sống?
Yêu cầu cần đạt
1 Giải thích ý nghĩa của câu chuyện
– Cuộc đời như một con đê dài hun hút và mỗi người đều phải đi trên con đê của riêng mình Con đê đó có khi nắng, khi râm, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Nhiệm vụ của chúng ta là phải đi qua những “bóng nắng, bóng râm” đó để đi trọn con đường của mình
– Bóng nắng: Tượng trưng cho những trở ngại, khó khăn, những thách thức
và cả những thất bại mà con người có thể gặp phải trong cuộc sống
– Bóng râm: Tượng trưng cho những điều thuận lợi, những cơ hội, những
thành công, những bằng phẳng trong cuộc đời
– Cả hai điều này đến đan xen và tất cả chúng ta đều phải đón nhận nó
– Mộ mẹ cỏ xanh: Hãy biết yêu thương, trân trọng những người xung quanh
chúng ta, đặc biệt là những người thân yêu, ruột thịt khi họ hãy còn hiện hữu
Câu chuyện khuyên con người trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải nỗ lực hết mình Khi thất bại, không cúi đầu mà phải biết nỗ lực phấn đấu vươn lên Còn khi thành công, chúng ta không được chủ quan, tự mãn mà phải nắm bắt cơ hội để thành công hơn nữa Và trong cõi đời này, hãy biết trân trọng, yêu quý những người xung quanh khi họ hãy còn hiện hữu
Trang 28– Cuộc đời là một hành trình dài đang hướng tới một bến đời bình an với những cơ hội, những thách thức liên tiếp nhau
– Trong cuộc sống, phải nhận thức được đâu là những khó khăn thử thách và những thuận lợi đối với mình Đó là cách nhìn nhận biện chứng về cuộc đời để
có quan niệm và cách sống phù hợp
* Có thái độ sống đúng đắn
– Không nên thụ động trước những biến cố xảy ra trong cuộc sống
– Luôn sống hết mình Xem như việc được sinh ra ở đời này là một niềm hạnh
phúc: Cảm ơn đời mỗi sáng mai thức dậy/ Ta có thêm ngày nữa để yêu thương
– Vì sao phải sống nhanh: Cuộc đời ngoài kia trôi đi hối hả, không chờ đợi
ai Nhất là trong cuộc sống hiện đại, công nghệ số hiện nay, nếu không biết tận dụng nó, ta sẽ là kẻ trắng tay, chí ít cũng để dở dang nhiều dự tính Bời thế, mỗi chúng ta cũng phải sống sao cho trọn vẹn sự có mặt của chúng ta trên cõi đời này
– Thế nào là sống nhanh lên: Nghĩa là trân trọng từng, giây phút của cuộc đời, tăng cường độ sống cho một khoảng thời gian ngắn nhất Sống khẩn trương, làm việc một cách có ích, không nên sống hoài, sống uổng cho những mục đích, những dự định vô bổ Sống có ý nghĩa đối với mình và những người xung quanh – Sống nhanh để làm gì: Sống nhanh để được nhận yêu thương và trao yêu thương; sống nhanh để tận hưởng thiên đường ngay trên mặt đất; sống nhanh để làm người công dân tốt, để cống hiến nhiều hơn cho nhân loại này
– Biết sống yêu thương và chia sẻ với những con người xung quanh
b Phê phán những người sống thụ động, ỷ lại, không có ý chí nghị lực vươn
lên, dễ buông xuôi phó mặc cho hoàn cảnh, không biết biết trân trọng, yêu quý những người xung quanh khi họ hãy còn hiện hữu!
