Mục tiêu nghiên cứu: Để chứng minh được bản chất của con người trong triết học,thông qua phân tích vấn đề cơ bản của triết học phạm trù vật chất và ý thức, tính thống nhất vật chất của
Trang 11
3
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI TP HỒ CHÍ MINH KHOA
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
LÝ LUẬN VỀ CON NGƯỜI VÀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC MÁC- LÊNIN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC RÈN LUYỆN NHÂN CÁCH CỦA SINH
VIÊN HIỆN NAY
NGUYỄN HỮU THUẬN– 20H4030308 - 005105
Giảng viên hướng dẫn: ThS/TS Vũ Ngọc Lanh
Thành phố Hồ Chí Minh – 2021
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG I: MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu 1
3 Phương pháp nghiên cứu 2
4 Kết cấu tiểu luận 2
CHƯƠNG II: NỘI DUNG 2
1.Quan ni ệm về con người trong Triết học trước Mác 1.1 Quan niệm về con người trong Triết học phương Tây 2
1.2 Quan niệm về con người trong Triết học phương Đông 4
2 Quan niệm về con người trong triết học Mác – Lênin 2.1 Con người là sự thống nhất giữa hai mặt sinh học và xã hội 5
2.2 Con người là chủ thể sinh động nhất của xã hội 7
2.3 Bản chất con người 8
3 Ý nghĩa của của triết học Mác-Lênin đối với việc rèn luyện nhân cách siên viên 10
CHƯƠNG III: KẾT LUẬN 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 31
MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài:
Con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhau như sinh vật học, tâm lý học, đạo đức học, y học Nghiên cứu về con người là một vấn đề không hề mới lạ nhưng lại xoay quanh nhiều khía cạnh tùy thuộc vào đặc điểm của mỗi ngành khoa học
Con người cũng là mục tiêu cơ bản của sự phát triển xã hội để đảm bảo cho xã hội phát triển vấn đề xây dựng con người giữ được một vai trò hết sức quan trọng và luôn thường trực
Ở Việt Nam vấn đề con người cũng luôn là một vấn đề thời đại và đang được nhiều ngành khoa học, nhiều cá nhân đặc biệt quan tâm, nhất là vấn đề xây dựng con người từ khi con trong ghế Nhà trường đối với học sinh sinh viên Chính vì những lí do đó em quyết định chọn đề tài tiểu luận “Lý luận về con người và bản chất con người trong triết học Mác - Lênin và ý nghĩa của
nó đối với việc rèn luyện nhân cách của sinh viên hiện nay”
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Để chứng minh được bản chất của con người trong triết học,thông qua phân tích vấn đề cơ bản của triết học phạm trù vật chất và ý thức, tính thống nhất vật chất của thế giới Hình thành nguyên tắc khách quan, tránh thái độ chủ quan trong nhận thức cũng như trong thực tiễn
Cơ sở giải quyết theo quan điểm duy vật biện chứng đối với vấn đề cơ bản của triết học Đó là điều kiện tiên quyết để nghiên cứu toàn bộ hệ thống quan điểm khoa học của chủ nghĩa Mác- Lênin
3 Phương pháp nghiên cứu:
Tiểu luận được viết nhờ trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin với phương pháp logic lịch sử, hệ thống hóa, phân tích tổng hợp và liên
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)
Trang 4hệ thực tiễn
4 Kết cấu đề tài:
Gồm các chương:
Chương 1 Mở đầu: Phần này trình bày nội dung sự cần thiết, lý do chọn
đề tài và các phương pháp nghiên cứu đề tài
Chương 2 Nội dung: Chương này trình bày cơ sở lý luận triết học Mác –
Lê nin về con người, quan điểm về con người
Chương 3 Kết luận: Từ những phân tích đưa ra kết luận chung cho toàn
bộ đề tài nghiên cứu, khẳng định những kết quả đạt được trong đề tài nghiên cứu và đề xuất hướng một số hướng nghiên cứu trong thời gian tới
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG
1.Quan ni ệm về con người trong triết học trước Mác
1.1 Quan ni ệm về con người trong triết học phương Tây:
Các trường phái triết học tôn giáo phương Tây, đặc biệt là Kitô giáo, nhận
thức vấn đề con người trên cơ sở thế giới quan duy tâm, thần bí Theo Kitô giáo, cuộc sống con người do đấng tối cao an bài, sắp đặt Con người về bản
chất là kẻ có tội Con người gồm hai phần: thể xác và linh hồn Vì vậy, phải thường xuyên chăm sóc phần linh hồn để hướng đến Thiên đường vĩnh cửu Trong triết học Hy Lạp cổ đại, con người được xem là điểm khởi đầu của
tư duy triết học Con người và thế giới xung quanh là tấm gương phản chiếu
