Với nhiệm vụ trọng tâm của chương trình cải cách hành chính nêu trên thì nhiệm vụ quan trọng hiện nay của các địa phương là làm sao thực hiện tốt chính sách tinh giản biên chế, để từ đó
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
./ ./
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TRẦN MINH THƯỜNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TINH GIẢN BIÊN CHẾ TẠI HUYỆN ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
./ ./
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TRẦN MINH THƯỜNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TINH GIẢN BIÊN CHẾ TẠI HUYỆN ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS BÙI HUY KHIÊN
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng cá nhân tôi Các số liệu, kết quả được sử dụng minh họa trong luận văn này là trung thực,
có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác
Thừa Thiên Huế, ngày tháng 8 năm 2018
Học viên
Trần Minh Thường
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể các thầy, cô của Học viện Hành chính Quốc gia đã truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu để bản thân được trau dồi thêm nhiều kiến thức cũng như kinh nghiệm trong giải quyết công việc Xin cảm ơn các thầy, cô của Khoa sau đại học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tác giả hoàn thiện luận văn này Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Bùi Huy Khiên đã tận tình hướng dẫn, góp ý cho tác giả thực hiện luận văn
Xin cảm ơn tập thể cơ quan Phòng Nội vụ huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi đã tạo điều kiện thuận lợi để tác giả thu thập dữ liệu thực hiện luận văn Xin cảm ơn đến tất cả người thân trong gia đình, bạn bè đã động viên, chia sẻ, giúp đỡ trong quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn này Với nhiều hạn chế về kinh nghiệm của bản thân, nội dung của luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Tác giả rất mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô, bạn bè, đồng nghiệp và độc giả để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Học viên Trần Minh Thường
Trang 5
MỤC LỤC Trang bìa Lời cam đoan Lời cảm ơn Mục lục Danh mục viết tắt Danh mục các bảng biểu MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TINH GIẢN BIÊN CHẾ 7
1.1 Các khái niệm cơ bản về chính sách công 7
1.1.1 Khái niệm về chính sách công 7
1.1.2 Vai trò của chính sách công 8
1.1.3 Khái niệm về thực thi chính sách công 12
1.1.4 Khái niệm chính sách tinh giản biên chế 12
1.1.5 Khái niệm thực hiện chính sách tinh giản biên chế 13
1.2 Vai trò, nội dung, quy trình thực hiện chính sách tinh giản biên chế 13
1.2.1 Vai trò thực hiện chính sách tinh giản biên chế 13
1.2.2 Nội dung thực hiện chính sách tinh giản biên chế 14
1.2.3 Các bước trong quy trình thực hiện chính sách tinh giản biên chế 25
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách tinh giản biên chế 31
1.3.1 Vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với việc thực hiện chính sách 31
1.3.2 Hệ thống pháp luật của Nhà nước về chính sách tinh giản biên chế 32
1.3.3 Tổ chức bộ máy thực hiện chính sách tinh giản biên chế 32
1.3.4 Năng lực thực hiện chính sách của cán bộ, công chức 33
Trang 6
1.3.5 Kinh phí thực hiện chính sách 33
1.4 Kinh nghiệm của một số địa phương trong thực hiện chính sách tinh giản biên chế 34
1.4.1 Kinh nghiệm của một số địa phương 34
1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho huyện Đức Phổ 34
Tiểu kết chương 1 37
Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TINH GIẢN BIÊN CHẾ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI 38
2.1 Khái quát về huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi 38
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 38
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 40
2.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức 48
2.2.1 Số lượng 48
cấp thẩm quyền giao từ năm 2015 đến năm 2018 49
2.2.2 Chất lượng 50
2.3 Tình hình thực hiện chính sách tinh giản biên chế 51
2.3.1 Công tác chỉ đạo, điều hành triển khai thực hiện chính sách tinh giản biên chế 51 2.3.2 Việc xây dựng kế hoạch tinh giản biên chế 52
2.3.3 Các bước thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ tại huyện Đức Phổ 54
2.3.4 Kết quả thực hiện chính sách tinh giản biên chế 54
2.3.5 Kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế 58
2.4 Đánh giá chung việc thực thi chính sách tinh giản biên chế 59
2.4.1 Những kết quả đạt được 59
2.4.2 Những hạn chế 62
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 64
Tiểu kết chương 2 67
Trang 7
Chương 3: QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG, CÁC GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TINH GIẢN BIÊN CHẾ TẠI HUYỆN ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI VÀ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ 68
3.1 Quan điểm định hướng về việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế tại huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi 68 3.1.1 Về quan điểm 68 3.1.2 Về định hướng 68 3.2 Các giải pháp đảm bảo việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế của huyện69 3.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp chính quyền trong việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế 69 3.2.2 Đẩy mạnh thực hiện công tác tuyên truyền về chính sách tinh giản biên chế.70 3.2.3 Gắn trách nhiệm người đứng đầu trong việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế 71 3.2.4 Xây dựng các tiêu chí đánh giá, phân loại kết quả thực hiện nhiệm vụ cụ thể đối với cán bộ, công chức, viên chức theo quy định hiện hành 71 3.2.5 Kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trong quá trình giải quyết chính sách tinh giản biên chế 74 3.2.6 Xây dựng lại Đề án vị trí việc làm cho các cơ quan hành chính, đẩy mạnh xây dựng đề án vị trí việc làm cho các đơn vị sự nghiệp thuộc huyện trình cấp thẩm quyền phê duyệt 75 3.2.7 Tăng cường giám sát việc thực hiện tinh giản biên chế 75 3.2.8 Tiếp tục thực hiện việc rà soát chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, đơn vị và thực hiện sắp xếp, bố trí, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức tại các cơ quan, đơn vị phù hợp với trình độ chuyên môn và vị trí việc làm 75 3.2.9 Tăng cường công tác kiểm tra đối với việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế tại các cơ quan, đơn vị, địa phương 76 3.2.10 Đẩy mạnh giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập 76
Trang 8
3.3 Đề xuất, kiến nghị đối với Trung ương: 76
Tiểu kết chương 3 78
KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 10
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tình hình dân số chia theo xã, thị trấn năm 2017 47 Bảng 2.2 Chỉ tiêu biên chế cán bộ, công chức, viên chức được 49 Bảng 2.3 Số lượng cán bộ, công chức, viên chức thực tế có mặt từ năm 2015 đến năm 2018 50 Bảng 2.4 Số lượng cán bộ, công chức, viên chức thực tế có mặt từ năm 2015 đến năm 2018 50 Bảng 2.5 Lộ trình tinh giản biên chế theo Nghị định 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ đến năm 2021 53 Bảng 2.6 Kết quả tinh giản biên chế từ năm 2015 đến năm 2018 56 Bảng 2.7 Bảng lý do giải quyết tinh giản biên chế từ năm 2015 đến năm 2018 57
