1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI GIẢNG LỊCH SỬ ĐẢNG - CHUYÊN ĐỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI VIỆT NAM VÀ PHONG TRÀO YÊU NƯỚC VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX, ĐẦU THẾ KỶ XX

35 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình Hình Kinh Tế Xã Hội Việt Nam Và Phong Trào Yêu Nước Việt Nam Cuối Thế Kỷ XIX, Đầu Thế Kỷ XX
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Lịch Sử
Thể loại Bài Giảng
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 147,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Hiểu được quá trình phát triển và giai đoạn suy vong dẫn đến tất yếu bị thất bại của giai cấp phong kiến Việt Nam chống lai tên đế quốc xâm lược là thực dân Pháp - Thấy được nguyên nhân và tính chất của sự biến đổi xã hội và giai cấp ở Việt Nam từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta (và những biến đổi sâu sắc về tính chất xã hội và giai cấp ở nước ta) - Nhận thức được nguyên nhân thất bại của các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Mục đích, yêu cầu

- Hiểu được quá trình phát triển và giai đoạn suy vong dẫn đến tất yếu bịthất bại của giai cấp phong kiến Việt Nam chống lai tên đế quốc xâm lược làthực dân Pháp

- Thấy được nguyên nhân và tính chất của sự biến đổi xã hội và giai cấp ởViệt Nam từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta (và những biến đổi sâu sắc vềtính chất xã hội và giai cấp ở nước ta)

- Nhận thức được nguyên nhân thất bại của các phong trào yêu nướcchống thực dân Pháp xâm lược

2 Nội dung: 2 phần

I> Tình hình xã hội Việt Nam trước khi thực dân Pháp xâm lược

II> Các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược

Trọng tâm là phần 2

3 Thời gian: 5 tiết

4 Phương pháp: Thuyờ́t tŕnh quy nạp, diễn giải, so sánh, đồng đại, lịch

đại

5 Tài liệu

1- Đại cương lịch sử Việt Nam, tập I, tập II, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 20002- Lịch sử Việt Nam 1897-1918, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 19993- Lịch sử Việt Nam, tập 1 - sơ thảo tr 121-140

4- Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, 2

Trang 2

I Tình hình xã hội Việt Nam trước khi thực dân Pháp xâm lược

1 Thời kỳ chế độ phong kiến Việt Nam phát triển (thế kỷ thứ X đến thế

kỷ XV)

Là thời kỳ giai cấp phong kiến Việt Nam giữ vai trò tích cực trong lịch sử,lãnh đạo nhân dân đánh đuổi ngoại xâm giành độc lập dân tộc, xây dựng củng cốchế độ phong kiến tập quyền mang đậm ý thức dân tộc, xây dựng và bảo vệ đấtnước, đưa nước ta phát triển đến đỉnh cao, thế kỷ XV là nước cường thịnh nhấttrong khu vực Nam Trung Quốc

- Thế kỷ X, dưới thời Khúc - Ngô - Đinh - Tiền Lê, các triều đại lãnh đạo

nhân dân ta củng cố nền độc lập mới giành được, tạo ra một bước tiến quan trọngtrên con đường khẳng định nền độc lập dân tộc Tuy còn đơn giản nhưng đây làbước quá độ sang thời kỳ phát triển ổn định theo hướng phong kiến tập quyềnngày càng vững chắc, mang đậm ý thức dân tộc

+ Từ năm 905, Khúc Thừa Dụ lãnh đạo nhân dân ta đánh đổ chính quyền

đô hộ nhà Đường, làm chủ đất An Nam Ông quyết định củng cố những thànhquả của cuộc khởi nghĩa Kế nghiệp cha, năm 907, Khúc Hạo tiến hành cải cáchnhiều mặt nhằm xây dựng một quốc gia độc lập, tự chủ, thoát dần ảnh hưởng và

sự khống chế của các thế lực thống trị phương Bắc

+ Trong thế kỷ X, các triều đại sau họ Khúc (905-930), đến Dương ĐìnhNghệ (931-937), họ Ngô (939-944), Đinh - Tiền Lê (968-1009) vừa xây dựngtriều chính, xây dựng đất nước về mọi mặt (như lấy Cổ Loa làm kinh đô - NgôQuyền, rồi lấy Hoa Lư làm kinh đô - thời Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại

Cồ Việt), đồng thời chuẩn bị đất nước lãnh đạo nhân dân đánh quân Nam Hánxâm lược (Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền lãnh đạo), dẹp loạn 12 sứ quân (Đinh

Bộ Lĩnh), rồi lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Tống (981) thắng lợi, bảo vệvững chắc thành quả đấu tranh và xây dựng

Trang 3

Thời Đinh - Tiền Lê, kinh tế nước ta phát triển cả về nông nghiệp cho đếncông thương nghiệp khá đều đặn và ngày càng đa dạng, nó tạo điều kiện nângcao đời sống nhân dân, vừa củng cố nhà nước trung ương tập quyền, vừa nângcao sức chiến đấu của nhà nước Đinh - Tiền Lê Về quân sự chú trọng xây dựngchế độ “ngụ binh ư nông”.