c Cần phân biệt sống nhanh với lối sống vội, sống thử như một bộ phận
thanh niên hiện nay đang chạy theo
Trang 293 Bài học nhận thức, hành động
– Cơ hội và thách thức, hạnh phúc và khổ đau, thuận lợi và khó khăn chia đều cho mỗi người Hãy coi mỗi thuận lợi và khó khăn đó là một phần của cuộc sống, là một chặng đường ta đi qua Bình thản đón nhận nó và sống thật có ích, sống hết mình, bởi cuộc sống không chờ đợi, cũng bởi hạnh phúc có thể nằm ngay trong khổ đau Và hạnh phúc hay khổ đau phụ thuộc vào cách nhìn, vào thái độ sống của chúng ta
– Hình thành kĩ năng sống: Sống có ích, tận hiến, tận hưởng từng phút giây, biết yêu thương những người xung quanh, không sống lãng phí thời gian hay sống một cách hời hợt, vô bổ
– Nhìn: quan sát và nắm bắt những đặc điểm bên ngoài của sự việc, hiện
tượng, con người
– Thấy: hiểu và nắm bắt được những quy luật của đời sống, bản chất của sự
việc, hiện tượng, con người
Nội dung nghị luận: khoảng cách từ nhìn đến thấy, mối quan hệ giữa nhìn
và thấy là khoảng cách và quan hệ giữa bên ngoài và bên trong, hiện tượng và
bản chất, hình thức và nội dung
2 Bàn luận
Trang 30– Nhìn: hoạt động thị giác đơn thuần, giúp con người nhận biết hình thức
bên ngoài của đối tượng (hình dáng, kích thước, màu sắc ) Vì vậy, “rất nhiều đôi mắt có khả năng nhìn”
– Thấy:“nhìn” kết hợp với phân tích, liên hệ, đánh giá trên cơ sở hiểu biết
(hoạt động của trí tuệ); “nhìn” kết hợp với rung động, suy tưởng, thức tỉnh (hoạt động của cảm xúc) giúp con người “thấy” nhiều điều (góc khuất, mặt trái, giá trị tiềm ẩn, sự thật của đời sống, con người) Vì vậy, “rất ít đôi mắt có khả năng thấy”
– Mối liên hệ giữa nhìn và thấy:
+ Nhìn là cơ sở để thấy: không “nhìn”, không quan sát kết nối với đời sống,
con người; khả năng “thấy” sẽ bị vô hiệu hoá
+ Thấy giúp thay đổi điểm nhìn, góc nhìn, có được tầm nhìn
+ “Nhìn” và “thấy” cần đi đôi với nhau: “nhìn” mà không “thấy” là những người hời hợt, nông cạn; “thấy” không xuất phát từ “nhìn” là chủ quan, định kiến, không đáng tin cậy
3 Bài học nhận thức và hành động
– Chủ động trong nhìn, nghe, cảm nhận, để “thấy”; nhưng “thấy” là chưa
đủ, “thấy” cần trở thành tiền đề để ra quyết định và hành động
– Cần có góc nhìn riêng, tầm nhìn xa để thấy những điều mới mẻ, sâu sắc, kì diệu của thiên nhiên, đời sống, con người Từ đó, biết yêu thương, cảm thông; biết nắm bắt cơ hội; biết xác định mục tiêu và có những hành động cụ thể
ĐỀ SỐ 9:
“Điều khiến sa mạc trở nên tuyệt đẹp, đó là đâu đó trong nó ẩn giấu một cái giếng”
(Hoàng tử bé, Antoine de Saint-Exupéry)
Suy nghĩ của anh/chị về câu nói trên
Yêu cầu cần đạt
1 Giải thích ý kiến
Trang 31– “Sa mạc”: chỉ cuộc sống tối tăm, khó khăn, khổ đau, bất hạnh,bế tắc,
bất hạnh
– “Cái giếng ẩn đâu đó trong sa mạc”: Tinh thần lạc quan, niềm tin, hi vọng
về những điều tốt đẹp/tìm thấy nhứng mặt tốt, tích cực trong những lúc khó khăn, bế tắc