Trang 111
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, các địa phương trên cả nước đều đang thực hiện Nghị quyết
số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 với nội dung trọng tâm
là cải cách thể chế; xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chú trọng cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực
sự để cán bộ, công chức, viên chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công Với nhiệm vụ trọng tâm của chương trình cải cách hành chính nêu trên thì nhiệm vụ quan trọng hiện nay của các địa phương là làm sao thực hiện tốt chính sách tinh giản biên chế, để từ đó có thể tinh giản được những đối tượng không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, cắt giảm được những biên chế không thực sự cần thiết, nhằm sắp xếp, bố trí hợp lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động góp phần tăng hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước
Trên thực tế kết quả thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo Nghị định 132/2007/NĐ-CP của Chính phủ vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, có thể
kể đến như:
- Sau 05 năm thực hiện biên chế không những không giảm xuống mà còn tăng lên Một trong những nguyên nhân là do việc thực hiện thiếu cương quyết, còn nể nang và muốn giữ nguyên số biên chế hiện tại
- Thực hiện chính sách không đúng đối tượng, thiếu khách quan, minh bạch
- Bộ máy nhà nước không những không được tinh gọn mà còn tăng lên
- Chưa xác định được cụ thể vị trí việc làm cần thiết trong các cơ quan, đơn vị
Trang 122
Với những hạn chế nêu trên, hiện tại và theo lộ trình đến năm 2021 các
bộ, ngành, địa phương cần rút kinh nghiệm để tiếp tục thực hiện có hiệu quả chính sách tinh giản biên chế theo Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ Theo Nghị định 108/2014/NĐ-CP của Chính phủ thì lại giao cào bằng là 10% so với tổng số biên chế được giao năm 2015 Đây
sẽ là một trong những khó khăn đối với một số đơn vị, địa phương vì với mỗi đơn vị, địa phương khác nhau thì có những thực trạng biên chế, vị trí việc làm
và nhiệm vụ khác nhau
Huyện Đức Phổ là một huyện đồng bằng của tỉnh Quảng Ngãi, cũng đã
và đang tiếp tục thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo Nghị định 108/2014/NĐ-CP của Chính phủ Việc triển khai thực hiện Nghị định 108 của Chính phủ được huyện cụ thể hóa đầy đủ bằng nhiều văn bản đảm bảo theo quy định và các văn bản chỉ đạo của cấp trên Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cũng còn nhiều bất cập, hạn chế Do đó, nghiên cứu về chính sách tinh giản biên chế nhằm làm rõ cơ sở lý luận, những hạn chế trong việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế trên địa bàn huyện Đức Phổ, nguyên nhân của những hạn chế để từ đó có thể đưa ra những kiến nghị, giải pháp để thực hiện tốt chính sách tinh giản biên chế trong thời gian đến tại địa phương là việc làm hết sức cần thiết
Để giải quyết yêu cầu trên, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu “Thực hiện
chính sách tinh giản biên chế tại huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi” làm
luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành quản lý công
2 Tình hình nghiên cứu:
Vấn đề nghiên cứu về tinh giản biên chế luôn là một vấn đề nổi cộm được nhiều người quan tâm, nghiên cứu Đến thời điểm hiện tại đã có một số nghiên cứu đã được công bố như:
Trang 133
Bài viết của TS Nguyễn Thị Thanh Thủy – Học viện Hành chính Quốc gia: “Tinh giản biên chế trong bộ máy hành chính nhà nước – vấn đề và giải pháp” – Được đăng trên Tạp chí Tổ chức Nhà nước trang điện tử ngày 10/5/2017 Bài viết đã phân tích về sự cần thiết phải tinh giản biên chế trong
bộ máy hành chính nhà nước ở Việt Nam; đối tượng và chính sách tinh giản biên chế trong thời gian tới, một số vấn dề đặt ra trong tinh giản biên chế thời gian tới và giải pháp tháo gỡ
Bài viết của PGS TS Văn Tất Thu, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ về
“kết quả thực hiện Nghị định số 132/2007/NĐ-CP ngày 08/8/2007 của Chính phủ và giải pháp tinh giản biên chế trong thời gian tới” – Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 6/2014 Bài viết đã phân tích kết quả đạt được trong thực hiện chính sách theo Nghị định 132/2007/NĐ-CP ngày 8/8/2007 của Chính phủ; các bất cập, hạn chế và nguyên nhân của những bất cập, hạn chế trong thực hiện tinh giản biên chế theo Nghị định số 132 của Chính phủ; và đưa ra các giải pháp thực hiện tinh giản biên chế trong thời gian tới
Bài viết của TS Lê Như Thanh về: “Tinh giản biên chế trong các cơ quan hành chính nhà nước – Thách thức và giải pháp” – Được đăng trên Tạp chí Tổ chức Nhà nước trang điện tử ngày 17/3/2017 Bài viết đã nêu ra những thách thức đặt ra từ thực tiễn tinh giản biên chế ở nước ta hiện nay và đề ra những giải pháp để thực hiện có hiệu quả trong thời gian đến
PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Hải – Trưởng khoa Tổ chức và quản lý nhân sự chủ trì hội thảo với chủ đề: “Tinh giản biên chế - thách thức và giải pháp” Hội thảo đã thảo luận về thực trạng tinh giản biên chế trong các cơ quan nhà nước ở Việt Nam hiện nay; những khó khăn và thách thức trong quá trình thực hiện tinh giản biên chế; giải pháp để khắc phục những khó khăn, thách thức trong thời gian đến Các đại biểu cũng đưa ra nhiều giải pháp ở cả cấp độ vĩ mô và vi mô, tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau: cải cách tổ
Trang 144
chức bộ máy; hoàn thiện Đề án vị trí việc làm; tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị; xây dựng tiêu chí đánh giá cán bộ, công chức, viên chức; cải cách tiền lương và các chế độ phúc lợi; khoán chi phí theo kết quả; tăng cường sự tự chủ về tài chính và biên chế đối với đơn vị sự nghiệp công
Luận văn Thạc sỹ Chính sách công “Thực hiện chính sách tinh giản biên chế từ thực tiễn Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch” (năm 2017) của tác giả Vũ Thị Nhàn Luận văn nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách tinh giản biên chế tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đưa ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế ở nước ta trong thời gian tới
Luận văn Thạc sỹ Chính sách công “Thực hiện chính sách tinh giản biên chế từ thực tiễn huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu” (năm 2018) của tác giả Nguyễn Thị Giáng Hương Luận văn nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách tinh giản biên chế tại huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đưa ra giải pháp thiết thực nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách tinh giản biên chế tại huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong thời gian tới
Hiện tại chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về thực trạng, kiến nghị, giải pháp thực hiện chính sách tinh giản biên chế tại huyện Đức Phổ,
tỉnh Quảng Ngãi Do đó, những nội dung của luận văn “Thực hiện chính sách
tinh giản biên chế tại huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi” góp phần làm rõ cơ
