“Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” là một văn kiện mang tính chất cương lĩnh hành động của Quốc tế Cộng sản (QTCS) do V.I. Lênin khởi thảo và trình bày tại Đại hội II QTCS (từ ngày 23/7 đến ngày 7/8/1920). Hiện nay văn kiện được đẳng tải Lênin toàn tập, tập 41, NXB Tiến bộ, 1977 (từ trang 197 đến trang 206). Giới thiệu văn kiện này nhằm giúp người học hiểu rõ hoàn cảnh ra đời, hiểu rõ những nội dung cơ bản, quan trọng của văn kiện, cùng với ý nghĩa lịch sử, ý nghĩa hiện thực của nó. Trên cơ sở đó, tiếp tục củng cố niềm tin, củng cố lập trường kiên định trong việc tiếp thu và vận dụng sáng tạo lý luận Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam (CMVN).
Trang 1VÀ VẤN ĐỀ THUỘC ĐỊA
Mở đầu
“Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” là một văn kiện mang tính chất cương lĩnh hành động của Quốc tế
Cộng sản (QTCS) do V.I Lênin khởi thảo và trình bày tại Đại hội II QTCS (từ ngày 23/7 đến ngày 7/8/1920) Hiện nay văn kiện được đẳng tải Lênin toàn tập, tập 41, NXB Tiến bộ, 1977 (từ trang 197 đến trang 206)
Giới thiệu văn kiện này nhằm giúp người học hiểu rõ hoàn cảnh ra đời, hiểu rõ những nội dung cơ bản, quan trọng của văn kiện, cùng với ý nghĩa lịch
sử, ý nghĩa hiện thực của nó Trên cơ sở đó, tiếp tục củng cố niềm tin, củng cố lập trường kiên định trong việc tiếp thu và vận dụng sáng tạo lý luận Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam (CMVN)
NỘI DUNG: trình bày 3 phần
I HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA TÁC PHẨM
II NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TÁC PHẨM
III Ý NGHĨA CỦA TÁC PHẨM
THỜI GIAN: 4 tiết
PHƯƠNG PHÁP: Thuyết trình, tập trung giới thiệu phần trọng tâm, các
phần khác định hướng nghiên cứu
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1 V.I.Lênin, toàn tập, tập 41, NXB Tiến bộ Matxcơva 1977, tr 197– 206,
290 – 297, 326 – 328 (tr290-297:Báo cáo của Tiểu ban về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa ngày 26/7/1920; tr 326-328: Đại hội II Quốc tế Cộng sản)
2 Lịch sử ĐCSVN (Sơ thảo), tập 1, NXB Sự thật, H.1981, tr 49 – 58
3 Chủ tịch Hồ Chí Minh người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận giải phóng dân tộc, NXB Khoa học xã hội, H 1985, tr 96, 124, 190
4 Trần Văn Giàu, sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ 19 đến CMT8, tập III, NXB TP Hồ Chí Minh, 1997, tr 34 – 47
Trang 25 Trần Nhâm, có một Việt Nam như thế - Đổi mới và phát triển, NXB CTQG, H.1996, Chương 1, phần II: Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta
NỘI DUNG BÀI GIẢNG
I HOÀN CẢNH RA ĐỜI TÁC PHẨM
Để chuẩn bị cho Đại hội lần thứ II của Quốc tế Cộng sản Lênin đã khởi thảo một loạt các văn kiện quan trọng như Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn
đề thuộc địa, Luận cương về vấn đề ruộng đất, Luận cương về những nhiệm vụ
cơ bản của Đại hội II QTCS…Các văn kiện này được Người viết xong trong tháng 6, tháng 7/ 1920
Ngày 14/7/1920 “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” được đăng tải trên Tạp chí “Quốc tế Cộng sản” số 2,
sau đó được báo chí của các Đảng XH, Đảng CS đăng lại và trong Đại hội II QTCS, Lênin đã trình bày văn kiện này trước Đại hội Hiện nay văn kiện này được in trong V.I.Lênin toàn tập, tập 41, NXB Tiến bộ Matxcơva, 1977 (từ trang 197 đến trang 206)
Văn kiện (tác phẩm) ra đời trong bối cảnh tình hình thế giới nổi lên những nét đáng chú ý sau:
1/ Chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc, các nước thắng trận họp Hội nghị Vécxây (Pháp) để chia phần thắng lợi Sự lừa dối về cái gọi là quyền tự quyết dân tộc của CNĐQ đã bị bóc trần.