– Ý nghĩa: Niềm tin, hi vọng, sự lạc quan trong hoàn cảnh khốn cùng sẽ làm cho con người/cuộc sống con người đẹp đẽ, ý nghĩa và hạnh phúc nhất
– Thái độ sống quyết định chất lượng và giá trị sống của con người:
+ Con người cần đối diện và nỗ lực vượt qua
▪ Coi khó khăn thử thách là môi trường tôi luyện, rèn luyện bản lĩnh, ý chí
▪ Con người có giá trị nhất khi tìm thấy chính mình (Nhận thấy rõ điểm mạnh, điểm yếu làm tiền đề cho thành công, hạnh phúc sau này)
▪ Con người cần tin tưởng vào khả năng của bản thân, tự quyết định cuộc sống của mình với ước mơ, hoài bão và những suy nghĩ, hành động tích cực, hướng về phía trước để làm thay đổi cuộc đời ngày càng tốt đẹp hơn
+Nếu không dám đương đầu với thất bại, khổ đau, bi quan tuyệt vọng thì con người sẽ bị nhấn chìm, gục ngã, sống trong bất hạnh và tăm tối
3 Bài học nhận thức, hành động
– Khẳng định ý kiến đúng đắn, sâu sắc như một lời gợi mở, nhắc nhở về một phương châm sống tích cực lạc quan, niềm tin hi vọng khi đứng trước những khó khăn, thử thách trong cuộc sống Phân biệt với AQ trong tinh thần, mơ tưởng hão huyền, thoát li siêu hình khỏi hiện thưc
Trang 32– Phê phán những người không có ý chí, tinh thần vượt khó, sống yếu đuối, cam chịu hoặc có những hành động việc làm nhằm thoát khỏi hoàn cảnh sống đen tối theo hướng tiêu cực
2 TỔNG HỢP LỖI CƠ BẢN CỦA HỌC SINH
Qua quá trình chấm, chữa bài, chúng tôi liệt kê được các dạng lỗi cơ bản của học sinh như sau:
2.1.Lỗi lập luận
2.1.1 Xác định chưa đúng hoặc chưa trúng trọng tâm của vấn đề
Xác định chưa đúngvấn đềlà lỗi nhận định đề sai, hỏi một đằng làm một nẻo,
là lỗi nặng nhất của bài văn học sinh giỏi Hoặc phần đầu xác định đúng, nhưng phần chốt lại sai vấn đề
Ở đây chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh đối với học sinh giỏi văn, cần phân biệt hai cấp độ đúng và trúng vấn đề Đa số học sinh giỏi đều xác định đúng nhưng
để xác định trúng vấn đề trọng tâm thì không phải học sinh nào cũng làm được Trên thực tế, khi tiếp nhận một đề bài, học sinh thường dễ mắc những sai lầm sau đây dẫn đến bài viết không xác định trúng trọng tâm của đề:
+ Đọc lướt – quen
+ Không bám vào từ ngữ, hình ảnh
+ Không xác định được từ khoá, không đặt trong ngữ cảnh
+ Đơn giản hoặc phức tạp hoá vấn đề
Trang 332.1.2 Hệ thống luận điểm chưa logic, rõ ràng
Trong thực tế, học sinh thường bỏ qua hoặc xem nhẹ khâu lập dàn ý mà thường nghĩ gì viết đấy Vì vậy, dẫn đến thiếu luận điểm, luận điểm không nổi bật vì bị lẫn vào những câu phân tích, lí giải ; một số học sinh thích diễn đạt rườm rà, cầu kì khiến luận điểm mơ hồ, thiếu chính xác
Ví dụ:
Ở đề 8 (bàn về Nhìn và Thấy): có một số học sinh mới chỉ bàn luận được
vấn đề Nhìn và vấn đề Thấy như hai vấn đề độc lâp với nhau mà chưa thể hiện được mối quan hệ giữa hai cách tiếp cận cuộc sống này:
+ Nhìn là cơ sở để thấy: không “nhìn”, không quan sát kết nối với đời sống,
