1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại việt nam luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng lê phú dân nguyễn ngọc thạch người hướng dẫn khoa học

86 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ hai, luận văn đã tập hợp cũng như khảo lược các công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài trước đây về vấn đề các yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính tại các tổ chức ngân hàn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 3

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Tên đề tài: Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của các Ngân hàng thương mại Việt Nam

Nội dung chính của luận văn: Thứ nhất, luận văn được xuất phát từ vấn đề

cấp thiết từ thực tiễn đó chính là vấn đề muốn gia tăng hiệu quả tài chính tại các ngân hàng thương mại tại Việt Nam dưới bối cảnh kinh tế thị trường và sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng thương mại với nhau trong hệ thống ngân hàng Việt Nam Thứ hai, luận văn đã tập hợp cũng như khảo lược các công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài trước đây về vấn đề các yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính tại các tổ chức ngân hàng thương mại để làm cơ sở lý thuyết và kế thừa mô hình nghiên cứu đồng thời đưa ra các giả thuyết nghiên cứu gắn với các yếu tố tác động cũng như mô hình nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam Thứ ba, tác giả đã

áp dụng các phương pháp nghiên cứu mà các tác giả của các công trình nghiên cứu trước đây để có tương quan so sánh tại Việt Nam Thứ tư, tác giả tiến hành sử dụng

số liệu thứ cấp từ các ngân hàng thương mại từ 2015 – 2019 để tiến hành đưa ra các kết quả nghiên cứu đồng thời kết luận các giả thuyết nghiên cứu về các yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính Cuối cùng, từ các kết quả nghiên cứu đó tác giả đưa ra kết luận cuối cùng về tương quan tác động cũng như đưa ra các hàm ý chính sách để ngân hàng thương mại có thể gia tăng và giữ vững hiệu quả tài chính trong quá trình hoạt động của mình

Từ khóa: Hiệu quả tài chính, ROA, ROE, quy mô ngân hàng, tỷ lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởng kinh tế, rủi ro thanh khoản, tỷ lệ dự phòng, hiệu quả tiết kiệm chi phí, hiệu quả hoạt động

Trang 4

ABSTRACT SUMMARY

Topic title: Factors affecting the financial performance of commercial banks in Vietnam

The main content of the thesis: Firstly, the thesis is derived from an urgent

problem from the fact that the issue of wanting to increase financial efficiency at commercial banks in Vietnam in the context of the market economy market and the fierce competition between commercial banks in the Vietnamese banking system Secondly, the thesis has gathered as well as summarized the previous domestic and foreign studies on the factors affecting financial performance at commercial banking institutions to serve as the basis for theories and inheritance research models and at the same time make research hypotheses associated with the impact factors as well as experimental research models in Vietnam Third, the author has applied the research methods that the authors of previous studies to have comparative correlation in Vietnam Fourth, the author uses secondary data from commercial banks from 2009-2018 to provide research results and conclude research hypotheses about the factors affecting performance financial results Finally, from the research results, the author gives the final conclusion about the impact relationship as well as gives policy implications for commercial banks to increase and maintain financial performance in the process submit your activities

Keywords: Financial efficiency, ROA, ROE, bank size, inflation rate, GPD, liquidity risk, contingency ratio, cost efficiency, operational efficiency

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn về đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến Hiệu quả tài chính của các Ngân hàng thương mại Việt Nam” là công trình nghiên cứu cá

nhân của tôi trong thời gian qua Mọi số liệu sử dụng phân tích trong luận văn và kết quả nghiên cứu là do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách khách quan, trung thực,

có nguồn gốc rõ ràng và chưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có sự không trung thực trong thông tin sử dụng trong công trình nghiên cứu này

TP Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2020

Học viên thực hiện

Lê Phú Dân

Trang 6

LỜI CÁM ƠN

Để thực hiện và hoàn thành bài nghiên cứu này, tôi đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ cũng như là quan tâm, động viên từ nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân Luận văn cũng được hoàn thành dựa trên sự tham khảo, học tập kinh nghiệm từ các kết quả nghiên cứu liên quan, các sách, báo chuyên ngành của nhiều tác giả ở các trường Đại học, các tổ chức nghiên cứu, tổ chức chính trị… Đặc biệt hơn nữa là sự hợp tác của cán bộ giáo viên các trường Đại học Ngân hàng TP HCM và sự giúp

đỡ, tạo điều kiện về vật chất và tinh thần từ phía gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp

Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TSKH Nguyễn Ngọc Thạch – người trực tiếp hướng dẫn khoa học đã luôn dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cám ơn Ban giám hiệu trường Đại học Ngân hàng TP.HCM cùng toàn thể các thầy cô giáo công tác trong trường đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tuy có nhiều cố gắng, nhưng trong đề tài nghiên cứu khoa học này không tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong Quý thầy cô, các chuyên gia, những người quan tâm đến đề tài, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè tiếp tục có những ý kiến đóng góp, giúp đỡ để đề tài được hoàn thiện hơn

Một lần nữa tôi xin chân thành cám ơn!

TP Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2020

Học viên thực hiện

Lê Phú Dân

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT

GDP Tốc độ tăng trưởng kinh tế

LLR Dự phòng rủi ro tín dụng

NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần

Trang 8

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 10

1.1 Lý do chọn đề tài 10

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 12

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 13

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13

1.5 Phương pháp nghiên cứu 13

1.6 Ý nghĩa của đề tài 14

1.7 Kết cấu luận văn 15

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 16

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 17

2.1 Hiệu quả tài chính của ngân hàng thương mại 17

2.1.1 Khái niệm hiệu quả tài chính của ngân hàng thương mại 20

2.1.2 Đánh giá hiệu quả tài chính của ngân hàng thương mại 23

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của ngân hàng thương mại 24

2.2.1 Nhóm nhân tố nội tại của ngân hàng 24

2.2.2 Nhóm nhân tố vĩ mô 26

2.2.3 Tổng quan các nghiên cứu về Hiệu quả tài chính 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 30

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

3.1 Phương pháp nghiên cứu 33

3.1.1 Quy trình nghiên cứu 33

3.1.2 Chọn mẫu và thu thập dữ liệu 33

3.1.3 Phương pháp nghiên cứu 33

3.1.4 Mô hình nghiên cứu 34

3.1.5 Phương pháp đo lường các biến 39

3.2 Các giả thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa các nhân tố với hiệu quả tài chính của ngân hàng 41

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 45

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 46

Trang 9

4.1 Thống kê mô tả mẫu của mô hình 46

4.2 Kết quả mô hình hồi quy POOLED OLS 48

4.2.1 Mô hình hồi quy POOLED OLS với biến phụ thuộc là tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA) 48

4.2.2 Mô hình hồi quy POOLED OLS với biến phụ thuộc là tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE) 49

4.3 Kết quả mô hình hồi quy tác động cố định (FEM) 50

4.3.1 Mô hình hồi quy FEM với biến phụ thuộc là tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA) 50

4.3.2 Mô hình hồi quy FEM với biến phụ thuộc là tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE) 51

4.4 Kết quả mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM) 52

4.4.1 Mô hình hồi quy REM với biến phụ thuộc là tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA) 52

4.4.2 Mô hình hồi quy REM với biến phụ thuộc là tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE) 53

4.5 Kiểm định Hausman giữa mô hình hồi quy tác động cố định (FEM) và mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM) 54