Tuy nhiên cuối triều Tiền Lê, Lê Long Đĩnh lơ là việc nước, triều chính đổnát, lòng người chán nản 11/1009, Lê Long Đĩnh chết, Lý Công Uẩn nên ngôivua lãnh đạo đất nước bước sang thời kỳ mới

- Thế kỷ XI-XII, dưới thời Lý cầm quyền 216 năm (1009-1226) đã có nhiều

chính sách tích cực, toàn diện (cả về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội) đã đưađất nước phát triển đạt đến đỉnh cao của sự thịnh trị

Sử cũ khen Nhân Tông (1072-1127) “là người sáng suốt khôn ngoan, nhânhiền, hiếu nghĩa Vua nghe lời can dán, cầu kẻ hiền tài, ít tạp dịch, thuế khoánhẹ Bấy giờ nước lớn phải sợ; nước nhỏ phải mến, thần giúp người theo, dân thìđông giàu, mình thì thái bình Thực là ông vua giỏi ở triều Lý.”

Lý Công Uẩn lên ngôi vua năm 1009 thì tháng 8/1010, ông cho dời đô từHoa Lư ra Thăng Long Trong bài Chiếu có đoạn: “ Chỉ vì muốn đóng đô ở trungtâm mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu, trên vâng mệnh trời,dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi Cho nên vận nước lâu dài,phong tục phồn thịnh được cái thế rồng cuộn hổ ngồi Đã đúng ngôi Nam, Bắc,Đông, Tây lại tiện hướng nhìn ra sông, tựa núi Địa thế rộng mà bằng đất đai cao

mà thoáng Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ, ngập lụt, muôn vật rất mực phongphú, tốt tươi Xem khắp đất Việt ta chỉ nơi này là thắng địa Thật là chốn hội tụtrọng yếu của bốn phương đất nước, cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vươngmuôn đời.” -> Lý Công Uẩn nhìn xa trông rộng, tính kế lâu dài cho sự phát triểnđất nước phồn vinh

Trang 4

Năm 1054, Lý Thái Tông đổi tên nước là Đại Việt Thời Lý chăm lo củng

cố chính quyền Mô hình tổ chức triều đình ngày càng hoàn thiện Chính quyềnđịa phương các cấp được cải tổ tài chính có quy mô lớn đã góp phần quan trọngtrong công cuộc quản lý toàn diện đất nước Quân đội được biên chế tổ chức chặtchẽ, thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông” để duy trì quân đội đông mà ít tốnkém Lý Thái Tông (1042) cho làm luật pháp khéo tổ chức bảo vệ miền biêngiới phía Bắc, mở mang bờ cõi phía Nam

Nhà Lý khuyến khích đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp đãđưa lại cho cư dân đòi sống tương đối ổn định Tổ chức kháng chiến chống Tống,chủ động tiên phát chế nhân và tiếp tục đánh tan quân Tống sang xâm lược nước

ta trên phòng tuyến sông Như Nguyệt (18/1/1077) do Lý Thường Kiệt chỉ huy

Rõ ràng dới triều Lý, giai cấp phong kiến Việt Nam giữ vai trò lịch sử,tích cực Tuy nhiên từ đời Anh Tông (1138-1175) về sau thì chính sự bị sút kém,các vua lên ngôi đều nhỏ tuổi, chết yểu, quyền hành nắm trong tay ngoại thích

mà không ít là bọn mọt nước hại dân, lộng hành, tham bạo tạo mầm mống chocác cuộc nổi dậy, gây loạn

Trước hoàn cảnh đất nước sinh biến, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi hoàng

đế cho chồng là Trần Cảnh Vương triều Lý chấm dứt sau 216 năm cầm quyền

- Từ thế kỷ XIII đến XV, nước Đại Việt dưới thời Trần - Hồ

+ Quốc gia Đại Việt dưới thời Trần có nhiều thay đổi sâu sắc Nhà Trần đãchú trọng củng cố chính quyền quý tộc phát triển mạnh, vững vàng, năng động,tạo ra một nền thống trị ổn định

+ Về kinh tế, nhà Trần có nhiều đóng góp cho sự phát triển, có nhiều biệnpháp tích cực phục hồi, phát triển sản xuất, phát triển kinh tế toàn diện Đặc biệt

là chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, mở rộng diện tích canh tác,phát triển ngành nghề

Trang 5

+ Về bảo vệ nền độc lập, nhà Trần đã lãnh đạo nhân dân ta 3 lần khángchiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên thắng lợi, bảo vệ vững chắc nền độclập, thống nhất nước nhà (kháng chiến lần I - 1258,, lần II- 1285; lần III- 1288).