- Năm 1914 các nước đế quốc đã gây ra cuộc chiến tranh TG lần thứ nhất nhằm chia lại thị trường TG Cuộc chiến tranh này kéo dài đến năm 1918
mới kết thúc
- Năm 1917 Mỹ nhảy vào chiến tranh đứng bên cạnh phía đồng minh Anh – Pháp chống lại liên minh Đức – Áo - Thổ nhĩ kỳ :
+ Âm mưu của Mỹ: giả vờ giương ngọn cờ chính nghĩa để cô lập Đức –
Áo - Thổ Khởi đầu bằng chiến dịch tuyên truyền về “Bản tuyên bố 14 điểm” của UynXơn nên còn được gọi là “Học thuyết UynXơn”, “Chủ nghĩa UynXơn”.
+ “Chủ nghĩa UynXơn” được các bộ máy thông tin phương Tây tuyên
truyền, cổ vũ rầm rộ, được Quốc tế II đồng loã ủng hộ, tán thành
Trang 3Sự hứa hẹn của Mỹ về quyền tự do, tự quyết, độc lập cho các dân tộc đã gây nên ảo tưởng cho nhiều người, nhiều dân tộc đang khát khao độc lập tự do
+ Bản chất nguyên lý “quyền tự quyết của các dân tộc” trong “Chủ nghĩa UynXơn” nhằm cô lập, chia rẽ nội bộ phe liên minh Đức – Áo - Thổ, chứ không
nhằm chống lại chủ nghĩa thực dân, giải phóng các nước thuộc địa khỏi ách thống trị của thực dân đế quốc mặc dù trong điểm 5 của tuyên bố 14 điểm hứa:
“giải quyết rộng rãi tự do và hoàn toàn vô tư tất cả các yêu sách về (vấn đề) thuộc địa”
- Tháng 1/1919 tại Vécxây (Pháp) các nước thắng trận đã họp hội nghị
để chia phần thắng lợi
Đông đảo đại biểu của các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc đã kéo đến Pari
và gửi tới hội nghị những yêu sách chính đáng của mình (đại biểu TQ, Ấn độ, Java, Ai nhĩ lan, Ả rập…) hy vọng sẽ được hội nghị đáp ứng
Thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước, đ/c Nguyễn Ái Quốc
đã giử tới hội nghị bản yêu sách 8 điểm nhưng không được đáp ứng Người
rút ra kết luận: “Chủ nghĩa UynXơn chỉ là một trò bịp lớn ” ,“muốn được giải phóng các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”.
2/ Thắng lợi của CMT10 Nga và sự ra đời của QTCS (3/1919) đã đưa phong trào công nhân, phong trào GPDT sang một thời kỳ phát triển mới.
- Dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích Nga, đứng đầu là Lênin, CMT10 thắng lợi đã mở ra một thời đại mới : thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên
phạm vi toàn thế giới - Thời đại thắng lợi cuả CMGPDT và CMVS
+ Thúc đẩy phong trào CN và phong trào GPDT phát triển trên quy mô rộng lớn, tiến công dồn dập vào CNĐQ, CNTB
+ Từ 1918 – 1923 khắp thế giới đã giấy lên cao trào cách mạng rộng khắp Nhân dân các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới đã tìm thấy lối thoát cho mình đó là phải noi gương CMT10, đi theo CMT10
Nói về ý nghĩa trọng đại của CMT10 Nga năm 1917, Bác Hồ khẳng định:
“Giống như mặt trời chói lọi, CMT10 chiếu sáng khắp năm châu , thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất Trong lịch sử loài người chưa có một cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”
Trang 4- Tháng 3/1919 QTCS (Quốc tế III) ra đời đã kế thừa những thành quả
QT I và QT II, đồng thời loại bỏ được chủ nghĩa cơ hội của QT II, tuyên bố kiên quyết ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc.
+ QT II ra đời năm 1889 Sau khi Ăngghen mất (1895), trượt dần vào con đường cơ hội chủ nghĩa Bọn cơ hội đã lũng đoạn tổ chức quốc tế của GCCN, hướng PTCN vào con đường cải lương, đầu hàng GCTS và hướng các dân tộc thuộc địa cam chịu sự nô dịch của CNĐQ và PK Khi CTTG I nổ ra, bộ mặt cơ hội của những kẻ cơ hội trong QT II càng bị phơi bày trước việc tán đồng, ủng
hộ “Chủ nghĩa UynXơn”.
