Điển hình là ở cách sắp xếp các hoa văn trong đồ án trang trí mang giá trị về nghệ thuật, đã tạo nên nét độc đáo của HVTT trên lụa Vạn Phúc, phù hợp với thẩm mỹ của dân tộc.. Căn cứ vào
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Nguyễn Thị Quỳnh Mai
HOA VĂN TRANG TRÍ TRÊN LỤA VẠN PHÚC
(Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT
Hà Nội, 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Nguyễn Thị Quỳnh Mai
HOA VĂN TRANG TRÍ TRÊN LỤA VẠN PHÚC
(Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội)
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật
Mã số: 9210101
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐOÀN THỊ TÌNH
Hà Nội, 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận án tiến sĩ Hoa văn trang trí trên lụa Vạn Phúc (quận Hà Đông, thành phố Hà Nội) là công trình do tôi nghiên cứu, thực
hiện Những vấn đề nghiên cứu cùng những ý kiến tham khảo, tài liệu đều có chú thích nguồn đầy đủ
Tôi xin chịu trách nhiệm về những nội dung trong luận án
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Quỳnh Mai
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ H I QU T VỀ HOA VĂN TRANG TR TR N LỤA 9
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9
1.2 Cơ sở lý luận 20
1.3 Khái quát về hoa văn trang trí trên lụa 34
Tiểu kết 54
Chương 2 IỂU HIỆN CỦA HOA VĂN TRANG TR TR N LỤA VẠN PH C 56
2.1 Đề tài hoa văn trang trí 56
2.2 Đồ án hoa văn trang trí 92
2.3 Hình thức trang trí hoa văn 92
2.4 Kỹ thuật 106
Tiểu kết 111
Chương 3 LUẬN BÀN VỀ Đ C TRƯNG VÀ GI TRỊ CỦA HOA VĂN TRANG TR TR N LỤA VẠN PH C 114
3.1 Hoa văn trang trí trên lụa Vạn Phúc trong tương quan với lụa một số vùng khác ở Việt Nam 114
3.2 Đặc trưng hoa văn trang trí trên lụa Vạn Phúc 114
3.3 Giá trị văn hóa nghệ thuật của hoa văn trên lụa Vạn Phúc 146
Tiểu kết 162
KẾT LUẬN 164
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC 169
TÀI LIỆU THAM KHẢO 170
PHỤ LỤC 183
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GS.TS : Giáo sư Tiến sĩ
HVTT : Hoa văn trang trí
NCS : Nghiên cứu sinh
Nxb : Nhà xuất bản
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
1.1 Làng lụa Vạn Phúc (quận Hà Đông, thành phố Hà Nội) là làng nghề dệt lụa tơ tằm có truyền thống từ ngàn xưa Lụa Vạn Phúc nổi tiếng cả nước vì chất lượng bền, đẹp, được triều đình lựa chọn để may trang phục và được người Pháp đánh giá là sản phẩm tinh xảo của xứ Đông Dương tại hội chợ Marseille năm 1931 Với những đặc tính như; mềm, mịn, độ thấm hút mồ hôi cao, lụa tơ tằm Vạn Phúc đã và đang đáp ứng hiệu quả về mỹ cảm cùng khả năng tạo dáng, khả năng định hình cho mẫu trang phục trở nên đặc sắc và phong phú Lụa Vạn Phúc được coi là chất liệu đặc sắc, được nhiều người ưa chuộng bởi tính thân thiện với môi trường, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của con người Trang phục may bằng chất liệu lụa, không chỉ tôn vinh vóc dáng cơ thể
mà còn thể hiện sự tinh tế, duyên dáng, ý nhị biểu hiện nét cổ điển truyền thống của người Việt
1.2 Hiện nay, lụa Vạn Phúc đã rất phát triển trong công nghiệp dệt xơ sợi Việt Nam và được đánh giá cao trong các nhóm vật liệu ngành may Một trong những thành tố quan trọng tạo nên giá trị nghệ thuật, cũng là yếu tố quyết định đến thẩm mỹ của lụa Vạn Phúc chính là HVTT Chủng loại HVTT trên lụa Vạn Phúc phong phú và đa dạng, được lấy từ kho tàng hoa văn truyền thống của dân tộc ở các đề tài về thiên nhiên, cây cỏ, hoa lá, chim muông hay
đề tài về tứ linh, đề tài về chữ và nhóm hình học Nhưng có sự sáng tạo chứ không rập khuôn, nhằm phù hợp với kỹ thuật và chất liệu sợi dệt tạo hoa văn, mang tính mỹ thuật đặc trưng của lụa, thể hiện sự cần mẫn, khéo léo của người nghệ nhân đã làm nên những sản phẩm thủ công truyền thống đặc sắc
Vì vậy, việc kế thừa và đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển HVTT trên lụa được đặt ra như một nhu cầu cần thiết với những đổi mới liên tục của mẫu HVTT trên trang phục hiện đại Không chỉ trong quá khứ mà cho tới sau này, nghệ
Trang 7thuật trang trí hoa văn trên bề mặt lụa Vạn Phúc đã và đang có ý nghĩa quan trọng góp phần nâng cao giá trị sản phẩm hàng tiêu dùng của ngành công nghiệp dệt may – thời trang nước ta
Qua khảo sát thực địa cho thấy HVTT trên lụa Vạn Phúc đã sử dụng phương thức nghệ thuật trang trí dân gian truyền thống, mang nét phóng khoáng, mềm mại trong tương quan bố cục và phong cách tạo hình trên bề mặt lụa Nhưng điều này, chỉ nhận biết được qua sự hiện hữu của hoa văn trên một số sản phẩm lụa đặc trưng, mà ít khi được quan tâm tới việc nó bắt nguồn
từ đâu, mang ý nghĩa và biểu tượng gì Phải chăng HVTT trên lụa Vạn Phúc
là sản phẩm tiếp nối từ mỹ thuật trang trí truyền thống dân tộc và có cả yếu tố
mỹ thuật ngoại sinh Đây là những vấn đề cần được nghiên cứu, cũng là lý do
để NCS thực hiện nội dung đề tài luận án
1.3 Hiện nay, do điều kiện kinh tế, các hộ làm nghề dệt lụa, năng suất lao động thấp, không gian nhỏ hẹp, công cụ giản đơn nên cũng làm hạn chế
sự phát triển của các mô típ HVTT trên lụa, tình trạng trên phổ biến ở các làng nghề Việt Nam nói chung và làng Vạn Phúc nói riêng Đây cũng là nỗi lo
về sự “mai một” và thất truyền các hình thức trang trí trên sản phẩm tơ lụa Việt Nam Trong khi đó, các trào lưu mới, các phong cách, khuynh hướng mới về trang phục đã cho ra đời nhiều hình thức trang trí công nghiệp phát triển như in, thêu, vẽ bằng máy móc hiện đại Trong bối cảnh giao lưu hội nhập này, việc nghiên cứu, đánh giá về giá trị thẩm mỹ cũng như khẳng định bản sắc dân tộc của sản phẩm tiêu dùng trên thị trường đang trở nên cấp thiết
Từ tình hình đó, việc nghiên cứu hoa văn dưới góc độ mỹ thuật tạo hình trang trí, hình thức biểu hiện cũng như giải mã biểu tượng hoa văn trên lụa Vạn Phúc cũng là việc cần làm để phát huy ứng dụng vào đời sống đương đại
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, NCS lựa chọn đề tài nghiên
cứu về Hoa văn trang trí trên lụa Vạn Phúc (quận Hà Đông, thành phố Hà
Trang 8Nội) làm luận án Tiến sĩ, chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật Trên cơ
sở kế thừa những thành quả của các nhà nghiên cứu đi trước, luận án làm rõ tính chất trang trí của hoa văn để tìm ra nét đặc trưng và giá trị nghệ thuật của HVTT trên lụa Vạn Phúc Góp phần bổ sung cho phần tư liệu còn khuyết thiếu vào kho tàng nghệ thuật trang trí hoa văn Việt Nam
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu biểu hiện của HVTT trên lụa Vạn Phúc (quận Hà Đông, thành phố Hà Nội) để làm rõ các đặc trưng và giá trị nghệ thuật của HVTT trên lụa tơ tằm Vạn Phúc
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài, đồ án, hình thức và kỹ thuật của HVTT trên lụa Vạn Phúc (quận Hà Đông, thành phố Hà Nội)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Được giới hạn tại làng lụa Vạn Phúc (quận Hà
Đông, thành phố Hà Nội) Ngoài ra, luận án còn mở rộng đề cập tới việc so sánh, đối chiếu đặc điểm, phong cách trang trí của hoa văn trên lụa ở một số vùng khác để thấy được sự tương đồng và khác biệt về hình thức biểu hiện của đề tài và đồ án trang trí
Phạm vi thời gian: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài HVTT
trên lụa Vạn Phúc (quận Hà Đông, thành phố Hà Nội) từ năm 1986 đến nay (2020) Đây là giai đoạn đổi mới của đất nước, HVTT trên lụa Vạn Phúc đã
có sự chuyển mình rõ nét về đề tài, đồ án, hình thức và kỹ thuật của HVTT trên lụa Vạn Phúc
Trang 94 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: HVTT trên lụa Vạn Phúc được biểu hiện như thế nào thông
qua đề tài, đồ án, hình thức và kỹ thuật?
Câu hỏi 2: Đặc trưng và giá trị nghệ thuật HVTT trên lụa Vạn Phúc,
được biểu hiện như thế nào so với HVTT trên lụa các vùng khác?
Câu hỏi 3: HVTT trên lụa Vạn Phúc, mang phong cách tạo hình dân
gian Việt Nam hay được tiếp biến từ văn hóa một số nước khác ở khu vực phương Đông?