Ba lần chiến thắng quân Nguyên - Mông là một bản anh hùng ca bất diệt, mộtniềm tự hào to lớn của dân tộc

+ Nhưng bước sang thế kỷ XIV, triều Trần dưới sự chủ trì của vua Trần

Dụ Tông, đất nước khủng hoảng, dòng họ Trần không còn khả năng khôi phục

uy tín, trong nước nhân dân khổ cực, triều chính rối ren, giặc ngoài lăm le xâmlược Trong bối cảnh đó Hồ Quý Ly hoán ngôi vua Trần, lập triều Hồ (1400)

+ Dưới triều đại nhà Hồ, thế kỷ XV, Hồ Quý Ly thực hiện một cuộc cảicách toàn diện từ chính trị đến kinh tế, tài chính, văn hoá, giáo dục, xã hội đểcứu vãn tình thế đặc biệt khó khăn và phức tạp của đất nước lúc đó

Ông dự định xoá bỏ đặc quyền và thế lực của quý tộc Trần, xây dựng mộtnhà nước quan liêu không đẳng cấp, quyền lực tập trung vào nhà nước để giảiquyết những khó khăn trong nước và chống giặc ngoài Cải cách tài chính, thaydùng tiền đồng bằng tiền giấy, cải cách giáo dục, văn hoá xã hội Những cải cáchcủa ông trong tình thế cấp bách đã gây ra những xáo trộn, mâu thuẫn nội bộ, ảnhhưởng đến ý thức đoàn kết dân tộc Nhưng dù sao Hồ Quý Ly vẫn là một nhà cảicách lớn đầu tiên trong lịch sử nước ta, và những cải cách của ông khiến ngườiđời sau, các nhà nghiên cứu phải suy ngẫm

+ Quân Minh xâm lược nước ta (1405-6/1407), nhà Hồ thất trận, đất nước

bị đô hộ

- Đại việt ở thế kỷ thứ XV- thời Lê sơ

+ Lê Lợi lãnh đạo khởi nghĩa đánh đuổi xong quân Minh, đất nước thanhbình, ông lên ngôi hoàng đế (24/4/1428), lấy kinh đô là Thăng Long, lấy tênnước là Đại Việt, bước vào thời kỳ khôi phục đất nước

Trang 6

Thời Lê sơ qua các đời vua Thái Tổ (14281433), Thái Tông (1434 1442), Nhân Tông (1443 - 1459), Thánh Tông (1460-1497), Hiến Tông (1497 -1503), Đại Việt được phục hồi và phát triển đất nước lên một đỉnh cao mới trêntất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục

-Chế độ đô hộ nhà Minh và cuộc chiến tranh giải phóng đã tàn phá nghiêmtrọng nền kinh tế đất nước vốn đã suy yếu cuối đời Trần Đất nước thanh bình,nhà nước thời Lê sơ đã hợp sức cùng nhân dân nhanh chóng khôi phục kinh tế,hàn gắn vết thương chiến tranh, sau đó đưa nền kinh tế phát triển lên một giaiđoạn mới ở nửa sau thế kỷ XV

Những sự thay đổi về kinh tế, chính trị đã làm thay đổi cơ cấu giai cấptrong xã hội và phát triển mạnh văn hoá (xã hội có 2 giai cấp chính: điạ chỉphong kiến và nông dân, tầng lớp thợ thủ công và thương nhân ngày càng đôngđảo, xoá bỏ nô tỳ)

-> Với sự nỗ lực của nhân dân và nhà nước nền độc lập và thống nhất cảuĐại Việt được củng cố Đại Việt là nước cường thịnh nhất ở khu vực Nam TrungQuốc

Tóm lại: Thế kỷ X đến XV, giai cấp phong kiến Việt Nam có vai trò tích

cực trong lịch sử, đã lãnh đạo đất nước không ngừng củng cố nền độc lập, xâydựng phát triển đất nước cường thịnh trong khu vực

2 Thời kỳ chế độ phong kiến tập quyền Việt Nam (thế kỷ XVI - XIX)

- Từ thế kỷ XVI - XVIII, châu Âu và một phần châu Mỹ chuyển biếncách mạng từ xã hội phong kiến lỗi thời sang xã hội tư bản (như cách mạng HàLan, cách mạng Anh - 1640, cách mạng Pháp - 1789, cách mạng Mỹ - 1776 )

- Ở phương Đông nói chung, ở Việt Nam nói riêng chế độ phong kiến vẫncòn tồn tại

Trang 7

- Ở Việt Nam, chế độ phong kiến đã phát triển đến đỉnh cao trong các thế

kỷ trước (X-XV) và bước sang giai đoạn mới trở nên lỗi thời, lạc hậu, suy tàn.Biểu hiện cụ thể là:

+ Suốt trong thế kỷ XVI-XVIII, đất nước bị chia cắt (Đàng Trong, Đàng

Ngoài), các cuộc chiến tranh liên miên (chiến tranh Nam - Bắc triều giữa nhàMạc với nhà Lê; chiến tranh Trịnh - Nguyễn; hàng loạt các cuộc khởi nghĩa củanông dân nổ ra ) Đất nước khủng hoảng trầm trọng

Về kinh tế: nông nghiệp suy sụp nghiêm trọng do chế độ sở hữu ruộng đấtphát triển lấn át ruộng công, phá sản chính sách công điền, thu hẹp ruộng cônglàng xã, ruộng hoang hoá nhiều do chiến tranh Tuy có một số lĩnh vực kinh tếphát triển như khai thác kim loại, phát triển nhanh, mạnh mẽ; thương nghiệp pháttriển khá mạnh cả nội địa và ngoại thương (buôn bán với Trung Quốc, Gia -Va,Xiêm là bạn hàng cũ, mở rộng buôn bán với bạn hàng mới: Nhật, Bồ Đào Nha,