sở lý luận, thực trạng, và những kiến nghị, giải pháp thực hiện chính sách tinh giản biên chế tại địa phương
Trang 155
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế tại huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi
5.2 Phương pháp nghiên cứu của Luận văn
Đề tài nghiên cứu dựa trên các phương pháp khoa học:
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá
Trang 166
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài lời cảm ơn, lời cam đoan, chú thích các từ viết tắt, phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục … kết cấu của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở khoa học về thực hiện chính sách tinh giản biên chế Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách tinh giản biên chế trên địa bàn huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi
Chương 3: Mục tiêu và các giải pháp đảm bảo việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế tại huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi
Trang 177
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
TINH GIẢN BIÊN CHẾ 1.1 Các khái niệm cơ bản về chính sách công
1.1.1 Khái niệm về chính sách công
Cho đến hiện tại, có rất nhiều quan niệm khác nhau về chính sách công
Chính sách công là cái mà chính phủ chọn làm hay không làm (Thomas
R Dye, 1984)
Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của Nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân (B Guy Peter, 1990)
Chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước đề ra (William N Dunn, 1992)
Chính sách công bao gồm các quyết định chính trị để thực hiện các chương trình nhằm đạt được những mục tiêu xã hội (Charle L Corhran and Eloise F Malone, 1995)
Nói cách đơn giản nhất, chính sách công là tổng hợp các hoạt động của chính phủ/ chính quyền, trực tiếp hoặc thông qua tác nhân vì nó có ảnh hưởng đến đời sống của công dân (B Guy Peters, 1999)
Trang 188
Thuật ngữ chính sách công luôn chỉ những hành động của chính phủ/ chính quyền và những ý định quyết định hành động này; hoặc chính sách công là là kết quả của cuộc đấu tranh trong chính quyền để ai giành được cái
gì (Clarke E Cochran, et al, 1999)
Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề (James Anderson, 2003)
Chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động của chính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng Nó được kết hợp với các cách thức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách chính thức, cũng như các quyết định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện những chương trình (Kraft and Furlong, 2004)
Tuy nhiên, theo tác giả có thể hiểu: Chính sách công là công cụ mà Nhà nước lựa chọn để tác động đến lợi ích của một nhóm các đối tượng trong một giai đoạn cụ thể để thực hiện các mục tiêu phát triển của đất nước
1.1.2 Vai trò của chính sách công
Vai trò cơ bản của chính sách công thể hiện ở chỗ là công cụ hữu hiệu chủ yếu để nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ người dân Dưới góc độ quản lý, quản trị quốc gia, nhà nước sử dụng chính sách công như một công cụ quan trọng tác động vào các lĩnh vực đời sống xã hội
để đạt được mục tiêu định hướng của nhà nước Ngoài vai trò cơ bản này, chính sách công còn có vai trò cụ thể sau:
Thứ nhất, định hướng mục tiêu cho các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế - xã hội,
Do chính sách phản ánh thái độ, cách xử sự của nhà nước đối với một vấn đề công, nên nó thể hiện rõ những xu thế tác động của nhà nước lên các
Trang 199
chủ thể trong xã hội, giúp họ vận động đạt được những giá trị tương lai mà nhà nước mong muốn Giá trị đó chính là mục tiêu phát triển phù hợp với những nhu cầu cơ bản của đời sống xã hội Nếu các chủ thể kinh tế, xã hội hoạt động theo định hướng tác động của chính sách thì không những dễ dàng đạt được mục tiêu phát triển mà còn nhận được những ưu đãi từ phía nhà nước hay xã hội Điểu đó có nghĩa là, cùng với mục tiêu định hướng, cách thức tác động của chính sách công cũng có vai trò định hướng cho các chủ thể hành động
Thứ hai, tạo động lực cho các đối tượng tham gia hoạt động kinh tế -
xã hội theo mục tiêu chung
Muốn đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội chung, nhà nước phải ban hành nhiều chính sách, trong đó mỗi chính sách lại có những cách thức tác động mang tính khuyến khích đối với các chủ thể thuộc mọi thành phần như: miễn giảm thuế, tạo cơ hội tiếp cận với nguồn vốn có lãi suất ưu đãi, ban hành những thủ tục hành chính đơn giản và các chế độ ưu đãi đặc biệt khác, Sự tác động của chính sách công không mang tính bắt buộc, mà chỉ khuyến khích các chủ thể hành động theo ý chí của nhà nước Chẳng hạn, để tăng cường đầu tư vào nền kinh tế, Nhà nước ta ban hành chính sách khuyến khích các chủ thể trong nước và nước ngoài tích cực đầu tư vào các ngành, lĩnh vực hay những vùng cần được ưu tiên phát triển
Thứ ba, phát huy mặt tích cực, đồng thời khắc phục những hạn chế của nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, quy luật cạnh tranh và các quy luật thị trường khác đã thúc đẩy mỗi chủ thể trong xã hội đầu tư vào sảnxuất kinh doanh, không ngừng đổi mới công nghệ nâng cao năng suất lao động, chất ượng sản phẩm, hạ giá thành hàng hóa và dịch vụ cung cấp cho xã hội Nhờ
đó mà cả xã hội và từng người dân, tổ chức đều được hưởnq lợi như: hàng
Trang 2010
hóa và dịch vụ tăng về số lượng, đa dạng, phong phú về chủng loại, thương hiệu, mẫu mã, chất lượng ngày càng tược nâng cao với giá tiêu dùng ngày càng rẻ Nhưng, sự vận hành của thị trường cũng gây ra những tác động tiêu cực mà các nhà kinh tế gọi là mặt không thành công hay mặt trái của thị trường như: độc quyền trong sản xuất cung ứng không đầy đủ hàng hóa công cộng, sự bất công bằng, chênh lệch giàu nghèo và thất nghiệp gia tăng, bất ổn định kinh tế vĩ mô, cá lớn nuốt cá bé gây ảnh hưởng không tốt lên toàn xã hội và mỗi người dân Trong tình hình đó, nhà nước phải sử dụng hệ thống chính sách công để giải quyết những vấn đề bất cập về kinh tế, khắc phục những thất bại của thị trường thông qua trợ cấp, cung ứng dịch vụ công cho người dân do các doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công hay hội,
tổ chức phi chính phủ thực hiện
Thứ tư, tạo lập các cân đối trong phát triển
Để kinh tế - xã hội phát triển một cách ổn định bền vững, nhà nước phải dùng chính sách để tạo lập các cân đối vĩ mô cơ bản như cân đối giữa hàng - tiền, cung - cầu, xuất - nhập khẩu, tiết kiệm - tiêu dùng, Đồng thời, nhà nước còn dùng chính sách để điều tiết đảm bảo cho sự phát triển cân đối giữa các vùng miền của đất nước
Thứ năm, kiểm soát và phân bổ các nguồn lực trong xã hội
Nhà nước luôn luôn quan tâm đến quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn lực cho phát triển Mục tiêu phát triển bền vững bao gồm cả gia tăng về lượng và cải thiện về chất trong hiện tại và tương lai, vì thế tài nguyên tự nhien và xã hội của một quốc gia là cái hữu hạn luôn trở thành vấn đề quan tâm chính yếu của nhà nước Để sử dụng có hiệu quả tài nguyên theo hướng bền vững, nhà nước thông qua các chính sách thực hiện kiểm soát qué trình khai thác, sử dụng tài nguyên và phân bổ hợp lý các nguồn lực trong xã hội,