con người; khả năng “thấy” sẽ bị vô hiệu hoá
+ Thấy giúp thay đổi điểm nhìn, góc nhìn, có được tầm nhìn
+ “Nhìn” và “thấy” cần đi đôi với nhau: “nhìn” mà không “thấy” là những người hời hợt, nông cạn; “thấy” không xuất phát từ “nhìn” là chủ quan, định
kiến, không đáng tin cậy
Đây là hiện tượng thiếu luận điểm khá quan trọng, khiến bài viết bị mất điểm rất đáng tiếc
2.1.3 Lí lẽ chưa xác đáng, thuyết phục
Trang 34Không ít học sinh đã tạo khoảng chân không lơ lửng giữa luận điểm và luận
cứ học sinh nêu luận điểm rồi dùng luôn dẫn chứng để minh hoạ Cách làm này khiến người đọc bài cảm thấy hụt hẫng, bài nghị luận xã hội sẽ nông cạn, thiếu
sự sắc sảo của lập luận, lí lẽ
Ví dụ:
* Đề bài:
Nữ diễn giả và hoạt động xã hội người Mĩ sinh năm 1997 Adora Svitak
khẳng định: “Những người trẻ đừng bao giờ chờ đợi đến lúc lớn, lúc học xong
mới có thể làm gì đó thay đổi thế giới”
Hãy đặt mình vào vị trí người đối thoại để tranh luận với diễn giả và bày tỏ quan điểm của cá nhân anh (chị) về lời khẳng định trên
* Bài làm của học sinh: trong phần bàn luận sau khi khẳng định tính đúng đắn của câu nói: cần vượt lên giới hạn của tuổi tác để thành công, để làm được những điều lớn lao, có ý nghĩa, đến luận điểm tiếp theo, học sinh đã viết:
“Nhưng bất kìsự việc, đối tượng nào cũng có hai mặt, tôi cho rằng quan
điểm của Adora Svitak còn thiếu một vế cần được khẳng định không kém: có phải sự chờ đợi lúc nào cũng không cần thiết? Không, “chờ đợi” nhiều khi có giá trị lắm! Tuổi trẻ giàu khao khát, nhiệt huyết nhưng cũng là tuổi non nớt, ít kinh nghiệm, thiếu sự từng trải Mà không có từng trải thì cũng như thép không được nung trong lửa, ngọc không được luyện mài, thô sơ, yếu ớt Sự thành công của “người tài không đợi tuổi” kia có phải chăng là thiểu số Bởi người trẻ nếu không có đủ già dặn để thấu hiểu lẽ đời, để nhìn nhận đúng sai thì chắc chắn sẽ
dễ vấp phải sai lầm đáng tiếc, thất bại khó đổi Vội vàng chi mà không chờ thêm đôi ba năm nữa để tôi luyện trong trường đười, để như đại bàng đủ lông cánh thì bay mới nhanh, thì thành công mới bền vững Cha ông ta đã nói: “gừng càng
Trang 35già càng cay” hẳn muốn khuyên con người nên đợi đến sự chín muồi của năng lực, sự trưởng thành của nhân cách mới bước đi và đi thật vững
(Trích bài viết của em N.T.L – lớp 11)
*Nhận xét:học sinh có ý thức về việc nhìn nhận vấn đề một cách đa chiều, không tuyệt đối hoá sức mạnh, vai trò của tuổi trẻ Tuy nhiên do lí lẽ chưa thuyết phục, thành ra người đọc có cảm giác luận điểm này phủ định lại chính luận điểm ban đầu, ý sau và ý trước không nhất quán
2.1.4.Lỗi chọn và phân tích dẫn chứng
Trong bài văn nghị luậnxã hội, dẫn chứng rất quan trọng, dẫn chứng hay, xác đáng cũng giống như nụ cười làm sáng bừng khuôn mặt Dẫn chứng phải tiêu biểu, cụ thể, chính xác, toàn diện, vừa đủ Thiếu dẫn chứng bài văn nghị luận sẽ khô khan, không thuyết phục, lập luận không chặt chẽ, bài làm đạt điểm không cao Tuy nhiên, học sinh thường mắc một số lỗi không đáng có trong quá trình chọn lọc, phân tích dẫn chứng như sau:
2.1.4.1 Lỗi chọn dẫn chứng
– Dẫn chứng sai: Lỗi này làm ảnh hưởng đến tính xác thực của văn bản Bài
viết không có dẫn chứng thì không có sức thuyết phục, dẫn chứng không chính xác thì cũng không có tác dụng gì Không ít bài viết trích dẫn chứng không chính xác, chẳng hạn như trích sai tên người, sai sự kiện, sai thời gian
Đây là những lỗi thường xuyên bắt gặp trong bài viết của các em, do sự bất cẩn, lơ đễnh; do chưa có sự chú ý, tinh tế trong quan sát, nhìn nhận thực tế
– Dẫn chứng mờ nhạt: Dẫn chứng không đặc sắc, không tiêu biểu sẽ không
làm sáng rõ được vấn đề cần nghị luận Với những đề bài mà phạm vi dẫn chứng rộng mở, học sinh càng phải tinh trong khâu chọn dẫn chứng, để dẫn chứng không vụn vặt, làm giảm sự thuyết phục của tất cả những lập luận, lí lẽ đi kèm
– Dẫn chứng không có tính mới: Dẫn chứng đã quá quen thuộc, đã nhàm,
không mới mẻ làm giảm đi tính hấp dẫn của văn bản nghị luận Ví dụ trong rất
Trang 36nhiều bài viết của học sinh mà chúng tôi chấm, mỗi khi cần lấy dẫn chứng về nghị lực vượt khó, học sinh chỉ biết đến tấm gương Trang nguyên Nguyễn Hiền, thầy Nguyễn Ngọc Ký
– Tỉ lệ, sắp xếp dẫn chứng không hợp lí: Trong bài có quá ít dẫn chứng dẫn
đến không đủ sức thuyết phục cho luận điểm Hoặc đưa quá nhiều dẫn chứng vào bài khiến bài văn lan man, sáo rỗng và không sâu sắc Có nhiều bài học sinh chỉ chọn một, hai dẫn chứng thực tế mà bỏ qua dẫn chứng văn học, hoặc chỉ chọn dẫn chứngvăn họcmà không chọn dẫn chứng thực tế, hoặc chỉ đưa dẫn chứng trong thời quá khứ mà không có dẫn chứng trong hiện tại
2.1.4.2 Lỗi trình bày và phân tích dẫn chứng
Học sinh chưa biết sắp xếp trình tự dẫn chứng cho hợp lí, logic, khoa học Học sinh đưa dẫn chứng theo lối liệt kê không phân tích, diễn giải dẫn chứng một cách tường minh vì vậy không không làm nổi bật được yêu cầu nghị luận: Cũng có nhiều học sinh có ý thức diễn giải, phân tích dẫn chứng đưa ra nhưng sự phân tích, diễn giải lại nông, sơ sài, hời hợt, hoặc chưa chỉ ra được giá trị, ý nghĩa thực sự của dẫn chứng ấy, chẳng khác nào “gãi gần chỗ ngứa” Kiểu phân tích ấy cũng sẽ không làm rõ cho lí lẽ và lập luận đưa ra
Học sinh kể lể dẫn chứng dài dòng như đang kể chuyện
Ví dụ:
* Ở đề 3:(bàn luận về định kiến), bài làm của học sinh khi nêu dẫn chứng
có viết:
“Những định kiến trong mình có thể là sự đánh giá, soi xét cuộc sống một
cách tiêu cực, thái quá, có phần ích kỷ và phi nhân văn Thời trung đại, con người, đặc biệt là nam giới, bậc quân tử thường có định kiến về người phụ nữ,
áp đặt cho họ những đạo tam tòng tứ đức hà khắc, cho họ cùng hạng với tiểu nhân, khó giáo hoá, giáo huấn Đó là những quan điểm thái độ sai lầm, lệch chuẩn.”