Hà Lan, Pháp, Anh

Một số lĩnh vực phát triển như trên nhưng Đại Việt không tạo ra được sựphát triển mạnh mẽ, liên tục của công thương nghiệp (mầm mống phát triển củaphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa), chưa tạo được thế đứng tự chủ và chủđộng giao thương với bên ngoài Đây là lý do chủ yếu dẫn đến sự suy tàn của chế

độ phong kiến Việt Nam cuối thế kỷ XVIII, đó là mảnh đất tốt làm cho các thếlực bên ngoài nhòm ngó đất nước ta

+ Trong hoàn cảnh đất nước suy yếu, từ thế kỷ XVI, các nước phương Tây nhòm ngó nước ta bằng con đường truyền giáo và thương gia, mở đường

tiền trạm cho thực dân xâm lược (như Anh, Pháp, Hà Lan ) Đề phòng sự xâmlược của các nước bên ngoài nhất là phương Tây, nhà nước phong kiến ViệtNam chủ trương “bế quan toả cảng”, cấm người nước ngoài vào truyền đạo vàbuôn bán Tình hình đó càng làm cho kinh tế nước ta thêm khó khăn, thúc đẩy sựkhủng hoảng chế độ phong kiến

Trang 8

Cùng thời kỳ này, do các nước tư bản phương Tây phát triển, vấn đềnguyên liệu và thị trường thúc bách, các nước tư bản tính đến sự xâm lược caclục địa có tài nguyên dồi dào, thị trường rộng lớn, nhân công rẻ mạt ở châu Á,châu Phi, Mỹ latinh.

Đông Nam Á nói chung, Việt Nam nói riêng có vị trí địa lý quan trọng,giàu tài nguyên nên sớm trở thành đối tượng xâm lược của các nước tư bảnphương Tây Một loạt các cuộc xâm lược diễn ra sau này: Anh xâm lược Mã Lai,Miến Điện; Pháp xâm lược các nước Đông Dương; Tây Ban Nha rồi Mỹ xâmlược Philíppin; Bồ Đào Nha, Hà Lan xâm lược Inđônêxia Chỉ có Nhật từ năm

1868, Thiên hoàng Minh Trị thực hiện một loạt cải cách tiến bộ trên các lĩnhvực, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá để thoát khỏi tình trạng phong kiến lạchậu, do đó cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Nhật thoát khỏi nguy cơ bị xâmlược, phát triển thành nước tư bản công nghiệp

+ Thời Quang Trung hé mở cho đất nước bước phát triển mới

Trước cảnh đất nước diễn ra cuộc khủng hoảng sâu rộng, chế độ phongkiến bước vào giai đoạn suy tàn thế kỷ XVIII, ba anh em Nguyễn Nhạc, NguyễnHuệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo nhân dân đứng lên làm cuộc khởi nghĩa Nghĩa quânTây Sơn đánh đổ chính quyền chúa Nguyễn, đánh tan sự xâm lược quân Xiêm,lật đổ chính quyền Lê - Trịnh, đại phá quân Thanh xâm lược nước ta, thống nhấtđất nước

Dưới sự lãnh đạo của vua Quang Trung, trong 4 năm lên ngôi hoàng đếông đã dự định và thực hiện một loạt cải cách tiến bộ về kinh tế, văn hoá, xã hội,ngoại giao với tư tưởng canh tân đất nước, mở ra nhiều triển vọng cho sự pháttriển lực lượng sản xuất theo hướng TBCN

Tuy nhiên hơn 4 năm cầm quyền của vua Quang Trung (1788 - 1792)trong bối cảnh đất nước suy thoái, lạc hậu, chiến tranh ác liệt để lại hậu quả nặng

nề, Quang Trung chưa thể làm được gì hơn để đưa Đại Việt vượt qua khủng

Trang 9

hoảng, vươn lên cùng thế giới tiến lên (Nguyễn Huệ - Quang Trung, nhà quân

sự tài ba mất đột ngột vào năm 1792 khi ông mới 36 tuổi)

+ Chế độ phong kiến Việt Nam dưới triều Nguyễn khủng hoảng nghiêm trọng, vương triều thối nát, phản động, mở đường cho sự xâm lăng của thực dân

Pháp đối với nước ta

Nguyễn Ánh cầu cứu các thế lực bên ngoài để tiêu diệt quân Tây Sơn,khôi phục vương triều chúa Nguyễn bị quân Tây Sơn đánh đổ Qua những lầnđược giáo sĩ người Pháp là Bá Đa Lộc (giám mục Ađrăng) và quân Xiêm giúp

đỡ không thắng nổi quân Tây Sơn Nhân lúc Nguyễn Huệ mất, Nguyễn Ánhđược sự tiếp sức của các thế lực bên ngoài đã cho quân đánh bại quan quân nhàTây Sơn (1802) Đất nước rơi vào tay Nguyễn Ánh