4.5.1 Kiểm định Hausman giữa mô hình FEM và mô hình REM với biến phụ thuộc là tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA) 54

4.5.2 Kiểm định Hausman giữa mô hình FEM và mô hình REM với biến phụ thuộc là tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROE) 59

TÓM TẮT CHƯƠNG 4 65

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 67

5.1 Kết luận kết quả nghiên cứu 67

5.2 Hàm ý chính sách 68

5.2.1 Đối với yếu tố quy mô ngân hàng 68

5.2.2 Đối với yếu tố đòn bẩy tài chính 69

5.2.3 Đối với yếu tố hiệu quả quản lý 69

5.2.4 Đối với yếu tố dự phòng rủi ro tín dụng 71

Trang 10

5.2.5 Kiến nghị về yếu tố tăng trưởng kinh tế 72

5.3 Hạn chế của đề tài 72

5.4 Đề xuất hướng nghiên cứu mới 73

TÓM TẮT CHƯƠNG 5 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO i

Trang 11

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Bảng mô tả các biến đưa vào mô hình nghiên cứu

Bảng 3.2: Bảng mô tả các giả thuyết mối tương quan giữa hiệu quả tài chính và các nhân tố có tác động đến hiệu quả tài chính

Bảng 4.1: Thống kê mô tả cho các biến trong mô hình

Bảng 4.2: Ma trận tương quan của các biến độc lập

Bảng 4.3: Kết quả mô hình POOLED OLS với biến phụ thuộc là ROA

Bảng 4.4: Kết quả mô hình POOLED OLS với biến phụ thuộc là ROE

Bảng 4.5: Kết quả mô hình FEM với biến phụ thuộc là ROA

Bảng 4.6: Kết quả mô hình FEM với biến phụ thuộc là ROE

Bảng 4.7: Kết quả mô hình REM với biến phụ thuộc là ROA

Bảng 4.8: Kết quả mô hình REM với biến phụ thuộc là ROE

Bảng 4.9: Kết quả kiểm định Hausman với biến phụ thuộc là ROA

Bảng 4.10: Kết quả kiểm định sự phù hợp giữa hai mô hình REM và

POOLED OLS với biến phụ thuộc ROA – Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi

Bảng 4.11: Kết quả kiểm định hiện tượng tự tương quan của mô hình REM với biến phụ thuộc là ROA

Bảng 4.12: Mô hình REM với biến phụ thuộc ROA sau khi đã khắc phục khuyết tật Bảng 4.13: Kết quả phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố tác động hiệu quả tài chính của các NHTM Việt Nam

Bảng 4.14: Kết quả kiểm định Hausman với biến phụ thuộc là ROE

Bảng 4.15: Kết quả kiểm định sự phù hợp giữa hai mô hình REM và POOLED OLS với biến phụ thuộc ROE – Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi

Bảng 4.16: Kết quả kiểm định hiện tượng tự tương quan của mô hình REM với biến phụ thuộc là ROE

Bảng 4.17: Mô hình REM với biến phụ thuộc ROE sau khi đã khắc phục khuyết tật Bảng 4.18: Kết quả phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố tác động hiệu quả tài chính của các NHTM Việt Nam

Trang 12

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1.1 Lý do chọn đề tài

Tốc độ toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại nhanh chóng trong những năm vừa qua đã tạo ra nhiều thay đổi to lớn về môi trường kinh tế quốc tế Các Công ty

đa quốc gia và xuyên quốc gia đã mở rộng lãnh thổ hoạt động của mình và ngày càng có nhiều ảnh hưởng đến các quốc gia trên thế giới, đồng thời dòng vốn quốc tế cũng đã và đang ngày càng gia tăng mạnh Cũng như các thị trường khác, thị trường tài chính giờ đây cũng phải chịu những sức ép lớn của quá trình hội nhập Đặc biệt các ngân hàng thương mại –là tổ chức trung gian tài chính có vai trò quan trọng trong việc kết nối giữa khu vực tiết kiệm và đầu tư của nền kinh tế –ngày càng bị cạnh tranh bởi các trung gian tài chính phi ngân hàng và các ngân hàng nước ngoài Tuy nhiên sự gia tăng sức ép cạnh tranh sẽ tác động đến ngành ngân hàng như thế nào còn phụ thuộc một phần vào khả năng thích nghi và hiệu quả hoạt động của chính các ngân hàng trong môi trường mới này Các ngân hàng không có khả năng cạnh tranh sẽ được thay thế bằng các ngân hàng có hiệu quả hơn, điều này cho thấy chỉ có các ngân hàng có hiệu quả nhất mới có lợi thế về cạnh tranh Như vậy, hiệu quả trở thành một tiêu chí quan trọng để đánh giá sự tồn tại của một ngân hàng trong một môi trường cạnh tranh quốc tế ngày càng gia tăng Mặc dù, quá trình thực hiện đề án cơ cấu lại hệ thống ngân hàng từ cuối những năm 1990 đến nay, tuy đã tạo ra cho ngành ngân hàng nhiều thay đổi lớn cả về số lượng, quy mô và chất lượng, những tiền đề cơ bản ban đầu đáp ứng những cam kết đã ký trong lộ trình hội nhập của khu vực ngân hàng đã được tạo lập Tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống ngân hàng bước vào thời kỳ hội nhập kinh tế quốc theo xu hướng của thời đại Tuy nhiên, hoạt động của hệ thống ngân hàng hiện nay vẫn còn có nhiều tồn tại

và trở thành các thách thức lớn đối ngành ngân hàng Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Trong môi trường cạnh tranh và đòi hỏi của hội nhập như hiện nay, hệ thống ngân hàng không những phải duy trì được sự ổn định trong hoạt động của mình mà còn phải có khả năng gia tăng cạnh tranh đối với các tổ chức tài chính phi ngân hàng và các định chế tài chính khác Để làm được điều này đòi hỏi các ngân hàng thương mại không ngừng phải tăng cường hiệu quả hoạt động của mình Với mục

Trang 13

tiêu làm tăng hiệu quả hoạt động của các trung gian tài chính bằng việc đẩy mạnh khả năng cạnh trạnh giữa các ngân hàng, tháo bỏ các rào cản về thị trường, lãi suất,

tỷ giá hối đoái đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục cải cách sâu rộng, toàn diện hơn nữa nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của cả hệ thống ngân hàng Đây thực sự là vấn