+ QTCS ra đời (3/1919) đã thúc đẩy sự phân hoá trong hàng ngũ các ĐCS và
CN ở các nước tư bản và quan tâm đến CM ở các nước thuộc địa và phụ thuộc
Các ĐCS và CN đứng trước sự lựa chọn giữa 2 con đường: con đường cải lương, thoả hiệp của QT2 và con đường CM chân chính mà M-AG đã vạch
ra - con đường của QT3 do Lênin đứng đầu Sự lựa chọn đó là 1 cuộc đấu tranh quyết liệt trong nội bộ các ĐCS
+ Trong Đảng XH Pháp cũng diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa những người tán thành QT2 với những người tán thành QT3 trong suốt những năm
1919 – 1920
Tháng 5/1919 những người XH phái tả lập Uỷ ban Quốc tế thứ III để cổ động cho việc tham gia QTCS
Tháng 2/1920 Đại hội Đảng XH Pháp ra NQ tuyên bố rút khỏi QT2 nhưng chưa tham gia QT3 và cử đoàn đại biểu do Macxen Casanh dẫn đầu
đi Matxcơva và nghiên cứu những điều kiện gia nhập QT3 và dự Đại hội II QTCS Trong ĐH, các Đảng bộ địa phương Đảng XH Pháp có xu hướng theo QT3 chiếm ưu thế
Trong nhiều Đảng công nhân ở các nước TB phát triển cũng diễn ra tình hình tương tự
- Thắng lợi của CMT10 Nga và sự ra đời của QTCS đã đưa PTCM thế giới sang thời kỳ phát triển mới:
+ Xu thế thành lập ĐCS đã xuất hiện ở nhiều nước giúp PTCN thoát khỏi chủ nghĩa cơ hội ĐCSTQ 1921, ĐCS NB, ĐCS MC…
+ Phong trào đấu tranh của GCCN phát triển mạnh ở Mỹ, Anh, Pháp, Ý, Nhật
Trang 5+ Chính quyền Xô viết ra đời ở Hung, Đức tuy tồn tại không lâu nhưng
đã gay tếng vang lớn
+ CMTS thắng lợi ở Thổ nhĩ kỳ
+ Phong trào đòi tự trị nổ ra ở Ấn độ, Ai cập Inđônêxia
3/ Sau CTTG lần thứ nhất, vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa nổi lên mang tính chất thời sự nóng bỏng của tình hình quốc tế lúc bấy giờ.
- Sau năm 1918, sự thống trị của một nhóm TB phát triển tới đỉnh cao:
TB độc quyền đã thay thế TB tự do cạnh tranh:
+ Năm 1880: có trên 250 triệu dân thuộc địa bị 6 cường quốc TB thống trị + Trước 1914: có gần 600 triệu dân thuộc địa và khoảng 400 triệu dân nửa thuộc địa (Ba tư, Thổ, Trung Quốc) lệ thuộc vào những nước đế quốc TB
độc quyền giàu có nhất (1 tỷ dân).
