1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ nghệ thuật tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan hà nội (giai đoạn 1986 2019)

311 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 311
Dung lượng 18,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là: Nghệ thuật tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan tại một số làng nghề tiêu biểu ở Hà Nội có sản phẩm đạt các giải thưởng tại

Trang 2

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Phan Thanh Thảo

Hà Nội – 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản Luận án tiến sĩ Nghệ thuật tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan Hà Nội (giai đoạn 1986-2019) là công trình nghiên cứu do

tôi viết và chưa công bố Các kết quả nghiên cứu cũng như kết luận trong luận

án này là trung thực Trong quá trình thực hiện luận án, tôi đã kế thừa nguồn tài liệu của các nhà nghiên cứu đi trước và thực hiện trích dẫn cũng như ghi nguồn đầy đủ theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2021

Tác giả luận án

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẲT iv

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT SẢN PHẨM MÂY TRE ĐAN HÀ NỘI 9

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9

1.2 Cơ sở lý luận của đề tài luận án 20

1.3 Khái quát nghề mây tre đan Việt Nam và Hà Nội 34

Tiểu kết 57

Chương 2 HÌNH THỨC BIỂU HIỆN NGHỆ THUẬT TẠO DÁNG, TRANG TRÍ SẢN PHẨM MÂY TRE ĐAN HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 1986-2019 59

2.1 Kỹ thuật, vật liệu trong tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan Hà Nội giai đoạn 1986-2019 59

2.2 Hình thức tạo dáng của sản phẩm mây tre đan Hà Nội giai đoạn 1986-2019 74

2.3 Hình thức trang trí trên sản phẩm mây tre đan Hà Nội giai đoạn 1986-2019 93

Tiểu kết 115

Chương 3 SỰ CHUYỂN BIẾN, ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TẠO DÁNG, TRANG TRÍ SẢN PHẨM MÂY TRE ĐAN HÀ NỘI 117

GIAI ĐOẠN 1986-2019 VÀ BÀN LUẬN 117

3.1 Sự chuyển biến trong tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan Hà Nội giai đoạn 1986-2019 117

3.2 Một số đặc điểm trong tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan Hà Nội 134

Trang 5

3.3 Bàn luận về giá trị thẩm mỹ, kinh tế, văn hóa và thiết kế phát triển sản

phẩm mây tre đan trong xã hội ngày nay 149

Tiểu kết 159

KẾT LUẬN 162

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 169

TÀI LIỆU THAM KHẢO 170

PHỤ LỤC 186

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẲT

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ở Việt Nam, các làng nghề gốm, sơn mài, thêu ren, khảm trai, mây tre đan đã tạo nên các sản phẩm thủ công mỹ nghệ với những đặc trưng riêng của chất liệu, của vùng miền Nhìn lại lịch sử, nghệ thuật thủ công mỹ nghệ của nước ta đã có từ lâu đời, nhiều làng nghề ở miền Bắc đã tạo nên những sản phẩm truyền thống mang nét đặc trưng Riêng nghề mây tre đan không những gắn với đời sống bình dị của người Việt mà còn vươn qua biên giới ra thị trường quốc tế với nhiều sản phẩm xuất khẩu vừa mang tính hiện đại, vừa có nét riêng của một đất nước nông nghiệp nhiều sáng tạo Ở nước ta có khoảng hơn 80 làng nghề mây tre đan, trong đó có một số làng nghề nổi tiếng làm ra nhiều sản phẩm đẹp, đạt thẩm mỹ, chất lượng cao, loại hình phong phú Tính riêng ở Hà Nội,

có rất nhiều làng nghề lớn nhỏ, nổi bật trong đó có làng nghề Phú Vinh (huyện Chương Mỹ), làng nghề Ninh Sở (huyện Thường Tín), làng nghề Đông Phương Yên (huyện Chương Mỹ), làng nghề Phú Túc (huyện Phú Xuyên) Đây là những làng nghề truyền thống, có lịch sử lâu đời, có đội ngũ nghệ nhân nhiều kinh nghiệm, khéo léo, sáng tạo, tạo nên nhiều sản phẩm nổi tiếng Thông qua việc tạo dáng, chế tác các chi tiết trang trí, sản phẩm mây tre đan không còn đơn thuần là vật dụng sinh hoạt mà còn trở thành biểu tượng văn hóa Bắc Bộ, chứa đựng tâm tư tình cảm, tín ngưỡng cộng đồng, giá trị tinh thần sâu sắc Nét độc đáo của sản phẩm mây tre đan chính là kỹ thuật đan lát từ vật liệu mây, tre tạo nên những kiểu dáng, hình thức trang trí đặc trưng Sự sáng tạo dưới bàn tay điêu luyện của các nghệ nhân đã thổi hồn vào các sản phẩm mây tre đan, đưa nghệ thuật mây tre đan trở thành một trong những biểu tượng văn hóa của người Việt

Nghiên cứu về làng nghề, hoạt động nghề, nghệ nhân và sản phẩm đã được một số học giả tiếp cận từ góc độ xã hội, văn hóa, lịch sử Tuy nhiên, chưa

Trang 8

có nghiên cứu chuyên biệt nào tiếp cận từ góc độ nghệ thuật học Trong giai đoạn hội nhập, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đang dần xác định chỗ đứng trên thị trường quốc tế, vừa mang nét truyền thống, vừa có những sáng tạo mới hiện đại, đáp ứng thị hiếu của khách hàng nước ngoài Do vậy, việc kế thừa và đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan được đặt ra như một nhu cầu cần thiết Không chỉ trong quá khứ

mà cho tới sau này, nghệ thuật tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan Hà Nội

đã và đang có ý nghĩa quan trọng góp phần nâng cao giá trị sản phẩm hàng tiêu dùng của ngành thủ công mỹ nghệ nước ta

Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, NCS lựa chọn đề tài nghiên

cứu về Nghệ thuật tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan Hà Nội (giai đoạn 1986-2019) làm luận án Tiến sỹ chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ

thuật Trên cơ sở kế thừa những thành quả của các nhà nghiên cứu đi trước, nội dung luận án làm rõ tạo dáng, trang trí của sản phẩm để tìm ra nét đặc trưng và giá trị nghệ thuật của sản phẩm mây tre đan Hà Nội Qua nghiên cứu này, tác giả luận án mong muốn đóng góp một phần tư liệu còn khuyết thiếu vào kho tàng nghệ thuật thủ công mỹ nghệ Việt Nam

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 9

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án chủ yếu như sau:

- Hệ thống hóa các khái niệm, thuật ngữ liên quan đến vấn đề nghiên cứu

- Vận dụng cơ sở lý luận để phân tích hình thức biểu hiện của nghệ thuật tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan ở Hà Nội giai đoạn 1986-2019 thông qua các sản phẩm tiêu biểu

- So sánh nghệ thuật tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan Hà Nội với một số khu vực khác từ đó làm sáng rõ những đặc trưng nghệ thuật của sản phẩm mây tre đan Hà Nội

- Nhận định về giá trị của nghệ thuật tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan Hà Nội trong đời sống vật chất và tinh thần của người Việt

- Nhận định vai trò của thiết kế phát triển sản phẩm mây tre đan và luận bàn về kết quả nghiên cứu

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là: Nghệ thuật tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan tại một số làng nghề tiêu biểu ở Hà Nội (có sản phẩm đạt các giải thưởng tại các cuộc thi, triển lãm mỹ thuật ứng dụng)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: Nghiên cứu sản phẩm mây tre đan tại một số làng nghề thuộc thành phố Hà Nội Bên cạnh đó, có đề cập so sánh sản phẩm mây tre đan với sản phẩm mây tre ở một số địa phương khác

Phạm vi thời gian: Nghiên cứu sản phẩm mây tre đan Hà Nội trong giai đoạn từ 1986-2019 Đây là giai đoạn đất nước bước vào thời kỳ đổi mới

Trang 10

4 Các phương pháp nghiên cứu và phương pháp tiếp cận

4.1 Các phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tổng hợp và phân tích và tài liệu thứ cấp

Đây là phương pháp cơ bản để tác giả luận án tiếp cận trực tiếp vấn đề nghiên cứu Thông qua việc thu thập tài liệu, thông tin, công trình khoa học của các tác giả trong và ngoài nước, nội dung luận án chọn lọc những tài liệu chính thống, có nguồn gốc rõ ràng và khả năng tin cậy cao Phương pháp này làm cơ

sở cho những luận điểm được đặt ra, hỗ trợ việc khai triển luận án nghiên cứu mang tính khoa học và logic hơn

- Phương pháp điền dã

Qua điền dã tại thực địa đã giúp tác giả luận án thu thập, xác minh các

dữ liệu và thực hiện khảo sát, xem xét hiện vật, chụp hình, khảo tả

- Phương pháp phỏng vấn

Luận án áp dụng phương pháp phỏng vấn chuyên gia trong lĩnh vực thủ công mỹ nghệ, mỹ thuật ứng dụng bằng cách gặp trực tiếp, gọi điện hoặc trao đổi trực tuyến Để hiểu sâu hơn nhận định của họ đối với nghệ thuật mây tre đan ở các góc nhìn khác nhau Thông tin từ các cuộc phỏng vấn giúp tác giả luận án có góc nhìn khách quan và đa chiều về nghệ thuật tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan Hà Nội để thực hiện các nội dung nghiên cứu

- Phương pháp nghệ thuật học

Đối với một đề tài nghiên cứu nghệ thuật, việc áp dụng phương pháp nghệ thuật học là cần thiết và quan trọng Phương pháp nghiên cứu này giúp cho việc phân tích mẫu mã sản phẩm mây tre đan ở góc độ nghệ thuật Với hình thức biểu hiện của các yếu tố mỹ thuật như đường nét, mảng, khối, chất liệu, họa tiết, bố cục

Trang 11

- Phương pháp so sánh

Trên cơ sở thông tin từ các nguồn tư liệu, các chuyến khảo sát thực địa

và phỏng vấn, luận án đã thống kê, phân loại và so sánh, đối chiếu để làm rõ vấn đề của nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra Nhằm tìm ra những giá trị nổi bật, khác biệt trong nghệ thuật tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan Hà Nội, nội dung luận án so sánh nghệ thuật tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan Hà Nội với một số làng nghề địa phương khác

4.2 Phương pháp tiếp cận

Phương pháp liên ngành

Nội dung luận án vận dụng phương pháp tiếp cận liên ngành để có góc nhìn bao quát hơn đối với đối tượng nghiên cứu Cách tiếp cận từ hướng nghệ thuật học và nghiên cứu về lịch sử, xã hội, văn hóa cho thấy sự ảnh hưởng của các tác nhân, mục đích trong việc sáng tạo sản phẩm mây tre đan Lý thuyết văn hóa cho thấy sự ảnh hưởng của quan niệm thẩm mỹ địa phương đến sáng tạo sản phẩm cũng như yếu tố tiếp biến mỹ thuật trong quá trình giao thoa Cách tiếp cận theo hướng lịch sử cho thấy được vị trí của nghề mây tre đan trong dòng chảy lịch sử với các bối cảnh văn hóa xã hội biến động

5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

5.1 Câu hỏi nghiên cứu

- Nghệ thuật tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan Hà Nội giai đoạn 1986-2019 được biểu hiện như thế nào?