đề cần được quan tâm nhiều hơn nữa

Trải qua quá trình hình thành và phát triển, hệ thống ngân hàng Việt Nam đóng vai trò là trung gian thanh toán cho các chủ thể kinh tế và là một kênh đáp ứng vốn chủ yếu cho nền kinh tế, góp phần không nhỏ vào mức tăng trưởng GDP hàng năm và công cuộc phát triển kinh tế xã hội của đất nước Không những vậy, hệ thống ngân hàng còn có sự gia tăng đáng kể về cả quy mô tài sản, mạng lưới giao dịch, sản phẩm dịch vụ, cũng như hệ thống công nghệ ngân hàng Song bên cạnh những kết quả đạt được thì vẫn có nhiều mặt còn tồn tại trong hệ thống ngân hàng như: nợ xấu tăng cao, thanh khoản của hệ thống chưa thực sự ổn định, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu chưa thực sự vững chắc, sức cạnh tranh chưa cao, năng lực quản trị và công nghệ yếu, cải cách diễn ra chậm và thiếu tính minh bạch Các ngân hàng không có khả năng cạnh tranh sẽ được thay thế bằng các ngân hàng có hiệu quả hơn, điều này cho thấy chỉ có các ngân hàng có hiệu quả tài chính (HQTC) cao, kinh doanh hiệu quả nhất mới có lợi thế về cạnh tranh Như vậy, HQTC trở thành một tiêu chí quan trọng để đánh giá sự tồn tại của một ngân hàng trong môi trường cạnh canh quốc tế ngày càng gia tăng và khốc liệt

Thực tế còn cho thấy sau hơn 12 năm gia nhập WTO (Việt Nam gia nhập WTO vào ngày 11/01/2007), hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng đã có những biến động thăng trầm Điều này được thể hiện rõ qua cuộc khủng hoảng tài chính năm

2008, cụ thể chính là cuộc chạy đua lãi suất, làm cho lãi suất huy động có lúc lên đến 21% Đầu năm 2011, sự biến động tăng lãi suất giữa các ngân hàng càng trở nên gay gắt và chứa đựng nhiều nguy cơ – rủi ro Các ngân hàng đã xé rào trong việc huy động vốn, lãi suất huy động được thỏa thuận giữa người gửi và các ngân hàng, tùy theo mức gửi và thời gian gửi sẽ có mức lãi suất tương ứng, với mức lãi suất cao nhất lên đến 22%/năm Sau đó các ngân hàng cho vay với lãi suất cao ngất ngưỡng 25%/năm Cuối năm 2012, đầu 2013 thì nợ xấu gia tăng đột biến, tính thanh

Trang 14

khoản của các ngân hàng rất thấp, có nguy cơ đỗ vỡ rất cao Trước tình hình đó, Chính phủ ra quyết định 254/QĐ-TTg ngày 01/03/2012 về việc phê duyệt đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015 Xuất phát từ tầm quan trọng này cho thấy, việc đánh giá và nâng cao HQTC của các ngân hàng hiện nay rất là quan trọng, vì từ đó giúp các nhà quản lý thực hiện được việc cơ cấu lại hệ thống ngân hàng một cách có cơ sở, định hướng việc sáp nhập, hợp nhất cũng có căn cứ khoa học Thêm vào đó, với vai trò là tài chính trung gian quan trọng trong nền kinh tế, ngân hàng mang đặc thù là tổ chức kinh doanh “tiền”, có độ rủi ro cao

và mức độ ảnh hưởng lớn Thị trường và công chúng do vậy mà phản ứng rất nhạy cảm đối với bất kỳ khó khăn tiềm tàng nào phát sinh từ các yếu kém trong hoạt động của hệ thống ngân hàng Do đó, việc nâng cao HQTC là cần thiết, bởi nâng cao HQTC chính là thước đo cho sức khỏe tài chính của một ngân hàng Sức khỏe tài chính của một ngân hàng rất quan trọng, bởi một ngân hàng yếu kém không chỉ gây tổn thất cho chính ngân hàng đó, mà còn tạo nên những rủi ro nhất định mang tính dây chuyền cho các bên liên quan (như người lao động, trái chủ, các ngân hàng khác, nhà cung cấp, khách hàng và các nhà đầu tư tiềm năng) và ngược lại

Qua đây có thể thấy, HQTC đảm bảo giúp hệ thống ngân hàng hoạt động bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh, giảm thiểu rủi ro và gia tăng niềm tin từ các bên liên quan Không những vậy, việc xem xét một cách tổng quát và xác định những nhân tố ảnh hưởng đến HQTC là hết sức cần thiết và có giá trị, bởi nó sẽ giúp hỗ trợ cho các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách và các nhà đầu tư trong việc ra quyết định Qua đó, nó cũng là cơ sở để hoàn thiện một khung chính sách hợp lý trong quá trình quản lý hoạt động của các ngân hàng trong thời kỳ hội nhập Chính vì lẽ đó, để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này, luận văn hướng đến nghiên

cứu đề tài: “Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của các Ngân hàng thương mại Việt Nam”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát: Luận văn vận dụng lý thuyết về hiệu quả tài chính ngân

hàng, đồng thời căn cứ vào kết quả nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả trong và

Trang 15

ngoài nước để xây dựng mô hình thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của các Ngân hàng thương mại Việt Nam

Mục tiêu cụ thể: Luận văn dựa trên khung lý thuyết về mô hình các yếu tố tác

động đến hiệu quả hoạt động tài chính để xây dựng các giải pháp đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả tài chính của các Ngân hàng thương mại Việt Nam

 Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến HQTC của các NHTM Việt Nam;

 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố tác động đến HQTC của các NHTM Việt Nam;

 Đưa ra một số khuyến nghị nhằm cải thiện và nâng cao HQTC của các NHTM Việt Nam từ kết quả nghiên cứu

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Những yếu tố nào ảnh hưởng đến HQTC của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam ?

Mức độ tác động của các yếu tố này đến HQTC của các NHTMCP Việt Nam như thế nào ?