ví dụ như chính sách xây dựng vùng kinh tế mới, chính sách xây dựng khu
Trang 2111
công nghiệp, khu chế xuất, chính sách đất đai, chính sách thuế, chính sách bảo
vệ tài nguyên, môi trường
Thứ sáu, tạo môi trường thích hợp cho các hoạt động kinh tế - xã hội
Thông qua các chính sách, nhà nước tạo những điều kiện cần thiết để hình thành môi trường thuận lợi cho các chủ thể xã hội hoạt động như: chính sách phát triển thị trường lao động, thị trường vốn, thị trường khoa học và công nghệ, thị trường bất động sản, phát triển cơ sở hạ tầng
Các chính sách là công cụ đặc thù và không thể thiếu được mà nhà nước sử dụng để quản lý kinh tế vĩ mô, chúng có chức năng chung là tạo ra những kích thích đủ lớn cần thiết để biến đường lối chiến lược của đảng cầm quyền thành hiện thực, góp phần thống nhất tư tưởng và hành động của mọi người trong xã hội, đẩy nhanh và hữu hiệu sự tiến bộ của các hoạt động thuộc mục tiêu bộ phận mà chính sách hướng tới và thực hiện các mục tiêu chung của phát triển kinh tế quốc dân
Trong hệ thống các công cụ quản lý, các chính sách kinh tế là bộ phận năng động nhất, có độ nhạy bén cao trước những biến động trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nưốc nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc mà xã hội đặt ra Thực tiễn nước ta và nhiều nước trên thế giới cho thấy phần lớn những thành công trong công cuộc đổi mới và cải cách kinh tế đều bắt nguồn
từ việc lựa chọn và áp dụng những chính sách kinh tế thích hợp, có năng suất cao để khai thác tối ưu các lợi thế so sánh của đất nước về tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, nguồn nhân lực, vốn, công nghệ, thị trường, kết cấu hạ tầng
Có một hệ thống chính sách kinh tế đồng bộ, phù hợp với nhu cầu phát triển của đất nước trong từng thời kỳ lịch sử nhất định sẽ là bảo đảm vững chắc cho sự vận hành của cơ chế thị trường năng động, hiệu quả Nhờ đó có thể khơi dậy các nguồn tiềm năng, phát huy tính tích cực, sáng tạo vã ý chí
Trang 2212
vươn lên làm cho dân giàu, nước mạnh của tầng lớp dân cư Ngược lại, chỉ cần một chính sách kinh tế sai lầm, sẽ gây ra phản ứng tiêu cực dây chuyền đến các chính sách kinh tế khác, cũng như đến các bộ phận khác của cơ chế quảr lý kinh tế, làm giảm hiệu quả của các cơ chế quản lý kinh tế, triệt tiêu động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội
Thứ bảy, thúc đẩy sự phối hợp hoạt động giữa các cấp, các ngành Việc thực hiện các giai đoạn trong chu trình chính sách không chỉ và
không thể do một cơ quan nhà nước đảm nhiệm, mà cần có sự tham gia của nhiều cơ quan thuộc các cấp, các ngành khác nhau hay của nhiều tổ chức, cá mân Vì vậy, thông qua quá trình chính sách sẽ thúc đẩy sự phối hợp hoạt động giữa các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các tầng lớp nhân dân, góp phần tạo nên sự nhịp nhàng, đồng bộ trong hoạt động thực thi chính sách công [15]
1.1.3 Khái niệm về thực thi chính sách công
Từ quan niệm về chính sách công nêu trên, theo tác giả có thể hiểu: Thực thi chính sách công là quá trình triển khai chính sách công vào thực tế bằng các văn bản quy định cụ thể và tổ chức thực hiện để hướng đến những mục tiêu đã đề ra
Thực thi chính sách công có vai trò hết sức quan trọng, có thể nói là vai trò quyết định đến việc đạt được mục tiêu của chính sách công Nó là quá trình cụ thể hóa các ý tưởng mà các nhà lãnh đạo, quản lý thông qua các văn bản cụ thể về đối tượng, nội dung, chế độ, … của chính sách công Văn bản triển khai đảm bảo các nội dung nhưng việc thực thi không đảm bảo thì chắc chắn mục tiêu chính sách công sẽ không đạt được
1.1.4 Khái niệm chính sách tinh giản biên chế
Từ quan niệm về chính sách công nêu trên chúng ta có thể hiểu chính sách tinh giản biên chế là tập hợp các văn bản quy định có liên quan đến tinh
Trang 2313
giản biên chế với mục tiêu cụ thể là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị; cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phù hợp để đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong thời gian đến
1.1.5 Khái niệm thực hiện chính sách tinh giản biên chế
Thực hiện chính sách tinh giản biên chế là giai đoạn triển khai thực hiện các văn bản quy định về tinh giản biên chế vào thực tế để giải quyết cho các đối tượng mà nó hướng đến Việc triển khai thực hiện chính sách tinh giản biên chế vào thực tế tại các địa phương và thực hiện đảm bảo đúng đối tượng theo quy định là hết sức quan trọng, góp phần đạt được mục tiêu mà chính sách hướng đến Việc hoạch định chính sách là đúng đắn nhưng khi đưa vào thực tiễn mà thực hiện không đúng thì xem như mục tiêu của chính sách cũng không thể đạt được Do vậy, đòi hỏi quá trình thực hiện, giải quyết chính sách tinh giản biên chế cần phải làm đúng theo các quy định, không để sai đối tượng
1.2 Vai trò, nội dung, quy trình thực hiện chính sách tinh giản biên chế
1.2.1 Vai trò thực hiện chính sách tinh giản biên chế
Thực hiện chính sách tinh giản biên chế không chỉ có vai trò giảm số lượng biên chế mà còn giúp cho Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị với số lượng, chất lượng phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ ở hiện tại và trong tương lai; đưa ra khỏi biên chế những người dôi dư, không đáp ứng yêu cầu công việc, không thể tiếp tục bố trí sắp xếp công tác khác
Với xu thế phát triển hiện nay thì vai trò của tinh giản biên chế là hết sức quan trọng, không chỉ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính mà còn có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển của đất nước
Trang 2414
1.2.2 Nội dung thực hiện chính sách tinh giản biên chế
* Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định về chính sách tinh giản biên chế
Chúng ta có thể liệt kê Các văn bản quy định về chính sách tinh giản biên chế được ban hành ở nước ta từ năm 2000 đến nay:
- Nghị quyết số 16/2000/NQ-CP ngày 18/10/2000 của Chính phủ về việc tinh giản biên chế trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp; Thông tư liên tịch số 73/2000/TTLT-BTCCBCP-BTC ngày 28/12/2000 của Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện chính sách tinh giản biên chế trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp đến hết năm 2005; Nghị quyết số 09/2003/NQ-CP ngày 28/7/2003 của Chính phủ
về sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 16/2000/NQ-CP ngày 18/10/2000 của Chính phủ; Thông tư liên tịch số 60/2003/TTLT-BNV-BTC ngày 25/9/2003 của Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi, bổ sung chính sách đối tượng tinh giản biên chế; Thông tư số 118/2005/TT-BNV ngày 09/11/2005 của Bộ Nội vụ hướng dẫn tính trợ cấp thôi việc đối với người thôi việc do tinh giản biên chế theo Nghị quyết số 16/2000/NQ-CP ngày 18/10/2000 và Nghị quyết số 09/2003/NQ-CP ngày 28/7/2003 của Chính phủ
- Nghị định số 132/2007/NĐ-CP ngày 08/8/2007 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế; Thông tư liên tịch số 02/2007/TTLT-BNV-BTC ngày 24/9/2007 của Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 132/2007/NĐ-CP ngày 08/8/2007 của Chính phủ
- Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế; Thông tư liên tịch số 01/2015/TTLT-BNV-BTC ngày 14/4/2015 hướng dẫn một số điều của Nghị định số 108/2014/NĐ-
CP ngày 08/8/2007 của Chính phủ
Trang 2515
Hiện tại, chính sách tinh giản biên chế ở nước ta đang được thực hiện theo Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn liên quan
* Trình tự thực hiện tinh giản biên chế
Theo quy định tại Điều 14 Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ: Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị chịu trách nhiệm phối hợp với cấp ủy, tổ chức công đoàn và các tổ chức chính trị -
xã hội cùng cấp tổ chức triển khai thực hiện chính sách tinh giản biên chế như sau:
- Tuyên truyền, phổ biến, quán triệt chính sách tinh giản biên chế quy định tại Nghị định này đến cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc quyền quản lý
- Xây dựng đề án tinh giản biên chế của cơ quan, đơn vị mình theo trình tự quy định tại Điều 15 Nghị định này trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
- Lập danh sách và dự toán số tiền trợ cấp cho từng đối tượng tinh giản biên chế theo định kỳ 2 lần/ năm (6 tháng/1 lần) trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt trên cơ sở đề án tinh giản biên chế được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập mà không phải là đơn vị sự nghiệp công lập, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Bộ, ngành, địa phương):
- Hướng dẫn các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc và trực thuộc tổ chức thực hiện Nghị định này;
- Phê duyệt đề án tinh giản biên chế của các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc và trực thuộc;
Trang 2616
- Phê duyệt danh sách đối tượng tinh giản biên chế và dự toán kinh phí thực hiện tinh giản biên chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị trực thuộc theo định
kỳ 2 lần/năm (6 tháng /1 lần);
- Lập danh sách đối tượng tinh giản biên chế và dự toán kinh phí thực hiện tinh giản biên chế của Bộ, ngành, địa phương mình gửi Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính thẩm tra, cấp kinh phí thực hiện tinh giản biên chế
Bộ Nội vụ thẩm tra đối tượng tinh giản biên chế trên cơ sở danh sách đối tượng tinh giản biên chế do Bộ, ngành, địa phương gửi đến và gửi Bộ Tài chính để làm căn cứ cấp kinh phí thực hiện tinh giản biên chế
Bộ Tài chính thẩm tra về việc tính toán chế độ chính sách, dự toán kinh phí thực hiện tinh giản biên chế của Bộ, ngành, địa phương và cấp kinh phí để thực hiện tinh giản biên chế
Cơ quan, đơn vị quản lý trực tiếp cán bộ, công chức, viên chức chi trả các chế độ chính sách cho từng đối tượng tinh giản biên chế
* Đối tượng tinh giản biên chế
Theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ thì đối tượng tinh giản biên chế bao gồm:
- Cán bộ, công chức từ Trung ương đến cấp xã
- Viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập
- Người làm việc theo chế độ hợp đồng không xác định thời hạn quy định tại Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính phủ về thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp và theo các quy định khác của pháp luật
- Chủ tịch công ty, thành viên Hội đồng thành viên, Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, kế toán trưởng, kiểm soát viên trong các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước hoặc
do tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội làm chủ sở hữu (không bao
Trang 2717
gồm Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Kế toán trưởng làm việc theo chế
* Các trường hợp tinh giản biên chế
Theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ thì:
- Cán bộ, công chức, viên chức trong biên chế và cán bộ, công chức cấp
xã hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là cán bộ, công chức, viên chức), thuộc đối tượng tinh giản biên chế nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Dôi dư do rà soát, sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền của Đảng, Nhà nước hoặc do đơn vị sự nghiệp công lập sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự để thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy và nhân sự
+ Dôi dư do cơ cấu lại cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm, nhưng không thể bố trí, sắp xếp được việc làm khác
+ Chưa đạt trình độ đào tạo theo tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ quy định đối với vị trí việc làm đang đảm nhiệm, nhưng không có vị trí việc làm khác phù hợp để bố trí và không thể bố trí đào tạo lại để chuẩn hóa về chuyên môn
Trang 2818
+ Có chuyên ngành đào tạo không phù hợp với vị trí việc làm hiện đang đảm nhiệm nên bị hạn chế về năng lực hoàn thành công việc được giao, nhưng không thể bố trí việc làm khác
+ Có 02 năm liên tiếp liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế, cán
bộ, công chức được phân loại, đánh giá xếp vào mức hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực hoặc có 01 năm hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực và 01 năm không hoàn thành nhiệm vụ nhưng không thể bố trí việc làm khác phù hợp
+ Có 02 năm liên tiếp liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế, viên chức có 01 năm được phân loại đánh giá xếp vào mức hoàn thành nhiệm vụ
và 01 năm không hoàn thành nhiệm vụ nhưng không thể bố trí việc làm khác phù hợp
+ Có 02 năm liên tiếp liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế, mỗi năm có tổng số ngày nghỉ làm việc là số ngày nghỉ tối đa do ốm đau theo quy định tại Khoản 1 Điều 23 Luật Bảo hiểm xã hội, có xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh và cơ quan Bảo hiểm xã hội chi trả trợ cấp ốm đau theo quy định hiện hành
- Người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động không xác định thời hạn trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ) dôi dư do sắp xếp lại tổ chức theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền hoặc do đơn vị sự nghiệp công lập sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự để thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tài chính,
tổ chức bộ máy và nhân sự
- Viên chức, người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động không xác định thời hạn tại các đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn
Trang 2919
toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự dôi dư do sắp xếp lại tổ chức theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền hoặc do đơn vị sự nghiệp công lập sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự để thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy và nhân sự
- Chủ tịch công ty, thành viên Hội đồng thành viên, Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng, kiểm soát viên của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu dôi dư do thực hiện cổ phần hóa, giao, bán, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, phá sản hoặc chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoặc chuyển thành đơn vị sự nghiệp công lập theo quyết định của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng của các nông, lâm trường quốc doanh dôi dư do sắp xếp lại theo quy định của Nghị định số 170/2004/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2004 của Chính phủ về sắp xếp, đổi mới và phát triển nông trường quốc doanh, Nghị định số 200/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về sắp xếp, đổi mới và phát triển lâm trường quốc doanh