- Nghệ thuật tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan Hà Nội giai đoạn 1986-2019 có kế thừa tư duy mỹ thuật truyền thống và phát triển theo xu thế thời đại không?

- Nghệ thuật tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan Hà Nội có giá trị như thế nào đời sống xã hội hiện nay nói chung và mỹ thuật ứng dụng nói riêng?

Trang 12

5.2 Giả thuyết nghiên cứu

- Nghệ thuật tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan Hà Nội có những nét đặc trưng nghệ thuật thể hiện ở chủng loại, kiểu dáng, màu sắc, kỹ thuật đan, họa tiết trang trí trên sản phẩm

- Nghệ thuật tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan Hà Nội kế thừa tư duy tạo hình mỹ thuật truyền thống và phát triển phù hợp xu thế của thời đại thông qua sự chuyển biến về tạo dáng và trang trí

- Nghệ thuật tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan có giá trị thẩm mỹ, văn hóa và kinh tế trong đời sống vật chất và tinh thần của người Việt, là dòng sản phẩm thủ công mỹ nghệ đặc sắc, cần được đầu tư thiết kế để phát triển bền vững

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Về phương diện lý luận

Những nghiên cứu trong nội dung luận án đưa ra hệ thống lý luận về nghệ thuật tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan Hà Nội giai đoạn 1986-

2019 Nội dung luận án phân tích nghệ thuật tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan Hà Nội theo góc nhìn của mỹ thuật ứng dụng Nhận định mối liên hệ giữa yếu tố công năng và kiểu dáng, hình khối, đường nét, màu sắc, họa tiết, vật liệu Trên cơ sở đó, chỉ ra những đặc trưng thẩm mỹ trong tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan Hà Nội Nội dung luận án nhấn mạnh giá trị nghệ thuật của sản phẩm mây tre đan trong đời sống vật chất và thẩm mỹ của con người, tầm quan trọng trong việc phát triển dòng sản phẩm này Bên cạnh đó, đưa ra thông tin về xu hướng thiết kế tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan trong bối cảnh các lĩnh vực hoạt động sản xuất của xã hội đều hướng tới phát triển bền vững

Trang 13

- Về phương diện thẩm mỹ

Nội dung luận án chỉ ra cái đẹp trong nghệ thuật tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan với những thành tựu đạt được từ các cuộc thi Trong đời sống, sản phẩm mây tre đan cũng đã và đang thể hiện vai trò làm đẹp và thổi hồn vào không gian sống xanh với kiến trúc từ tre, các sản phẩm bàn ghế, trang trí nội thất từ mây tre Cách thức biểu đạt về thẩm mỹ trong sáng tạo sản phẩm mây tre đan không chỉ ở ngôn ngữ mỹ thuật mà còn là ngôn ngữ văn hóa Nghiên cứu của luận án cũng đưa ra cách nhìn mới về sáng tạo sản phẩm mây

tre đan ngày nay

- Về công tác đào tạo

Những nghiên cứu trong luận án chỉ ra những đặc điểm, những yếu tố tác động trong quá trình thiết kế tạo mẫu sản phẩm mây tre đan Nội dung nghiên cứu của luận án cũng sẽ đưa vào làm tài liệu giảng dạy và nghiên cứu cho sinh viên ngành mỹ thuật ứng dụng để hiểu thêm về nét đẹp của nghề thủ công truyền thống và khơi nguồn cảm hứng trong thiết kế sản phẩm hiện đại Bên cạnh đó, chúng cũng gợi mở về định hướng đào tạo cho họa sỹ thiết kế muốn ứng dụng kỹ thuật thủ công truyền thống trong sáng tạo sản phẩm Trong thời đại mới, người thiết kế, nghệ nhân phải nhận thấy được vai trò và trách nhiệm của mình trong việc lưu giữ và bảo tồn nét đẹp của mỹ thuật ứng dụng dân gian, tập trung phát triển mẫu mã sản phẩm gắn liền yếu tố truyền thống và hiện đại, thổi hồn cho những sản phẩm ứng dụng hiện đại một tinh thần truyền thống đậm đà

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu (8 trang), Kết luận (7 trang), Tài liệu tham khảo (15 trang), và Phụ lục (117 trang), nội dung chính của luận án được bố cục thành 3 chương:

Trang 14

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát sản phẩm mây tre đan Hà Nội (50 trang)

Chương 2: Hình thức biểu hiện nghệ thuật tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan Hà Nội giai đoạn 1986-2019 (58 trang)

Chương 3: Sự chuyển biến, đặc điểm nghệ thuật tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan Hà Nội giai đoạn 1986-2019 và bàn luận (45 trang)

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN

VÀ KHÁI QUÁT SẢN PHẨM MÂY TRE ĐAN HÀ NỘI

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài

Các tài liệu về sản phẩm mây tre đan phần nhiều đều tiếp cận dưới góc

độ văn hóa giới thiệu nét văn hóa bản địa đặc sắc thông qua hình ảnh các sản phẩm Một số cuốn sách tác giả luận án tiếp cận được về nghệ thuật mây tre đan Nhật Bản, Đài Loan đều là giới thiệu về nghệ thuật mây tre đan thông qua

hệ thống hình ảnh minh họa phong phú từ truyền thống đến hiện đại Bên cạnh

đó các tài liệu khác nghiên cứu sản phẩm mây tre đan dưới góc độ kinh tế, văn hóa xã hội, lịch sử Nhóm các tài liệu mỹ thuật ứng dụng thì khai thác kỹ thuật đan lát mây tre trên các thiết kế hiện đại, có tính ứng dụng cao

1.1.1.1 Nhóm tài liệu liên quan đến tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan dưới góc độ kinh tế, văn hóa và xã hội

Năm 2000, trong cuốn Contemporary Japanese Bamboo Arts (Nghệ

thuật tre đan đương đại Nhật Bản) của các tác giả Pat Pollard và Robert T Coffland [151] giới thiệu với người đọc về thế giới nghệ thuật tre đương đại của Nhật Bản Tác giả cung cấp cho người đọc thông tin cơ bản cần thiết để hiểu loại hình nghệ thuật này phát triển như thế nào trong hàng trăm năm qua

và những thách thức hiện tại mà lĩnh vực này phải đối mặt

Năm 2009, trong cuốn The Art of Bamboo and Rattan Weaving của tác

giả Lee Chan-Hung James [150] (Dịch: Nghệ thuật mây tre đan) giới thiệu nghệ thuật đan lát mây tre của Đài Loan với những hình ảnh minh họa phong phú chứng minh cho sự thăng hoa của một loại hình mỹ thuật thủ công Cuốn sách tập hợp và giới thiệu sự phong phú trong tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan Đài Loan thông qua hệ thống hình ảnh của các sản phẩm tiêu biểu

Trang 16

như các loại giỏ mây, tre khác nhau, rương, bình hoa và các đồ vật trong gia đình

1.1.1.2 Nhóm tài liệu nghiên cứu liên quan đến tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan dưới góc độ mỹ thuật ứng dụng

Trong thời gian gần đây, việc đưa nghệ thuật mây tre đan thủ công truyền thống vào các thiết kế các sản phẩm mỹ thuật ứng dụng hiện đại và các tác phẩm mỹ thuật tạo hình đã trở nên phổ biến trên thế giới Đặc biệt tại các nước khu vực Châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc hay các nước khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Phillipines, Indonesia và ngày càng được ưa chuộng bởi giá trị thẩm mỹ cũng như văn hóa đậm nét

Năm 2005 trong cuốn Inspired Shapes: Contemporary Designs for Japan's Ancient Crafts [157] (Dịch: Cảm hứng từ hình dạng: Thiết kế đương đại từ nghệ thuật thủ công cổ truyền của Nhật Bản) tập hợp các sản phẩm thiết

kế đương đại của Nhật Bản khai thác nguồn tài nguyên từ nghệ thuật trang trí, thủ công truyền thống với các kỹ thuật và chất liệu truyền thống Nhật Bản như tre, sơn mài, thủy tinh, gỗ… Cuốn sách giới thiệu về tạo dáng sản phẩm hiện đại ứng dụng vật liệu và kỹ thuật thủ công truyền thống trong đó có mây tre đan

Năm 2012, Bamboo, from traditional crafts to contemporary design and architecture [149] (Dịch: Tre, từ thủ công truyền thống đến thiết kế và

kiến trúc hiện đại) của tác giả Esteve – Sendra, Chelea nghiên cứu ứng dụng của tre trong nghệ thuật thủ công truyền thống và thiết kế sản phẩm đương đại, khám phá tre và nhiều công dụng của nó từ thực phẩm đến đồ nội thất Trong nhiều trường hợp, các nhà thiết kế hợp tác với các nghệ nhân, tạo ra các sản phẩm khác nhau, thay đổi lối sống và áp dụng các công nghệ mới để tạo ra một thế giới với các sản phẩm sinh thái bền vững Nghiên cứu tiếp cận

Trang 17

nghề mây tre đan truyền thống dưới góc độ mỹ thuật ứng dụng với những giải pháp trên sản phẩm cụ thể

Năm 2012, The Development and Effects of the Twentieth-Century Wicker Revival của tác giả Emily A Morris [148] (Dịch: Sự phát triển và sự

hồi sinh của mây thế kỷ XX) nghiên cứu những ảnh hưởng các phong cách nghệ thuật thế kỷ XX đến sự hồi sinh của sản phẩm đan lát Đồ nội thất đan lát xuất hiện và phổ biến từ cuối thế kỷ XIX đến thập niên 1920, tuy nhiên trải qua một thời gian dài chịu ảnh hưởng của các cuộc Thế chiến bị mai một, phải đến nửa sau thế kỷ XX, vào khoảng những năm 50-60, sản phẩm đan lát mới được hồi sinh Tài liệu đề cập đến tạo dáng, trang trí trên sản phẩm nội thất mây những năm đầu thế kỷ XX ở Châu Âu