Trang 37Nhận xét: dẫn chứng về định kiến học sinh nêu ở đây là không phù hợp nếu không muốn nói là chưa chính xác Bởi “Tam tòng tứ đức” là đạo đức tốt đẹp của người phụ nữ xưa theo quan niệm Nho giáo, chứ không phải là định kiến, và đương nhiên, đạo đức ấy nâng cao giá trị của người phụ nữ trong xã hội phong kiến chứ không phải là minh chứng cho sự coi thường phụ nữ cùng hạng với tiểu nhân
*Ở đề 4: Thông điệp rút ra từ bài thơ Mặt trời và hạt sương
Trong phần bàn luận, học sinh có viết:
“Tôi đã từng đọc một bài báo nói về Jack-Ma – Chủ tịch Tập đoàn Alibaba,
là tỉ phú giàu nhất Trung quốc và được biết ông quyết định nghỉ hưu sớm bởi một lí do: “Tôi không muốn chết rũ trong văn phòng Tôi muốn chết trên bãi biển” Có mấy ai nhận ra ý nghĩa về những chân giá trị của cuộc sống đời thường như Jack-Ma? Hay có chăng, khi họ bắt đầu đi tìm “mặt trời” trong “hạt sương” đó thì “ hạt sương” của cuộc đời họ đã tan biến vào hư không và vĩnh viễn không quay trở lại Hay như Nguyễn Xuân Vinh được biết đến như một người học trò đáng tự hào nhất của Giáo sư Hồ Ngọc Đại không phải vì những bằng cấp anh đạt được mà bởi anh sống theo đam mê và ước muốn của bản thân: không đi du học hay làm những công việc lương cao, anh quyết định mở một gara sửa xe với châm ngôn: “mọi việc ở trên đời cứ vui là được” Bởi lẽ đó, nên theo tôi, câu trả lời cho câu hỏi “trong hạt sương ấy có bao nhiêu mặt trời?” tùy thuộc vào nhận thức và cách nghĩ củamỗi cá nhân Bản thân ta là người trực tiếp
đi tìm “mặt trời” ấy trong những “hạt sương” của cuộc đời mình chứ không phải một ai khác”
(Trích bài viết của em N.H.C – lớp 11)
Nhận xét: Đoạn văn này em đưa ra 2 dẫn chứng là Jack-Ma và Nguyễn Xuân
Vinh, tuy nhiên cách diễn giải dẫn chứng chưa bám sát thật sự vào vấn đề đang bàn luận là mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân và cộng đồng, mối quan hệ giữa những điều nhỏ bé với những điều lớn lao vĩ đại Em bị sa đà vào diễn giải
Trang 38về niềm vui của mỗi con người trong sự lựa chọn cuộc sống cho chính mình Vì vậy, dẫn chứng như vậy là không phù hợp, chưa thuyết phục
2.2 Lỗi về tư tưởng, lập trường, thái độ
Đây là lỗi rất nghiêm trọng trong một bài nghị luận xã hội Mặc dù lỗi này ít khi chúng ta bắt gặp nhưng không phải là không có Điều này xuất phát từ sự thiếu hiểu biết về đạo đức, chính trị xã hội cũng như sựnon yếu về lập trường tư tưởng Biểu hiện cụ thể của loại lỗi này như sau:
– Lập trường tư tưởng không rõ ràng, bàn luận theo lối nước đôi
– Cách đánh giá nhìn nhận vấn đề còn phiến diện, một chiều, thiếu sự bao quát, đầy đủ
– Tư tưởng không đúng đắn, thậm chí sai lệch, cổ xúy cho những tư tưởng xấu, phản động (rất ít)
2.3 Lỗi diễn đạt