- Những người là cán bộ, công chức được cơ quan có thẩm quyền cử làm người đại diện theo ủy quyền đối với phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp
có vốn nhà nước, khi thôi làm đại diện phần vốn nhà nước, nhưng không bố trí được vào vị trí công tác mới
- Những người làm việc trong biên chế được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cho các hội thuộc danh sách dôi dư do sắp xếp lại tổ chức theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền
* Các trường hợp chưa xem xét tinh giản biên chế
Trang 3020
Theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ thì các trường hợp chưa xem xét tinh giản biên chế bao gồm:
- Những người đang trong thời gian ốm đau có xác nhận của cơ quan y
* Chính sách tinh giản biên chế:
Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 và Điều 10 Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ thì chính sách tinh giản biên chế bao gồm:
- Chính sách về hưu trước tuổi
+ Đối tượng tinh giản biên chế quy định tại Điều 6 Nghị định này nếu
đủ 50 tuổi đến đủ 53 tuổi đối với nam, đủ 45 tuổi đến đủ 48 tuổi đối với nữ,
có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên, trong đó có đủ mười lăm năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc có
đủ mười lăm năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên, ngoài hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, còn được hưởng các chế độ sau: Không bị trừ tỷ lệ lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi; được trợ cấp 03 tháng tiền lương cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi
so với quy định về tuổi tối thiểu tại Điểm b Khoản 1 Điều 50 Luật Bảo hiểm
xã hội; được trợ cấp 05 tháng tiền lương cho hai mươi năm đầu công tác, có đóng đủ bảo hiểm xã hội Từ năm thứ hai mươi mốt trở đi, cứ mỗi năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội được trợ cấp 1/2 tháng tiền lương
Trang 3121
+ Đối tượng tinh giản biên chế quy định tại Điều 6 Nghị định này nếu
đủ 55 tuổi đến đủ 58 tuổi đối với nam, đủ 50 tuổi đến đủ 53 tuổi đối với nữ,
có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên, được hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và chế độ quy định tại Điểm a, c Khoản 1 Điều này và được trợ cấp 03 tháng tiền lương cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi so với quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội;
+ Đối tượng tinh giản biên chế quy định tại Điều 6 Nghị định này nếu trên 53 tuổi đến dưới 55 tuổi đối với nam, trên 48 tuổi đến dưới 50 tuổi đối với nữ, có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên, trong đó có đủ mười lăm năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ mười lăm năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên thì được hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội
và không bị trừ tỷ lệ lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi
+ Đối tượng tinh giản biên chế quy định tại Điều 6 Nghị định này nếu trên 58 tuổi đến dưới 60 tuổi đối với nam, trên 53 tuổi đến dưới 55 tuổi đối với nữ, có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên thì được hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và không bị trừ
tỷ lệ lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi
- Chính sách chuyển sang làm việc tại các tổ chức không hưởng lương thường xuyên từ ngân sách nhà nước
+ Những người thuộc đối tượng tinh giản biên chế quy định tại Điều 6 Nghị định này chuyển sang làm việc tại các tổ chức không hưởng kinh phí thường xuyên từ ngân sách nhà nước được hưởng các khoản trợ cấp sau: Được trợ cấp 03 tháng tiền lương hiện hưởng; được trợ cấp 1/2 tháng tiền lương cho mỗi năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội
Trang 3222
+ Không áp dụng chính sách quy định tại Khoản 1 Điều này đối với những người đã làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập khi đơn vị chuyển đổi sang doanh nghiệp hoặc cổ phần hóa vẫn được giữ lại làm việc; những người thuộc đối tượng tinh giản biên chế đủ 57 tuổi trở lên đối với nam, đủ 52 tuổi trở lên đối với nữ, có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên; những người thuộc đối tượng tinh giản biên chế đủ 52 tuổi trở lên đối với nam, đủ 47 tuổi trở lên đối với nữ, có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên, trong đó có đủ mười lăm năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ mười lăm năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên
- Chính sách thôi việc
+ Chính sách thôi việc ngay: Những người thuộc đối tượng tinh giản biên chế quy định tại Điều 6 Nghị định này có tuổi đời dưới 53 tuổi đối với nam, dưới 48 tuổi đối với nữ và không đủ điều kiện để hưởng chính sách về hưu trước tuổi theo quy định tại Khoản 1 Điều 8 Nghị định này hoặc có tuổi đời dưới 58 tuổi đối với nam, dưới 53 tuổi đối với nữ và không đủ điều kiện
để hưởng chính sách về hưu trước tuổi theo quy định tại Khoản 2 Điều 8 Nghị định này, nếu thôi việc ngay thì được hưởng các khoản trợ cấp sau: Được trợ cấp 03 tháng tiền lương hiện hưởng để tìm việc làm; được trợ cấp 1,5 tháng tiền lương cho mỗi năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội
+ Chính sách thôi việc sau khi đi học nghề: Những người thuộc đối tượng tinh giản biên chế quy định tại Điều 6 Nghị định này có tuổi đời dưới
45 tuổi, có sức khỏe, tinh thần trách nhiệm và ý thức tổ chức kỷ luật nhưng đang đảm nhận các công việc không phù hợp về trình độ đào tạo, chuyên ngành đào tạo, có nguyện vọng thôi việc thì được cơ quan, đơn vị tạo điều kiện cho đi học nghề trước khi giải quyết thôi việc, tự tìm việc làm mới, được
Trang 3323
hưởng các chế độ sau: Được hưởng nguyên tiền lương tháng hiện hưởng và được cơ quan, đơn vị đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong thời gian đi học nghề, nhưng thời gian hưởng tối đa là 06 tháng; được trợ cấp một khoản kinh phí học nghề bằng chi phí cho khóa học nghề tối đa là 06 tháng tiền lương hiện hưởng để đóng cho cơ sở dạy nghề; sau khi kết thúc học nghề được trợ cấp 03 tháng lương hiện hưởng tại thời điểm đi học để tìm việc làm; được trợ cấp 1/2 tháng tiền lương cho mỗi năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội; trong thời gian đi học nghề được tính thời gian công tác liên tục nhưng không được tính thâm niên để nâng lương hàng năm
+ Các đối tượng thôi việc quy định tại Khoản 1, 2 Điều này được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội và cấp sổ bảo hiểm xã hội hoặc nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; không được hưởng chính sách thôi việc theo quy định tại Nghị định số 46/2010/NĐ-
CP ngày 27 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định về thôi việc và thủ tục nghỉ hưu đối với công chức và Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức
- Chính sách đối với những người thôi giữ chức vụ lãnh đạo hoặc được