Năm 2014, Design and development of handy crafts furniture and decorative product, case study: Rattan fake [161] (Dịch: Thiết kế và phát triển

đồ nội thất thủ công tiện dụng và sản phẩm trang trí, nghiên cứu trường hợp: Mây nhân tạo) của tác giả Ruengsombat và các cộng sự nghiên cứu các ứng dụng của mây nhân tạo trong thiết kế và phát triển các sản phẩm nội thất và trang trí ứng dụng thủ công Nghiên cứu cho thấy những ứng dụng kỹ thuật đan lát trên vật liệu mới có thể tạo ra những sản phẩm tiện dụng, có giá trị thực tiễn nhất định trong sử dụng vật liệu mới để thiết kế sản phẩm có hiệu ứng mây tre đan

Năm 2014, When bamboo meets design - reviving bamboo handicraft

in modern design [164] (Dịch: Khi tre kết hợp thiết kế - hồi sinh nghề thủ

công tre đan trong thiết kế hiện đại) của tác giả Zhang Yezhi nghiên cứu các thiết kế từ vật liệu tre, sự hồi sinh của vật liệu tre trên sản phẩm Sản phẩm hiện đại, tài liệu này giới thiệu nhiều mẫu thiết kế từ vật liệu mây tre với sự biến tấu trong kết hợp hình khối, đường nét, mang đậm tính hiện đại Với sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghiệp hiện đại và sự thay đổi lớn

Trang 18

trong lối sống của con người, nhiều sản phẩm thủ công đã được thay thế bằng các sản phẩm đại chúng và đang trên bờ vực bị biến mất Tác giả nghiên cứu một số nghề thủ công tre cơ bản và tham gia vào quá trình sản xuất để làm quen với vật liệu và các kỹ thuật liên quan Bằng cách sử dụng các bộ phận khác nhau của tre và sử dụng các tính năng khác nhau của vật liệu và kỹ thuật

cụ thể

Năm 2014, The Application Research on Chinese Traditional Patterns

in the Design of Bamboo and Rattan Furniture [160] (Dịch: Nghiên cứu ứng

dụng về các họa tiết truyền thống của Trung Quốc trong thiết kế đồ nội thất mây tre) của tác giả Ruofu Bai nghiên cứu ứng dụng của họa tiết hoa văn truyền thống Trung Quốc trên sản phẩm thiết kế nội thất Những nghiên cứu này cho thấy nghệ thuật mây tre đan thủ công truyền thống đã được chú ý đến trong những thiết kế đương đại, ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như thiết kế sản phẩm nội thất, trang trí Công trình này nhằm mục đích nghiên cứu tích hợp các mẫu truyền thống của Trung Quốc vào sản xuất đồ nội thất mây tre hiện đại theo nhu cầu về thiết kế sáng tạo của đồ nội thất mây tre đan Công trình nghiên cứu dưới góc độ thực tiễn với các giải pháp tạo dáng, trang trí sản phẩm hiện đại khai thác hoa văn truyền thống

1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

1.1.2.1 Nhóm tài liệu liên quan đến sản phẩm mây tre đan dưới góc độ kinh tế, văn hóa và xã hội

Năm 1992, bài viết “Nghề mây tre đan cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ” của tác giả Lê Huyên [52] đưa cái nhìn khái quát về quá trình phát triển của nghề mây tre đan trong khu vực Đông Nam Á, lịch sử phát triển của nghề mây tre đan ở Việt Nam thông qua các di vật khảo cổ học Căn cứ vào những khảo sát dân tộc học, tác giả đưa ra nhận định ở cuối thời kỳ phong kiến khoảng thế kỷ XVIII-XIX đã hình thành những làng xã chuyên về đan lát đồ mây tre

Trang 19

Bài viết đưa ra cái nhìn tổng quan về lịch sử, cũng như đưa ra nhận xét nghề mây tre đan phát triển ở những làng nghề không phải ở đồng bằng trồng lúa Bắc Bộ mà chuyển dịch lên vùng trung du sát đồng bằng Đó là các làng Phú Nghĩa, Phú Hòa, Mỹ Du thuộc Hà Sơn Bình (cũ) Tác giả phân tích nghề mây tre đan đồng bằng Bắc Bộ trên các phương diện kỹ thuật và hiệu quả kinh tế chứ chưa đề cập đến tạo dáng, trang trí sản phẩm

Năm 1992, bài viết “Tre đan Ninh Sở” của tác giả Nguyễn Thọ Sơn [108] giới thiệu về làng nghề tre đan Ninh Sở Nếu như trong các công bố đã

có liên quan đến nghề đan lát người ta thường hay nhắc đến làng nghề mây đan Phú Vinh với những sản phẩm mây đan có giá trị xuất khẩu cao thì tác giả đã bổ sung một làng nghề với sản phẩm tre đan đặc sắc, nơi đây nghề tre đan phát triển tinh vi đến mức người nghệ nhân có thể nhìn vào ảnh, nghĩ ra cách đan để tạo thành những bức tranh chân dung hay phong cảnh Bài viết tiếp cận nghề mây tre đan dưới góc độ văn hóa và tập trung vào nghề tre đan, chưa có những phân tích khía cạnh mỹ thuật ứng dụng

Năm 2000, cuốn Di sản thủ công mỹ nghệ Việt Nam của tác giả Bùi

Văn Vượng [136] nghiên cứu về các làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam nổi bật với những đặc điểm văn hóa, quy trình chế tạo, những giá trị kinh tế, văn hóa, mỹ thuật về các làng nghề, các đặc điểm lịch sử, văn hóa,

xã hội Trong tổng quan chung các làng nghề truyền thống của Việt Nam thì tác giả nhấn mạnh làng nghề mây tre đan Phú Vinh ở Chương Mỹ với nhiều mẫu mã chủng loại, tiêu biểu như bát mây, lẵng mây, đĩa mây… Cuốn sách nghiên cứu nghề mây tre đan dưới góc độ văn hóa, không đề cập đến nhiều đến tính thẩm mỹ của sản phẩm

Năm 2004, trong cuốn Giá trị văn hóa trong nghề thủ công đan lát của các tộc người Việt Nam do tác giả Hà Thị Nự chủ biên [95], nghề mây tre đan

của các tộc người được nhìn nhận một cách tổng quát từ họa tiết trang trí đến

Trang 20

quy trình tạo tác cho từng loại sản phẩm Công trình này là tài liệu tập hợp rất đầy đủ về nghề mây tre đan cổ truyền, từ những tổng kết từ nhiều nguồn tài liệu các lĩnh vực nghiên cứu văn hóa, lịch sử về lịch sử phát triển của nghề mây tre đan đến quy trình chế tác sản phẩm mây tre đan Đặc biệt trong cuốn sách này, tác giả còn mô tả rất kỹ từng kỹ thuật đan và quy trình để tạo ra những kiểu hình dáng hay họa tiết trang trí trên sản phẩm mây tre đan một số dân tộc Tài liệu đưa ra cái nhìn so sánh về sản phẩm mây tre đan của Hà Nội và các vùng miền khác, cụ thể là một số tộc người miền núi phía Bắc

Năm 2008, trong luận văn cao học với đề tài Làng nghề đan lát Nam Cường [8], tác giả Trương Thị Ngọc Bích nhận xét trên địa bàn cả nước thì

chỉ tính riêng ở đồng bằng Bắc Bộ cũng có tới vài chục làng nghề đan lát có thu nhập từ sản phẩm mây tre đan xuất khẩu, nổi tiếng nhất là các làng như Phú Vinh ở Chương Mỹ, làng Vác ở Thanh Oai, làng Tăng Tiến ở Bắc Giang Công trình nghiên cứu làng nghề đan lát Nam Cường ở Mê Linh, Hà Nội dưới góc độ văn hóa, đi sâu vào phân tích lịch sử phát triển, các đặc điểm văn hóa

xã hội Công trình mô tả mô hình sản xuất sản phẩm đan lát của làng nghề Nam Cường từ nguồn vật liệu, các kỹ thuật và mô hình tổ chức sản xuất So với nghề đan lát ở các địa phương khác nghề đan lát ở Nam Cường vừa có những nét riêng, độc đáo vừa có những nét chung trong bối cảnh phát triển

ngành thủ công vùng đồng bằng Bắc Bộ Tài liệu nghiên cứu về làng nghề

mây tre đan về phương diện văn hóa, làng nghề, những đặc điểm cũng như

Trang 21

Mỹ, thôn Phú Vinh, xã Phú Nghĩa được coi là “Xứ Mây” với lịch sử phát triển nghề lâu đời Có những sản phẩm mây đan được làm từ làng nghề Phú Vinh, nay vẫn được người đời lưu giữ như một tác phẩm nghệ thuật cổ quý hiếm Hiện tại, Bảo tàng cung đình Huế đang lưu giữ một tác phẩm thư pháp chữ Hán đan bằng mây của các cố tác giả thôn Phú Vinh vào năm 1712 Tài liệu tiếp cận làng nghề mây tre đan tiêu biểu của Hà Nội dưới góc độ lịch sử, cung cấp những thông tin hữu ích về lịch sử làng nghề

Năm 2011, cuốn Tổng tập làng nghề truyền thống Việt Nam của Trương

Minh Hằng chủ biên [37] tập hợp bài viết của nhiều tác giả là cuốn sách khá đầy

đủ về các làng nghề truyền thống lâu đời của Việt Nam trong đó có các làng nghề mây tre lá, mây tre đan với các sản phẩm đặc trưng cho mỗi làng nghề như làng nghề đan chiếu, làm quạt, làm nón đã trở nên nổi tiếng trên khắp cả nước Đây là cuốn sách tập hợp các bài viết về các làng nghề thủ công truyền thống khắp cả nước Với mỗi làng nghề, các tác giả đề cập đến vị trí địa lý, quá trình hình thành và phát triển, sản phẩm đặc trưng, nguồn nguyên liệu, cách xử lý nguyên liệu cũng như quy trình chế tác sản phẩm thủ công, tổ chức sản xuất làng nghề một cách khá đầy đủ và toàn diện Đây là một tài liệu tổng hợp khá đầy đủ

và chi tiết về các làng nghề, nhóm nghề đặc sắc của Việt Nam, cung cấp những thông tin hữu ích về văn hóa làng nghề, trong đó có nghề mây tre đan Tuy nhiên tài liệu chỉ tiếp cận ở góc độ văn hóa, làng nghề và chưa đề cập đến tính mỹ thuật của sản phẩm mây tre đan một địa phương hay một giai đoạn cụ thể nào