4.2 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Hoa văn trên lụa Vạn Phúc được biểu hiện rất đa dạng và
đặc sắc thông qua các đề tài, đồ án, hình thức và kỹ thuật Đường nét trang trí không quá rườm rà, phức tạp mà mềm mại, phóng khoáng và dứt khoát Màu sắc của hoa văn biến đổi linh hoạt, đa sắc, đa chiều nhờ vào những sợi tơ tằm được dệt trên mỗi tấm lụa Vạn Phúc
Giả thuyết 2: HVTT trên lụa Vạn Phúc tuy mang nhiều nét tương đồng
so với lụa ở các vùng miền khác, nhưng vẫn có những đặc trưng và giá trị nghệ thuật riêng biệt mà không phải vùng nào cũng có Điển hình là ở cách sắp xếp các hoa văn trong đồ án trang trí mang giá trị về nghệ thuật, đã tạo nên nét độc đáo của HVTT trên lụa Vạn Phúc, phù hợp với thẩm mỹ của dân tộc
Giả thuyết 3: HVTT trên lụa Vạn Phúc phần lớn mang đậm phong cách tạo hình dân gian Việt Nam Những đề tài trang trí truyền thống như hoa Sen, hoa Cúc, hoa Mai, hoa Chanh… thường thấy xuất hiện ở kiến trúc, điêu khắc
trong nghệ thuật trang trí cổ của dân tộc Căn cứ vào tình hình nghiên cứu thì những hoa văn kể trên, được nhận định là các đề tài mẫu mực trong nghệ thuật tạo hình trang trí của nghệ nhân cũng là người nghệ sĩ dân gian Việt
Trang 10Nam Bên cạnh đó, có sự giao lưu tiếp biến về tạo hình và nghệ thuật trang trí của văn hóa một số nước khác ở phương Đông, làm nảy sinh thể loại mới, kỹ thuật mới nhưng vẫn mang đậm phong cách nghệ thuật trang trí của người Việt, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng đương thời
5 Phương pháp nghiên cứu và phương pháp tiếp cận
5.1 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu thứ cấp: Đây là phương
pháp cơ bản để luận án tiếp cận trực tiếp vấn đề nghiên cứu Thông qua việc thu thập tài liệu, thông tin, công trình khoa học của các tác giả trong và ngoài nước, từ đó chọn lọc những tài liệu chính thống, có nguồn gốc rõ ràng và khả năng tin cậy cao Nhằm nhận định thông tin tiếp cận một cách chính xác, để khai triển luận án nghiên cứu mang tính khoa học logic hơn, làm cơ sở cho những luận điểm được đặt ra trong nội dung của đề tài
- Phương pháp điền dã: Qua điền dã tại thực địa đã giúp NCS thu thập,
xác minh các dữ liệu và thực hiện khảo sát, xem xét hiện vật, chụp hình, khảo
tả, làm bản rập
- Phương pháp thống kê, so sánh: Luận án thống kê các mẫu HVTT
trên lụa Vạn Phúc và so sánh sự khác biệt giữa các hoa văn đó với lụa ở các vùng miền khác, có đối chiếu với mỹ thuật cổ Việt Nam Từ đó xác định được hoa văn nào mang giá trị truyền thống, yếu tố nào được hình thành trong quá trình giao lưu tiếp biến Nhìn nhận những vấn đề nảy sinh trong quá trình nghiên cứu HVTT cũng như phát hiện tính mới và đưa ra giả thuyết trong đề tài luận án
- Phương pháp phỏng vấn: NCS tìm hiểu, nghiên cứu và phỏng vấn,
đặt câu hỏi cho một số nghệ nhân ở làng nghề dệt đã sáng tác hoa văn, các nhà thiết kế thời trang và người dệt trực tiếp trang trí hoa văn trên lụa, nhằm
Trang 11xác minh dữ liệu nghiên cứu một cách khoa học, rõ ràng, minh bạch giúp luận
án thêm những cứ liệu hiện thực và tin cậy
5.2 Phương pháp tiếp cận
Phương pháp tiếp cận liên ngành: Luận án sử dụng và tham khảo những thành tựu nghiên cứu của một số ngành khoa học có mối liên quan tới đề tài như: địa lý, lịch sử, văn hóa, khảo cổ để làm sáng tỏ hơn đặc trưng nghệ thuật của HVTT trên lụa Vạn Phúc giai đoạn 1986 đến nay (2020) Phương pháp này có ưu thế tổng hợp tri thức của nhiều lĩnh vực dựa trên mối quan hệ qua lại của các ngành để nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện và hệ thống hơn cho luận án
Ngoài ra, luận án còn tiếp cận theo hướng nhân học biểu tượng Mỗi HVTT trên lụa Vạn Phúc đều mang giá trị biểu tượng riêng, được biểu hiện như một thế giới quan sinh động, ẩn chứa trong đó những ước vọng về cuộc sống, sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên mà người đương thời muốn gửi gắm thông qua tấm lụa Vạn Phúc Người nghệ nhân làng lụa Vạn Phúc đã
sử dụng các biểu tượng hoa văn mang đậm kiểu thức cổ truyền dân tộc để đưa vào trang trí cũng là phản ánh một phần quan điểm gu thẩm mỹ về cái đẹp, một phần thể hiện tư tưởng giáo lý, tín ngưỡng tôn giáo của người Việt Mối quan tâm của đề tài cũng chính là nghiên cứu, giải mã nội dung, ý nghĩa chứa đựng bên trong mỗi biểu tượng HVTT trên lụa Vạn Phúc
6 Những đóng góp mới của luận án
6.1 Đóng góp về mặt lý luận
Về phương diện lý luận và lịch sử mỹ thuật: Đề tài là công trình nghiên
cứu chuyên biệt theo hướng tiếp cận nghệ thuật học, thông qua việc nghiên cứu HVTT trên lụa Vạn Phúc mang giá trị về lịch sử, văn hóa tạo nên nét đặc trưng riêng biệt trong HVTT Việt Nam Đề tài đóng góp bổ sung tư liệu vào kho tàng mỹ thuật dân gian Việt Nam
Trang 12Đối với nghệ thuật tạo hình: Luận án là công trình nghiên cứu chuyên
sâu về HVTT trên lụa Vạn Phúc, trên cơ sở làm rõ các đặc trưng và giá trị nghệ thuật được biểu hiện thông qua đề tài, đồ án, hình thức và kỹ thuật Từ
đó làm cơ sở tham khảo và phát huy giá trị mỹ thuật dân gian cho mỹ thuật ứng dụng hiện nay HVTT trên lụa Vạn Phúc giai đoạn 1986 đến nay (2020), mang đến những giá trị thẩm mỹ nhất định, những đặc trưng riêng không thể lẫn với các sản phẩm lụa ở các vùng miền khác
Với di sản văn hóa: Đề tài chỉ ra được những đặc trưng và giá trị văn
hóa nghệ thuật sâu sắc, biểu hiện ở một số hoa văn chứa đựng tính dân tộc, tính truyền thống quy tụ trong một bố cục trang trí trên lụa mang phong cách tạo hình gần gũi với nghệ thuật dân gian HVTT trên lụa đã vượt qua giá trị hàng hóa đơn thuần, khẳng định được giá trị thẩm mỹ thông qua sản phẩm lụa đặc sắc
Về giáo dục thẩm mỹ: Góp phần nhận thức được những giá trị về nghệ
thuật, giá trị văn hóa của cha ông, có tiếp thu và kế thừa kho tàng mỹ thuật truyền thống Giáo dục thẩm mỹ có vai trò quan trọng nhằm biểu đạt tư duy
và bồi đắp kiến thức về cái đẹp thông qua các đặc trưng về HVTT, yếu tố tạo hình cùng các đồ án trang trí trên lụa Vạn Phúc Khơi dậy niềm đam mê yêu thích nghệ thuật trang trí truyền thống của dân tộc
6.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
Luận án góp phần bổ sung kiến thức về lý luận mỹ thuật cho các nhà sáng tác hoa văn nói chung và HVTT trên lụa nói riêng, các nhà nghiên cứu, các giảng viên, sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh chuyên ngành mỹ thuật ứng dụng Cũng như người làm việc và công tác trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, lĩnh vực nghiên cứu vật liệu dệt may Nhằm bảo tồn, phát huy giá trị nghệ thuật truyền thống ứng dụng vào đời sống đương đại
Trang 13Luận án góp phần bổ khuyết cho những khoảng trống về nghiên cứu lý luận cũng như hệ thống hóa tư liệu về HVTT trên lụa Vạn Phúc, mang tính trực quan hữu ích cho mỹ thuật ứng dụng nói chung và chuyên ngành thiết kế thời trang nói riêng
7 ết cấu của luận án
Luận án ngoài phần mở đầu (8 trang), kết luận (5 trang), tài liệu tham khảo (12 trang), phụ lục (87 trang), nội dung luận án được kết cấu 3 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát
về hoa văn trang trí trên lụa (47 trang)
Chương 2: Biểu hiện hoa văn trang trí trên lụa Vạn Phúc (58 trang) Chương 3: Luận bàn về đặc trưng và giá trị văn hóa nghệ thuật của hoa văn trang trí trên lụa Vạn Phúc (50 trang)
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHI N CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ
H I QU T VỀ HOA VĂN TRANG TR TR N LỤA
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Hướng nghiên cứu về lụa tiếp cận từ lịch sử