bổ nhiệm, bầu cử vào chức vụ khác có phụ cấp chức vụ lãnh đạo mới thấp hơn do sắp xếp tổ chức: Cán bộ, công chức, viên chức do sắp xếp tổ chức thôi giữ chức vụ lãnh đạo hoặc được bổ nhiệm, bầu cử vào chức vụ mới có phụ cấp chức vụ lãnh đạo thấp hơn so với phụ cấp chức vụ lãnh đạo đang hưởng thì được bảo lưu phụ cấp chức vụ lãnh đạo đang hưởng đến hết thời hạn giữ chức vụ bổ nhiệm hoặc hết nhiệm kỳ bầu cử Trường hợp đã giữ chức vụ theo thời hạn được bổ nhiệm hoặc nhiệm kỳ bầu cử còn dưới 06 tháng thì được bảo lưu 06 tháng
* Cách tính trợ cấp
Trang 3424
Theo quy định tại Điều 12 Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ thì cách tính trợ cấp cụ thể như sau:
- Tiền lương tháng quy định tại Nghị định này được tính bao gồm: Tiền lương theo ngạch, bậc hoặc theo chức danh nghề nghiệp hoặc theo bảng lương; các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có) và mức chênh lệch bảo lưu (nếu có) theo quy định của pháp luật
2 Tiền lương tháng để tính các chế độ trợ cấp quy định tại Điều 8 Điểm b Khoản 1 Điều 9, các Điểm b Khoản 1, Điểm d Khoản 2 Điều 10 Nghị định này được tính bình quân tiền lương tháng thực lĩnh của 5 năm cuối (60 tháng) trước khi tinh giản Riêng đối với những trường hợp chưa đủ 5 năm (chưa đủ 60 tháng) công tác, thì được tính bình quân tiền lương tháng thực lĩnh của toàn bộ thời gian công tác
- Những người đã được hưởng chính sách tinh giản biên chế nếu được tuyển dụng lại vào các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập thì phải hoàn trả lại số tiền trợ cấp đã nhận (trừ phí học nghề quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 10 Nghị định này) Những người quy định tại Khoản 4 Điều 6 Nghị định này nếu được tuyển dụng lại vào khu vực nhà nước hoặc các doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hóa thì cũng phải hoàn trả lại số tiền trợ cấp tinh giản biên chế đã nhận
Cơ quan, đơn vị, công ty nhà nước nơi tuyển dụng lại người đã nhận trợ cấp tinh giản biên chế theo quy định tại Nghị định này có trách nhiệm thu hồi
số tiền trợ cấp đã nhận và nộp vào ngân sách nhà nước Riêng số tiền thu được của đối tượng quy định tại Khoản 4 Điều 6 Nghị định này thì nộp toàn
bộ vào Quỹ Hỗ trợ lao động dôi dư do sắp xếp lại công ty nhà nước
* Cơ quan thực hiện chính sách tinh giản biên chế
Trang 3525
Công tác thực hiện chính sách tinh giản biên chế được phân công thực hiện tại địa phương như sau:
- Phòng Nội vụ tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ của đối tượng tinh giản biên chế do các cơ quan, đơn vị gửi đến; tổng hợp, xây dựng Đề án tinh giản biên chế của huyện, báo cáo Chủ tịch UBND huyện trình cấp thẩm quyền phê duyệt; lập danh sách và dự toán số tiền trợ cấp cho từng đối tượng tinh giản
biên chế của huyện theo định kỳ 02 lần/năm (06 tháng/1 lần), báo cáo UBND
huyện trình cấp thẩm quyền cấp kinh phí thực hiện tinh giản biên chế theo quy định;
- Phòng Tài chính – Kế hoạch chủ trì, phối hợp cùng Phòng Nội vụ kiểm tra kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế cho từng đối tượng; tổng hợp kinh phí, báo cáo UBND huyện trình cấp thẩm quyền phê duyệt; tiếp nhận, cấp phát kinh phí kịp thời cho các cơ quan, đơn vị để chi trả cho đối tượng được tinh giản biên chế và thực hiện quyết toán kinh phí với cấp thẩm quyền theo quy định
1.2.3 Các bước trong quy trình thực hiện chính sách tinh giản biên chế
Tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế là một quá trình chuyển tải ý chí của Nhà nước thành hiện thực theo một quy trình bao gồm các bước tác động bổ sung cho nhau Tổ chức thực hiện tốt ở bước này sẽ tạo điều kiện cho bước sau thực hiện thuận lợi và có hiệu quả cao Mỗi bước trong quy trình tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế có nội dung, nhiệm vụ, phương pháp và cách thức thực hiện khác nhau, không được bỏ qua bất cứ bước nào trong quy trình tổ chức thực hiện chính sách Quy trình tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế gồm các bước sau:
- Xây dựng kế hoạch triển khai chính sách tinh giản biên chế:
Tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế có nhiều cơ quan, tổ chức, và cá nhân tham gia Để tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế
Trang 3626
có hiệu quả, nhiệm vụ đầu tiên phải xây dựng phải xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách Kế hoạch thực hiện chính sách là cơ sở, là công cụ quan trọng triển khai đưa chính sách vào thực tiễn cuộc sống Trong xây dựng
kế hoạch thực hiện chính sách phải xác định được chính xác, cụ thể các nội dung, nhiệm vụ, cần phải nêu: kế hoạch tổ chức điều hành thực hiện chính sách, kế hoạch thời gian triển khai thực hiện và kế hoạch kiểm tra đôn đốc thực hiện chính sách Cùng với bản kế hoạch thực hiện chính sách phải xây dựng nội quy, quy chế tổ chức, điều hành thực hiện chính sách Trong xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách công nói chung, chính sách tinh giản biên chế nói riêng cần phải chú ý đến bảo đảm tính sát thực, tính khả thi và tính hiệu quả, bảo đảm cho kế hoạch không phải điều chỉnh, bổ sung nhiều trong quá trình thực hiện Kế hoạch do thủ trưởng các cơ quan chủ trì tổ chức thực hiện chính sách phê duyệt Sau khi kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện chính sách tinh giản biên chế được phê duyệt nó có giá trị pháp lý như văn bản pháp luật, buộc các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện chính sách phải tuân thủ nghiêm túc
- Phổ biến, tuyên truyền chính sách tinh giản biên chế
Phổ biến, tuyên truyền chính sách tinh giản biên chế là hoạt động quan trọng, có ý nghĩa lớn đối với cơ quan nhà nước, các cán bộ, công chức tham gia thực hiện chính sách nhất là đối với các đối tượng thụ hưởng chính sách Phổ biến, tuyên truyền chính sách tốt sẽ giúp cho các đối tượng chính sách và những người tham gia thực thi chính sách hiểu rõ mục đích yêu cầu của chính sách, về tính đúng đắn và lợi ích của chính sách mang lại cho họ và về tính khả thi của chính sách … để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của nhà nước Phổ biến, tuyên truyền chính sách tinh giản biên chế vừa là nhiệm
vụ, vừa là giải pháp quan trọng trong tổ chức thực hiện chính sách, vì chính sách tinh giản biên chế có đối tượng áp dụng và thụ hưởng rất lớn và rất khác
Trang 3727
nhau bao gồm cán bộ, công chức từ trung ương đến cấp xã, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập, người làm việc theo chế độ hợp đồng không xác định thời hạn theo quy định tại Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty, Thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, kế toán trưởng, kiểm soát viên trong các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước hoặc các tổ chức chính trị xã hội làm chủ sở hữu; những người là cán bộ, công chức được cơ quan có thẩm quyền cử làm người đại diện theo ủy quyền đối với phần vốn nhà nước; những người làm việc trong biên chế được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao tại các Hội Các đối tượng thụ hưởng chính sách tinh giản biên chế có quá trình công tác, có đóng góp cho Nhà nước và có lợi ích rất khác nhau, tuyên truyền để họ chấp nhận ra khỏi biên chế nhà nước là rất khó khăn Do đó cần phải phổ biến, tuyên truyền, thuyết phục họ để họ tự giác thực hiện chính sách Đồng thời việc phổ biến, tuyên truyền trong tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế còn giúp cho cán bộ, công chức có trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách nhận thức được đầy đủ mục đích, tính chất phức tạp, phạm vi điều chỉnh, quy mô của chính sách để họ chủ động, tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp để thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực thi có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách Để phổ biến, tuyên truyền chính sách có hiệu quả cần phải lựa chọn các hình thức phổ biến, tuyên truyền linh hoạt và thích hợp đối với từng đối tượng chính sách