Các hàm ý chính sách và kiến nghị nào được đưa ra để cải thiện HQTC cho các NHTMCP Việt Nam?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tài

chính của các NHTM Việt Nam hiện nay

Phạm vi nghiên cứu:

 Phạm vi không gian nghiên cứu: Luận văn lấy số liệu nghiên cứu của 24 NHTM (trong tổng số 31 NHTM tại Việt Nam) với việc phân tích tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến HQTC Nguyên nhân tác giả chọn 24 ngân hàng vì những ngân hàng này có đầy đủ số liệu qua các năm để tác giả tiến hành xử lý số liệu

 Thời gian nghiên cứu: số liệu phục vụ cho nghiên cứu được lấy từ năm 2015 đến năm 2019

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 16

Tác giả sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá dựa vào tài liệu và các nghiên cứu trước về rủi ro thanh khoản nhằm đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu

tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các NHTM Việt Nam

Bên cạnh đó nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng phân tích hồi quy đa biến trên cơ sở dữ liệu bảng cân đối để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố trong mô hình nghiên cứu đến hiệu quả hoạt động tài chính của các NHTM Việt Nam Để phân tích dữ liệu bảng, luận văn sử dụng ba phương pháp ước lượng khác nhau bao gồm: Mô hình bình phương bé nhất Pooled OLS, mô hình tác động cố định FEM (Fix Effects Model) và mô hình tác động ngẫu nhiên REM (Random Effects Model) Để lựa chọn phương pháp hồi quy nào nào phù hợp nhất trong ba phương pháp nêu trên là kiểm định F-test và kiểm định Breusch-Pagan lagrangian (Breuch và Pagan, 1979) Kiểm định F-test để lựa chọn giữa mô hình Pooled OLS và mô hình FEM Kiểm định Breusch-Pagan lagrangian để lựa chọn mô hình Pooled OLS và mô hình REM Để lựa chọn mô hình FEM hay REM

sử dụng kiểm định Hausman

Sau khi lựa chọn mô hình phù hợp, sẽ tiến hạnh kiểm định hiện tượng tự tương quan và hiện tượng phương sai của sai số thay đổi, nếu có hiện tượng tượng tự tương quan và/hoặc hiện tượng phương sai của sai số thay đổi thì nghiên cứu sẽ sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (Feasible Generalized Least Squares - FGLS) để khắc phục hiện tượng tượng tự tương quan và/hoặc hiện tượng phương sai của sai số thay đổi và so sánh các kết quả từ các mô hình

1.6 Ý nghĩa của đề tài

Luận văn sẽ cung cấp thêm sự kết quả nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến HQTC của các NHTMCP Việt Nam Kết quả nghiên cứu rất hữu ích hướng đến các đối tượng như: các nhà hoạch định chính sách, các ngân hàng và các nhà đầu tư

 Đối với các NHTMCP: Nghiên cứu sẽ là cơ sở khoa học để các nhà quản trị

và điều hành NH xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến HQTC của NH và mức

độ ảnh hưởng của từng yếu tố Từ đó, có thể đưa ra những quyết định hợp lý để giúp nâng cao hiệu quả hoạt động, năng cao năng lực cạnh tranh và gia tăng uy tín

Trang 17

 Đối với các nhà đầu tư: Từ những kết quả phân tích về các yếu tố tác động đến HQTC sẽ giúp các nhà đầu tư có một cái nhìn khái quát về hoạt động của NH Trên cơ sở đó có thể đánh giá và dự báo HQTC, điều này giúp các nhà đầu tư có những quyết định sáng suốt trong những quyết định đầu tư của họ

 Đối với các nhà hoạch định chính sách: Nghiên cứu là cơ sở khoa học để Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) xác định các yếu tố vĩ mô tác động đến HQTC của NHTMCP Trên cơ sở này, có thể đưa ra những chính sách vĩ mô kịp thời và hợp lý nhằm xây dựng hệ thống NH vững chắc và hiệu quả

1.7 Kết cấu luận văn

Luận văn được chia bố cục 5 chương

Chương 1: Giới thiệu đề tài

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Trang 18

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương 1 tác giả đã nêu lên lý do chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của các Ngân hàng thương mại Việt Nam” đồng thời là mục tiêu nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; đối tượng phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của nghiên cứu này Tác giả cũng đã tiến hành chia bố cục luận văn theo kết cấu 5 chương

Trang 19

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại

2.1.1 Ngân hàng thương mại và các lĩnh vực hoạt động của ngân hàng thương mại

Lịch sử phát triển của hệ thống ngân hàng gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, và sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường đã làm biến đổi mạnh mẽ hệ thống ngân hàng thương mại từ những hệ thống ngân hàng giản đơn, sơ khai ban đầu nay đã trở thành những ngân hàng hiện đại, những tập đoàn tài chính khổng lồ, đa quốc gia Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, các tư tưởng kinh tế, sự đa dạng hóa của các sản phẩm dịch vụ và đặc thù hoàn cảnh thực tế của từng quốc gia, từng đạo luật mà khái niệm ngân hàng thương mại

có thể được nhìn nhận dưới góc độ này hay góc độ khác nhưng tựu chung đều nhất quán với nhau đó là: Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính làm cầu nối giữ khu vực tiết kiệm với khu vực đầu tư của nền kinh tế hay nói cụ thể hơn thì Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, nhận tiền gửi từ các tác nhân trong nền kinh tế, sau đó thực hiện các nghiệp vụ cho vay và đầu tư vào các tài sản có khả năng sinh lời khác, đồng thời thực hiện cung cấp đa dạng các danh mục dịch vụ tài chính, tín dụng, thanh toán cho các tác nhân trong nền kinh tế Như vậy,

rõ ràng ngân hàng thương mại là một trong những tổ chức tài chính có vai trò quan trọng của nền kinh tế Trước hết, với vài trò trung gian tài chính, ngân hàng thương mại thực hiện việc chuyển các khoản tiết kiệm (chủ yếu từ hộ gia đình) thành các khoản tín dụng cho các tổ chức kinh doanh và các tác nhân khác thực hiện các hoạt động đầu tư Đồng thời, ngân hàng thương mại là người cung cấp các khoản tín dụng cho người tiêu dùng với quy mô lớn nhất, là một trong những thành viên quan trong nhất của thị trường tín phiếu và trái phiếu do chính quyền trung ương và địa phương phát hành để tài trợ cho các chương trình công cộng Ngân hàng thương mại cũng là một trong những tổ chức cung cấp vốn lưu động, vốn trung hạn và dài hạn quan trọng cho các doanh nghiệp - Với vai trò thanh toán, ngân hàng thương mại thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việc mua hàng hóa và dịch vụ như bằng cách phát hành và bù trừ séc, cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử -

Trang 20

Với vai trò người bảo lãnh, ngân hàng thương mại cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng mất khả năng thanh toán - Với vai trò đại lý, các ngân hàng thương mại thay mặt khách hàng quản lý và bảo lãnh phát hành hoặc chuộc lại chứng khoán - Cuối cùng với vai trò thực hiện chính sách, các ngân hàng thương mại còn

là một kênh quan trọng để thực thi chính sách vĩ mô của chính phủ, góp phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế vào theo đuổi các mục tiêu xã hội

2.1.2 Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực tạo lập và cung cấp các dịch vụ tài chính, tiền tệ cho công chúng cũng như thực hiện nhiều vai trò khác trong nền kinh tế Thành công trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực, khả năng cung cấp các dịch vụ cho công chúng theo giá cạnh tranh trên thị trường