Năm 2011, trong cuốn Văn hóa Việt Nam nhìn từ Mỹ thuật [119], tác

giả Chu Quang Trứ cho rằng nghệ thuật đan lát đã được khẳng định qua những hoa văn mặt ngoài đồ gốm đương thời Tác giả nhận định mây, tre, gỗ đã bám sát cuộc sống của người Việt trong suốt trường kỳ lịch sử, ngày càng được nhào nặn theo quy luật của cái đẹp Những đồ đan phục vụ cuộc sống thường ngày có thể kể ra nhiều thứ: từ nông cụ và dụng cụ săn bắt động vật, đánh cá

Trang 22

đến đồ gia dụng như rổ, rá, dần, sàng không đơn thuần chỉ có yếu tố thực dụng

mà vẫn hàm chứa yếu tố thẩm mỹ Cuốn sách có những nhận định nhấn mạnh giá trị thẩm mỹ của sản phẩm mây tre đan Việt Nam

Năm 2016, trong bài viết “Qui trình tích hợp chế tác sản phẩm thủ công giữa nhà thiết kế và nghệ nhân - một ví dụ tham chiếu với công tác thiết kế mẫu mã sản phẩm thủ công truyền thống ở Việt Nam hiện nay” tác giả Đoàn Thị Mỹ Hương [49] cho rằng trong công tác thiết kế mẫu mã sản phẩm thủ công truyền thống, để đạt được hiệu quả cũng như mẫu mã được thiết kế phát triển phù hợp với nhu cầu tiêu dùng, thị hiếu của khách hàng thì sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà thiết kế và nghệ nhân là rất cần thiết, trong đó nhà thiết kế với vai trò là những người định hướng thẩm mỹ cho phát triển sản phẩm, nghệ nhân là người am hiểu về vật liệu cũng như kỹ thuật thực hiện sản phẩm, sự kết hợp hài hòa giữa nhà thiết kế trong việc vận dụng các kỹ thuật thủ công phù hợp với vật liệu, công năng với những nguyên tắc thẩm mỹ sẽ tạo nên một sản phẩm đẹp, có giá trị sử dụng cao Bài viết nhận định vai trò kết hợp giữa nghệ nhân và nhà thiết kế là rất quan trọng trong phát triển sản phẩm thủ công

Năm 2017, trong bài viết “Nghề thủ công ở một số nước trên thế giới”

[50] tác giả Đoàn Thị Mỹ Hương đề cập đến nghề mây tre đan một số nước như Ấn Độ, Jamaica đều đã tìm cho mình được hướng đi thích hợp với xã hội đương đại, chuyển hướng phát triển phục vụ du lịch và cao hơn nữa, các sản phẩm này được nâng lên và phát triển trong ngành công nghiệp phục vụ kiến trúc, đô thị, và các sản phẩm phục vụ nội thất như ở Jamaica, dưới sự hỗ trợ của các tổ chức, hiệp hội như mạng lưới Mây Tre Quốc Tế INBAR ở Jamaica Qua đó, tác giả chỉ ra sự hữu dụng của các sản phẩm này và tính năng của nó hoàn toàn có thể phát triển trong xã hội hiện đại, trong đó, sự vào cuộc của các nhà thiết kế công nghiệp kết hợp với nghệ nhân và thợ thủ công mây tre

Trang 23

góp phần không nhỏ cho hướng đi mới này Bài viết có những góc nhìn mới

về nghề mây tre đan một số nước ở Châu Á, những nhận định sâu sắc về giá trị của sản phẩm mây tre đan ở một số quốc gia

Năm 2017, đề tài nghiên cứu cấp Bộ với nội dung “Nâng cao chất lượng mẫu mã sản phẩm của các làng nghề thủ công ở Việt Nam (trường hợp làng nghề gốm và mây tre đan) [51] của tác giả Đoàn Thị Mỹ Hương khảo sát mẫu

mã sản phẩm gốm và mây tre đan ở các làng nghề nổi tiếng ở Việt Nam như làng gốm Bát Tràng, Phù Lãng ở Hà Nội, Phước Tích ở Huế, các làng nghề mây tre đan tiêu biểu như Bao La ở Huế, Phú Vinh ở Hà Nội Đề tài đặt ra mục tiêu nghiên cứu, tìm kiếm giải pháp nâng cao chất lượng thiết kế mẫu mã sản phẩm gốm và mây tre đan truyền thống ở Việt Nam trong xã hội hiện đại,

đề xuất các quan điểm, mục tiêu nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác thiết

kế mẫu để đáp ứng nhu cầu thị trường giai đoạn hội nhập quốc tế Tài liệu khảo sát nhiều mẫu mã sản phẩm gốm và mây tre đan, đưa ra những kiến nghị

về mặt chính sách, chế tài nhằm củng cố mối quan hệ giữa nhà thiết kế và nghệ nhân, với mục tiêu nâng cao chất lượng mẫu mã sản phẩm

Năm 2017, luận văn đề tài Bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá làng nghề truyền thống mây tre đan Phú Túc, Phú Xuyên - Hà Nội [101] của tác

giả Nguyễn Thị Thu Phương nghiên cứu về làng nghề mây tre đan Phú Túc, Phú Xuyên Trong nội dung của luận văn, tác giả đưa ra nhận định về làng nghề Phú Xuyên là vùng đất nổi tiếng với ít nhất 15 nghề thủ công truyền thống trong đó làng nghề mây tre đan xã Phú Túc là một làng nghề độc đáo, nổi tiếng Các sản phẩm từ thiên nhiên như mây, tre, cỏ tế, giang… là những sáng tạo văn hóa có từ lâu đời được trao truyền và tồn tại cho đến tận ngày nay Cùng với sự phát triển của đất nước trong những năm gần đây làng nghề truyền thống xưa dần thay đổi theo hướng mở rộng, phát triển kinh tế, tác giả

Trang 24

mong muốn được thực hiện đề tài nghiên cứu qua đó góp phần việc bảo tồn những giá trị văn hóa làng nghề

1.1.2.2 Nhóm tài liệu nghiên cứu liên quan đến tạo dáng, trang trí và sản phẩm mây tre đan dưới góc độ mỹ thuật ứng dụng

Năm 2014, luận văn cao học với đề tài Nghệ thuật mây tre đan truyền thống trong thiết kế thời trang hiện đại của Nguyễn Thị Hồng Thúy [116]

nghiên cứu về đặc tính mây, tre, việc sử dụng nguyên liệu mây tre trong sản xuất đồ dùng, vật dụng Với đề tài này, tác giả trình bày các kiểu đan bện cơ bản của mây tre, công năng và tính thẩm mỹ của sản phẩm được đan từ vật liệu mây tre Hiệu ứng thị giác những kỹ thuật đan mây tre nhưng sử dụng các vật liệu khác nhau như lụa, da, nhựa… Dựa trên nghiên cứu xu thời trang thế giới và trong nước và lợi thế của tạo hình đan bện mây, tre với xu hướng thời trang hiện đại, tác giả đưa ra bộ sưu tập trang phục dạo phố thu đông ứng dụng một số kỹ thuật đan bện cơ bản như đan nong mốt thay đổi khoảng cách

để tạo điểm nhấn trên trang phục

Năm 2014, luận văn cao học của tác giả Nguyễn Thị Dung với đề tài Vật liệu mây tre trong sáng tác thiết kế sản phẩm nội thất [17] nghiên cứu tập

trung vào vật liệu mây tre ở khía cạnh tính chất, khả năng tạo hình trong thiết

kế sản phẩm nội thất Tác giả phân tích đặc tính của vật liệu, các kỹ thuật xử

lý vật liệu mây, tre Trên cơ sở phân tích thực trang sản phẩm nội thất mây tre với những thuận lợi và thử thách, tác giả đặt ra các yêu cầu thiết kế cụ thể về công năng, thẩm mỹ, đặc biệt là kết cấu phù hợp cho thiết kế sản phẩm nội thất mây tre, từ đó tác giả đã đưa ra phương án thiết kế ghế thư giãn song mây tre

Năm 2016, luận văn cao học của tác giả Phạm Thị Ly Hạ với đề tài

Nghiên cứu kỹ thuật đan bện mây tre trong thiết kế trang phục nữ Việt Nam

[31] tiếp tục hướng nghiên cứu sử dụng một số kỹ thuật đan bện mây tre để

Trang 25

thiết kế sản phẩm trang phục dạ hội Luận văn tập trung phân tích các kiểu đan bện từ kỹ thuật đến quy trình, các bước thực hiện Trên cơ sở nghiên cứu

xu hướng thời trang cũng như phân tích đăc điểm, yêu cầu thiết kế của trang phục dạ hội, tác giả lựa chọn ra kiểu đan phù hợp ứng dụng với từng vị trí điểm nhấn trên trang phục dạ hội Tác giả tiến hành thử nghiệm một số phương án với các vật liệu khác nhau, lựa chọn phương án tối ưu và thể hiện

bộ sưu tập Luận văn có giá trị thực tiễn nhất định với những khai thác kỹ thuật mây tre đan ứng dụng trong thiết kế sản phẩm thời trang

Đánh giá khoảng trống các công trình nghiên cứu

Các công trình nước ngoài: Các công trình nghiên cứu của nước ngoài

về sản phẩm mây tre đan phần nhiều tiếp cận ở góc độ văn hóa thông qua giới thiệu hình ảnh các sản phẩm mây tre đan truyền thống cũng như hiện đại, giới thiệu nét đẹp của văn hóa của dân tộc Một số công trình tiếp cận ở góc độ mỹ thuật ứng dụng với kỹ thuật đan lát được sáng tạo trong tạo dáng, trang trí những sản phẩm thiết kế hiện đại trong nhiều lĩnh vực như kiến trúc, nội thất, thời trang Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan dưới góc độ lý luận của mỹ thuật ứng dụng

Các công trình trong nước: Các công trình nghiên cứu lý luận và thự

tiễn công bố trong nước tiếp cận nghề mây tre đan thủ công truyền thống chủ yếu dưới góc độ văn hóa, bằng hình thức liệt kê các làng nghề truyền thống,

mô tả mô hình vận hành của làng nghề, những đặc điểm văn hóa, qui trình thực hiện các sản phẩm của làng nghề, các mô hình tổ chức sản xuất, phân công lao động Những công trình tiếp cận dưới góc độ mỹ thuật ứng dụng công bố trong thời gian gần đây là thể nghiệm các kỹ thuật đan lát trên mô hình và tác phẩm/sản phẩm hiện đại, chưa thấy trong các nghiên cứu giải quyết các vấn đề về lý luận, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách

Trang 26

chuyên biệt các đặc điểm thẩm mỹ của sản phẩm mây tre đan Hà Nội trên phương diện lý luận của mỹ thuật ứng dụng

Như vậy, qua phương pháp tổng hợp, thống kê và phân tích những tài liệu liên quan đến hướng nghiên cứu của luận án, tác giả luận án nhận thấy chưa có công trình nghiên cứu về tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan nói chung cũng như sản mây tre đan Hà Nội ở góc độ lý luận mỹ thuật ứng dụng Với đề tài này, luận án khẳng định giá trị nghệ thuật tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan Hà Nội trong dòng chảy của mỹ thuật ứng dụng dân gian Việt Nam, qua đó góp phần tôn vinh một nét đẹp văn hóa của dân tộc

1.2 Cơ sở lý luận của đề tài luận án

1.2.1 Các khái niệm và thuật ngữ liên quan đến đề tài

1.2.1.1 Nhóm khái niệm và quan điểm về Nghệ thuật và Cái đẹp Khái niệm “nghệ thuật” theo định nghĩa của Từ điển Triết học [94, tr

380] mục từ “nghệ thuật” được viết là: “Nghệ thuật – hình thái đặc thù của ý thức xã hội và của hoạt động con người; phản ánh hiện thực dưới những hình tượng nghệ thuật; là một trong những phương pháp quan trọng nhất để nắm

bắt thế giới bằng thẩm mỹ” Khái niệm “nghệ thuật” theo cuốn Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học như sau đưa ra hai định nghĩa cho danh từ nghệ

thuật: “Nghệ thuật (dt) 1 Hình thái ý thức xã hội đặc biệt, dùng hình tượng sinh động, cụ thể và gợi cảm để phản ánh hiện thực và truyền đạt tư tưởng, tình cảm Xây dựng hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học 2 Phương pháp, phương thức giàu tính sáng tạo” [99, tr.865]

Trong cuốn Nghệ thuật ngày thường, tác giả Phan Cẩm Thượng có

nhận định về mối quan hệ giữa văn hóa và nghệ thuật: “Nghệ thuật là tích tụ đỉnh cao của đời sống văn hóa, khi văn hóa xuống cấp, nghệ thuật cũng khó

mà vươn lên, ngược lại, khi nghệ thuật xuống cấp, nó không tác động được trở lại, hoặc rất ít tới đời sống văn hóa’’ [115, tr.19]

Trang 27

Nghệ thuật ứng dụng

Trong cuốn Hình thái học của nghệ thuật của M.Cagan, nghệ thuật ứng

dụng được định nghĩa là nghệ thuật tạo nên những đối tượng tạo hình có dung tích và có ba chiều [84, tr.497] Như vậy, chúng ta có thể hiểu như sau: Nghệ thuật là sự sáng tạo ra những sản phẩm, tác phẩm mang giá trị tư tưởng, thẩm

mĩ tạo ra cảm xúc, tình cảm và tinh thần cho người xem Từ các định nghĩa, luận điểm ở trên, luận án tiếp cận việc nghiên cứu sản phẩm mây tre đan như một loại hình nghệ thuật ứng dụng hay thuật ngữ ngành mỹ thuật hiện nay thường dùng ở Việt Nam là mỹ thuật ứng dụng, để tìm hiểu sâu hơn về những giá trị tạo hình mà loại hình nghệ thuật này mang lại

Quan điểm về Cái Đẹp

Kant quan niệm về cái đẹp rằng cái đẹp là cái ta cho là đẹp, trong đó khả năng để đánh giá dựa trên thú vui cảm giác thường được gọi là sở thích

“Nó không phụ thuộc vào một quan niệm nào hết vì phán đoán thẩm mỹ không cho ta một tri thức nhưng cho ta một cảm tưởng” [24, tr.319] Cái đẹp của Kant có 4 phương diện, với ý chủ đạo: Cái đẹp là cái làm ta thích thú (mà không vị lợi) với mọi giác quan khi nhìn thấy, nghe thấy Đó là thứ làm ta vui thỏa mà không cần khái niệm [24, tr.321] Cái đẹp mà Hê-ghen nói tới là “cái đẹp bên ngoài có hình thức trừu tượng” với 3 tiêu chí là tính đều đặn, tính phù hợp quy luật, tính hài hòa [39, tr.246-257] Bên cạnh đó “Cái đẹp cần được quan niệm như một sự thống nhất trừu tượng của chất liệu cảm quan”, nghĩa

là các chất liệu để cảm quan (trong mỹ thuật là màu sắc, đường nét, hình dáng) cần phối hợp để tạo thành tổng thể thống nhất Từ điển Triết học định nghĩa cái đẹp phản ánh hiện thực và đem lại cho con người khoái cảm thẩm mỹ,

“biểu hiện dưới hình thức cảm tính”, “cái đẹp là hình thức nắm bắt thực tế một cách tích cực cơ bản về mặt thẩm mỹ Trong đó lý tưởng thẩm mỹ thể hiện một cách trực tiếp” [94, tr.170] Khi phân tích sản phẩm mây tre đan Hà

Trang 28

Nội, luận án phân tích cái đẹp của sản phẩm dựa trên kiểu dáng, vật liệu, trang trí trên sản phẩm

1.2.1.2 Nhóm khái niệm và quan điểm về “tạo dáng”

Theo quan điểm của cá nhân, tác giả luận án nhận thấy định nghĩa “tạo dáng” bản chất chính là thiết kế kiểu dáng sản phẩm Cách định nghĩa này xuất phát từ thuật ngữ “design” trong tiếng Anh Thuật ngữ hay được dùng cùng với “tạo dáng” là “tạo dáng công nghiệp” hay “tạo dáng sản phẩm công nghiệp” và được hiểu như “thiết kế kiểu dáng sản phẩm công nghiệp” Để diễn giải khái niệm này, luận án đã tiếp cận khái niệm “design” (Dịch: Thiết kế) và các quan điểm về tạo dáng sản phẩm công nghiệp để đưa ra nhận định

về tạo dáng sản phẩm thủ công trong đó có mây tre đan Từ đó tiếp tục tiếp cận khái niệm này để giải quyết các vấn đề nghiên cứu trong tạo dáng sản phẩm thủ công với cái nhìn so sánh để có những nhận định phù hợp với đối tượng nghiên cứu của luận án Phó giáo sư Nguyễn Ngọc Dũng đã đề cập tới khái niệm “design” với quan điểm để nguyên phiên âm và cách viết của tiếng Anh/tiếng Pháp trong ngôn ngữ mà không phiên âm hoặc chuyển hóa thành tiếng Việt Theo ông từ “design” có thể ghép với các ngành khác với nghĩa là

“để lên kế hoạch tiến hành công việc” hoặc với nghĩa là “hình vẽ, bản vẽ, bản lược đồ phác thảo” [19, tr.13] Tác giả khẳng định “Song, design vẫn là ngành nghệ thuật, cũng như bất kỳ ngành nghệ thuật nào, nó biểu hiện chân lý, bằng cách cung cấp hình thể cho bản chất sự vật và nhờ sự cung cấp này hình thành” [19, tr.13] Theo tác giả Lê Huy Văn – Trần Văn Bình, “danh từ Design có gốc La- tinh là Disegno, có từ thời Phục Hưng, có nghĩa là phác thảo, thuật

vẽ (drawing), thiết kế, bản vẽ, là cơ sở của mọi nghệ thuật thị giác, công việc của sáng tạo” [141, tr.8] Như vậy, tại đây ta có khái niệm thiết kế hay design

là hoạt động tạo ra các phác thảo, bản vẽ, là bước đầu tiên để lập trình thực

Trang 29

hiện một công việc, một sản phẩm nào đó Khi nó gắn với hoạt động ngành nghề nào thì trở thành tính định hướng của ngành nghề đó

Sản phẩm mây tre đan có thể xếp vào thể loại mỹ thuật ứng dụng dân gian hay chúng ta vẫn thường gọi là thủ công mỹ nghệ Đây là một loại sản phẩm từ ngàn xưa được thực hiện theo phương thức “cha truyền, con nối” Nhờ vào tài khéo, vào kinh nghiệm, vào kỹ thuật đan lát, có chút ngẫu nhiên, tùy hứng để tạo ra vật mẫu Còn thiết kế sản phẩm công nghiệp được hỗ trợ

cơ giới hóa Quá trình thiết kế công nghiệp thì bắt đầu từ nghiên cứu, tìm hiểu thị trường/khách hàng rồi đưa ra định hướng thiết kế Sau đó đến phác thảo/bản vẽ rồi chế thử, và sau đó là sản xuất những sản phẩm hàng loạt với kích thước có thông số mặc định Còn sản phẩm thủ công mỹ nghệ với phương pháp đặc thù là làm bằng tay Trong một vài nhóm sản phẩm thì kỹ thuật đan lát giống như quá trình “thiết kế từ từ”, đan đến đâu thiết kế đến đó, vừa “thiết kế” cấu trúc, vừa “thiết kế” trang trí Cái đẹp của sản phẩm được tạo nên bởi

kỹ thuật truyền thống, vốn sáng tạo dân gian cộng với tài khéo của người nghệ nhân Các sản phẩm thủ công có thể được sản xuất hàng loạt nhưng không thể giống nhau hoàn toàn, đôi khi sự không toàn vẹn lại chính là nét đẹp của sản phẩm Trong thiết kế sản phẩm mây tre đan, có những loại sản phẩm dùng 1 kiểu đan từ đầu đến cuối, người nghệ nhân trong quá trình đan có thể nghĩ ra tạo dáng mới, ví dụ như sản phẩm bình/lọ, người thiết kế có thể căn chỉnh độ mở/thu hẹp của các phần thân bình, cổ bình, vai bình để có được tạo dáng ưng

ý Sau khi làm xong vật mẫu, nếu chưa ưng thì lại tìm phương án khác phù hợp hơn Với các sản phẩm gia dụng như hộp, khay, bát, đĩa… thì tạo dáng thường là hình cơ bản như vuông, tròn, chữ nhật, elip với tạo hình đáy trước rồi đến phần thân và cuối cùng là miệng, tạo hình đáy thế nào thì đan lên sản phẩm sẽ có tạo dáng như vậy, việc thay đổi tạo dáng sẽ tập trung ở tăng giảm kích thước chiều cao của phần thân, hoặc đường tạo dáng phần diềm (có thể