+ Vị trí các cường quốc kinh tế đã thay đổi tỷ trọng trong nền KT thế giới dẫn đến yêu cầu chia lại thị trường TG
Từ 1870 – 1900: Anh từ 32% giảm còn 18%
Mỹ từ 23% tăng lên 31% Anh, Pháp Đức từ 13% tăng lên 16% Mỹ, Đức Pháp từ 10% giảm còn 7%
+ Sau CTTG I (1918): dân số thuộc địa tăng lên đến 1,250 tỷ người Các nước bị chia cắt như Ba Tư, Thổ Nhĩ kỳ, Trung Quốc và các nước bại trận bị đẩy vào tình trạng thuộc địa Những nước còn duy trì được địa vị cũ với số dân xấp xỉ 250 triệu người nhưng đều bị rơi vào tình trạng phụ thuộc về kinh tế nước Mỹ và đều phụ thuộc về quân sự trong thời chiến tranh
=> Lênin cho rằng: cơ sở của toàn bộ tình hình quốc tế hiện nay (tức khi đó) là những quan hệ kinh tế của chủ nghĩa đế quốc Nét tiêu biểu nhất, chủ yếu nhất của chủ nghĩa đế quốc là ở chỗ TB đã đạt đến những khối lượng hết sức lớn Tư bản độc quyền với khối lượng khổng lồ đã thay thế cho tự do cạnh tranh
để khống chế nền kinh tế trong từng nước và toàn thế giới
- Thái độ đối với vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa có sự khác nhau:
+ Chủ nghĩa đế quốc giả dối, lừa bịp và đã bị lột mặt nạ
+ Bọn cơ hội trong QT2 thì bênh vực quyền lợi của chủ nghĩa thực dân
Trang 6+ Đảng công nhân trong các nước phát triển thờ ơ cho rằng: trung tâm CMVS là ở chính quốc
+ Các dân tộc thuộc địa: đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc - thực dân nhưng đường lối thiếu rõ ràng đúng đắn => bế tắc về đường lối => không giành được thắng lợi
+ Chỉ có QTVS là lực lượng kiên quyết chống lại áp bức bóc lột của chủ nghĩa thực dân - đế quốc đối với nhân dân các dân tộc thuộc địa, kiên quyết ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân các nước thuộc địa
Như vậy, để chuẩn bị cương lĩnh hành động cho Đại hội II QTCS trong
vấn đề dân tộc và thuộc địa, Lênin đã viết văn kiện quan trọng “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” xong vào tháng
7, tháng 8 năm 1920
II NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TÁC PHẨM
Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin gồm 12 điểm – Đó là những vấn đề chiến lược của cuộc đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc -thực dân phong kiến
1/ Những tư tưởng chỉ đạo của luận cương
* Phải phân biệt rõ giữa dân tộc bị áp bức và dân tộc đi áp bức.
- Tư tưởng chỉ đạo quan trọng nhất, cơ bản nhất chi phối nhận thức và hành động của các Đảng Cộng sản trong cuộc đấu tranh giải phóng thuộc địa
và phụ thuộc là phải nhận thức rõ: Đặc điểm nổi bật của thế giới hiện nay là sự phân chia các dân tộc thành hai lực lượng đối lập:
+ Một số lớn những dân tộc bị áp bức bóc lột và một số rất ít những dân tộc đi áp bức bóc lột
+ Một số rất ít những dân tộc đi áp bức nắm trong tay những tài sản khổng lồ và lực lượng quân sự hùng mạnh, còn số đông các dân tộc khác phải lệ thuộc vào họ
+ Toàn bộ dân số thế giới có chừng 1,75 tỷ người thì tuyệt đại đa số (1 – 1,25 tỷ, chiếm 70% dân số thế giới) là nhân dân các dân tộc thuộc địa, hoặc bị
áp bức trực tiếp, hoặc phải sống lệ thuộc vào các nước đế quốc thực dân
Trang 7Đó là những sự thật lịch sử Điều này không những bị GCTS xuyên tạc bóp méo mà ngay cả những kẻ cơ hội trong QT2 cũng che đậy, phản ánh sai lệch Do đó, tư tưởng chỉ đạo trong luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa là phải phân biệt rõ giữa dân tộc bị áp bức với dân tộc đi áp bức
- Luận cương xác định phải bắt đầu từ sự phân chia các dân tộc thành dân tộc đi áp bức và dân tộc bị áp bức Chính điều này khiến cho luận cương có
ý nghĩa lớn đối với QTCS và phong trào cách mạng thế giới
+ Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, điểm quan trọng đặc biệt là phải nhận ra những hiện tượng kinh tế cụ thể để phân chia các dân tộc: đi áp bức và bị áp bức
+ Khi giải quyết tất cả các vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa phải xuất phát từ những hiện tượng kinh tế cụ thể của thế giới sau năm 1918, chứ không phải từ những khái niệm trừu tượng
* (Tư tưởng chỉ đạo thứ 2 là): Trong thế giới hiện nay (sau 1918) quan
hệ giữa các dân tộc và cả hệ thống chính trị thế giới đều bị quy định bởi cuộc đấu tranh của một số nước đế quốc chống phong trào Xô viết, chống các nước Xô viết mà nước Nga là trung tâm.
Nếu không nhận thức được vấn đề trên thì không thể đặt vấn đề dân tộc
và vấn đề thuộc địa một cách đúng đắn Ngược lại, chỉ có xuất phát từ quan điểm đó thì vấn đề chính trị được đặt ra và giải quyết đúng đắn Dưới sự lãnh đạo của các Đảng Cộng sản ở cả những nước văn minh và cả các nước lạc hậu
* (Tư tưởng chỉ đạo thứ 3 là): Cần đặc biệt nhấn mạnh vấn đề phong trào dân chủ tư sản ở các nước lạc hậu.