Hoạt động huy động vốn: là hoạt động mang tính chất tiền đề nhằm tạo lập nguồn vốn hoạt động của ngân hàng Bởi vậy, để đảm bảo nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của mình, các ngân hàng thương mại có thể thực hiện các hoạt động huy động vốn từ: - Vốn chủ sở hữu: đây là nguồn vốn khởi đầu và được bổ sung trong quá trình hoạt động Nguồn vốn này tuy chiếm tỷ trọng không lớn, thông thường khoảng 10% tổng số vốn, nhưng có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động của ngân hàng, cụ thể nó là điều kiện cho phép các ngân hàng có thể mở rộng mạng lưới kinh doanh, quy mô huy động, mua sắn tài sản cố định, góp vốn liên doanh, cấp vốn cho các công ty con và các hoạt động kinh doanh khác, đồng thời nó cũng là thước đo năng lực tài chính của mỗi ngân hàng và khả năng phòng vệ rủi ro trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng Nguồn vốn chủ sở hữu gồm có vốn điều lệ, các quỹ của ngân hàng hình thành trong quá trình kinh doanh và các tài sản khác theo quy định của Nhà nước - Tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi giao dịch: trong đó tiền gửi tiết kiệm của dân cư chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng vốn huy động của ngân hàng thương mại Ngoài ra còn có các khoản tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội, các khoản tiền gửi này có thể là các khoản phải trả đã xác định thời hạn chi hoặc các khoản tích lũy của doanh nghiệp Bên cạnh các khoản tiền gửi có kỳ hạn, ngân hàng thương mại còn huy động các khoản tiền gửi

Trang 21

không kỳ hạn, đây là những khoản tiền mà người gửi có thể rút bất kỳ lúc nào Các khoản tiền gửi không kỳ hạn này có thể bao gồm tiền gửi thanh toán và tiền gửi để bảo đảm an toàn tài sản của khách hàng Điểm nổi bật của loại tiền gửi này đó là có chi phí huy động thấp nhưng biến động mạnh, tính chất vận động phức tạp và có nhiều rủi ro - Phát hành chứng khoán: thông qua thị trường tài chính, hiện nay các ngân hàng thương mại có thể huy động vốn bằng cách phát hành các chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu, và các giấy tờ có giá khác với nhiều loại kỳ hạn, lãi suất khác nhau, có ghi danh hoặc không ghi danh nhằm đa dạng hóa các hình thức huy động vốn và đáp ứng nhu cầu nắm giữ các tài sản khác nhau của khách hàng, đồng thời thông qua các hoạt động này ngân hàng có thể nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường - Vay từ ngân hàng thương mại khác: trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình nếu các ngân hàng thương mại nhận thấy nhu cầu vay vốn của khách hàng gia tăng mạnh hoặc ngân quỹ bị thiếu hụt do có nhiều dòng tiền rút ra, thì các ngân hàng thương mại có thể vay nợ tại các ngân hàng khác như Ngân hàng Nhà nước thông qua hình thức chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá, các hợp đồng tín dụng đã cấp cho khách hàng; hoặc vay của các tổ chức tài chính khác trên thị trường tiền tệ nhằm bổ sung cho thiếu hụt tạm thời về vốn

Hoạt động sử dụng vốn: chức năng thứ hai trong hoạt động luân chuyển tài sản của các ngân hàng thương mại là thực hiện các hoạt động tín dụng và đầu tư Đây là các hoạt động đem lại nguồn thu cho ngân hàng và bù đắp các chi phí trong hoạt động - Hoạt động tín dụng: hiện nay vẫn là một trong những hoạt động cơ bản, truyền thống và đóng vai trò quan trọng nhất trong các hoạt động tạo ra thu nhập của ngân hàng thương mại (hoạt động này thường chiếm 60%-80% tài sản của ngân hàng) Mặc dù, hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếu cho các NHTM, quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, tuy nhiên nó cũng chứa đựng nhiều rủi ro (rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro chính trị và rủi ro đạo đức) khi những rủi ro này xảy ra sẽ gây ảnh hưởng lớn đến ngân hàng vì phần lớn vốn của ngân hàng là được huy động từ nền kinh tế - Hoạt động đầu tư: để đa dạng hóa việc sử dụng nguồn vốn, giảm rủi ro trong hoạt động, tăng thu nhập và hỗ trợ thanh khoản khi cần thiết, ngoài hoạt động tín dụng các ngân hàng thương mại còn

Trang 22

thực hiện các hoạt đầu tư như: hoạt động đầu tư gián tiếp (các hoạt động đầu tư trên thị trường chứng khoán thông qua việc mua bán các chứng khoán do chính phủ, công ty phát hành), hoặc các hoạt động đầu tư trực tiếp (góp vốn vào các doanh nghiệp, các công ty tài chính )

Cùng với sự phát triển kinh tế, các hoạt động cung cấp dịch vụ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc đa dạng hóa các hoạt động của ngân hàng, đồng thời cũng mang lại cho ngân hàng những khoản thu nhập không nhỏ Các hoạt động dịch vụ này bao gồm các hoạt động như dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ, uỷ thác, đại lý, kinh doanh chứng khoán Ngoài ra, trước sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin, hiện nay các ngân hàng còn phát triển

và cung cấp các dịch vụ mới như các dịch vụ thẻ, Internet Banking, Phonebanking cũng như phát triển mạnh các dịch vụ ngân hàng quốc tế

2.2 Hiệu quả tài chính của ngân hàng thương mại

2.2.1 Khái niệm hiệu quả tài chính của Ngân hàng thương mại

Theo Trần Huy Hoàng (2011) thì hiệu quả tài chính hay hiệu quả hoạt động của ngân hàng bao gồm hai phương diện: Thứ nhất là hiệu quả kinh tế nó phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực, vật lực của doanh nghiệp hay của xã hội để gặt hái được những kết quả cao nhất nhưng chi phí lại thấp nhất; Thứ hai là hiệu quả xã hội

nó phản ảnh những lợi ích về mặt xã hội đạt được trong quá trình của hoạt động kinh doanh Đối với hai phương diện này thì hiệu quả kinh tế có tính quyết định Hiệu quả là “mối quan hệ tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm và đầu ra hàng hóa, dịch vụ” Mặt khác khái niệm về hiệu quả dùng để xem xét các tài nguyên trong các thị trường được phân phối như thế nào cũng như mức độ thành công mà các doanh nghiệp hay ngân hàng đạt được trong việc phân bổ cá đầu vào

để sử dụng cũng như sử dụng các đầu ra mà họ sản xuất, đáp ứng các mục tiêu đã định trước, theo Nguyễn Khắc Minh (2004)