Trang 30

bằng hoặc uốn lượn) Với những đặc thù về kỹ thuật đan, trong thiết kế sản phẩm mây tre đan, việc thực hiện phác thảo mẫu vẫn được thực hiện để người nghệ nhân/họa sỹ hình dung được tạo dáng, trang trí của sản phẩm, tuy nhiên khâu quan trọng nhất của thiết kế sản phẩm mây tre đan chính là thực hiện vật mẫu/mẫu chế thử để thấy được ưu nhược điểm của sản phẩm, có thể sản phẩm

có hình dáng tốt tuy nhiên kỹ thuật đan trang trí lại chưa thật sự phù hợp thì phải điều chỉnh kỹ thuật đan hoặc ngược lại, dựa vào đặc thù của kỹ thuật đan

để có được tạo dáng, trang trí phù hợp Như vậy, tạo dáng và trang trí sản phẩm mây tre đan là hai yếu tố có sự liên kết chặt chẽ, tương hỗ lẫn nhau, với sản phẩm mây tre đan thì kỹ thuật đan là yếu tố quan trọng để phát triển tạo dáng và trang trí

Quan điểm về “Tạo dáng”

Trong cuốn Cơ sở phương pháp luận design của tác giả Lê Huy Văn

[139], khái niệm “hình dáng” theo Olaf Weber, Kiến trúc sư Trường cao đẳng Kiến trúc và xây dựng cơ bản Weimar: “Hình dáng không theo đuổi chức năng, hình dáng là kết quả cảm thụ của nhà tạo dáng khi bắt gặp và phát hiện được nhu cầu và mơ ước thẩm mỹ về sử dụng của người tiêu dùng” [139, tr.38] Dietmar Palloks, nhà tạo dáng, cho rằng: “Mục đích của tạo dáng không phải là Form, mà mục đích của nó là tạo dựng một tương quan nhất định của người sử dụng với sản phẩm Nói cho cùng, đó là việc “tạo dựng” mối quan hệ ứng xử mà sản phẩm là vật tải của mối quan hệ ứng xử đó” [139, tr.41-42]

Dựa vào các luận điểm về thiết kế/tạo dáng đã tiếp cận ở trên, luận án đưa ra định nghĩa tạo dáng sản phẩm chính là hoạt động thiết kế kiểu dáng cho sản phẩm đó để đáp ứng công năng sử dụng, sau đó là tạo nên tính thẩm

mỹ của sản phẩm đó Tạo dáng sản phẩm mây tre đan khác với những sản phẩm sản xuất công nghiệp, sản phẩm mây tre đan có quá trình tạo dáng và

Trang 31

trang trí diễn ra đồng thời, người nghệ nhân trong quá trình chế tác thường vừa đan vừa điều chỉnh cữ để có được tạo dáng phù hợp, sau đó làm thành vật mẫu, cảm thấy ưng ý với vật mẫu sẽ tiến hành nhân bản sản phẩm với số lượng lớn hơn Khác với các lĩnh vực khác, yếu tố thiết kế trong sáng tạo sản phẩm thủ công mỹ nghệ nói chung và mây tre đan nói riêng không chỉ dựa vào phác thảo mà còn phải làm vật mẫu chế thử, vì mỗi nghề có những đặc thù kỹ thuật thực hiện, nên phác thảo không thể hiện hết được những ưu việt hay hạn chế của kỹ thuật thực hiện nó Người nghệ nhân sau khi chế thử vật mẫu sẽ hiệu chỉnh đến khi tạo được sản phẩm đạt yêu cầu theo con mắt thẩm

mỹ chủ quan

1.2.1.3 Nhóm khái niệm, thuật ngữ về “Trang trí”

Trong quá trình thực hiện, luận án tiếp cận một số định nghĩa về trang

trí ở Việt Nam Theo từ điển Oxford Dictionary of Art (Dịch: Từ điển Oxford

về Nghệ thuật) thì nghệ thuật trang trí được nhấn mạnh vào khía cạnh phân

loại là: “Nghệ thuật trang trí: thường được sử dụng nhiều hơn hoặc ít hơn đồng nghĩa với nghệ thuật ứng dụng nhưng cũng có thể chấp nhận đối tượng được thực hiện hoàn toàn là trang trí, mà không có bất kỳ mục đích thực tế nào” [64, tr.256]

Từ điển Mỹ thuật phổ thông định nghĩa “Trang trí là nghệ thuật làm

đẹp, phục vụ cho đời sống vật chất tinh thần của con người Nhờ những yếu

tố trang trí, vật dụng vừa có giá trị thẩm mỹ vừa nâng cao giá trị sử dụng.” [89, tr.134] Xã hội ngày càng phát triển, mối quan hệ giữa con người và thế giới ngày càng đa dạng, nhu cầu về cái đẹp trên nhiều lĩnh vực trong cuộc sống càng nâng cao, đòi hỏi nghệ thuật trang trí cũng có những bước phát triển tương ứng với trình độ của thực tiễn “Xét về ngữ nghĩa thì trang trí chính là làm đẹp cho một đối tượng, một môi trường không gian cụ thể nào

đó bằng cách phối trí, các yếu tố hình thức như hình thể, mảng khối, đường

Trang 32

nét, màu sắc, chất liệu…” [109] Trong cuốn Mỹ học - cơ bản và nâng cao,

tác giả Ốp-xian-nhi-cốp cho rằng “Trong hàng ngũ nghệ thuật, thì nghệ thuật trang trí chiếm vị trí chính giữa kiến trúc và nghệ thuật tạo hình” Nghệ thuật trang trí có thể chuyển các vật có công năng thành các tác phẩm trang trí và

có thể tác động qua lại với không gian xung quanh Có ba dạng trang trí chính

là (1) trang trí gắn với kiến trúc, (2) trang trí ứng dụng để tạo ra tác phẩm hàng loạt hoặc đơn lẻ, (3) trang trí trưng bày để trang hoàng, sử dụng trong các hoạt động sự kiện văn hóa xã hội và thể thao [98]

Trang trí ứng dụng được định nghĩa trong Từ điển Bách khoa Văn hóa học là một trong những bộ môn nghệ thuật có lịch sử lâu đời nhất, nhằm mục

tiêu chế tạo những vật dụng sinh hoạt, để thỏa mãn vừa nhu cầu sử dụng vừa nhu cầu trang trí của con người Nếu như sản phẩm của nghệ thuật trang trí ứng dụng được làm bằng phương pháp kỹ thuật thì chỉ cần nhân bản, nhưng đồng thời người nghệ nhân vẫn chế ra những vật cá biệt sản xuất với số lượng nhỏ Các nhánh của nghệ thuật trang trí ứng dụng là: Công nghiệp nghệ thuật, sáng tạo cá nhân của các họa sĩ, nghệ nhân và nghề thủ công mỹ nghệ nói chung Đó là nhân tố quan trọng nhất để cải tiến nền văn hóa vật thể của nhân

loại [107, tr.525-526]

Như vậy lĩnh vực có thể ứng dụng nghệ thuật trang trí là khá rộng Hay

có thể hiểu trang trí là nghệ thuật sắp xếp bố trí đường nét, mảng khối, màu sắc trên một loại hình chất liệu, theo tỷ lệ, bố cục hài hòa để tạo nên vẻ đẹp cho sản phẩm bên cạnh công năng của sản phẩm đó Trong trang trí sản phẩm mây tre đan, việc linh hoạt sử dụng kỹ thuật đan cài tạo nên những họa tiết đan phong phú và đa dạng, tính trang trí thể hiện ở việc sắp xếp các mảng họa tiết trên sản phẩm, người nghệ nhân ngoài tay nghề còn phải có con mắt thẩm

mỹ để thể hiện các họa tiết trang trí phù hợp với tạo dáng sản phẩm cũng như

Trang 33

kết hợp các họa tiết trên sản phẩm phải hài hòa với nhau, nâng cao giá trị thẩm

mỹ của sản phẩm

1.2.1.4 Nhóm khái niệm, thuật ngữ về mỹ thuật ứng dụng

Mỹ thuật ứng dụng: Theo họa sỹ Trần Khánh Chương, nguyên chủ tịch

hội Mỹ thuật Việt Nam, mỹ thuật ứng dụng được quan niệm:

Mỹ thuật ứng dụng Việt Nam ngày nay rất đa dạng nhưng chúng ta

có thể chia nó thành bốn mảng lớn, đó là mỹ thuật sản phẩm gồm

đồ gốm, đồ sơn, đồ dệt, đồ gỗ, tạo dáng công nghiệp Có thể nói

Mỹ thuật ứng dụng Việt Nam bao gồm các sản phẩm mỹ thuật thủ công và mỹ thuật công nghiệp, người sáng tạo cũng từ các nghệ nhân đến các nghệ sỹ được đào tạo chính quy ở các trường đại học [87, tr.10]

1.2.1.5 Nhóm khái niệm, thuật ngữ về sản phẩm mây tre đan

“Sản phẩm” theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt “là cái do con người

tạo ra hoặc cái do tự nhiên tạo ra” [99, tr.815]

“Đan” theo định nghĩa Từ điển Tiếng Việt là “làm cho vật hình thanh

mỏng hoặc sợi luồn qua lại với nhau, kết lại thành tấm Đan lát là đan đồ dùng (nói khái quát)” [99, tr.273] Các kỹ thuật đan cơ bản để tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan gồm đan nong mốt, nong đôi, nong ba hoặc kết hợp các

quy tắc này để tạo ra các họa tiết khác nhau Đan lát là thuật ngữ phổ biến

trong nghề mây tre đan dùng để chỉ hoạt động luồn qua, luồn lại, đan kết, các thanh đan họ tre, mây hay lá lại với nhau thành tấm hay theo một hình thù nhất định nào đó Cần phân biệt rõ khái niệm đan và đan lát Đan là khái niệm rộng để chỉ hoạt động đan tất cả các loại vật liệu với nhau như đan len, đan sợi, đan lưới, kể cả đan lát… Đan lát chỉ giới hạn trong phạm vi đan các vật dụng bằng các loại cây thảo mộc như: tre, nứa, lá, song, mây