Nguyễn Ánh xưng vương (6 - 1802), lấy niên hiệu là Gia Long, lập ratriều Nguyễn Năm 1804 lấy tên nước là Việt Nam, thống nhất lãnh thổ từ mụcNam Quan đến mũi Cà Mau (cũng là kế thừa thành quả của phong trào TâySơn) Năm 1838, Minh Mạng lấy quốc hiệu trở lại là Đại Việt

Dưới sự trị vì của các đời vua nhà Nguyễn: Gia Long (1802 - 1819); MinhMạng (1820 - 1840); Thiệu Trị (1841 - 1847) trước khi thực dân Pháp xâmlược nước ta chế độ phong kiến tiếp tục khủng hoảng, suy vong ngày càng nặng

nề Triều đình nhà Nguyễn bất lực trước tình hình đất nước, là triều đình phảnđộng

Biểu hiện về kinh tế, xã hội:

+ Mâu thuẫn xã hội sâu sắc dẫn đến hàng loạt các cuộc nổi dậy, khởinghĩa của nông dân và người dân tộc miền núi; xã hội ngày càng rối ren, phứctạp

+ Triều đình dựa vào thế lực bên ngoài để dựng lên và duy trì tồn tại

+ Kinh tế suy đốn mọi mặt cả công nông nghiệp, mọi mầm mống pháttriển mới của các khu vực kinh tế đều bị bóp nghẹt

Trang 10

+ Đối nội hà khắc, đàn áp, khủng bố phong trào quần chúng, đưa quân độiđàn áp đẫm máu các cuộc khởi nghĩa

+ Đối ngoại: đẩy mạnh âm mưu xâm lược các nước láng giềng (Lào, CaoMiên); bế quan toả cảng gắt gao, cấm đạo, giết đạo

-> Với chính sách phản động của triều Nguyễn, Việt Nam suy yếu về mọi mặt, trở thành miếng mồi cho các nước phương Tây xâm lược

II Tính chất xã hội Việt Nam từ khi thực dân Pháp xâm lược

1 Quá trình thực dân Pháp xâm lược Việt Nam

- Thứ nhất, quá trình thực dân Pháp dọn đường để xâm lược Việt Nam có

từ rất sớm.

+ Từ thế kỷ XVII - XVIII các nước phương Tây đã nhòm nhó Đại Việt và

âm mưu thâm nhập dọn đường cho cuộc xâm lược bằng việc tung giáo sĩ vàotruyền đạo, xây dựng cơ sở và hoạt động của các thương nhân ở Việt Nam

+ Nguyễn Ánh chống quân Tây Sơn, khôi phục dòng họ nhưng thất bại,ông ta phải cầu viện quân Xiêm và giáo sĩ người Pháp (tên là Bá Đa Lộc -Ađrăng) giúp đỡ Đây là cơ hội để Pháp xâm lược nước ta

+ Nguyễn Ánh bản rẻ đất nước cho thực dân Pháp lần thứ nhất

Năm 1777, Bá Đa Lộc giúp Nguyễn Ánh chạy thoát khỏi sự truy đuổi củaquân Tây Sơn Cuối năm 1784, Nguyễn Ánh giao thư và hoàng tử Cảnh cho Bá

Đa Lộc đưa sang Pháp nhờ giúp

Tháng 11 - 1787, Bá Đa Lộc thay mặt Nguyễn Ánh ký với Pháp Hiệp ướcVéc-xai Đây là Hiệp ước bán nước đầu tiên của Nguyễn Ánh cho Pháp

Trang 11

Hiệp ước Véc - xay nhượng cho Pháp nhiều quyền lợi ở Việt Nam như:người Pháp được tự do đi lại, tự do truyền đạo, buôn bán (Đổi lại Pháp sẽ giúpNguyễn Ánh khôi phục vương triều họ Nguyễn?)

Pháp muốn dựa vào Hiệp ước để hợp pháp xâm lược nước ta, nhưng ởPháp diễn ra cuộc cách mạng tư sản làm gián đoạn sự can thiệp của Pháp Bá ĐaLộc với mưu đồ sâu xa tự đi vận động bọn tư bản, mộ người Tháng 9 - 1788,Pháp cho chiếc tàu chở 1000 khẩu súng đến Côn Lôn, tiếp đó tàu Pháp chở sangnhiều sĩ quan, binh lính Pháp cùng đại bác sẵn sàng can thiệp vào Việt Nam

Quang Trung qua đời đột ngột (1792), thừa cơ Nguyễn Ánh cho quân đánh

đổ Vương triều Quang Trung, làm chủ hoàn toàn đất nước và Nguyễn ánh xưngvua

Quan lại trong triều Nguyễn lúc đầu chủ yếu là những người có công theoNguyễn Ánh chống Tây Sơn (cả một số người Pháp như Senhô (Chaigneau),Vaniê (Vanier)

Minh Mạng kế nghiệp Gia Long (1820-1840), phòng ngừa phương Tây cómưu đồ tạo phản, xâm lược nên ông ta tỏ ra dứt khoát khước từ mọi quan hệ vớiphương Tây, kể cả Pháp, thực hiện chính sách đóng cửa, cự tuyệt “ bế quan toả cảng”