- Vấn đề này đã gây ra các cuộc tranh luận về việc QTCS và các Đảng Cộng sản phải ủng hộ phong trào dân chủ tư sản ở các nước lạc hậu là đúng hay không đúng?
=> Cần phân biệt phong trào dân chủ tư sản ở các nước lạc hậu dưới 2 dạng:
Phong trào cải lương
Phong trào cách mạng
Lênin chỉ ra: “Mọi phong trào dân tộc chỉ có thể là dân chủ tư sản thôi” (s.đ.d, tr.292).
Sự khác nhau giữa các phong trào đó là cải lương hay cách mạng:
Trang 8Phong trào cải lương GCTS ở các nước bị áp bức tuy tán đồng phong trào dân tộc nhưng lại đồng tình với CNTB, CNĐQ và cùng nó đi đấu tranh chống lại tất cả các phong trào cách mạng, các giai cấp cách mạng
- Thái độ của QTCS và các ĐCS: chỉ ủng hộ phong trào dân tộc – cách mạng, không ủng hộ phong trào dân chủ tư sản nói chung.
+ Phải đặc biệt ủng hộ phong trào nông dân ở các nước chậm phát triển chống bọn địa chủ, chống chế độ chiếm hữu nhiều ruộng đất, chống mọi biểu hiện và tàn dư của chế độ phong kiến Phải làm cho phong trào nông dân có được tính cách mạng nhất
+ QTCS chỉ nên ủng hộ những phong trào dân tộc dân chủ tư sản ở các nước thuộc địa và các nước chậm tiến với điều kiện là ở đấy những phát triển của các Đảng vô sản trong tương lai – các Đảng thực sự cộng sản chứ không phải trên danh nghĩa
+ QTCS nên lập khối liên minh tạm thời với phái dân chủ tư sản nhưng không bao giờ được sát nhập vào các tổ chức đó
+ Những người cộng sản ở các nước thuộc địa và các nước chạm tiến phải đấu tranh chống lại dân chủ tư sản cải lương
2/ Những vấn đề chiến lược của cuộc đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa
Với 12 điểm trình bày trong Luận cương đã làm nổi bật lên các vấn đề mang ý nghĩa chiến lược sau:
* Một là: vấn đề dân tộc đi đôi với vấn đề thuộc địa ý nghĩa thật sự của việc đòi quyền bình đẳng chung quy là đòi thủ tiêu giai cấp Phải lên án mọi lối đặt vấn đề này một cách trừu tượng, chung chung, hình thức.
(Thể hiện ở điểm 1 - 3)
- Lênin vạch rõ bản chất quyền bình đẳng nói chung (bình đảng nói riêng) của chủ nghĩa đế quốc là hành vi bạo lực của chúng với các dân tộc nhỏ yếu
Điều này đã bóc trần sự loè bịp của chủ nghĩa đế quốc về khẩu hiệu bình đẳng - một thứ bình đẳng hết sức trừu tượng, chung chung và hình thức giữa kẻ hữu sản và người vô sản, giữa dân tộc đi áp bức bóc lột với các dân tộc bị áp bức bóc lột, giữa kẻ trong vai ông chủ và những kẻ trong vai tôi tớ Những luận điệu đó lại được những kẻ cơ hội trong QT2 phụ hoạ, tán thưởng
Trang 9QT2 chỉ nói đến quyền bình đẳng của các dân tộc da trắng Đối với các dân tộc thuộc địa thì họ tìm cách lờ đi hoặc chỉ nói đến quyền “tự trị văn hoá” làm cho các giai cấp bị áp bức bị lừa dối, bị lường gạt
Chính xuất phát từ việc xem xét đánh giá tình hình lịch sử cụ thể trước hết là từ tình hình kinh tế và sự phân biệt rõ rệt lợi ích của giai cấp bị áp bức, của dân tộc bị áp bức mà Luận cương đã chỉ ra bản chất về bình đẳng CNĐQ nói trên
- Đặc điểm thế giới sau CTTG I là sự bất bình đẳng sâu sắc giữa các dân tộc nên không có sự chung sống hoà bình và bình đẳng giữa các dân tộc.