Trang 34

Theo quy trình và kỹ thật đan lát thì sau khi đan phải lát để các nan khít

với nhau tạo thành mảng đan sao cho các nan không bị tuột ra khỏi tấm đan, tạo cho sản phẩm mịn và chắc chắn, nên người ta dùng khái niệm đan lát để

phân biệt với các nghề đan bằng vật liệu khác Đan lát tạo ra sản phẩm hoàn

chỉnh là một quá trình gồm nhiều công đoạn từ khâu chọn nguyên liệu, chế biến nguyên liệu (chặt cây, đẵn khúc, chẻ nan, vót nan, nhuộm nan, chuẩn bị vành, đế, quai cho sản phẩm), kỹ thuật đan cải hoa văn và tạo dáng sản phẩm, lát, cạp hoặc tạo miệng sản phẩm, xử lý bảo quản tạo độ bền cho sản phẩm đan

“Xâu xiên” là một thuật ngữ trong nghề mây tre đan mô tả kỹ thuật dùng nguyên liệu mỏng để ghép các vành cốt với nhau thành một sản phẩm, với cách đan này có thể kết cấu bất cứ một hình nào mà ta muốn nhưng chỉ

sử dụng một kiểu đan trên toàn bộ sản phẩm sau đó dùng nan mỏng cuốn từng nút một quanh cạp sao cho các nút có khoảng cách đều nhau cho đến khi hoàn thiện sản phẩm

“Tết hoa” là sử dụng nguyên liệu tròn được chế biến mềm dẻo để uốn nguyên liệu thành các loại hoa khác nhau, tết hoa tạo thành các hoa văn là điểm chính cho trang trí trên sản phẩm, tạo cho sản phẩm tính thẩm mỹ cao

Trang 35

1.2.2 Cơ sở lý thuyết

1.2.2.1 Các yếu tố tác động đến tạo dáng, trang trí sản phẩm MTĐ

Khung phân tích nghệ thuật tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan

(Nguồn: Tác giả luận án)

Khung phân tích trên được tác giả luận án xây dựng để làm rõ những yếu tố trực tiếp tác động đến tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan, làm cơ

sở trong phân tích nghệ thuật tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan Hà Nội Nghệ thuật tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan được ẩn mình trong hình thức sản phẩm và có sự tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan Một trong những yếu tố khách quan quan trọng là thị hiếu người tiêu dùng mà điều này thì thay đổi theo sự chuyển biến của xã hội Bên cạnh đó là yếu tố chủ quan/nhận thức và trình độ của người nghệ nhân làm ra sản phẩm,

có thể theo hướng chạy theo thị hiếu để đảm bảo doanh số hoặc chỉ tiếp nhận một phần và phát triển theo hướng sáng tạo riêng Đa số sản phẩm mây tre đan trước 1986 chủ yếu là những sản phẩm được sản xuất theo đơn hàng, mẫu

Tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan

Thị hiếu

khách hàng

Đặc tính vật liệu

Kỹ thuật đan lát (Tài khéo)

Sự sáng tạo của nghệ nhân, họa sỹ

Trang 36

mã khá dập khuôn, hàng xuất khẩu có thể tinh xảo hơn hàng tiêu dùng nội địa tuy nhiên tính sáng tạo chưa cao, chủ yếu dựa vào mẫu khách đặt hàng Sau này khi xã hội phát triển theo hướng mở cửa, đặc biệt là các cuộc thi thủ công

mỹ nghệ xuất hiện thì nghệ nhân mới có “đất” thể hiện sự sáng tạo Khung phân tích đưa ra góc nhìn tổng quan về các yếu tố tác động để phần nào diễn giải những nội dung, giá trị ẩn chứa bên trong của sản phẩm Với đặc thù là một loại hình sản phẩm thủ công, vẻ đẹp của nó không chỉ là những biểu hiện

bề ngoài mà đằng sau đó là những câu chuyện về lửa nghề, về những tâm tư, tình cảm thấm đượm hương đồng gió nội của làng quê nông thôn Bắc Bộ

1.2.2.2 Lý thuyết Tiếp biến văn hóa

“Tiếp biến văn hóa” là một khái niệm, thuật ngữ khoa học phổ biến ở

Phương Tây từ những năm 30 của thế kỷ trước Trong vài thập kỷ qua, đã có hàng trăm công trình được xuất bản đề cập đến tiếp biến văn hóa, với cũng chừng ấy những định nghĩa khác nhau, được bổ sung và mở rộng, nhưng không loại trừ nhau

Tác giả Radughin trong cuốn Từ điển Bách khoa Văn hóa học đã nhận

định rằng:

Tiếp nhận văn hóa là quá trình một nhóm sắc tộc này tiếp nhận văn hóa một nhóm sắc tộc khác tiến bộ hơn trong quá trình giao lưu văn hóa giữa hai bên Tiếp nhận văn hóa là hình thái của truyền bá văn hóa, và để chỉ quá trình tiếp xúc này Nói cách chặt chẽ, tiếp nhận văn hóa bao gồm việc biến đổi về văn hóa giữa cả hai bên trong khi tiếp xúc một thời gian dài Tuy nhiên, nghĩa thông thường của tiếp nhận văn hóa chủ yếu dùng để chỉ những thay đổi về văn hóa của những xã hội phương Tây đã công nghiệp hóa [107, tr.448]

Hiện tượng giao lưu, tiếp biến, giao thoa văn hóa xảy ra đa dạng ảnh hưởng đến sự phát triển các lĩnh vực trong xã hội Đề cập đến vấn đề này, có

Trang 37

rất nhiều thuật ngữ như: Tiếp xúc văn hóa (cultural contacts), trao đổi văn hóa (cultural exchanges), Chuyển dịch văn hóa (transculturation) “Tiếp biến

văn hóa là một quá trình biến đổi kép về văn hóa và tâm lý xảy ra do kết quả của sự tiếp xúc giữa hai hoặc nhiều nhóm văn hóa và những cá nhân thành viên của những nhóm văn hóa đó” [54, tr.94] Giao lưu và tiếp biến văn hóa

là một khái niệm được nghiên cứu nhiều trên thế giới, tác giả Lê Thanh Bình nhận định: “Quá trình giao thoa văn hóa là một quá trình học tập và tiếp biến các giá trị văn hóa Mỗi nền văn hóa đều có một giá trị đặc sắc riêng” [9, tr.45-46] Trong nghiên cứu nghệ thuật tạo dáng, trang trí sản phẩm mây tre đan Hà Nội giai đoạn 1986-2019 thì yếu tố tiếp biến thể hiện ở việc các sản phẩm tiếp thu và biến đổi phù hợp với xu thế và nhu cầu của xã hội nhưng giữ được tinh thần truyền thống

Lý thuyết tiếp biến văn hóa gắn với các lĩnh vực khác nhau và ở lĩnh vực nào cũng đều có những vấn đề liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp, đặc biệt

là lĩnh vực văn hóa nghệ thuật Lý thuyết tiếp biến văn hóa đề cập trong nghiên cứu thiết kế mỹ thuật sản phẩm mây tre đan thể hiện rõ nét hơn ở giai đoạn sau 1995, khi mẫu mã sản phẩm mây tre đan bắt đầu được cải tiến trên cơ sở làng nghề được tiếp xúc với khách hàng quốc tế, nghệ nhân được tiếp thu những kiến thức mỹ thuật từ họa sỹ, nhà thiết kế thậm chí là những khách hàng nước ngoài, trên cơ sở yêu cầu của khách hàng quốc tế, nghệ nhân sản xuất những mặt hàng phù hợp, với mỗi đối tượng khách hàng ở quốc gia khác nhau, lại có những gu thẩm mỹ khác nhau, sản phẩm mây tre đan nhờ đó có

sự tiếp nối giữa truyền thống và hiện đại, hài hòa tư duy tạo hình dân gian và

tư duy thiết kế đương đại Luận điểm về tiếp biến mỹ thuật được đề cập đến trong luận án qua khảo sát, phân tích những sản phẩm tiêu biểu theo dòng chảy thời gian và tập trung nhiều nhất vào giai đoạn sau năm 2000 Vì giai đoạn này, sản phẩm mây tre đan Hà Nội có những biến đổi nhất định về mẫu

Trang 38

mã theo nhu cầu thị trường, các cơ sở sản xuất có sự tiếp xúc thông qua thương mại với khách hàng quốc tế Các sản phẩm tiêu biểu được các nghệ nhân làng nghề thực hiện và một số sản phẩm được họa sỹ thiết kế (được đào tạo ở nước ngoài) cho thấy sự thay đổi về tư duy thẩm mỹ cũng như tạo hình sản phẩm trên cơ sở tiếp nhận những luồng văn hóa du nhập

1.2.2.3 Lý thuyết Hình thái học nghệ thuật

Theo quan điểm về phân loại các loại hình nghệ thuật của M.Cagan

được trình bày trong cuốn Hình thái học của nghệ thuật, nghệ thuật có thể

chia thành nghệ thuật hai chức năng (nghệ thuật và vụ lợi) và nghệ thuật một chức năng (nghệ thuật thuần túy) [84, tr.431] Ông cho rằng: “Trong quá trình phát triển lịch sử của nghệ thuật, do ảnh hưởng của những nhân tố khác nhau, đan chéo nhau, đã bắt đầu diễn ra ngày càng tích cực hơn “phản ứng phân rã” của những phức thể nghệ thuật tổng hợp cổ xưa nhất là nghệ thuật văn nghệ

và nghệ thuật kỹ thuật” [84, tr.431] Theo sơ đồ phân loại nghệ thuật tại bảng

số 25 của cuốn sách, ta có thể khái quát vấn đề như sau: Khởi đầu từ nghệ thuật nguyên thủy, phân loại thành nghệ thuật có xu hướng “kỹ thuật phức tạp” và “văn nghệ phức tạp”, từ nghệ thuật có xu hướng kỹ thuật phức tạp, theo nhánh phân hóa “sản xuất nghệ thuật” mà trở thành có 2 loại là “sáng tạo theo kiến trúc” và “sáng tạo theo miêu tả”, từ nhóm sáng tạo theo kiến trúc cùng với môi trường tồn tại và sự phát triển của khoa học mà tạo thành các thể nghệ thuật có tính kiến trúc, trong đó có “nghệ thuật ứng dụng” [84, tr.324]

Theo nghiên cứu Hình thái học của nghệ thuật [84] của M.Cagan, xuất

bản năm 2004, ông nhận định rằng Mỹ học Mác-Lê Nin cung cấp cơ sở khoa học để phân loại các nghệ thuật “Trong mỹ học Mác Xít, sự phân tích hình thái học về nghệ thuật cần phải khảo sát hệ thống các nghệ thuật trong sự vận động lịch sử của nó, tức là phải phối hợp chặt chẽ hơn phương pháp nghiên

Trang 39

cứu logic với phương pháp lịch sử” [84, tr.238] Nguyên tắc tính thống nhất của phương pháp logic và phương pháp lịch sử từ lâu đã được xem là một trong những nguyên lý cơ bản và phổ quát của phương pháp luận Mác Xít