lẫn 2 nhau Quan niệm của Arixtốt về con người, cho rằng chỉ có linh hồn, tư duy, trí nhớ, ý trí, năng khiếu nghệ thuật là làm cho con người nổi bật lên, con người là thang bậc cao nhất của vũ trụ Khi đề cao nhà nước, ông xem con người là “một động vật chính trị”
Như vậy, triết học Hy Lạp cổ đại bước đầu đã có sự phân biệt con người
v ới tự nhiên, nhưng chỉ là hiểu biết bên ngoài về tồn tại con người
Trang 53
Triết học Tây Âu trung cổ xem con người là sản phẩm của Thượng đế sáng tạo ra Mọi số phận, niềm vui, nỗi buồn, sự may rủi của con người đều do Thượng đế xếp đặt Trí tuệ con người thấp hơn lý chí anh minh sáng suốt của Thượng đế Con người trở nên nhỏ bé trước cuộc sống nhưng đành bằng lòng
với cuộc sống tạm bợ trên trần thế, vì hạnh phúc vĩnh cửu là ở thế giới bên kia Triết học thời kỳ phục hưng - cận đại đặc biệt đề cao vai trò trí tuệ, lý tính của con người, xem con người là một thực thể có trí tuệ Tuy nhiên, để nhận thức đầy đủ bản chất con người cả về mặt sinh học và về mặt xã hội thì chưa có trường phái nào đạt được Con người mới chỉ được nhấn mạnh về mặt cá thể
mà xem nhẹ mặt xã hội
Trong triết học cổ điển Đức, những nhà triết học nổi tiếng như Cantơ, Hêghen đã phát triển quan niệm về con người theo khuynh hướng chủ nghĩa duy tâm Hêghen, với cách nhìn của một nhà duy tâm khách quan, thông qua
sự vận động của “ý niệm tuyệt đối”, đã cho rằng, con người là hiện thân của “ý
niệm tuyệt đối” Bước diễu hành của “ý niệm tuyệt đối” thông qua quá trình tự
ý thức của tư tưởng con người đã đưa con người trở về với giá trị tinh thần, giá
trị bản thể và cao nhất trong đời sống con người Hêghen cũng là người trình bày một cách có hệ thống về các quy luật của quá trình tư duy của con người, làm rõ cơ 3 chế của đời sống tinh thần cá nhân trong mọi hoạt động của con người
1.2 Quan ni ệm về con người trong triết học phương Đông
Từ thời kỳ cổ đại, các trường phái triết học đều tìm cách lý giải vấn đề bản chất con người, quan hệ giữa con người đối với thế giới xung quanh Các trường phái Triết học - tôn giáo phương Đông như Phật giáo, Hồi giáo nhận thức bản chất con người trên cơ sở thế giới quan duy tâm, thần bí hoặc nhị nguyên luận Trong triết học Phật giáo, con người là sự kết hợp giữa danh và sắc (vật chất và tinh thần) Đời sống con người trên trần thế chỉ là ảo giác, hư vô Vì vậy, cuộc đời con người khi còn sống chỉ là sống gửi, là tạm
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)
Trang 6bợ Cuộc sống vĩnh cửu là phải hướng tới cõi Niết bàn, nơi tinh thần con người được giải thoát để trở thành bất diệt
Như vậy, dù bị chi phối bởi thế giới quan duy tâm hoặc nhị nguyên, suy đến cùng, con người theo quan niệm của các học thuyết tôn giáo phương Đông đều phản ánh sai lầm về bản chất con người, hướng tới thế giới quan thần linh Trong triết học phương Đông, với sự chi phối bởi thế giới quan duy tâm hoặc duy vật chất phác, biểu hiện trong tư tưởng Nho giáo, Lão giáo, quan niệm về bản chất con người cũng thể hiện một cách phong phú Vì vậy, phải thông qua
tu dưỡng, rèn luyện để giữ được đạo đức của mình
Triết học Tuân Tử lại cho rằng bản chất con người khi sinh ra là ác, nhưng
có thể cải biến được, phải chống lại cái ác ấy thì con người mới tốt được Trong triết học phương Đông, còn có quan niệm duy tâm cho rằng trời và con người còn có thể hoà hợp với nhau (thiên nhân hợp nhất) Đổng Trọng Thư, một người kế thừa Nho giáo theo khuynh hướng duy tâm cực đoan quan niệm rằng trời và con người có thể thông hiểu lẫn nhau (thiên nhân cảm ứng) Nhìn chung, đây là quan điểm duy tâm, quy cuộc đời con người vào vai trò quyết định của “thiên mệnh”
Có thể nói rằng, với nhiều hệ thống triết học khác nhau, triết học phương Đông biểu hiện tính da dạng và phong phú, thiên về vấn đề con người trong mối quan hệ chính trị, đạo đức Nhìn chung, con người trong triết học phương Đông biểu hiện yếu tố duy tâm, có pha trộn tính chất duy vật chất phác ngây thơ trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội
2 Quan niệm triết học Mác-Lênin về con người:
2.1 Con người là sự thống nhất giữa hai mặt sinh học và xã hội:
Con người là một thực thể thống nhất giữa mắt sinh vật với mặt xã hội Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học, đồng thời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội
Trang 75
Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người là sản phẩm của giới tự nhiên Con người tự nhiên là con người mang tất cả bản tính sinh học, tính loài Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người Vì vậy, giới tự nhiên là “thân thể vô cơ của con người” Con người là một bộ phận của tự nhiên
Con người là sản phẩm của giới tự nhiên, song con người không hoàn toàn phụ thuộc và giới tự nhiên mà đã vươn lên, tách xa thế giới động vật, trở thành con người của xã hội, sáng tạo ra lịch sử Với vai trò là chủ thể của lịch sử con người phải được tự do, hạnh phúc, phải được phát triển các khả năng của mình
Vi vậy, một vấn đề đã và đang đặt ra là các quốc gia nói riêng, nhân loại nói chung, phải coi con người là mục tiêu của sự phát triển của xã hội
Là động vật cao cấp nhất, tinh hoa của muôn loài, con người là sản phẩm của quá trình phát triển hết sức lâu dài của thế giới tự nhiên Con người phải tìm mọi điều kiện cần thiết cho sự tồn tại trong đời sống tự nhiên như thức ăn, nước uống, hang động để ở Đó là quá trình con người đấu tranh với thiên nhiên Như vậy con người trước hết là một tồn tại sinh vật, biểu hiện trong những cá nhân con người sống, là tổ chức cơ thể của con người Những thuộc tính, những đặc điểm sinh học, quá trình tâm – sinh lý, các giai đoạn phát triển khác nhau nói lên bản chất sinh học của cá nhân con người Tuy nhiên, cần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải yếu tố duy nhất quyết định bản chất con người Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giới loài vật là mặt xã hội Trong lịch sử đã có những quan niệm khác nhau phân biệt con người với loài vật, như con người là động vật sử dụng công cụ lao động, là “một động vật có tính xã hội”, hay con người là động vật có tư duy… Những quan niệm này đều phiến diện chỉ vì nhấn mạnh một khía cạnh nào đó trong bản chất con người mà chưa nêu lên được nguồn gốc bản chất xã hội ấy
Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn đề con người một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của nó,
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)
Trang 8mà trước hết là vấn đề lao động sản xuất ra của cải vật chất
C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu lên vai trò của lao động sản xuất ở con người: “Có thể phân biệt con người với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được Bản thân con người bắt đầu bằng việc tự phân biệt với súc vật ngay từ khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình - đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như vậy, con người đã gián tiếp sản xuất ra đời sống vật chất của mình”
Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con người đã làm thay đổi, cải biến toàn bộ giới tự nhiên Thông qua hoạt động sản xuất, con người tạo ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy; xác lập quan hệ xã hội Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách
cá nhân trong cộng đồng xã hội Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên con người luôn luôn bị quyết định bởi ba hệ thống quy luật khác nhau, nhưng thống
nhất với nhau Hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật về sự phù hợp cơ
thể với môi trường, quy luật về sự trao đổi chất, về di truyền, biến dị, tiến
hóa…quy định phương diện sinh học của con người Hệ thống các quy luật tâm
lýý thức hình thành và vận động trên nền tảng sinh học của con người như hình
thành tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí Hệ thống các quy luật xã hội quy
định quan hệ xã hội giữa người với người
Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động tạo nên thể thống nhất trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội Mối quan hệ giữa sinh học và xã hội là cơ sở để hình thành hệ thống các nhu cầu sinh học và nhu cầu
xã hội trong đời sống con người như nhu cầu ăn, mặc, ở; nhu cầu tái sản xuất
xã hội; nhu cầu tình cảm; nhu cầu thẩm mỹ và hưởng các giá trị tinh thần Với phương pháp duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệ giữa mặt sinh học với mặt xã hội cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong mỗi con người là thống nhất Nhu cầu sinh học phải được nhân hóa để mang giá trị văn
Trang 97