+ Thế giới đã phân chia thành 2 thái cực: Một số ít dân tộc đi áp bức số đông dân tộc khác
+ Xã hội loài người còn có sự phân chia giai cấp, còn nạn dân tộc này đi
nô dịch các dân tộc khác
+ Thực tiễn cho thấy “Hoà ước Véc xây” của các nước “dân chủ phương Tây” khét tiếng là một hành vi bạo lực đối với các dân tộc nhỏ yếu
+ Quyền tự quyết của các dân tộc (bao gồm quyền tự quyết của các dân tộc thuộc địa) phải đi đến công nhận, thực hiện quyền dựng nước độc lập, tự chủ cho tất cả các dân tộ, không phân biệt màu da
Trong đó, quyền dựng nước độc lập tự chủ phải toàn diện cả về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá…chứ không chỉ là “tự trị văn hoá” như QT2
đề xướng
- CNĐQ (kẻ đi áp bức) không bao giờ ban phát quyền độc lập tự chủ cho các dân tộc thuộc địa Muốn thực sự có quyền độc lập tự chủ và bình đẳng giữa các dân tộc thì phải thủ tiêu mọi giai cấp bằng cuộc đấu tranh cách mạng dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
+ Thực tiễn CTĐQ (1914 - 1918) đã làm cho các dân tộc và giai cấp bị áp bức toàn thế giới thấy rõ tính chất lừa dối của nó nên càng thúc đẩy cuộc đấu tranh của GCVS và các dân tộc thuộc địa phát triển làm tan vỡ ảo tưởng chung sống hoà bình và bình đẳng
- Nhiệm vụ của các ĐCS là tiến hành cuộc đấu tranh nhằm lật đổ ách thống trị của GCTS, vạch trần sự dối trá, sự giả nhân, giả nghĩa của chúng
Trang 10* Hai là: phải làm cho GCVS và quần chúng lao động tất cả các dân tộc, tất cả các nước đoàn kết với nhau trong cuộc đấu tranh cách mạng chung nhằm lật đổ bọn địa chủ và GCTS.
(Điểm 4) Luận cương chỉ rõ:
- Điều quan trọng nhất trong chính sách của QTCS về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa là đoàn kết GCVS và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới trong cuộc đấu tranh chống địa chủ và tư sản.
+ Đây là điều kiện, là sức mạnh bảo đảm cho sự chiến thắng CNTB, đồng thời thủ tiêu ách áp bức dân tộc và tình trạng bất bình đẳng về quyền lợi giữa các dân tộc
Luận cương viết: “Bởi vì chỉ có sự gần gũi ấy bảo đảm việc chiến thắng CNTB, nếu không có chiến thắng đó thì không thẻ thủ tiêu được ách áp bức và tình trạng bất bình đẳng” (s.đ.d, tr.199).
* Ba là: ủng hộ chính quyền xô viết Nga với hình thức thích hợp nhất
là vấn đề thiết thân đối với sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng các dân tộc bị áp bức, bóc lột.
(Điểm 5,6)
- Điểm trung tâm của đời sống chính trị thế giới là cuộc đấu tranh chống lại âm mưu tiêu diệt nước Cộng hoà Xô viết Nga - ngọn cờ đầu, căn cứ địa cách mạng và thành trì của CMTG.
- Với vai trò QTCS là Bộ tham mưu chung của GCCN thế giới, của CMTG và của nước Nga xô viết có đủ khả năng để tập hợp xung quanh mình các phong trào của công nhân tiên tiến ở tất cả các nước và các phong trào giải phóng dân tộc thuộc địa trên thế giới.
Luận cương chỉ rõ: “Tất cả các phong trào giải phóng dân tộc trong các nước thuộc địa và trong các dân tộc bị áp bức mà kinh nghiệm đau đớn đã làm cho họ tin chắc rằng đối họ không có con đường cứu nước nào khác sự chiến thắng của chính quyền xô viết đối với CNĐQ thế giới ”
- Sự ủng hộ nước Nga xô viết không chỉ dừng lại ở sự thừa nhận vai trò nước Nga xô viết nhoặc bằng những tuyên bố, mà phải tìm ra hình thức phù hợp với trình độ phát triển của phong trào cách mạng mỗi nước bằng hành động thực tế chống kẻ thù trực tiếp của chính cách mạng nước mình.