Trong hoạt động của ngân hàng thương mại (NHTM), theo lý thuyết hệ thống thì hiệu quả có thể được hiểu ở hai khía cạnh như sau: (i) Khả năng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra hay khả năng sinh lời hoặc giảm thiếu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác (ii) Xác suất hoạt động an toàn của ngân

Trang 23

hàng Sự lành mạnh của hệ thống ngân hàng thương mại quan hệ chặt chẽ với sự ổn định và phát triển của nền kinh tế vì ngân hàng thương mại là tổ chức trung gian tài chính kết nối khu vực tiết kiệm với khu vực đầu tư của nền kinh tế Do đó sự biến động của nó sẽ ảnh hưởng rất mạnh đến các ngành kinh tế quốc dân khác

Theo Perter S.Rose giáo sư kinh tế học và tài chính trường đại học Yale thì về bản chất ngân hàng thương mại cũng có thể được coi như một tập đoàn kinh doanh

và hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức độ rủi ro cho phép Tuy nhiên, khả năng sinh lời là mục tiêu được các ngân hàng quan tâm hơn cả vì thu nhập cao sẽ giúp các ngân hàng có thể bảo toàn vốn, tăng khả năng mở rộng thị phần, thu hút vốn đầu tư

Theo định nghĩa trong cuốn "Từ điển Toán kinh tế, Thống kê, kinh tế lượng Anh- Việt" trang 255 của PGS.TS Nguyễn Khắc Minh thì "hiệu quả - efficiency" trong kinh tế được định nghĩa là "mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hóa và dịch vụ" và "khái niệm hiệu quả được dùng để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào." Như vậy, có thể hiểu hiệu quả là mức độ thành công mà các doanh nghiệp hoặc ngân hàng đạt được trong việc phân bổ các đầu vào có thể sử dụng và các đầu ra mà họ sản xuất, nhằm đáp ứng một mục tiêu nào đó

Mục tiêu của các nhà sản xuất có thể đơn giản là cố gắng tránh lãng phí, bằng cách đạt được đầu ra cực đại từ các đầu vào giới hạn hoặc bằng việc cực tiểu hoá sử dụng đầu vào trong sản xuất các đầu ra đã cho Trong trường hợp này khái niệm hiệu quả tương ứng với cái mà ta gọi là hiệu quả kỹ thuật (khả năng cực tiểu hoá sử dụng đầu vào để sản xuất một véc tơ đầu ra cho trước, hoặc khả năng thu được đầu

ra cực đại từ một véc tơ đầu vào cho trước), và mục tiêu tránh lãng phí của các nhà sản xuất trở thành mục tiêu đạt được mức hiệu quả kỹ thuật cao Ở mức cao hơn, mục tiêu của các nhà sản xuất có thể đòi hỏi sản xuất các đầu ra đã cho với chi phí cực tiểu, hoặc sử dụng các đầu vào đã cho sao cho cực đại hoá doanh thu, hoặc phân

bổ các đầu vào và đầu ra sao cho cực đại hoá lợi nhuận Trong các trường hợp này hiệu quả tương ứng được gọi là hiệu quả kinh tế (khả năng cho biết kết hợp các đầu vào nhân tố cho phép tối thiểu hóa chi phí để sản xuất ra một mức sản lượng nhất

Trang 24

định), và mục tiêu của các nhà sản xuất trở thành mục tiêu đạt mức hiệu quả kinh tế cao (tính theo các chỉ tiêu như chi phí, doanh thu hoặc lợi nhuận)

Như vậy, hiệu quả là phạm trù phản ánh sự thay đổi công nghệ, sự kết hợp và phân bổ hợp lý các nguồn lực, trình độ lành nghề của lao động, trình độ quản lý nó phản ánh quan hệ so sánh được giữa kết quả kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó

Đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại có thể được chia làm hai nhóm đó là hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối:

- Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tuyệt đối (hiệu quả hoạt động = kết quả kinh

tế - chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó) cho phép đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại theo cả chiều sâu và chiều rộng Tuy nhiên loại chỉ tiêu này trong một số trường hợp lại khó có thể thực hiện so sánh được Ví dụ, những ngân hàng có nguồn lực lớn thì tạo ra lợi nhuận lớn hơn những ngân hàng có nguồn lực nhỏ, nhưng không có nghĩa là các ngân hàng quy mô lớn lại có hiệu quả lớn hơn các ngân hàng có quy mô nhỏ hơn Như vậy, hiệu quả tuyết đối không cho biết khả năng sử dụng tiết kiệm hay lãng phí các đầu vào

- Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tương đối có thể được thể hiện dưới dạng tĩnh (hiệu quả hoạt động = kết quả kinh tế/chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó hoặc dạng nghịch hiệu quả hoạt động = chi phí/ kết quả kinh tế) hoặc dưới dạng động hay dạng cận biên (hiệu quả hoạt động = mức tăng kết quả kinh tế/mức tăng chi phí) Những chỉ tiêu này rất thuận tiện so sánh theo thời gian và không gian như cho phép so sánh hiệu quả giữa các ngân hàng có quy mô khác nhau, các thời kỳ khác nhau

Tóm lại, quan điểm về hiệu quả là đa dạng, tùy theo mục đích nghiên cứu có thể xét hiệu quả theo những khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, xuất phát từ những hạn chế về thời gian và nguồn số liệu, do vậy quan điểm về hiệu quả mà luận án sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại là dựa trên tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế, thể hiện mỗi quan hệ tối ưu giữa kết quả kinh tế đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó, hay nói một cách khác hiệu quả

mà luận án tập trung nghiên cứu trong đánh giá hoạt động của ngân hàng thương

Trang 25

mại được hiểu là khả năng biến các đầu vào thành các đầu ra trong hoạt động kinh doanh của NHTM

2.2.2 Đánh giá hiệu quả tài chính của Ngân hàng thương mại

Hiện nay có nhiều chỉ tiêu tài chính để đánh giá mức độ hiệu quả tài chính của NHTM, tuy nhiên theo Trần Huy Hoàng (2011) nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời thường được sử dụng một cách phổ biến để đo lường hiệu quả tài chính của NHTM Khả năng sinh lời được xem là một trong những chỉ tiêu phản ảnh tổng hợp tình hình kinh doanh cũng như khả năng tạo ra lợi nhuận và xem xét đến các yếu tố rủi

ro đối với ngân hàng vì vậy thông qua chỉ tiêu này ngân hàng có thể đánh giá hiệu quả tài chính của mình một cách tổng quát Luận văn sử dụng hai chỉ tiêu phổ biến

để đo lường khả năng sinh lời là ROA; ROE để nghiên cứu

- Tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA)