Trong rất nhiều yếu tố làm nên một bài văn xuất sắc không thể không kể tới nghệ thuật diễn đạt Bên cạnh ý hay, lời đẹp sẽ góp phần tạo nên chất văn cho mỗi bài văn, gia tăng sức thuyết phục của bài viết
Trên thực tế, xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau mà khả năng diễn đạt của các em ở bài nghị luận xã hội còn rất nhiều hạn chế Xin đơn cử một vài khía cạnh mà học sinh hay mắc phải:
2.3.1 Diễn đạt khô khan, vụng về
Điều này thể hiện trước hết là lối viết bản năng, có gì nói nấy, nghĩ đâu viết
đó, câu nào đến đầu tiên trong đầu thì viết ra, không cần phải công phu lựa chọn, chẳng tuân theo một chuẩn mực nào Khi viết văn học sinh cũng hay rơi vào tâm
lí chú ý tới ý hơn là lời, cố gắng viết đúng, viết đủ ý mà chưa có ý thức diễn đạt sao cho hay hơn Ngược lại, việc lời không theo kịp ý cũng làm cho học sinh rất lúng túng trong diễn ngôn
Trang 39Đây là hiện tượng khi học sinh có vốn từ ngữ phong phú và khả năng diễn ngôn tốt, nhưng nếu không cẩn thận thì lại dễ rơi vào tình trạng diễn đạt đao to búa lớn, phóng túng hoặc quá đánh bóng đưa đẩy – nghĩa là lấy lời mà lấp đi những hạn hẹp về ý, bình tán làm mất đi độ chắc chắn của bài nghị luận
Ví dụ: Ở đề 5 (Bàn về ham muốn tầm thường và khát vọng sống cao đẹp),
học sinh có đoạn viết:
“Chao ôi, sự sống của con người sẽ mãi mãi bị chìm vào trong những ham
muốn tầm thường, chết dần chết mòn nếu con người sống chỉ đểthoả mãn lòng
ích kỷ cho mình, sẵn sàng để cho cuộc đời trôi về những lãnh địa không tồn tại
sự sống Đó là khi ta để cho ta tồn tại – “chết ở tuổi 25 nhưng đến 75 mới được
chôn” (Flanklin) Ta không thể trưởng thành, thậm chí chết chìm trong sự buông thả, loạn lạc ”
(Trích bài làm của em N.H.C – học sinh lớp 11)
Nhận xét: Lời văn có cảm xúc, thể hiện quan điểm rất rõ ràng của người viết
về lối sống chạy theo những ham muốn tầm thường Tuy nhiên, cách diễn đạt có phần gay gắt, lời lẽ đao to búa lớn mà lại chưa bám sát vào vấn đề đang bàn luận
(lãnh địa không tồn tại sự sống)
2.3.3 Diễn đạt chung chung, không rõ ràng, cụ thể quan điểm
Có học sinh trong mọi trường hợp, chỉ diễn đạt ý phản biện bằng một câu duy nhất: “Trong một số trường hợp, ý kiến trên chưa thật chính xác”
Có học sinh khi phản biện ý kiến “Bị đánh bại chỉ là nhất thời, bỏ cuộc mới
là thất bại vĩnh viễn” đã diễn đạt: “Trong cuộc sống con người cũng cần học
cách từ bỏ” Khi thảo luận, thậm chí các em còn không nhận ra mình bị mắc lỗi diễn đạt ở phản biện Đó là lỗi diễn đạt chung chung, ý phản biện sẽ đứng vững khi người viết khái quát được trong những trường hợp nào của cuộc sống, ý kiến trên chưa thật xác đáng Việc diễn đạt chung chung như thế dễ trở thành “vơ đũa