Theo nhận định của các nhà nghiên cứu đi trước cho rằng: nguồn gốc ra đời của vải lụa ở nước ta có từ thời Hùng Vương, nhưng nghiên cứu về lụa thì đến thế kỷ XV mới bắt đầu Đã có nhiều nhà nghiên cứu phân tích, đánh giá
về vải lụa ở các khía cạnh khác nhau, trong đó có các nhà nghiên cứu thời kỳ đầu như Nguyễn Trãi, Ngô Sỹ Liên, Lê Quý Đôn… Mỗi tác giả lại đề cập ở các khía cạnh liên quan tới chất liệu, màu sắc, kỹ thuật dệt, lịch sử hình thành… Qua tổng hợp các dạng tài liệu, NCS phân định theo trình tự về mặt thời gian như sau:
Trong Dư Địa Chí [104] Nguyễn Trãi viết năm 1435, ông đã nói đến
các phường thợ dệt được lụa như Thụy Chương, Nghi Tàm thuộc Hà Nội hay
ấp Mao Điền, Bất Bể thuộc Hải Dương; ấp Hội Am thuộc Hải Phòng Ở những ấp nhỏ ấy, có các phường thợ tài giỏi đã dệt được loại vải nhỏ mặt, mịn màng thường đựng vào hộp tre để tiến cống, đó là loại lụa mềm mại, óng ả
Năm 1697, Ngô Sĩ Liên viết trong Đại Việt sử ký toàn thư (quyển II)
[48] về triều Lý Thái Tông, nhà vua đã cho gọi những người thợ giỏi ở các địa phương về kinh đô dạy cho cung nữ dệt lụa, gấm, vóc Số lượng lụa, là, gấm vóc của ta thời bấy giờ đã đạt đến mức có thể thay thế toàn bộ gấm vóc phải mua hàng năm của nhà Tống Điều này đã khẳng định bước ngoặt quan trọng cho sự phát triển vải lụa tơ tằm biểu hiện cho tinh thần tự lập tự cường mạnh
mẽ của triều đình và nhân dân ta thời bấy giờ Đây cũng là cơ sở xác định sự phát triển về mặt hàng lụa ở nước ta đã mang bản sắc riêng từ thời Lý
Trang 15Tiếp đến, cuốn Vân đài loại ngữ [22] của Lê Quý Đôn viết năm 1773
Năm 1777, Lê Quý Đôn viết tiếp trong Kiến văn tiểu lục [23] như sau:
“Huyện Từ Liêm và Huyện Đan Phượng, thuộc phủ Quốc Oai có nhiều bãi trồng dâu, nhân dân chăm lo việc chăn tằm, dệt cửi Các xã Hà Hội, Thiên
Mỗ, Ỷ La, Trung Thụy và Đại Phùng có tài dệt lụa, trìu, lĩnh, là” [23, tr
337]
Dựa vào các nhận định trên cho thấy sự phát triển của vải lụa đến thời
Lê đã ghi dấu ấn mạnh trong diễn trình lịch sử về sự phát triển của sản phẩm lụa tơ tằm Việt Nam
Năm 1954, P Huard et M Durand trong Connaissance du VietNam
[135] đã đề cập đến những vấn đề xung quanh con người Việt Nam thông qua các lễ hội, nghệ nhân, đời sống xã hội, chiến tranh, nông dân…, đặc biệt tác giả đã nhắc đến vấn đề ăn mặc và trang phục Trong nghiên cứu của mình, P Huard et M Durand nói về chất liệu dùng để may trang phục triều đình thời phong kiến Việt Nam chủ yếu là lụa mềm, bóng và nhiều màu sắc sinh động Đây thực sự là những ghi chép quý cho hướng nghiên cứu tiếp cận dưới góc
độ lịch sử của luận án Tuy nhiên trong toàn bộ nghiên cứu, một phần rất quan trọng để làm nên giá trị thẩm mỹ của sản phẩm lụa lại chưa được tác giả quan tâm đến đó là HVTT Đối tượng nghiên cứu chỉ xoay quanh đến chất liệu
Trang 16trang phục mà chưa mở rộng đến các yếu tố nghệ thuật trang trí trên sản phẩm đặc trưng này
Sử quán triều Nguyễn đã ghi lại tình hình cả nước ta trong Đại Nam nhất thống chí (tập 4) năm 1971 [70] đó là không có tỉnh nào không dệt vải
lụa, thậm chí còn ghi chép được đến 5 loại vải, 4 loại lụa, 3 loại sợi, 3 loại lĩnh, 3 loại trừu, 3 loại the và một số loại nhiễu, gấm, bông, tơ khác Cuốn sách còn nêu:
Lụa trắng sản ở các huyện Đan Phượng, Tiên Phong, Yên Lãng, Phúc Thọ có hộ chuyên nghiệp; duy có lụa ở Chu Chàng và Cổ Đô thuộc huyện Tiên Phong là tốt hơn cả The thổ có tên là the Đại La… Vải của xã Vân ở huyện Yên Lạc, sợi nhỏ dày và trắng hơn các huyện khác [70, tr 245 - 246]
Cuốn sách đã đề cập đến sự phát triển của chủng loại lụa thông qua việc cải tiến khung dệt Tức là, người thợ dệt đã nghiên cứu chuyển chiếc khung cửi đạp chân thành khung cửi giật tay, nhằm nâng cao sản xuất và phát triển mặt hàng lụa trong cả nước
Trong tập sách Nghề đẹp quê hương (1977) [110] của tác giả Trần Lê
Vân cũng nói đến đình làng Cổ Đô có thờ Hoàng Phủ Thiếu Hoa – Bà tổ nghề trồng dâu nuôi tằm dệt lụa như sau:
Hùng Định Vương sinh ra một Mỵ nương tên là Hoàng Phủ Thiếu Hoa, có tên Mô Nhâm, lại có tên hiệu là Mô Nhĩ Khi lớn tuổi, mỵ nương theo Loa Tổ học nghề Học được nghề, mỵ nương về dạy dân trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa… Năm 32 tuổi, Hoàng Phủ Thiếu Hoa xin cho vua cha cho nàng đi chơi thăm nhiều nơi xa gần, vua ưng cho Đến làng nào, nàng cũng dạy dân nuôi tằm, cấy lúa… [110, tr.7]
Trang 17Sau này bà được tôn thờ là vị tổ nghề lụa Tập sách cũng nói về thời Hùng Vương, dân chăm việc nông tang, nuôi tằm từ rất sớm Có trồng dâu nuôi tằm thì chắc hẳn phải có ươm tơ dệt lụa, thời kỳ này xuất hiện nhiều vị
“tổ nghề” Trong nghiên cứu của mình, Trần Lê Vân cũng đưa ra các vị “tổ nghề” như sau: Làng Vạn Phúc thờ bà tổ nghề tên là Lã Thị Nga, bà sống khoảng thế kỷ VII - VIII rất giỏi dệt lụa, sa, the và đã truyền dạy cho dân làng Vạn Phúc, sau này dân làng nhớ công lao của bà nên đã phong bà là Thành Hoàng làng Làng La Khê hiện nay còn đền thờ tổ phường “canh cửi” (dệt vải) Trong đền La Khê có tấm bia khắc tên mười vị “tổ sư”, từ phương xa đến nhập tịch và truyền nghề dệt lụa cho dân làng (Theo gia phả họ Nguyễn ở
La Khê) Mười vị “tổ sư” ấy nhập tịch làng vào thời Lê Trung Hưng Làng Phùng Xá (Hà Tây) thờ trạng Bùng – Phùng Khắc Khoan (1528 - 1613) bởi ông có công cải tiến nghề dệt lụa
Tiếp nối nghiên cứu về lụa là công trình Những bàn tay tài hoa của cha ông (1988) [17] của hai tác giả Phan Đại Doãn và Nguyễn Quang Ngọc đã chỉ
ra rất rõ về lịch sử hình thành và phát triển của vải lụa làng Vạn Phúc Nội dung nghiên cứu tập trung đề cập đến những mốc tiêu biểu trong quá trình phát triển của chất liệu lụa tơ tằm thông qua các triều đại phong kiến Việt Nam Ngoài ra, nghiên cứu còn bàn về vải tơ lụa trong thời cận đại Đây được coi là nguồn tư liệu quý, giúp ích cho NCS trong việc luận giải các vấn đề cơ bản của đối tượng nghiên cứu trong đề tài luận án của NCS
Cuốn Tinh hoa nghề nghiệp cha ông (1998) [117] của Bùi Văn Vượng
lại bàn về nghề dệt từ thời Đông Sơn, phong Kiến cho đến thế kỷ XIX Tài liệu bước đầu phân tích tổng hợp số lượng dọi xe sợi rất lớn thời Đông Sơn
Sự phân bố của chúng trong các di chỉ khảo cổ học thuộc văn hóa Đông Sơn cũng như di chỉ Phùng Nguyên trước đó Tập trung với mật độ cao tại một số địa điểm như làng Vạc (Thái Hòa, Nghệ An) tới 200 chiếc dọi xe sợi Sự kiện
Trang 18ấy dường như xác nhận quan điểm cho rằng, nghề dệt tơ lụa thời Đông Sơn đã rất phát triển theo hướng chuyên môn hóa ở các trung tâm sản xuất Tác giả
đã có sự so sánh, đối chiếu và đưa ra các dẫn chứng liên quan đến quá trình sản xuất lụa ở từng vùng Dựa vào công trình tổng hợp này, luận án có thể đối chiếu để tìm ra nét đặc trưng riêng của lụa Vạn Phúc so với lụa ở các vùng khác Công trình có đối tượng khảo sát lớn xuyên suốt nhiều thời kỳ nên việc
đi sâu vào tính trang trí trên lụa không được nhắc tới Vì vậy, luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu, làm rõ và bổ sung những đặc điểm của HVTT trên lụa
Công trình Làng nghề, phố nghề Thăng Long - Hà Nội (2000) [122]
của hai tác giả Trần Quốc Vượng và Đỗ Thị Hảo nghiên cứu về sự phát triển của các làng nghề Thăng Long, Hà Nội qua các thời kỳ Công trình có nhắc đến làng dệt lụa tơ tằm Vạn Phúc và nhấn mạnh sự biến đổi của làng nghề kéo theo những ảnh hưởng đến chất liệu tơ tằm Vì thế, luận án tiếp tục nghiên cứu sự ảnh hưởng đó có dẫn tới sự thay đổi các yếu tố tạo hình trang trí trên lụa Vạn Phúc không?