- Phân công, phối hợp thực hiện chính sách
Chính sách tinh giản biên chế được triển khai thực hiện trên phạm vi rộng lớn từ Trung ương đến địa phương, số lượng các cơ quan, tổ chức, các cán bộ, công chức, viên chức tham gia thực hiện chính sách là rất lớn Để tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế có hiệu quả phải tiến hành phân
Trang 3828
công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ở trung ương và các cấp chính quyền địa phương một cách hợp lý Trong phân công, phối hợp thực hiện chính sách tinh giản biên chế cần quy định rõ và cụ thể cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp thực hiện Quan trọng nhất là phân công, phối hợp trong thực hiện chính sách tinh giản biên chế phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức tham gia thực hiện chính sách
- Duy trì chính sách
Duy trì chính sách tinh giản biên chế là một hoạt động không thể thiếu được trong quy trình tổ chức thực hiện chính sách, nhằm bảo đảm cho chính sách tồn tại được và phát huy được tác dụng trong môi trường thực tế Khi triển khai chính sách tinh giản biên chế vào thực tiễn cuộc sống gặp những khó khăn do môi trường thực tế biến động đòi hỏi các cơ quan, tổ chức, các cán bộ, công chức có trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách phải sử dụng
hệ thống các công cụ quản lý tác động nhằm tạo môi trường thuận lợi choi việc thực thi chính sách Thực tế nhiều chính sách ban hành đúng nhưng trong quá trình tổ chức thực hiện không có các giải pháp duy trì chính sách dẫn đến hiệu quả thực hiện chính sách thấp, gây lãng phí không đáp ứng yêu cầu quản
lý của Nhà nước Như vậy duy trì chính sách là sự cần thiết tất yếu khách quan trong quy trình tổ chức thực hiện chính sách công nói chung và chính sách tinh giản biên chế nói riêng
- Điều chỉnh chính sách tinh giản biên chế
Điều chỉnh chính sách tinh giản biên chế cũng là bước, là hoạt động cần thiết và quan trọng trong quy trình tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế Trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế nếu gặp khó khăn do môi trường thực tế thay đổi hoặc do chính sách còn những bất cập, hạn chế không phù hợp với thực tiễn cần phải có những điều chỉnh nhất định để đáp ứng yêu cầu quản lý và phù hợp với tình hình thực tế Về nguyên
Trang 3929
tắc, thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung chính sách là của cơ quan, tổ chức ban hành chính sách Nhưng trên thực tế việc điều chỉnh các biện pháp, các cơ chế chính sách diễn ra rất năng động và linh hoạt trong tổ chức thực hiện chính sách Đồng thời phải tuân thủ nguyên tắc: “chỉ được phép điều chỉnh các giải pháp, công cụ hay hoàn thiện mục tiêu chính sách, không được phép điều chỉnh làm thay đổi mục tiêu chính sách coi chính sách không còn tồn tại, phải xây dựng lại chính sách” Cần phải đặc biệt chú ý tới nguyên tắc này để bảo đảm cho việc điều chỉnh chính sách tinh giản biên chế được chính xác, tạo điều kiện cho tổ chức thực hiện chính sách đạt hiệu quả cao và đạt được mục tiêu của chính sách
- Đôn đốc, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế Đôn đốc, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế
là bước quan trọng không thể thiếu trong quy trình tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế Đôn đốc, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế giúp phát hiện những hạn chế, bất cập của chính sách tinh giản biên chế và những hạn chế, bất cập các vi phạm sai sót trong tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế để kịp thời đề xuất các cấp có thẩm quyền xem xét, bổ sung, hoàn thiện chính sách, tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế đạt hiệu quả cao Đồng thời đôn đốc, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế giúp kịp thời tìm kiếm các giải pháp khắc phục các hạn chế, bất cập, các sai sót trong
tổ chức điều hành triển khai thực hiện chính sách, góp phần tích cực vào việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện kế hoạch triển khai thực hiện chính sách, hiệu lực, hiệu quả thực hiện mục tiêu chính sách tinh giản biên chế
- Tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế
Trang 4030
Tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế là bước cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng trong quy trình
tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế Tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm việc thực hiện chính sách công nói chung, chính sách tinh giản biên chế nói riêng là quá trình xem xét, kết luận về sự chỉ đạo, điều hành tổ chức thực hiện chính sách của chủ thể thực hiện chính sách (các cơ quan, tổ chức
và đội ngũ cán bộ, công chức có chức năng thực hiện thực hiện chính sách) và việc chấp hành, thực hiện của các đối tượng thụ hưởng chính sách Để tổng kết đánh giá, rút kinh nghiệm chính xác cần phải căn cứ vào các tiêu chuẩn, tiêu chí và các nguyên tắc nhất định Cơ sở để xây dựng tiêu chí đánh giá công tác chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách của các cơ quan nhà nước của cán bộ, công chức là bản kế hoạch và quy chế, nội quy ban hành kèm theo; ngoài ra còn phải sử dụng các văn bản liên tịch giữa các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các văn bản quy phạm pháp luật khác, các báo cáo kết quả thực hiện chính sách của các cơ quan, đơn vị hữu quan; phải căn cứ vào các nguyên tắc đã được xác định, thống nhất giữa các cơ quan hữu quan bảo đảm tính toàn diện, công bằng và khách quan Việc đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm phải chỉ ra được chính xác ưu điểm, nhược điểm, kinh nghiệm thực hiện chính sách, các cá nhân tổ chức thực hiện tốt hoặc không tốt
Cùng với việc tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo điều hành thực hiện của các cơ quan nhà nước, của đội ngũ cán bộ, công chức còn phải xem xét, đánh giá kết quả việc thực hiện của các đối tượng thụ hưởng trực tiếp và gián tiếp từ chính sách Thước đo, căn cứ để đánh giá kết quả thực hiện chính sách tinh giản biên chế của các đối tượng này là tinh thần hưởng ứng với mục tiêu chính sách tinh giản biên chế, ý thức chấp hành những quy định về cơ chế, biện pháp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để thực hiện mục tiêu và các quy định cụ thể của chính sách tinh giản biên chế Tổng kết, đánh