Năm 1819, Senhô xin về nước báo cáo tình hình Việt Nam cho vua Pháp

và sang lại Việt Nam vào đầu thời Minh Mạng, lập tức bị lạnh nhạt

Năm 1825, Pháp xin đặt lãnh sự ở Việt Nam nhưng Minh Mạng từ chối.Năm 1830, Pháp đặt vấn đề lần nữa nhưng bị từ chối Anh, Mỹ nhân đó cũng xinđặt quan hệ nhưng không được

Tinh thần “đóng cửa”, cự tuyệt quan hệ với phương Tây được duy trì chođến lúc bùng nổ cuộc xâm lược của Pháp vào Việt Nam

=> Do chính sách triều Nguyễn đóng cửa, cự tuyệt, thực dân Pháp khôngthực hiện được ý đồ thâm nhập, thao túng Việt Nam, chúng chuyển sang âm mưuchiến tranh xâm lược

Trang 12

- Thứ 2, những hành động khiêu khích dọn đường cho cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp đối với nước ta ngày càng trắng trợn, không thể che dấu.

+ 23-1-1857, phái viên của Napôlêông III (tên là Môngtinhi) cập bến ĐàNẵng yêu cầu được tự do truyền đạo và buôn bán Trước đó 1 tháng, Pháp đã có

kế hoạch sau khi đánh chiếm xong Quảng Châu, Trung Quốc sẽ kéo xuống đánhViệt Nam

+ 24-4-1857, Napôlêông III cử Hội đồng Nam kỳ xem xét lại Hiệp ướcVéc-xai (ký năm 1787), thực chất Pháp muốn dựa vào Hiệp ước để hợp pháp hoáhành động xâm lược Việt Nam

Tháng 7-1857, Napôlêông III quyết định tiến hành vũ trang can thiệp vàoViệt Nam

=> Như vậy, âm mưu xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp bằng vũtrang đã rõ ràng Những việc làm trên đây chỉ là bước dọn đường cho việc thựchiện âm mưu của chúng

- Mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp vàochiều ngày 31-8-1858, chúng cho quân nổ súng đánh chiếm Đà Nẵng Liên quânPháp- Tây Ban Nha huy động 3000 quân đánh vào Đà Nẵng với mưu đồ chiếm

Đà Nẵng rồi kéo thẳng ra Huế, bắt triều Nguyễn đầu hàng

Qua 5 tháng quân Pháp đánh Đà Nẵng bị quân dân ta (dưới sự chỉ huy củaNguyễn Tri Phương) chống trả quyết liệt, quân Pháp chỉ chiếm được bán đảoSơn Trà

Thất bại ở Đà Nẵng, Pháp mở cuộc tấn công vào Gia Định Từ ngày

17-2-1859 đến năm 1861, quân Pháp chiếm được các tỉnh như Định Tường, Biên Hoà,Vĩnh Long

Trước sức tiến công của quân Pháp, triều đình Huế phải ký với Pháp hiệpước Nhâm Tuất (5-6-1862), nhường cho Pháp nhiều quyền lợi của đất nước

Trang 13

Nội dung cơ bản của Hiệp ước: thừa nhận quyền cai quản của thực dânPháp ở 3 tỉnh Nam kỳ (Gia Định, Định Tường, Biên Hoà) và đảo Côn Lôn; mở 3của biển cho Pháp vào buôn bán (Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên); cho phép ngườiPháp và Tây Ban Nha tự do truyền đạo Giatô, bãi bỏ lệnh cấm đạo trước đây; bồithường cho Pháp một khoảng chiến phí 288 vạn lạng bạc; Pháp trả lại thànhVĩnh Long cho triều đình chừng nào triều đình buộc dân chúng ngừng khángchiến.

-> Đến đây triều đình Huế 1 lần nữa vừa bán rẻ 1 phần nước ta cho thựcdân Pháp, phản bộ lại đất nước Sau khởi nghĩa triều đình tập trung đàn áp cáccuộc khởi nghĩa của nhân dân ta ở Trung và Bắc kỳ, ngăn trở phong trào khángchiến của nhân dân ta ở Nam kỳ

- Lợi dụng sự bạc nhược của triều đình Huế , chỉ trong 5 ngày (từ ngày 20đến 24-6-1867) quân Pháp chiếm các tỉnh miền Tây( Vĩnh Long, An Giang, HàTiên) mà không tốn một viên đạn

- Từ sau năm 1867 quân Pháp 2 lần đánh Bắc kỳ (lần 1: 1873-1874; lần 2:1882-1884) Nhân dân ta đã anh dũng kháng chiến chống Pháp, còn triuề đìnhnhà Nguyễn thì bạc nhược tiếp tục cắt đất cho Pháp để cầu hoà Cuối cùng đã kýHiệp ước Pa-tơ-nốt (6-6-1884) dâng nước ta cho Pháp, chấm dứt sự tồn tại tạiđộc lập của triều đình phong kiến nhà Nguyễn với tư cách là một chế độ phongkiến độc lập Nước ta từ một nước phong kiến độc lậo trở thành nước thuộc địanửa phong kiến