Trong Lịch sử Việt Nam (2008) [62], Nxb Khoa học Xã hội cũng đã
nêu sơ lược vào những thế kỷ đầu công nguyên, tổ tiên ta đã nuôi tằm với
năng suất cao: một năm tám lứa kén… Thế kỷ XVII, cả vùng đất ven sông
Đuống, khi ấy là nhánh chính của sông Hồng, do có sự giao lưu buôn bán với một số trung tâm kinh tế lớn mới được hình thành mà trở nên sầm uất Các làng thủ công, phường thủ công xuất hiện ở nhiều nơi Trong sách có nêu sơ lược như sau: Thăng Long, Sơn Tây ở Đàng Ngoài, Thuận Hóa ở Đàng Trong
là nơi tập trung nhiều làng dệt có truyền thống lâu đời, đặc biệt là nghề dệt lụa tằm tang Lúc này, các hộ nghề dệt lụa trong nhân dân được phát triển và nhân rộng Các khâu về kỹ thuật như chọn tơ, se tơ, nhuộm tơ được chú trọng nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm lụa tơ tằm Hàng năm, số lượng tơ lụa mềm mại, óng ả được chuyển ra Đàng Ngoài lên đến hàng nghìn tạ Như vậy,
Trang 19có thể thấy rằng vào thế kỷ XVII, các sản phẩm lụa tơ tằm đã có bước tiến mới cả về số lượng và chất lượng
Trong cuốn Trang phục Thăng Long Hà Nội (2010) [98] của nhà
nghiên cứu Đoàn Thị Tình đã đưa ra một luận điểm đáng chú ý có liên quan trực tiếp đến đề tài đó là: đời Lê có hồng phương ty, bạc phương ty; đời Nguyễn có bát ty, trừu nam, nam đại (loại hàng dệt tơ dày) Tác giả nhận định, từ thời Lý “Những người thợ đã dệt được đủ các loại gấm, vóc, lụa, đoạn nhiều màu, có họa tiết trang trí đặc sắc, không những được sử dụng trong nước mà còn làm vật cống phẩm cho triều đình phương Bắc” [98, tr 24] Đến thời Nguyễn “đã có thêm nhiều mặt hàng mới, riêng Hà Nội có tơ, bông, lụa trắng, lụa vân, trừu nam, lĩnh hoa, là, the hoa, the mình băng, sa hoa nhỏ , với nhiều màu sắc” [98, tr 184] Từ những luận điểm trên, tác giả đã khẳng định về sự phong phú và đa dạng của các loại lụa tơ tằm Việt Nam Đây là những sản phẩm dệt tồn tại qua nhiều thế kỷ, nhưng ở mỗi thời kỳ mỗi vùng miền khác nhau lại có những tên gọi riêng
Trong hướng nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ lịch sử còn có công trình
Tổng quan về nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam (tập 1) [29] của
Trương Minh Hằng đã bàn đến làng nghề dệt và đưa ra cái nhìn toàn cảnh về nghề tằm tang, ươm tơ dệt lụa của người Việt cổ Một số bài báo trên các tạp chí khoa học của các nhà nghiên cứu, phê bình viết về sản phẩm lụa, nhưng chỉ dừng lại ở nghiên cứu làng nghề, nghiên cứu văn hóa, một số thành công hay vấn đề bảo tồn mà chưa đề cập tới quá trình hình thành và phát triển, dấu
ấn lịch sử, điểm mới hay yếu tố cốt lõi hình thành nên giá trị thẩm mỹ của vải lụa Đó là các bài nghiên cứu: “Mấy ý kiến về nghề thủ công cổ truyền ở nước
ta” [58] của tác giả Lâm Bá Nam; “Nghề gấm vẫn còn có cái tên” (1989) của
Quách Vinh [116]
Trang 20Như vậy qua một số cuốn sách, công trình chuyên khảo, bài viết, những nội dung và cơ sở lý luận của các tài liệu trên đã giúp NCS có cái nhìn tổng quan hơn về sản phẩm tơ lụa Việt Nam Qua đó, khẳng định mốc thời gian, lịch sử hình thành của sản phẩm lụa có từ khi nào? Cũng như mong muốn phân giải được quá trình phát triển của chất liệu lụa tơ tằm Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử
1.1.2 Hướng nghiên cứu hoa văn trang trí tiếp cận từ mỹ thuật
Trong quá trình nghiên cứu để thực hiện cho nội dung của đề tài, mục đích tìm hiểu phân tích HVTT dưới góc độ mỹ thuật được coi là phần then chốt quan trọng trong việc giải mã các vấn đề của luận án
Theo các học giả đi trước, những nghiên cứu về lụa đã xuất hiện vào những năm 30 của thế kỷ XV Nhưng nghiên cứu về HVTT trên lụa thì chỉ
mới bắt đầu từ thế kỷ XX Trong đó phải kể đến công trình Nghề dệt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam (1999) [57] của tác giả Lâm Bá Nam
Công trình đã nêu “Hoa văn trên các sản phẩm dệt chủ yếu là hoa văn trên sản phẩm tơ lụa với nhiều loại khác nhau” [57, tr.111] Đáng lưu ý là tác giả đã căn cứ vào hình dáng, ý nghĩa của hoa văn để đánh giá, phân loại và thống kê các nhóm HVTT trên lụa thành 3 nhóm đề tài như sau: thứ nhất đề tài động vật, thứ hai là đề tài thực vật và thứ ba là nhóm đề tài đồ vật/ hình học/ mô phỏng Nhận thấy, đây là công trình nghiên cứu đầu tiên có liên quan về tính thẩm mỹ của lụa tơ tằm Việt Nam Mặc dù phần dẫn chứng về HVTT còn khá
“khiêm tốn” Nhưng công trình vẫn là nguồn tư liệu đáng quý cho NCS trong việc hệ thống và phân loại các nhóm HVTT cũng như xác định cụ thể tên gọi một số chủng loại hoa văn đặc trưng Từ đó có sự so sánh đối chiếu sang lụa Vạn Phúc, giúp ích cho quá trình nghiên cứu đề tài luận án
Trong Hoa văn trang trí thông dụng [56] của tác giả Hoàng Minh với
hơn 1000 mẫu hoa văn được chọn lọc qua đồ dùng, vật dụng trong cuộc sống
Trang 21hàng ngày của con người Từ hoa văn cây cỏ thiên nhiên, chim muông đến hình tượng con người, cho thấy sự phong phú đa dạng về HVTT, điều này giúp NCS có thêm cơ sở để đối chiếu tư liệu và hệ thống HVTT trong luận án
Tiếp nối nghiên cứu về HVTT là cuốn Tổng hợp hoa văn rồng phượng
(2003) [1] của tác giả Thái Dịch An đã chỉ rõ về hoa văn truyền thống Việt Nam cũng như giải quyết các vấn đề trong quá trình nghiên cứu HVTT trên lụa Qua các tư liệu này, giúp NCS hiểu thêm một số loại hình, kiểu thức cũng như xác định tên gọi của hoa văn nói chung Từ đó có sự so sánh với HVTT trên bề mặt lụa Vạn Phúc một cách khách quan nhất
Năm 2003, một trong những nghiên cứu về hoa văn mang tính tổng hợp
và chuyên biệt là cuốn Hoa văn Việt Nam [10] của Nguyễn Du Chi, Nxb Mỹ thuật Đây được coi là công trình nghiên cứu công phu về HVTT qua các thời
kỳ lịch sử Tác giả còn lý giải sự phát triển của nghệ thuật trang trí và biểu tượng của các hoa văn trong đời sống xã hội Công trình là cuốn tài liệu hữu ích trong việc nghiên cứu bước đầu về HVTT của NCS Từ hoa văn khắc vạch trên đá, xương, đất sét để tạo nên những đường song song hoặc hình kỷ
hà hay hoa văn động vật, thực vật Cho đến hoa văn trên gốm như đan, chải, thừng… thời tiền sử Hoa văn kỷ hà, gấp khúc, chấm dải, bọ gậy, hình học thời sơ sử và các đề tài linh thiêng về tứ linh, phật giáo, hiện thực nửa đầu thời phong kiến NCS quan tâm đến sự xuất hiện trùng nhau của một số
HVTT trong Hoa văn Việt Nam trên lụa Vạn Phúc Đây cũng là vấn đề nghiên
cứu của đề tài nhằm tìm hiểu các HVTT trên lụa Vạn Phúc có kế thừa kho tàng hoa văn của dân tộc hay được tiếp biến từ văn hóa một số nước ở khu vực Phương Đông? Vì vậy, luận án sẽ tiếp tục đi sâu phân tích, đối chiếu và
so sánh cũng như phân định một cách khách quan hơn trong quá trình nghiên cứu
Trang 22Vào năm 2003, tác giả Cao Thị Bích Hằng với luận văn thạc sỹ Hoa văn lụa tơ tằm (Hà Đông – Vạn Phúc) và các giải pháp trang trí trên trang phục Việt Nam [27] đã khái quát được đặc điểm lụa tơ tằm và các sản phẩm
sản xuất từ tơ tằm Nghiên cứu nêu ra được các dạng hoa văn trên lụa tơ tằm
có sự phân tích mang tính lý luận Đây được coi là bước đầu nghiên cứu tập trung về HVTT trên lụa dưới góc độ mỹ thuật Điểm nổi bật của công trình là đưa ra được các giải pháp áp dụng HVTT lụa tơ tằm trên trang phục phụ nữ Việt Nam Chính điểm này, đã gợi mở để NCS có thể hình dung được kết quả của việc thiết kế hoa văn trên lụa tơ tằm hiện nay với các mẫu hình được sáng tác nhằm áp dụng vào trang phục cũng như quan điểm nghiên cứu Tuy nhiên, giá trị nghệ thuật và hình thức trang trí như bố cục, hình, đường nét và màu sắc thì chưa được tác giả quan tâm nhiều Công trình dừng lại ở việc bàn về một số hoa văn điển hình và ý nghĩa của các hoa văn đó, mà chưa đề cập tới các đồ án HVTT trên lụa tơ tằm Các bản vẽ, hình chụp hoa văn vẫn còn hạn chế và sơ sài Vì vậy, đây sẽ là hướng mới để luận án tiếp tục đi sâu, làm rõ
và bổ sung những đặc điểm HVTT trên lụa Vạn Phúc
Công trình Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt (2011)
[6] của tác giả Trần Lâm Biền, đã nghiên cứu tổng hợp về hoa văn từ thời tiền
sử cho đến giai đoạn tự chủ, từ hoa văn cây cỏ, hình tượng con người đến các biểu tượng về lực lượng tự nhiên và triết học hay linh vật trang trí trên các di tích lịch sử Tác giả nhận định:
Nghiên cứu về “hoa văn Việt Nam” cũng là tìm về một mạch nguồn bản sắc văn hóa Việt Nam, qua đó phản ánh được tính chất xuyên suốt, đa dạng trong thống nhất của lịch sử và văn hóa Việt Nam Cội nguồn của hoa văn Việt Nam bắt nguồn từ thời tiền sử và sơ sử, cách đây hàng chục ngàn năm với sự có mặt của những nét vẽ người xưa trên đồ gốm cổ [6, tr.11]