M.Cagan trong Hình thái học nghệ thuật nhận định rằng “sự phát triển nghệ

thuật của loài người đã dẫn tới là kiến trúc, nghệ thuật ứng dụng, hội họa, đồ họa, điêu khắc và tự khẳng định mình thành những loại hình nghệ thuật riêng” [84, tr.313] M.Cagan cho rằng nghệ thuật ứng dụng rất gần với kiến trúc, nó thuộc nghệ thuật không gian với hình thái biểu cảm, chứ không phải nghệ thuật miêu tả Nghệ thuật biểu cảm “về thực chất và về bản chất là không miêu tả, yếu tố này hoàn toàn quy định cách giải quyết của tác phẩm về bố cục, sự bố trí của các khối, các mảng màu” [84, tr.408] Và cùng với đó ông khẳng định rằng “nghệ thuật tĩnh trong đó bao gồm các vật thể có thể tích như kiến trúc và đồ vật ứng dụng tạo nên nghệ thuật biểu cảm” [84, tr.209] Như vậy, với nhận định này thì sản phẩm mây tre đan có thể coi là một dạng nghệ thuật tĩnh với thể tích ba chiều của sản phẩm và có tính biểu cảm

Dựa vào những lý thuyết này, luận án tiếp cận các sản phẩm mây tre đan tiêu biểu của Hà Nội là một đối tượng của nghệ thuật ứng dụng với tính biểu cảm Luận án phân tích sản phẩm mây tre đan dưới góc độ mỹ thuật ứng dụng, phân tích hệ thống các chủng loại, kiểu dáng và trang trí dựa trên phân tích các yếu tố mỹ thuật và công năng trên sản phẩm để làm nổi bật những đặc trưng thẩm mỹ của sản phẩm mây tre đan Hà Nội giai đoạn 1986-2019,

từ đó khẳng định giá trị nghệ thuật của sản phẩm mây tre đan Hà Nội trong lĩnh vực mỹ thuật ứng dụng nói chung và thủ công mỹ nghệ nói riêng

Trang 40

1.3 Khái quát nghề mây tre đan Việt Nam và Hà Nội

1.3.1 Nghề mây tre đan ở Việt Nam và một số làng nghề tiêu biểu

1.3.1.1 Nghề mây tre đan Việt Nam trong bối cảnh lịch sử

Trước đây, nghề mây tre đan ở Việt nam được hình thành và phát triển như là một nghề thứ hai sau canh tác ngoài đồng ruộng ở nhiều vùng nông thôn Thường được thực hiện trong các gia đình nông dân trong lúc nông nhàn

để tạo ra các đồ dùng phục vụ sinh hoạt và sản xuất Các đồ dùng như quanh gánh, thúng, mủng, gầu tát nước, nong, nia, dần, sàng, cót đựng thóc, rổ, rá

đến các vật dụng khác như hòm, mâm, khay, đĩa Trong cuốn Nghề mây tre đan cổ truyền các dân tộc Việt Nam của tác giả Hà Thị Nự thì nghề mây tre

đan có lịch sử lâu đời:

Qua tổng hợp tài liệu, một số kết quả nghiên cứu của các nhà sử học, các nhà khảo cổ học thì dấu tích nghề mây tre đan còn lại sớm nhất ở nước ta là qua các dấu vân đan trên đồ gốm tại các di chỉ khảo cổ có niên đại từ thời kỳ đồ đá, cách ngày nay khoảng 2000-

3000 năm ở Hà Tĩnh Tại di chỉ Bãi Phôi Phối, xã Xuân Viên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, người ta tìm thấy có 320 mảnh gốm có hình hoa văn nan dập cả mặt trong và mặt ngoài, chiếm gần 26,4 %

số di vật khảo cổ khai quật được ở đây [95, tr.13-14]

Trong cuốn Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt [6],

tác giả Trần Lâm Biền cho rằng hoa văn dấu nan đan xuất hiện ở thời tiền sử tại di chỉ Cái Bèo, cuốn sách có nhận định “Những tư liệu cho phép chúng tôi nghĩ rằng, hoa văn dấu đan Cái Bèo nảy sinh lần đầu ở vùng biển nơi hiếm tre nứa và gắn liền với gốm nặn khối đáy bằng vừa mang ý nghĩa kỹ thuật,

vừa trang trí mỹ thuật” [6, tr.49] Trong cuốn Kỹ thuật người An Nam của

Henri Orger [55] thì tác giả ghi lại những cảnh sinh hoạt đời sống của người Việt cổ, trong đó những hình ảnh đồ dùng vật dụng mây tre đan xuất hiện

Ngày đăng: 19/08/2021, 08:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Chí Bền (2006), Văn hóa Việt Nam, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Văn hóa – Thông tin, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb. Văn hóa – Thông tin
Năm: 2006
2. Nguyễn Chí Bền (chủ biên) (2010), Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb. Chính trị Quốc gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Nguyễn Chí Bền (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
3. Phạm Gia Bền (1957), Sơ khảo lịch sử phát triển thủ công nghiệp Việt Nam, Nxb. Văn Sử Địa, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ khảo lịch sử phát triển thủ công nghiệp Việt Nam
Tác giả: Phạm Gia Bền
Nhà XB: Nxb. Văn Sử Địa
Năm: 1957
4. Trần Bình (1995), “Nghề đan lát của người Khơ Mú ở Tây Bắc”, Tạp chí Dân tộc học, (1), tr.50-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề đan lát của người Khơ Mú ở Tây Bắc”, "Tạp chí Dân tộc học
Tác giả: Trần Bình
Năm: 1995
5. Trần Lâm Biền (2000), Một con đường tiếp cận lịch sử, Nxb. Văn hóa dân tộc, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một con đường tiếp cận lịch sử
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb. Văn hóa dân tộc
Năm: 2000
6. Trần Lâm Biền (2001), Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt, Nxb. Mỹ thuật, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb. Mỹ thuật
Năm: 2001
7. Bộ Văn hóa Thông tin (1995), “Hội nghề truyền thống Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghề truyền thống Việt Nam”, "Kỷ yếu Hội thảo
Tác giả: Bộ Văn hóa Thông tin
Năm: 1995
8. Trương Thị Ngọc Bích (2008), Làng nghề đan lát Nam Cường, luận văn cao học, Thư viện Viện Nghiên cứu Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng nghề đan lát Nam Cường
Tác giả: Trương Thị Ngọc Bích
Năm: 2008
9. Lê Thanh Bình (chủ biên) (2012), Giao thoa văn hóa và chính sách ngoại giao văn hóa ở Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.45-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao thoa văn hóa và chính sách ngoại giao văn hóa ở Việt Nam
Tác giả: Lê Thanh Bình (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2012
10. Trần Ngọc Canh (1984), “Đào tạo họa sĩ design công nghiệp ở Việt Nam”, Nội san MTCN, trường Cao đẳng Mỹ thuật công nghiệp, số 15, tr.87-88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo họa sĩ design công nghiệp ở Việt Nam”, "Nội san MTCN
Tác giả: Trần Ngọc Canh
Năm: 1984
11. Nguyễn Du Chi (1998), Hoa văn Việt Nam, Nxb. Mỹ thuật, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa văn Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Du Chi
Nhà XB: Nxb. Mỹ thuật
Năm: 1998
12. Nguyễn Du Chi (2000), Trên đường tìm về cái đẹp của cha ông, Nxb. Mỹ thuật, Viện Mỹ Thuật, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên đường tìm về cái đẹp của cha ông, Nxb. Mỹ thuật
Tác giả: Nguyễn Du Chi
Nhà XB: Nxb. Mỹ thuật"
Năm: 2000
13. Nguyễn Du Chi (1986), “Tre nứa mây giang với đời sống vật chất và đời sống thẩm mỹ của dân tộc ta”, Kỷ yếu Hội nghị khoa học Mỹ thuật ứng dụng lần thứ I, Viện Nghiên cứu Mỹ thuật – Bộ Văn hóa, tr.241- 253 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tre nứa mây giang với đời sống vật chất và đời sống thẩm mỹ của dân tộc ta”, "Kỷ yếu Hội nghị khoa học Mỹ thuật ứng dụng lần thứ I
Tác giả: Nguyễn Du Chi
Năm: 1986
14. Nguyễn Từ Chi (1984), Góp phần nghiên cứu văn hóa tộc người, Nxb. Văn hóa dân tộc và tạp chí Văn hóa nghệ thuật, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hóa tộc người
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Nhà XB: Nxb. Văn hóa dân tộc và tạp chí Văn hóa nghệ thuật
Năm: 1984
15. Nguyễn Văn Chiến (1984), “Đặc trưng Mỹ thuật công nghiệp và Nghệ thuật tạo hình với Đào tạo”, Nội san MTCN, số 1/14, tr 69-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng Mỹ thuật công nghiệp và Nghệ thuật tạo hình với Đào tạo”, "Nội san MTCN
Tác giả: Nguyễn Văn Chiến
Năm: 1984
16. Nguyễn Đỗ Cung (1993), Bàn về Mỹ thuật Việt Nam, Viện Mỹ thuật, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về Mỹ thuật Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đỗ Cung
Năm: 1993
17. Nguyễn Thị Dung (2014), Vật liệu mây tre đan trong thiết kế sản phẩm nội thất, Luận văn Thạc sỹ Mỹ thuật ứng dụng, Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật liệu mây tre đan trong thiết kế sản phẩm nội thất
Tác giả: Nguyễn Thị Dung
Năm: 2014
18. Nguyễn Ngọc Dũng (1984), “MTCN với nước ta trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội”, Nội san MTCN, số 1/14, tr.47-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: MTCN với nước ta trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội”, "Nội san MTCN
Tác giả: Nguyễn Ngọc Dũng
Năm: 1984
19. Nguyễn Ngọc Dũng (2012), “Bàn về thuật ngữ Design”, Tạp chí Nghiên cứu Mỹ thuật, số 3, tr.12-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về thuật ngữ Design”, "Tạp chí Nghiên cứu Mỹ thuật
Tác giả: Nguyễn Ngọc Dũng
Năm: 2012
20. Nguyễn Tiến Dũng (2018), “Mây tre đan Vân Kiều- Sắc màu truyền thống trong sự giản tiện”, Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ Quảng Bình, số 3, tr. 74-75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mây tre đan Vân Kiều- Sắc màu truyền thống trong sự giản tiện”, "Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ Quảng Bình
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Năm: 2018

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w