+ Ngày 20-11-1873, thực dân Pháp đánh Hà Nội, Hà Nội thất thủ Sau đóchúng đánh Hải Dương, Hưng Yên, Phủ Lý, Ninh Bình, Nam Định

+ Triều đình Huế lo sợ đã phải ký với Pháp Hiệp ước Giáp Tuất Ngày 4-1882, Pháp đem quân đánh chiếm Hà Nội lần thứ 2 (Hoàng Diệu chỉ huy quân

3-ta chống cự không nổi; để mất thành, ông tự vẫn Chiếm được thành Hà Nội

Trang 14

quân Pháp mở rộng đánh chiếm Hòn Gai, Nam Định và các tỉnh khác thuộc đồngbằng Bắc kỳ

Quân Pháp đánh chiếm cửa Thuận An (18 đến 20/8/1883) và uy hiếp kinhthành Huế Triều đình Huế hốt hoảng xin đình chiến Cao uỷ Pháp (Héc-măng)đưa cho triều Nguyễn một bản hiệp ước đã được soạn thảo sẵn buộc triều đìnhHuế phải ký (25-8-1883) dâng các tỉnh Bắc kỳ cho Pháp Đến đây phong kiếnnhà Nguyễn đã đi sâu hơn một bước trên con đường đầu hàng Pháp

Những vấn đề căn bản của Hiệp ước Héc-măng: Triều đình Huế chínhthức thừa nhận nền bảo hộ Pháp ở Bắc kỳ để nhập vào đất Nam kỳ thuộc Pháp; 3tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh được sát nhập vào Bắc kỳ; triều đình chỉ được quảnTrung kỳ nhưng mọi việc đều phải thông qua khâm sứ Pháp ở Huế; công sứPháp ở các tỉnh Bắc kỳ thường xuyên kiểm soát những công việc của quan lạitriều đình, nắm các quyền trị an và nội vụ; mọi việc giao thiệp với nước ngoàiđều do Pháp nắm; triều đình Huế phải rút quân ở Bắc kỳ về Trung kỳ

-> Về căn bản, từ đây Việt Nam đã mất quyền tự chủ trên phạm vi toànquốc, triều đình Huế đã chính thức thừa nhận sự bảo hộ của Pháp, mọi công việcchính trị, kinh tế, ngoại giao của Việt Nam đều do Pháp nắm Đây là hiệp địnhphản bội lại nhân dân

Trên đà quân Pháp thắng thế, ngày 6-6-1884, chính phủ Pháp cử Pa-tơ-nốtcùng triều đình Huế ký bản hiệp ước mới - Hiệp ước Pa-tơ-nốt với nội dunggiống Hiệp ước Héc-măng, chỉ sửa đổi đôi chút về ranh giới khu vực Trung kỳ(nhằm xoa dịu phản ứng có thể có của triều đình nhà Thanh và lấy lòng vua quanphong kiến Việt Nam đầu hàng

Với 2 hàng ước Héc-măng và Pa-tơ-nốt, nhà nước phong kiến Việt Namsụp đổ hoàn toàn chấm dứt sự tồn tại của triều đại phong kiến nhà Nguyễn với tưcách là một quốc gia phong kiến độc lập, thay vào đó là chế độ thuộc địa nửaphong kiến

Trang 15

2 Chính sách áp bức bóc lột của thực dân Pháp ở Việt Nam

Từ sau năm 1884, thực dân Pháp tiến hành bình định và áp dụng hàng loạtcác chính sách áp bức bóc lột nước ta về chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục

a Về chính trị: Chúng thi hành chính sách chuyên chế về chính trị, bóp

nghẹt quyền tự do dân chủ, thực hiện chia cắt lâu dài đất nước để dẽ bề thống trị

- Thiết lập hệ thống chính quyền kìm kẹp trực tiếp đất nước ta

- Người Pháp nắm trực tiếp mọi quyền điều hành bằng hệ thống chínhquyền do người Pháp nắm và có sử dụng vua quan Nam triều làm tay sai

Cơ cấu chính quyền: Đông Dương có toàn quyền, thống sứ ở Bắc kỳ,khâm sứ ở Trung kỳ; công sứ ở các tỉnh, tham biện ở các tỉnh Nam kỳ; các quanchức chuyên môn từ toàn quyền Đông Dương đến các xứ, các tỉnh

Chính sách cai trị của thực dân Pháp ngày càng hoàn chỉnh do người Pháptrực tiếp nắm giữ đến hàng tỉnh, 1 số huyện do người Pháp nắm

+ Nhà Nguyễn và bộ máy Nam triều vẫn ở Trung kỳ và Bắc kỳ, nhưng chỉ

là bù nhìn do thực dân Pháp điều khiển

+ Thực dân Pháp duy trì đội ngũ viên chức người Pháp đông đảo Dân sốViệt Nam 20 triệu người nhưng viên chức Pháp 4.300 Trong khi ấn độ 300 triệungười viên chức Anh chỉ có 4898 người

+ Ban hành luật thống trị khắc nghiệt, xác lập hệ thống lập pháp, tư pháp,hành pháp do người Pháp trực tiếp tiến hành