Trang 23Và nhấn mạnh việc “tiếp cận với hoa văn, nhất là về mặt ý nghĩa là tiếp cận một khía cạnh mang tính cốt lõi về bản sắc văn hóa Việt Nam” [6, tr.14] Sau đó tác giả kết luận “Suy cho cùng tới nay vẫn còn thiếu tài liệu tổng hợp
và phân tích về hoa văn, nhất là ở lĩnh vực ý nghĩa” [6, tr.16] Như vậy, với mục tiêu nghiên cứu riêng của tác giả, cuốn sách đã cung cấp được những tư liệu và kiến thức cần thiết cho các nhà nghiên cứu, người yêu nghệ thuật tạo hình dân tộc cổ truyền Cuốn sách là nguồn tư liệu tham khảo có ích cho NCS khi nghiên cứu về HVTT dưới góc nhìn mỹ thuật Dựa vào công trình này, giúp NCS có cái nhìn tổng quan hơn về HVTT và tình hình nghiên cứu của đề tài trong hệ thống trang trí mỹ thuật truyền thống của người Việt
Năm 2013, tác giả Triệu Thế Hùng xuất bản cuốn Hình tượng thực vật trong nghệ thuật tạo hình của người Việt [34], cuốn sách lựa chọn một số
hình tượng thực vật tiêu biểu trong các công trình kiến trúc cổ, các tác phẩm điêu khắc làm đối tượng nghiên cứu và xác định hệ thống lý luận liên quan đến hình tượng nghệ thuật Cuốn sách đưa ra những dấu ấn nghệ thuật đặc sắc, mang tính tiếp biến ở từng thời kỳ lịch sử cũng như giải mã những thông điệp ẩn chứa trong mỗi hình tượng thực vật Qua tư liệu này, cho thấy mỗi HVTT trong nghệ thuật tạo hình đều có lịch sử hình thành, tồn tại, biến đổi và mất đi Nhờ đó mà hoa văn thực vật đã trở thành một trong những cứ liệu quan trọng để NCS đối sánh với hoa văn thực vật trong trang trí lụa Vạn Phúc Công trình giúp ích cho NCS trong việc khái lược về nhóm hoa văn thực vật và chỉ ra giá trị của hoa văn thực vật mang tính xuyên suốt trong nền
mỹ thuật Việt Nam
Ngoài các tư liệu trên, ở hướng nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ mỹ
thuật, còn có các sách Nghiên cứu biểu tượng – Một số hướng tiếp cận lý thuyết [25] của Đinh Hồng Hải hay Thế giới biểu tượng trong di sản văn hóa Thăng Long – Hà Nội [7] của Trần Lâm Biền và Trịnh Sinh cũng giúp cho
Trang 24NCS trong việc giải quyết yếu tố nội hàm, ý nghĩa của các nhóm HVTT trên
bề mặt lụa nói chung Cũng như giải mã một số biểu tượng HVTT trong đồ án trang trí trên lụa Vạn Phúc nhằm làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu của luận án
Trong quá trình nghiên cứu và thu thập tài liệu, NCS nhận thấy có một vấn đề, đó là HVTT trên lụa Việt Nam được các nhà nghiên cứu đề cập muộn
và ít hơn Thường ở dạng bài viết ngắn, các tiểu mục, tạp chí, kỷ yếu như “Hà Tây quê lụa Một nét văn hóa làng nghề” [96] của Đoàn Thị Tình trong Kỷ yếu Hội thảo (2004) hay “Làng nghề quê lụa với văn hóa du lịch” [99] của
Đoàn Thị Tình trong Hội thảo - Giá trị văn hóa, du lịch của sản phẩm làng nghề truyền thống Việt Nam (2012)
Nhìn chung, qua một vài tài liệu nghiên cứu về trang trí hoa văn và hoa văn truyền thống đã cho thấy, nguồn tư liệu về hoa văn là rất lớn, nhưng các
tư liệu viết về HVTT trên lụa lại không có nhiều Đặc biệt chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu và hệ thống về giá trị thẩm mỹ của HVTT trên lụa Vạn Phúc Đa số các nghiên cứu này được nhắc đến thông qua việc lồng ghép về làng nghề dệt vải, dệt lụa truyền thống, hay việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, hoặc chỉ đưa ra tên gọi và ý nghĩa của một
số HVTT điển hình Yếu tố tạo hình của các đồ án trang trí hoa văn trên lụa chưa được các tác giả đặt thành đối tượng nghiên cứu riêng Các tài liệu như:
Hoa văn Việt Nam, Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt, Hình tượng thực vật trong nghệ thuật tạo hình của người Việt… đã định
hướng tiếp cận nghiên cứu dưới góc độ mỹ thuật nhưng chưa mang tính chuyên sâu để làm rõ giá trị nghệ thuật của HVTT trên lụa Bên cạnh đó là
các công trình Nghề dệt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, Hoa văn lụa
tơ tằm (Hà Đông – Vạn Phúc) và các giải pháp trang trí trên trang phục Việt Nam, đã cung cấp một số nội dung liên quan đến vấn đề HVTT trên lụa tơ
tằm Một số bài viết còn hạn chế về mặt dung lượng nên chưa cung cấp được
Trang 25nhiều thông tin và đi sâu vào phân tích những yếu tố tạo hình trên bề mặt lụa
để thấy được giá trị nghệ thuật, giá trị thẩm mỹ của chất liệu đó Vì vậy, đây
sẽ là khoảng trống gợi mở tính mới cho NCS tiếp tục nghiên cứu
Ngoài ra, luận án sử dụng nguồn tư liệu chính là quá trình điền dã làng nghề, khảo sát thực tế các sản phẩm lụa còn lại trong bảo tàng, di tích, lưu giữ tại đình làng Vạn Phúc Từ đó đối sánh, phân tích với các sản phẩm lụa hiện nay, để rút ra kết quả minh chứng cho nội dung nghiên cứu của đề tài luận án Như vậy, tất cả những tài liệu mà NCS thu thập được ở các mức độ khác nhau, đều rất có ích trong việc cung cấp thông tin, tri thức về một lĩnh vực hay khía cạnh nào đó đặc trưng trong trang trí lụa Vạn Phúc, nổi bật là HVTT Trên cơ sở tham khảo tài liệu các tác giả, nhà nghiên cứu, nhà phê bình nhằm mục đích hoàn thành mục tiêu đề ra của đề tài luận án
1.2 Cơ sở lý luận của đề tài
1.2.1 Khái niệm cơ bản và thuật ngữ liên quan
1.2.1.1 Khái niệm cơ bản
- Khái niệm hoa văn:
Hoa văn xuất hiện rất sớm với những di chỉ bằng đá, xương và đất sét
Từ thời tiền sử, con người đã phát hiện ra những dấu tích hoa văn dưới dạng hình kỷ hà đơn giản Theo dòng thời gian, hoa văn ngày càng trở nên đa dạng,
phong phú và phức tạp hơn Trong Đại từ điển tiếng Việt, Nguyễn Như Ý có
đưa ra định nghĩa về hoa văn như sau: “Hoa văn là hình trang trí có tính đặc thù của các dân tộc người, thường vẽ, dệt, khắc, chạm, trên đồ vật như hoa văn trên trống đồng, hoa văn thổ cẩm…” [124, tr 265]
Theo định nghĩa trong Từ điển Bách khoa Việt Nam (2003) ,“Hoa văn
là mô-tuýp trang trí rất phong phú đa dạng có thể là hình hoa lá cách điệu, hoặc hình chữ triện” [39, tr 318] Trong đó mô típ được hiểu như công thức
Trang 26có tính ước lệ, biểu trưng cho nghệ thuật và thường được nhắc lại trong một tác phẩm
Căn cứ vào các định nghĩa trên, cho thấy hoa văn được sáng tạo theo lối vẽ đặc trưng của trang trí, một dạng vẽ đơn giản được cách điệu hóa và cô đọng từ ý tưởng ban đầu để trở thành hình trang trí Hoa văn còn là phương tiện biểu đạt nội tâm, biểu hiện thế giới quan, nhân sinh quan của người sáng tạo ra chúng Ngoài ra, hoa văn còn thể hiện văn hóa của một triều đại, một đất nước hay một nền văn minh nào đó Nó mang tính biểu tượng, thậm chí chỉ cần nhìn vào hoa văn chúng ta có thể nói được tên hay đặc trưng của nền văn minh mà nó đại diện Ví dụ khi nhắc đến hoa văn trên trống đồng hay hình vẽ chim lạc, người chèo thuyền…, chúng ta sẽ nhớ đến nền văn hóa Đông Sơn Thông thường hoa văn được sắp xếp theo chuỗi, theo dây hay dải,
nó có vai trò rất quan trọng trong nghệ thuật tạo hình và thường được sử dụng như một thành tố của trang trí Nếu đứng một mình, hoa văn có mục đích tô điểm, trang trí cho một vật hay sự vật hiện tượng nào đó, nếu được kết hợp với nhiều nhóm hoa văn sẽ hình thành đồ án trang trí
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm: Hoa văn chính là sự tái hiện các sự vật, hiện tượng ung quanh con người, được ch n l c, cách điệu thông qua tư duy úc cảm và thể hiện qua các kỹ năng như vẽ, in, khắc, chạm, trổ, thêu… nhằm mục đích biểu hiện hình thức trang trí trên một vật liệu cụ thể
- Khái niệm trang trí:
Trong lịch sử loài người trang trí được xuất hiện từ rất sớm và được coi
là một yếu tố của nghệ thuật tạo hình, một hình thái nghệ thuật đặc biệt của con người Trang trí là phạm trù thẩm mỹ phục vụ cuộc sống, nhằm thỏa mãn nhu cầu về “cái đẹp” của con người đối với bản thân hoặc sự vật xung quanh chúng ta Ngay từ trong xã hội nguyên thủy, con người đã biết khắc lên vách núi, phiến đá các ký hiệu, đồ vật, dụng cụ sinh hoạt hàng ngày trong cuộc
Trang 27sống Sau này, trang trí được biểu hiện phong phú thông qua các hình thức tạo tác như đồ trang sức hay vẽ lên mặt, vẽ trên người
Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, trang trí là sự “Bố trí
các vật thể có hình khối, đường nét, màu sắc khác nhau sao cho tạo ra sự hài hòa, làm đẹp mắt một khoảng không gian nào đó” [73, tr.1308]
Từ điển Bách khoa thư nghệ thuật phổ thông, trang trí được định nghĩa
như sau:
Trang trí (decoration) là một tổng hợp những thuộc tính nghệ thuật