Tỷ lệ này được tính bằng tỷ số phần trăm của lợi nhuận sau thuế chi cho tổng tài sản bình quân của doanh nghiệp, đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng tài sản của một ngân hàng nó thể hiện được hiệu quả quản lý cũng như ngân hàng đã sử dụng tài sản của mình để có thể tạo ra được bao nhiêu lợi nhuận, tỷ số ROA càng cao thì chứng minh khả năng sinh lời của ngân hàng càng cao Nhưng có một số trường hợp ROA cao không hẳn từ việc doanh nghiệp khai thác hiệu quả sử dụng tài sản mà có thể do việc đầu tư thiếu hụt vào tài sản là cho giá trị tài sản giảm xuống gây ra những ảnh hưởng đến hoạt động lâu dài sau này của ngân hàng

ROA = Lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản bình quân * 100%

- Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE)

ROE là tỷ số tài chính đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng vốn cổ phần

Tỷ số này được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng chia cho vốn chủ sở hữu bình quân trong kì Tỷ số này cho thấy quy mô lợi nhuận sau thuế được tạo ra từ mỗi đồng vốn đầu tư của các chủ sở hữu, từ đó phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của chủ

sở hữu của ngân hàng hay lợi nhuận của các cổ đông được nhận được khi đầu tư vào ngân hàng Tỷ lệ này càng cao thì sức hấp dẫn cho các nhà đầu tư vì nó chứng minh được việc ngân hàng sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông đầu tư Tuy nhiên, ROE càng cao không hẳn do ngân hàng đã sử dụng hiệu quả vốn chủ sở hữu

Trang 26

mà do việc ngân hàng giảm tỷ trọng vốn chủ sở hữu và tăng tỷ trọng vốn vay khiến cho mẫu số của tỷ số ROE nó giảm xuống thì ROE sẽ tăng lên nhưng việc làm này

sẽ khiến cho ngân hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro như rủi ro thanh toán, rủi ro vỡ nợ hay rủi ro phá sản cũng tăng theo nếu mất kiểm soát

ROE = Lợi nhuận sau thuế/Vốn chủ sở hữu bình quân * 100%

2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của NHTM

2.3.1 Nhóm nhân tố nội tại của ngân hàng

 Quy mô ngân hàng

Trên thế giới có những công trình nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng và hiệu quả tài chính Theo nghiên cứu của May Wahdan và cộng

sự (2017) thì kết quả là không có mối quan hệ giữa hai yếu tố quy mô ngân hàng và hiệu quả tài chính Nhưng theo Nicole Petria và cộng sự (2015); Ong Tze San (2013) thì kết quả nghiên cứu của họ tại các công trình về vấn đề hiệu quả tài chính của ngân hàng thì ROE và ROA có mối quan hệ cùng chiều với quy mô của ngân hàng Mặt khác trong nghiên cứu của Vincent và cộng sự (2013) thì các tác giả này lại cho rằng quy mô ngân hàng lại có tác động ngược chiều với ROA; ROE

 Đòn bẩy tài chính

Hoạt động huy động vốn của ngân hàng quyết định trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển bền vững của ngân hàng Vốn nó đống vai trò chi phối cũng như quyết định đối với việc thực hiện các chức năng của ngân hàng thương mại trong đó vốn chủ sở hữu giúp ngân hàng tiến hành hoạt động kinh doanh và quyết định quy mô của ngân hàng Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản của ngân hàng cho thấy khả năng chịu thiệt hại cũng như khả năng phục hồi của ngân hàng khi đối diện với khủng hoảng Theo những nghiên cứu của các tác giả Deger và cộng sự (2011) đều

sử dụng tỷ số vốn chủ sở hữu/tổng tài sản làm biến độc lập để nghiên cứu về vấn đề hiệu quả hoạt động tài chính của ngân hàng vì họ cho rằng vốn chủ sở hữu càng nhiều thì rủi ro của ngân hàng cũng từ đó được giảm thiểu và tạo được niềm tin của khách hàng Cùng với các tác giả trên thì Vincent Okoth Ongore và cộng sự (2013) trong công trình của mình cũng đưa ra kết quả tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản hay

là mức độ an toàn vốn có quan hệ cùng chiều với hiệu quả tài chính của ngân hàng

Trang 27

 Tỷ lệ thanh khoản

Tính thanh khoản của NHTM được xem như khả năng tức thời để đáp ứng nhu cầu khách hàng rút các khoản tiền gửi hay giải ngân các khoản vay tín dụng mà ngân hàng đã cam kết Rủi ro thanh khoản là một trong những rủi ro mà bất cứ ngân hàng nào cũng rất e sợ và nó là một trong những nguyên nhân đe dọa nghiêm trọng trong lĩnh vự tài chính, ngân hàng cũng như nền kinh tế Nếu ngân hàng không đủ nguồn vốn cần thiết trên thị trường để đáp ứng các nhu cầu hay mất khả năng thanh toán thì sự uy tín của ngân hàng sẽ bị đe dọa cùng với đó là kéo theo sự suy thoái của toàn hệ thống ngân hàng, vì vậy tỷ lệ thanh khoản hay quản lý thanh khoản là một trong những công tác rất quan trọng nhằm quản trị rủi ro và duy trì hoạt động tài chính ổn định cho ngân hàng Để phục vụ cho nghiên cứu của luận văn thì tác giả sử dụng công thức tỷ lệ nợ cho vay/tổng vốn huy động để đo lường tính thanh khoản Tỷ lệ này cho biết % các khoản cho vay đến từ những nguồn huy động, tỷ lệ này càng cao thì khả năng thanh khoản càng thấp Theo Usman Dawood (2014) cho rằng ROA có mối quan hệ ngược chiều với tính thanh khoản Mặt khác theo Muhammad (2014) lại cho rằng tính thanh khoản lại có mối quan hệ đồng biến với các chỉ tiêu khả năng sinh lời của ngân hàng

 Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng

Ngân hàng thương mại được xem là trung gian tài chính, là cầu nối cuẩ người cho vay và đi vay Nhờ có ngân hàng mà quá trình sản xuất kinh doanh và vận hành trong nền kinh tế được diễn ra một cách liên tục, cũng từ đó mà ta có thể thấy lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng đến từ hoạt động cho vay của nó Tuy nhiên tại bất cứ ngân hàng thương mại nào thì song song với hoạt động tín dụng chính là rủi ro tín dụng Chất lượng tín dụng hay chất lượng các khoản cho vay thể hiện qua tỷ lệ nợ xấu và nợ quá hạn nó tác động trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng Tỷ lệ nợ quá hạn hay nợ xấu càng cao thì ngân hàng có nguy cơ đối diện với tổn thất càng cao và lợi nhuận của ngân hàng cũng từ đó mà giảm xuống, vì vậy để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra thì các ngân hàng thường trích lập dự phòng và tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng thường được ngân hàng tính thông qua tỷ lệ % khi lấy giá trị dự phòng rủi ro tín dụng/tổng dư nợ Chỉ số này càng cao thì chứng tỏ các khoản tín