- Chúng xây dựng hệ thống quân đội, cảnh sát, nhà tù đông đảo để củng cốbảo vệ chế độ thống trị, đàn áp phong trào yêu nước đấu tranh

+ Quân đội gồm binh lính người Pháp và người thuộc địa

+ Đến năm 1897 đã xây dựng được: Quân đội viễn chinh có: 3 liên đội bộbinh (8c); 4c+2b lính lê dương Lính bản xứ có 3 liên đội pháo thủ Bắc kỳ (13c),

1 liên đội pháo thủ Trung kỳ có 3c đóng ở Trung kỳ

Trang 16

Trong quá trình hoàn thiện quân đội có thêm các binh chủng mới nhưpháo binh, kỵ binh, công binh, thông tin, bản đồ

+ Thực hiện chế độ “nghĩa vụ binh dịch” thời hạn phục vụ tại ngũ ít nhất

là 5 năm, bắt lính nghĩa vụ từ 22 đến 28 tuổi Thống đốc có quyền ra sắc lệnh vềnghĩa vụ quân sự Tổng thống Pháp ra sắc lệnh tổ chức lực lượng quân sự dự bịngười bản xứ ở Đông Dương

Tính đến năm 1912, năm mà quân đội Pháp ở Đông Dương xây dựng quânlực tương đối hoàn chỉnh đã có quân số 23.847 người và 29.064 quân trù bị

+ Cảnh sát, tình báo và an ninh trung ương ngày càng dày đặc

30-6-1915, thực dân Pháp lập thêm 1 “binh chủng đàn áp” mới gọi là lựclượng cảnh sát đặc biệt

28-6-1917, thành lập Sở tình báo và an ninh trung ương Mỗi xứ thành lập

cơ quan cảnh sát an ninh

+ Nhà tù, trại giam được thành lập khắp các huyện, tỉnh (nhiều hơn cảtrường học) Chỉ 10 năm 1902-1912, toà án chính quyền thuộc địa Đông Dương

đã kết tội 24.380 người bỏ tù giam đến khổ sai, chung thân và tử hình

- Thực hiện chính sách đàn áp bóp nghẹt dân chủ

+ Cấm đoán tự do đi lại, hội họp Người ở tỉnh này đi tỉnh khác, xứ nàyqua xứ khác đều phải có giấy phép của nhà cầm quyền Ngay cả tư tưởng cảilương cũng không được tồn tại

+ Chia rẽ dân tộc, lương giáo, người miền xuôi và người miền ngược, dântộc kinh và dân tộc thiểu số

-> Rõ ràng dưới sự thống trị của thực dân Pháp nhân dân ta không có đượcquyền tự do dân chủ dù là quyền tự do dân chủ đơn giản nhất

b Chính sách thống trị, áp bức bóc lột kinh tế: thể hiện trên 3 khía cạnh

Trang 17

- Một là, suốt quá trình thống trị nước ta, thực dân Pháp đầu tư một cáchhạn chế để bòn rút, cướp bóc, bóc lột nước ta Tập trung nhất là chúng tổ chức 2cuộc khai thác thuộc địa ở nước ta Đợt 1: (1897-1914), đợt 2 (1924-1929)

+ Để khai thác thuộc địa, chúng phải du nhập một cách hạn chế phươngthức sản xuất tư bản chủ nghĩa và duy trì hình thức bóc lột phong kiến

+ Đầu tư tư bản, tập trung chủ yếu trong 2 ngành nông nghiệp và côngnghiệp nhưng với điều kiện để bổ sung, phục vụ cho nông nghiệp và công nghiệpPháp, phụ thuộc vào kinh tế chính quốc Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

ở Đông Dương không phải để thay thế phương thức sản xuất TBCN ở ĐôngDương không phải để thay thế phương thức sản xuất phong kiến mà duy trì xen

kẽ với phương thức sản xuất phong kiến

Về nông nghiệp: đẩy mạnh cướp đoạt ruộng đất, lập đồn điền lúa, cao su Đến năm 1930 chúng tước đoạt của nông dân 800.000 ha đất trồng trọt = 1/6 đấttrồng trọt của cả nước

Đầu tư khai thác công nghiệp, chủ yếu là khai thác than đá, 1số cơ sở sảnxuất hàng tiêu dùng : điện, nước, xây dựng giao thông vận tải phục vụ chiếntranh và cai trị, khai thác thuộc địa

Riêng đầu tư giao thông vận tải: xây dựng các tuyến đường sắt, đườngthuỷ, đường bộ nối liền giữa các trung tâm kinh tế, khai thác nguyên liệu và phục

vụ mục đích quân sự

Ngân hàng Đông Dương đầu tư đến năm 1945 vào Đông Dương (chủ yếu

là Việt Nam) gần 5 tỉ đồng Đông Dương giá năm 1939 Đầu tư khai thác ngàycàng tăng: từ năm 1924-1930 Pháp đầu tư vào Việt Nam tăng 6 lần so với năm1897-1918 Chỉ riêng năm 1930, Pháp cấp phép khai thác hầm mỏ là 17.685chiếc so với năm 1914 là 257 chiếc

Ngày đăng: 19/08/2021, 08:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w