để làm tăng vai trò biểu hiện cảm xúc và tổ chức mỹ thuật của những tác phẩm nghệ thuật trong môi trường vật thể bao quanh con người… Trang trí là một trong những phương tiện nghệ thuật chính của những tác phẩm nghệ thuật trang trí tạo hình Trang trí có mặt như một thành tố cố hữu của các tác phẩm nghệ thuật tạo hình và nghệ thuật kiến trúc [102, tr 212]
Trong Thế giới biểu tượng trong di sản văn hóa Thăng Long – Hà Nội
của Trần Lâm Biền và Trịnh Sinh, trang trí được biểu hiện như sau:
Trang trí là một loại hình của nghệ thuật tạo hình, có khả năng biểu hiện tư tưởng, tình cảm, thẩm mỹ của cả một cộng đồng, dân tộc, bằng nghệ thuật cách điệu, tượng trưng hóa các đối tượng như tự nhiên, cây cỏ, động vật… đã tạo thành các mô típ trang trí Người nghệ nhân xưa đã sáng tạo, tiếp thu và sử dụng nhiều mô típ trang trí Các mô típ trang trí có ý nghĩa và biểu tượng với rất nhiều lớp nghĩa phong phú Việc tìm hiểu và giải mã chúng cho phép chúng ta tìm hiểu về tư duy, quan niệm và thẩm mỹ của người xưa [7, tr.4] Dựa vào các định nghĩa trên, cho thấy sự đồng nhất trong các định nghĩa về trang trí Rõ ràng trang trí chính là quá trình xử lý cái đẹp trên bề mặt bất kỳ vật liệu nào nhằm tạo giá trị thẩm mỹ cho người xem, người cảm
Trang 28nhận sự vật, hiện tượng đó Trang trí như một nhu cầu của trí tuệ phản ánh tinh thần, thẩm mỹ, tình cảm, văn hóa của một con người, một nhóm người hay một tổ chức nào đó trong xã hội Trang trí được biểu hiện cho một loạt các hoạt động của con người và những sản phẩm do chính các hoạt động đó tạo ra Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu về cái đẹp, làm đẹp của con người càng cao Từ trang phục cho đến bữa ăn hàng ngày, trang trí cũng được áp dụng nhằm mục đích phục vụ cho con người, giúp cuộc sống và xã hội trở nên tốt đẹp và hoàn thiện hơn
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm: Trang trí là nghệ thuật sắp đặt các yếu tố tạo hình như đường nét, hình khối, màu sắc… trong một bố cục nhất định nhằm tạo sự hài hòa cho thị giác và phù hợp với đối tượng
- Khái niệm HVTT trên lụa:
Tìm hiểu về HVTT trên lụa chính là quá trình tìm hiểu về nội dung, hình thức của hoa văn trong vấn đề nghiên cứu của luận án Đây được coi là đối tượng nghiên cứu chính mà luận án cần hướng đến HVTT trên lụa là một loại hình nghệ thuật được hình thành và phát triển sau khi con người dệt nên chất liệu lụa, nó là quá trình sáng tạo nghệ thuật của người nghệ nhân
Theo tác giả Phạm Ngọc Tới trong Giáo trình trang trí [92] có nêu sơ
lược từ việc lựa chọn chất liệu sợi vải tạo nên độ óng ả hay thô ráp của mặt vải đến việc chọn màu sắc, các HVTT nhằm phù hợp và làm đẹp cho các lứa tuổi dùng trong những sinh hoạt khác nhau, trong các thời tiết khác nhau Cho thấy, HVTT dù trên lụa hay trên bất kỳ loại vải nào đều mang giá trị thẩm mỹ nhằm phù hợp với từng đối tượng sử dụng
Bất kỳ hình thức trang trí hoa văn nào cũng đều có các yếu tố như bố cục, hình, đường nét và màu sắc Trang trí trên lụa, hoa văn có nhiều dạng thức, chủng loại khác nhau Căn cứ vào hình dáng, ý nghĩa, cấu tạo mà HVTT trên lụa được chia thành các nhóm như động vật, thực vật Các đồ án trang
Trang 29trí được lấy ý tưởng từ thiên nhiên, cây cỏ, động vật, hay các vật dụng sinh hoạt hàng ngày trong cuộc sống của con người Nhìn chung, tất cả các sự vật hiện tượng xung quanh con người đều có thể là ý tưởng để tạo ra hoa văn, nhưng cũng tùy vào từng sản phẩm lụa mà có các HVTT khác nhau Trong quá trình khảo sát thực tiễn, NCS nhận thấy phần lớn HVTT trên lụa nói chung và trang trí lụa Vạn Phúc nói riêng phổ biến là hoa lá, cây cỏ gắn với thiên nhiên, phản ánh sự liên kết gắn bó giữa con người với môi trường sống
HVTT trên lụa khác với các loại hoa văn trên các vật liệu khác do kỹ thuật và hình thức trang trí, cách “cài” hoa của người nghệ nhân tạo cho mỗi tấm lụa sự óng ả của HVTT, sự mượt mà của màu sắc, sự linh hoạt trong hình
và nét Tự thân quá trình trang trí hoa văn trên lụa chính là sự thể hiện của giá trị thẩm mỹ và nghệ thuật thị giác, chúng có tác động đến tâm, sinh lý của con người Mỗi HVTT trên lụa dù to hay nhỏ, màu sắc ra sao đều đáp ứng một trong hai tiêu chí: ứng dụng hoặc thẩm mỹ
Nếu đối chiếu với khái niệm hoa văn đơn thuần cho thấy nó thể hiện ở chủng loại hình thức, còn HVTT trên lụa được đẩy cao hơn mang giá trị nhân văn, phản ánh nhận thức của con người, thể hiện bản sắc, quan niệm của một nhóm, một tộc người hay một vùng miền nào đó Do vậy, HVTT trên lụa không chỉ đơn giản là làm đẹp mà còn trở thành tài sản trong kho tàng văn hóa của dân tộc
1.2.1.2 Thuật ngữ liên quan
* Thuật ngữ trang trí
- Đồ án: là sự sắp đặt đảm bảo tính liên kết chặt chẽ giữa các hình thể,
vật thể có kích thước, số lượng, màu sắc nhất định nằm trong một khuôn hình
cụ thể, nhằm diễn tả một sự vật hiện tượng nào đó
- Bố cục: sự sắp xếp kích thước và tương quan của các yếu tố tạo hình
trong một tổng thể nhất định, làm nổi rõ ý đồ sáng tác của người thực hiện
Trang 30- Bố cục hàng lối: là sự sắp đặt yếu tố tạo hình, tỷ lệ, màu giống nhau
được lặp đi lặp lại với khoảng cách cố định bằng nhau theo trục tung, trục hoành hoặc trục chéo, tạo sự cân bằng về thị giác và có tính tổ chức cao
- Bố cục đối ứng: là sự sắp đặt các yếu tố tạo hình, tỷ lệ, màu giống
nhau nằm đối xứng nhau qua một trục (trục đó có thể là trục tung, trục hoành hoặc trục chéo) tạo được tính bền vững, chặt chẽ và cân bằng về thị giác
- Bố cục đăng đối: là sự sắp đặt các yếu tố tạo hình, tỷ lệ, màu giống
nhau nằm đối xứng nhau qua hai trục tạo được tính bền vững, chặt chẽ và cân bằng về thị giác
- Bố cục đường diềm: là loại hình trang trí được kéo dài liên tục,
thường sử dụng một hoặc hai nhóm hoa văn có khoảng cách bằng nhau Bố cục đường diềm có thể được trang trí theo đường ngang, đường dọc, chuyển động hoặc hình tròn
- Bố cục tự do: là dạng bố cục có các yếu tố tạo hình, tỷ lệ, màu sắc
không đối xứng với nhau qua một trục nào, nhưng vẫn tạo được sự cân bằng
về thị giác
- Cách điệu: sự chắt lọc từ những đường nét, hình thể đặc trưng nhất
của một vật thể có thật được người họa sĩ, nghệ nhân, nhà điêu khắc…, sắp xếp và cường điệu hóa những đường cong, thêm hoặc bớt chi tiết, màu sắc để
có thể đạt mức tượng trưng cho các hình
- Mô típ (motif): một hình tượng cụ thể được xây dựng qua sự sáng tạo
của người thể hiện
* Thuật ngữ trong chất liệu lụa
- Tơ: Tơ là những vật liệu polime hình sợi dài và mảnh với độ bền nhất
định Trong tơ, những phân tử polime có mạch không phân nhánh, sắp xếp song song với nhau (Polyme là khái niệm được dùng cho các hợp chất nhiều
Trang 31phân tử, hợp chất có khối lượng phân tử lớn và trong cấu trúc của chúng có sự lặp đi lặp lại nhiều lần những mắt xích cơ bản)
- Tơ tằm: là một trong những xơ thiên nhiên có giá trị, thường được
dùng làm nguyên liệu trong công nghiệp dệt từ lâu đời, là mặt hàng quý so với các mặt hàng khác
- Tơ nhân tạo: được sản xuất từ polime thiên nhiên nhưng được kết hợp
thêm các chất hóa học Ví dụ: từ Xenlulozơ đã chế tạo ra tơ visco, tơ axetat,
tơ đồng – amoniac
* Thuật ngữ trong dệt lụa
- Đục bìa: là quá trình sử dụng bìa “các tông” để tạo hoa, mỗi hoa văn
sau khi thiết kế được phóng to trên giấy kẻ ca – rô, người thợ sẽ căn cứ vào các ô để đục lỗ cho bìa Mỗi lỗ bìa tương ứng với một sợi tơ được kéo lên khi dệt, các sợi đó sẽ tập hợp thành các hoa văn trên mặt vải lụa
- Guồng tơ: sợi tơ được quấn vào những con suốt giống như lõi ống chỉ
(thường gọi là con tơ), khâu guồng sẽ được chuyển đổi sang các ống tơ để phục vụ các công đoạn tiếp theo
- Se tơ: là quá trình chập các sợi tơ đơn lẻ từ 2, 3, 6… sợi vào với nhau,
sau đó máy se tơ sẽ se cả hai chiều lần lượt để chống rối tơ đảm bảo lụa sau khi dệt không bị nhăn
- Nhuộm tơ: sau công đoạn se tơ, sợi tơ được đưa đi nhuộm theo màu
sắc được xác định từ trước Thông thường sẽ nhuộm sợi dọc và sợi ngang khác màu nhau để tạo nên mặt vải lụa có 2 màu
- Chuội: là quá trình luộc sơ qua các cuộn tơ, thường sử dụng cho các
mặt hàng tơ trước khi nhuộm để làm sạch các tạp chất như hồ, keo…
- Mắc d c: các ống tơ được đưa lên cây mắc để mắc khoảng 8000 sợi,
những sợi này chạy song song làm nhiệm vụ là sợi dọc
Trang 32- Nhuộm lụa: các sản phẩm lụa ở phân hạng thấp hơn thường đưa sợi tơ
mộc vào dệt, sau khi dệt xong sẽ mang đi nhuộm Mặt hàng này không thể hiện được 2 màu (dọc và ngang) như mặt hàng nhuộm tơ trước khi dệt ở trên
1.2.2 Lý thuyết nghiên cứu