minh con người, và đến lượt nó, nhu cầu xã hội không thể thoát ly khỏi tiền đề của nhu cầu sinh học Hai mặt trên thống nhất với nhau, hòa quyện vào nhau
để tạo thành con người viết hoa, con người tự nhiên – xã hội
2.2 Con người là chủ thể sinh động nhất của xã hội:
Sự “sinh động” ở đây có nghĩa là con người có thể chinh phục tự nhiên, cải tạo tự nhiên Tuy rằng con người đã bỏ xa giới động vật trong quá trình tiến hoá nhưng như thế không có nghĩa là con người đã lột bỏ tất cả những cái tự nhiên để không còn một sự liên hệ nào với tổ tiên của mình Con người là sản phẩm tự nhiên, là kết quả của quá trình tiến hoá lâu dài của giới hữu sinh, đã là con người thì phải trải qua giai đoạn sinh trưởng, tử vong, mỗi con người đều
có nhu cầu ăn, mặc ở, sinh hoạt Song con người không phải là động vật thuần tuý như các động vật khác mà xét trên khía cạnh xã hội thì con người là động vật có tính xã hội Con người chỉ có thể tồn tại được khi tiến hành lao động sản xuất của cải vật chất để thoả mãn nhu cầu mình và chính lao động sản xuất là yếu tố quyết định hình thành con người và ý thức Lao động là nguồn gốc duy nhất của vật chất, vật chất quyết định tinh thần theo logic thì lao động là nguồn gốc của văn hoá vật chất và tinh thần
Mặt khác trong lao động con người quan hệ với nhau trong lĩnh vực sản xuất, đó là những quan hệ nền tảng để từ đó hình thành các quan hệ xã hội khác trong các lĩnh vực đời sống và tinh thần
Chính vì con người là sản phẩm của tự nhiên và xã hội cho nên con người chịu sự chi phối của môi trường tự nhiên và xã hội cùng các quy luật biến đổi
của chúng Các quy luật tự nhiên như quy luật về sự phù hợp giữa cơ thể và
môi trường, quy luật về quá trình trao đổi chất tác động tạo nên phương diện
sinh học của con người Các quy luật tâm lý, ý thức hình thành và hoạt động
trên nền tảng sinh học của con người hình thành tư tưởng tình cảm khát vọng
niềm tin, ý chí Các quy luật xã hội quy định mối quan hệ giữa người với người,
điều chỉnh hành vi của con người Hệ thống các quy luật trên cũng tác động lên con người, tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnh giữa sinh học cái xã hội trong
Downloaded by tran quang (quangsuphamhoak35@gmail.com)
Trang 10con người
Với tư cách là con người xã hội, là con người hoạt động thực tiễn con người sản xuất và của cải vật chất, tác động vào tự nhiên để cải tạo tự nhiên, con người là chủ thể cải tạo tự nhiên Như vậy con người vừa do tự nhiên sinh
ra, bị phụ thuộc vào tự nhiên vừa tác động vào tự nhiên Tuy nó là sản phẩm của tự nhiên Một điều chắc chắn rằng có con người chỉ có thể thống trị tự nhiên nếu biết tuân theo và nắm bắt các quy luật của chính bản thân đó Quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng tạo ra lịch sử cho mình Con người không những
là sản phẩm của xã hội mà con người còn là chủ thể cải tạo chúng Bằng mọi hoạt động lao động sản xuất con người sáng tạo ra toàn bộ nền văn hoá vật chất, tinh thần Bằng hoạt động cách mạng Nếu không có con người với tư cách là chủ thể sinh động nhất của xã hội thì không thể có xã hội, không thể có
sự vận động của xã hội mà vượt lên tất cả chính là của cải vật chất
2.3 Bản chất con người:
Chủ nghĩa xã hội do con người và vì con người Do vậy, hình thành mới quan hệ đúng đắn về con người về vai trò của con người trong sự phát triển xã hội nói chung, trong xã hội chủ nghĩa nói riêng là một vấn đề không thể thiếu được của thế giới quan Mác - Lênin
Từ những quan niệm đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, con người vượt lên thế giới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệ với tự
nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người Cả ba mối quan hệ đó, suy đến cùng, đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội giữa người với người là quan hệ bản chất, bao trùm tất cả các mối quan hệ khác và mọi hoạt động trong chừng mực liên quan đến con người Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội" Con người là sự kết hợp giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội nên Mác nhiều lần đã so sánh con người với con vật, so sánh con người với những con vật có bản năng gần giống với con người Và để tìm ra sự khác biệt đó Mác đã chỉ ra sự khác biệt ở nhiều chỗ như chỉ có con người làm ra tư liệu sinh hoạt của mình, con người