Với nội dung chủ yếu của luận án là nghiên cứu HVTT trên lụa Vạn Phúc, tiêu biểu là hình thức trang trí của các đề tài và đồ án, nhằm rút ra những đặc trưng và giá trị nghệ thuật trên lụa Vạn Phúc những năm 1986 đến nay (2020) Trước khi có sự giao lưu tiếp biến tạo hình với văn hóa một số nước phương Đông, HVTT trên lụa Vạn Phúc đã có những tính chất riêng, được kế thừa từ nền mỹ thuật cổ của dân tộc Nhiều đề tài đã đề cập đến các triết lý về cuộc sống của con người như việc cầu sức khỏe, may mắn, trường tồn trong các hoa văn như; hoa Cúc, hoa Sen, chữ Thọ, chữ Vạn…, mang đậm chất dân gian truyền thống Nhiều đồ án về động vật, hình học, đồ vật đa dạng thể hiện được sự sáng tạo, cần cù, tỉ mỉ của người nghệ nhân để làm nên những tác phẩm nghệ thuật gần gũi với con người
HVTT trên lụa Vạn Phúc đã khẳng định được giá trị thẩm mỹ, được đặt ngang hàng với nhiều loại hình trang trí trong mỹ thuật tạo hình của người Việt Không chỉ có vậy, nó còn phản ánh quan điểm sáng tác, yếu tố bản địa nơi đã sản sinh ra nó Điều này, cho phép NCS lựa chọn những lý thuyết của văn hóa nhằm phân tích và luận giải các vấn đề trong nội dung luận án
1.2.2.1 Lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa
Trong các công trình nghiên cứu về văn hóa trên thế giới, nhiều tác giả
thường đề cập đến lý thuyết Cultural Acculturation để giải quyết các vấn đề
về nghiên cứu văn hóa Lý thuyết Cultural Acculturation được đặt ra đầu tiên
do giáo sư John Wesley Powell (1880) sáng lập và được chuyển dịch nhiều cách như sau: Đan xen văn hóa, tương tác văn hóa, hỗn dung văn hóa, tiếp biến văn hóa, tiếp nhận văn hóa, giao lưu văn hóa Tuy nhiên, trong mỗi bối
Trang 33cảnh khác nhau sẽ sản sinh ra những quan niệm khác nhau về văn hóa, NCS cho rằng đây là một hiện tượng “thâu hóa” mang tính tiếp thu, biến đổi về văn hóa
Trong luận án, NCS sử dụng cụm từ Giao lưu tiếp biến văn hóa như
một thuật ngữ chính cho việc nghiên cứu đề tài Giao lưu tiếp biến là sự giao lưu, tiếp thu văn hóa một cách có chọn lọc hoặc cưỡng ép và biến đổi để phù
hợp với sự thay đổi của xã hội Theo tác giả Radugin, A.A trong Từ điển Bách khoa Văn hóa h c (do Vũ Đình Phòng dịch): “Tiếp nhận văn hóa – quá trình
một nhóm sắc tộc tiếp nhận văn hóa của một nhóm sắc tộc khác tiến bộ hơn trong quá trình giao lưu văn hóa giữa hai bên… Tiếp nhận văn hóa là hình thái của truyền bá văn hóa để chỉ quá trình tiếp xúc này” [80, tr 448]
Dựa vào định nghĩa trên, có thể thấy rằng thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa là lý thuyết quan tâm tới kết quả của quá trình giao lưu tiếp xúc, biến đổi về văn hóa giữa các vùng miền, các quốc gia, các tộc người hay giữa hai nền văn minh khác nhau Giao lưu văn hóa diễn ra ở nhiều cấp độ khác nhau,
từ sự tiếp xúc, tiếp nhận các giá trị văn hóa mới mà không gây ra những biến đổi về quan niệm, nhận thức của xã hội Ở Việt Nam, quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa có từ rất sớm, “trong cộng đồng người thời đại đồ đá trên đất Việt Nam, trong các hang động có dấu tích văn hóa Hòa Bình, các nhà khảo
cổ học đã tìm thấy những vỏ ốc biển đẹp được xuyên lỗ để làm trang sức” [120, tr.36] Thực chất giao lưu văn hóa chính là sự gặp gỡ, đối thoại, giao thoa giữa các nền văn hóa với nhau Nếu các nền văn hóa đó gần nhau về không gian sẽ có sự tiếp xúc giao lưu, tương tác với nhau “Trong việc giao lưu ấy có thể xảy ra hiện tượng những yếu tố của nền văn hóa này thâm nhập vào nền văn hóa kia (tiếp thu thụ động) hoặc nền văn hóa này vay mượn những yếu tố của nền văn hóa kia (tiếp thu chủ động)” [120, tr 45]
Trang 34Trải qua suốt chiều dài lịch sử của đất nước, HVTT trên lụa Việt Nam được ra đời và tiếp thu có chọn lọc bởi các nền văn hóa khác nhau, trong đó
có những nền văn hóa ngoại lai tồn tại bên cạnh nền văn hóa bản địa Nhìn nhận đây là một khía cạnh cần phải làm rõ trong luận án, nên lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa là một trong những lý thuyết phù hợp để luận án áp dụng vào nghiên cứu sự giao lưu và tiếp biến về HVTT trên lụa, dưới góc độ
mỹ thuật Thông qua đó, tìm hiểu và luận giải về mối quan hệ, sự chuyển biến của một số chủng loại hoa văn thay đổi như thế nào do sự tiếp thu một số kiểu thức trang trí từ các nền văn hóa khác
Lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa, được áp dụng vào luận án để thấy được đối tượng nghiên cứu ít nhiều có sự giao lưu, ảnh hưởng và tiếp nhận văn hóa qua các thời kỳ, để biến đổi trong tư duy sáng tạo HVTT Lý thuyết là cơ sở cho việc kiến giải diễn biến quá trình giao lưu tiếp biến về HVTT trên lụa Vạn Phúc như thế nào? Khi áp dụng lý thuyết này vào đề tài
sẽ thấy được bối cảnh vấn đề nghiên cứu của luận án thông qua lăng kính mỹ thuật, đây chính là “bàn đạp” cho NCS trong việc tìm hiểu sự ra đời và phát triển HVTT trên lụa Vạn Phúc Việc làm rõ sự giao lưu, tiếp biến về hoa văn
sẽ là cơ sở tìm hiểu các đồ án trang trí trên lụa Vạn Phúc Từ đó, chứng minh những hình thức đó mang yếu tố tạo hình mỹ thuật Với những luận điểm của thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa cũng là cơ sở giúp NCS trả lời câu hỏi nghiên cứu: HVTT trên lụa Vạn Phúc mang phong cách tạo hình dân gian Việt Nam hay được tiếp biến từ văn hóa một số nước phương Đông?
Trong quá trình ra đời và phát triển các đề tài trang trí trên lụa, NCS nhận thấy, các hoa văn được tiếp thu có chọn lọc một số nền văn hóa tiêu biểu Nhưng liệu rằng đây có phải là sự tiếp thu tự nguyện có chọn lọc hay là tiếp thu ép buộc? Chúng ta biết, tiếp biến văn hóa là quá trình tiếp thu tự nguyện hoặc là bắt buộc (có thể toàn bộ hay từng bộ phận) Được biểu hiện
Trang 35qua hai dạng thức: thứ nhất là bạo lực mang tính chất đối đầu/ xung đột văn hóa Thứ hai là hòa bình, tức là đối thoại văn hóa qua giao thương, truyền bá
tư tưởng tôn giáo, trao đổi văn hóa nghệ thuật Ở đây tính tiếp biến vừa mang tính bắt buộc vừa mang tính tự nguyện Vào thời phong kiến nước ta, các quy định và thể chế ảnh hưởng rất lớn từ văn hóa một số nước ở phương Đông, điển hình là Trung Hoa Các triều đại phong kiến như Lý, Trần, Lê, Nguyễn đều tham khảo thể chế đất nước Trung Hoa cũng như tự nguyện tiếp nhận những tư tưởng tôn giáo, nghệ thuật tạo hình, biểu hiện rõ nhất trong trang trí
mỹ thuật đó là hoa văn
Trong quá trình điền dã, so sánh và đối chiếu thực tế, NCS nhận thấy bên cạnh yếu tố bản địa, nền văn hóa Trung Hoa đã có sức ảnh hưởng không nhỏ trong nghệ thuật trang trí hoa văn trên lụa Điển hình là các đề tài trang trí đặc trưng của mỹ thuật Trung Hoa đã ảnh hưởng đến HVTT trên lụa như; hình tượng con Rồng, con Phượng, chữ Thọ được tiếp biến để trở thành đồ án
Rồng chầu Th , đồ án Song Phượng, đồ án Th Đỉnh và nhiều đồ án khác trên
lụa Vạn Phúc
Như vậy, ngoài sự giao lưu và tiếp biến từ văn hóa của một số nước phương Đông, HVTT trên lụa còn được tiếp biến từ mỹ thuật truyền thống Đầu tiên phải bàn đến sự tiếp biến trong hình tượng con Rồng trên lụa Vạn Phúc Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc Việt Nam, Rồng là con vật thể hiện
sự linh thiêng, con vật của vũ trụ thường đi với khái niệm thần nước, thần phong đăng Hình tượng Rồng xuất hiện khá nhiều trong các di tích, kiến trúc chùa, điêu khắc của người Việt từ thời Lý, Trần, Lê, Mạc cho đến thời Nguyễn Con Rồng được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, lúc được cách điệu thoáng đạt, bay bổng khi lại dữ tợn mạnh mẽ
Trang trí trên lụa Vạn Phúc, hình tượng con Rồng về cơ bản vẫn ở dạng nguyên mẫu nhưng cũng đã có sự tiếp thu thay đổi về đường nét, để hình
Trang 36dáng trở nên mềm mại, khúc triết hơn Ngoài hình tượng con Rồng, sự tiếp biến còn được thể hiện ở nhiều HVTT trên lụa Vạn Phúc như; con Phượng, hoa Sen, hoa Hồng, hoa Cúc, hoa Chanh, chữ Thọ, chữ Vạn… Các HVTT đó được thể hiện nhiều trong điêu khắc, phù điêu của mỹ thuật cổ Việt Nam, nay tiếp thu và biến đổi trong sản phẩm lụa Vạn Phúc Các hoa văn này đều được cách điệu, điều chỉnh và thay đổi kích thước, tạo sự phong phú, mới lạ cho tạo hình HVTT trên lụa Vẫn là những hoa văn như con Rồng, chữ Thọ, hoa Hồng, hoa Cúc nhưng nay được thể hiện theo phương thức hiện đại và sáng tạo hơn có sự kết hợp giữa các HVTT trong đồ án như: đồ án động vật và chữ (con Rồng, chữ Thọ); đồ án thực vật và chữ (hoa Cúc, chữ Vạn); đồ án thực vật và động vật (hoa Hồng, con cá)
Như vậy, dung hợp quá trình kế thừa kho tàng hoa văn truyền thống của dân tộc và lĩnh hội sự giao lưu tiếp biến văn hóa của một số nước phương Đông, đã cho ra đời các đồ án trang trí hoa văn mang tính nghệ thuật cao trên sản phẩm lụa Vạn Phúc Dường như, mỗi đồ án HVTT đều biểu hiện nét văn hóa, tinh thần và “ẩn chứa” bên trong yếu tố nội sinh, yếu tố “gốc” dân tộc của người Việt Trên nền tảng kế thừa hoa văn truyền thống, kế thừa mỹ thuật
cổ, các HVTT trên lụa Vạn Phúc được diễn ra trong quá trình giao lưu tiếp thu, biến đổi để tạo ra tổng thể hài hòa mang bản sắc của người Việt trên từng tấm lụa Vạn Phúc, đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người đương thời
1.2.2.2 Lý thuyết Địa – văn hóa
Lý thuyết Địa – văn hóa (Géo culturel) phát triển mạnh nhất vào giai
đoạn nửa cuối thế kỷ XIX ở xã hội phương Tây, như các nước Anh, Pháp, Đức, Bắc Mỹ, Thụy Điển và được tiếp cận theo nhiều trường phái khác nhau, tiêu biểu là Joel Bonnemaison, nhà địa lý học người Pháp, giáo sư Đại Học Paris IV Tại Việt Nam, một số quan điểm về địa – văn hóa của nhà nghiên
Trang 37cứu Trần Quốc Vượng trong Việt Nam cái nhìn địa – văn hóa [121] cho rằng
hình thái địa lý tác động đến đặc trưng của mỗi vùng văn hóa
Lý thuyết địa– văn hóa nhằm bàn đến những điểm “đại đồng và tiểu dị”
bị chi phối bởi những yếu tố địa lý làm nên tính nhất quán và phong phú của một nền văn hóa Nhắc đến văn hóa, không thể không quan tâm đến khía cạnh địa – văn hóa, trong đó con người và văn hóa cùng vị trí địa lý có sự tương tác qua lại với nhau để tạo nên những tính cách, ứng xử khác nhau Những tính cách chung của con người, của dân tộc hay một nhóm người sẽ trội lên hay chìm xuống tùy theo hoàn cảnh địa lý
Dựa vào những quan điểm trên, cho thấy thuyết địa – văn hóa quan tâm tới mối quan hệ giữa địa lý và văn hóa, các yếu tố địa lý ở mỗi vùng như thế nào sẽ hình thành nên văn hóa của mỗi vùng như thế đó Nói cách khác, mỗi nền văn hóa sẽ có biểu hiện khác nhau đều do sự tác động của môi trường tự nhiên và vị trí địa lý Tuy nhiên, khi nghiên cứu về văn hóa phải xem xét cả hai khía cạnh đồng đại và lịch đại Khi các nền văn hóa gần gũi nhau về mặt địa lý sẽ tạo nên nét đặc trưng riêng của vùng văn hóa đó Vì vậy, với những vùng có vị trí địa lý gần nhau sẽ hình thành nên sự giao thoa về văn hóa, còn những vùng có địa lý xa nhau nhưng điều kiện sống tương đối giống nhau sẽ tạo ra các nền văn hóa tương đồng
Khi nghiên cứu về HVTT trên lụa giai đoạn 1986 đến nay (2020), NCS nhận thấy việc xác định vị trí địa lý xung quanh làng lụa Vạn Phúc là điều cần thiết để thấy sự tập trung của sản phẩm lụa ở vùng đất Hà Tây cũ nay là quận
Hà Đông, thành phố Hà Nội Đương thời, đây vốn là khu vực giao thông huyết mạch của Bắc Bộ Vì vậy, việc áp dụng lý thuyết địa – văn hóa sẽ phần nào xác định không gian văn hóa của đề tài, để thấy rằng: vị trí địa lý có tác động tới HVTT trên lụa Vạn Phúc Sự tập trung các hộ nghề dệt lụa cùng HVTT nơi đây mang đặc trưng văn hóa rõ nét
Trang 38Ngoài ra, thuyết địa – văn hóa còn được vận dụng trong nghiên cứu đặc điểm chất liệu tơ tằm có phù hợp khí hậu môi trường địa lý và ưu việt để dệt lên mỗi tấm lụa hay không? Bởi tơ tằm là chất liệu có độ đàn hồi tốt, thoáng khí, hút ẩm cao nhưng truyền nhiệt kém, vì vậy vào mùa đông tơ tằm có khả năng giữ ấm cơ thể, mùa hè thoáng mát tạo cho người mặc cảm nhận sự mềm, nhẹ khi sử dụng
Mặt khác, xác định không gian văn hóa dựa trên những giá trị cốt lõi, tiêu biểu của vị trí địa lý giúp NCS có thể tìm hiểu và phân biệt những nét chung, nét riêng của một số nền văn hóa thông qua thời gian và môi trường tự nhiên “Trong tâm thức dân gian Việt Nam, sự phân biệt về cái chung, nét riêng giữa các vùng miền luôn có một vị thế quan trọng Cái chung, nét riêng này, thường được gắn với một địa danh, một giới hạn lãnh thổ nào đó” [89, tr.150] Trên bình diện chung, không ngạc nhiên khi một số HVTT trên lụa Nha Xá (Hà Nam) cũng ảnh hưởng từ chủng loại, kiểu dáng, hình thức trang trí hoa văn trên lụa Vạn Phúc Rõ nét nhất là các đồ án thực vật như hoa Cúc, hoa Chanh, hoa Bèo cho đến các đồ án động vật như Chuồn Chuồn, đuôi Công… Tất cả các đồ án này đều rất đặc trưng với lối cách điệu mềm mại, uyển chuyển tạo cho người nhìn liên tưởng đến lụa tơ tằm, mang bản sắc riêng của không gian văn hóa Việt Nam nói chung và đồng bằng Bắc Bộ nói riêng
Đồng bằng Bắc Bộ giai đoạn trước những năm 1986 đến nay, là một xã hội văn hóa pha trộn giữa các yếu tố ngoại sinh và các tộc người bản địa Tuy nhiên, sự giao thoa, ảnh hưởng của yếu tố địa – văn hóa đã thúc đẩy sự phát triển HVTT trên lụa rất mạnh, mang trong mình đầy đủ thế giới quan, nhân sinh quan Việc áp dụng thuyết địa – văn hóa vào đề tài làm nổi bật lên các giá trị thẩm mỹ cốt lõi của nghệ thuật tạo hình đặc trưng vùng đồng bằng Bắc
Bộ, nơi bảo lưu nghệ thuật trang trí lụa tơ tằm Vạn Phúc một cách rõ nét nhất
Trang 39Mặt khác, làng nghề dệt lụa Vạn Phúc chính là cái nôi trung tâm văn hóa, nơi giao thương của tơ lụa Việt Nam trong nhiều thế kỷ Hoạt động kinh tế phát triển, hàng loạt các làng nghề thủ công ra đời nhằm phục vụ cho đời sống nhân dân và vua quan thời trước, đặc biệt là nghề ươm tơ dệt lụa
Như vậy, thuyết địa – văn hóa được biểu lộ từ bên trong của quá trình nghiên cứu, được nhìn nhận đánh giá và khơi dậy yếu tố nội sinh của đối tượng nghiên cứu thông qua vị trí địa lý Yếu tố địa lý trong đề tài được vận dụng trên nhiều phương diện như lịch sử, văn hóa, nghệ thuật…, mang tính định hướng trong nhận thức về biểu hiện, hình thức trang trí của HVTT Việc vận dụng thuyết địa – văn hóa đã mang lại những hiệu quả nhất định cho đề tài, điều này sẽ là cách để tìm ra mối liên hệ giữa HVTT trên lụa Vạn Phúc trong hệ thống hoa văn Việt Nam
1.3 Khái quát về hoa văn trang trí trên lụa
1.3.1 Khái quát về hoa văn trang trí trên lụa thế giới
Trong ngành công nghiệp vật liệu dệt may và thiết kế thời trang trên thế giới, lụa là một trong những loại vải được sử dụng nhiều trong cuộc sống hàng ngày Hình thức trang trí trên lụa được đánh giá là một công trình nghệ thuật chứa đựng những sáng tạo, tinh hoa của văn hóa lịch sử mà chúng đại diện HVTT trên lụa vì thế mà chinh phục được nhiều người sử dụng bởi sự nổi bật của nghệ thuật trang trí, sự tinh tế trong cách xử lý màu sắc Đặc biệt ở phong cách tạo hình mang đậm nét mềm mại mà vẫn sang trọng, lịch sự Trên thế giới, đã có nhiều nước sản xuất ra lụa từ lâu đời như: Trung Quốc, Nhật Bản, các nước thuộc Trung Á, Ấn Độ, Ba Tư (cũ) và một số nước Châu Âu… thông qua con đường tơ lụa Nơi đây từng là trung tâm buôn bán và sản xuất
tơ lụa thượng hạng có trang trí hoa văn đặc sắc, sầm uất bậc nhất trên thế giới,
cụ thể:
Trang 40- Trung Quốc: Là cái nôi của lụa tơ tằm thế giới, khoảng 3630 năm trước công nguyên vải lụa đầu tiên được xuất hiện ở Trung Quốc Sau này, lụa tơ tằm được phát triển rộng khắp nền văn hóa Trung Quốc Nổi tiếng nhất
là lụa Hàng Châu với sợi tơ mỏng, mịn kỹ thuật dệt đạt đến độ hoàn mỹ, tinh xảo về HVTT Các hoa văn này chịu sự chi phối sâu sắc của chế độ phong kiến Trung Hoa, đầu tiên nó mang tư tưởng nho giáo với các hoa văn được bố trí hài hòa thể hiện cho vạn vật, vũ trụ và nhân sinh với biểu tượng trời và đất (hình tròn và hình vuông) kết hợp với một số ký hiệu hán học, hoặc hoa văn chữ thọ trên nền lụa [PL3, H3.1, tr.191] Sau đó ảnh hưởng của đạo phật nên các hoa văn mang dáng dấp tạo hình trong những ngôi chùa Trung Hoa với nhiều chuỗi hoa dây, hoa leo, hoa Cúc, hoa Mai… được thể hiện rõ nét thông qua kỹ thuật dệt tinh xảo [PL3, H3.3, tr.192] Cùng một số loài hoa biểu tượng cho sự may mắn trong văn hóa Trung Hoa như Mẫu Đơn, hoa Mận, Thủy Tiên hay biểu tượng Phúc – Lộc – Thọ [PL3, H3.2, tr.191] Bố cục trang trí trên lụa Trung Quốc thường được sắp xếp theo cặp từng đôi một hoặc đơn lẻ Đây là phong cách tạo hình mà sau này một số nước phương Đông, khu vực Trung Á và nhiều nước ở Châu Âu ưa chuộng sử dụng
- Nhật Bản: Nghề trồng dâu nuôi tằm dệt lụa ở Nhật Bản ra đời muộn hơn Trung Quốc nhưng không vì thế mà không có HVTT, trái lại hoa văn trên lụa Nhật rất phong phú về thể loại và đa dạng về tạo hình Sự hiện đại, mới
mẻ của hoa văn được thể hiện trên mỗi tấm lụa, khiến cho nó có sức lôi cuốn hấp dẫn riêng Chẳng hạn như hoa văn Nami (con sóng) tượng trưng cho sức mạnh, biểu tượng này thể hiện cho vị thần của biển cả, có lẽ do nước Nhật là một quốc đảo nên biển và sóng nước gắn liền với văn hóa của người Nhật Vì thế hoa văn Nami được trang trí với mật độ khá nhiều trên vải lụa Nhật [PL3, H3.4, tr.192]