Trang 28

dụng của ngân hàng đang có chất lượng kém và khả năng thu hồi kém Theo kết quả nghiên cứu của Ong Tze San và cộng sự năm (2013) thì tỷ lệ trích lập dự phòng có mối quan hệ nghịch biến với ROA; ROE

 Hiệu quả quản lý

Hiệu quả quản lý của ngân hàng có thể hiểu là hiệu quả quản lý nguồn nhân lực, hoạch định chiến lược kinh doanh, hiệu quả trong việc quản lý chi phí Trong giới hạn nghiên cứu của luận văn thì tác giả đề cập đến hiệu quả quản lý chi phí để xem đây là một nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của ngân hàng Trong quản lý chi phí được đề cấp thì bao gồm cả việc quản lý các yếu tố đầu vào lẫn đầu

ra và xem xét xem các yếu tố này có đem lại lợi nhuận hay hoạt động hiệu quả hay không Mục đích quản lý chi phí để đảm bảo nguồn vốn mà ngân hàng huy động được luôn được sử dụng hiệu quả và đạt được mục đích kinh doanh cao nhất Mặt khác có thể cho rằng, quản lý chi phí của ngân hàng quyết định sự tồn tại của ngân hàng, giúp ngân hàng có thể sử dụng nguồn lực tối ưu nhất đó là kết quả của Usman Dawood (2014), đồng thời kết luận rằng quản lý chi phí càng hiệu quả thì hiệu quả tài chính cũng được nâng cao

2.3.2 Nhóm nhân tố vĩ mô

 Tốc độ tăng trưởng bình quân đầu người (GDP)

Đối với một nền kinh tế thì ngân hàng có mức độ liên quan mật thiết đến gần như tất cả các ngành nghề hay lĩnh vực đời sống vì vậy mọi sự thay đổi của kinh tế -

xã hội đều sẽ tác động ngược trở lại hệ thống ngân hàng Nền kinh tế phát triển, thể hiện ở tốc độ tăng trưởng GDP cao, ổn định từ đó cũng tạo điều kiện cho sự phát triển thuận lợi cho ngân hàng, thúc đẩy quả trình sản xuất kinh doanh cũng như hấp thụ vốn và hoàn trả vốn cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế Theo nghiên cứu của Usman Dawood (2014) thì GDP có mối quan hệ đồng biến với hiệu quả tài chính Theo Ali Nasserinia và cộng sự (2014) thì lại cho rằng đây là mối quan hệ ngược chiều và theo May Wahdan cùng cộng sự (2017) thì lại cho rằng không tồn tại mối quan hệ của hai yếu tố này

 Tỷ lệ lạm phát

Trang 29

Tại bất cứ nền kinh tế của quốc gia nào trên thế giới thì luôn có tồn tại lạm phát, lạm phát tăng cao sẽ làm thay đổi mức giá chung trên nền kinh tế, tác động đến sâu sắc đến ngân hàng kể cả các hoạt động huy động vốn cũng như cho vay, nó cũng tác động đến cả doanh thu hay chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp Vì vậy trên thế giới cũng có nhiều nghiên cứu liên quan đến mối liên hệ giữa lạm phát với hiệu quả tài chính của ngân hàng như Ong Tze San và cộng sự năm (2013) cho kết quả lạm phát tác động cùng chiều với hiệu quả tài chính, Husni Ali Khrawish (2011) thì lại kết luận ngược lại lạm phát lại có quan hệ ngược chiều với ROA, ROE và May Wahdan cùng cộng sự (2017) thì lại cho rằng không có sự tồn tại mối quan hệ của lạm phát và hiệu quả tài chính

2.3.3 Tổng quan các nghiên cứu về vấn đề nghiên cứu

Theo Nicole Petria cùng cộng sự (2015) trong nghiên cứu “Các nhân tố tác động đến lợi nhuận của ngân hàng, bằng chứng ở 27 quốc gia EU”, nghiên cứu này được nhóm tác giả thực hiện điều tra, khảo sát tại 1098 ngân hàng tại 27 quốc gia trong khu vực EU giai đoạn 2004 – 2011 Nhóm tác giả đã đề xuất mô hình thực nghiệm để nghiên cứu và kết quả của nghiên cứu này như sau: Yếu tố quy mô ngân hàng có tác động cùng chiều với ROA nhưng lại không tác động đến ROE; các loại rủi ro như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản cũng như tỷ lệ chi phí trên thu nhập thì

có quan hệ ngược chiều với cả ROA, ROE Đối với các yếu tố vĩ mô thì GDP có quan hệ đồng biến với ROA, ROE và yếu tố lạm phát không có quan hệ với hiệu quả tài chính của ngân hàng

Tại Anh, qua cuộc điều tra khảo sát của 73 ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2006 – 2012 thì tác giả Muhammad Sajid Saeed (2014) đã công bố công trình

“Các nhân tố tác động đến khả năng sinh lợi của ngân hàng, bằng chứng thực nghiệm tại ngân hàng của Anh” Trong nghiên cứu ngày thì mối quan hệ đồng biến giữa ROA, ROE và các nhân tố đó là quy mô ngân hàng, tỷ lệ vốn cho vay, tiền gửi,

tỷ lệ thanh khoản và lãi suất Ngược lại thì nhân tố tốc độ tăng trưởng GDP và tỷ lệ lạm phát lại có mối quan hệ ngược chiều với ROA, ROE

Theo tác giả Vincent Okoth Ongore cùng cộng sự (2013) qua công trình “Hiệu quả hoạt động tài chính của NHTM tại Kenya” được thực hiện nghiên cứu thông

Trang 30

qua 37 NHTM tại Kenya trong giai đoạn 2001 – 2010 với các nhân tố nội tại bên trong ngân hàng và các yếu tố vĩ mô thuộc bên ngoài của nền kinh tế Kết quả của nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản, tỷ lệ lợi nhuận/tổng lợi nhuận có mối quan hệ cùng chiều với hiệu suất của ngân hàng, trong đó các yếu tố như tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ, tốc độ tăng trưởng GDP lại có quan hệ nghịch chiều với hiệu quả tài chính Mặt khác đối với nghiên cứu này thì các tác giả cũng cho rằng các yếu tố thuộc kinh tế vĩ mô không đóng góp đáng kể vào hiệu quả tài chính

mà thay vào đó là các quyết định của ban quản lý và lãnh đạo ngân hàng

Cũng tại Malaysia trong công trình “Các nhân tố tác động đến lợi nhuận của các NHTM ở Malaysia giai đoạn 2003 – 2009” của tác giả Ong Tze San cùng cộng

sự (2013) Trong nghiên cứu này nhóm tác giả đã các đặc điểm đặc thù của ngân hàng và các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế tác động đến hoạt động tài chính của ngân hàng cũng như hiệu quả tài chính của ngân hàng Nhóm tác giả đã sử dụng ba chỉ tiêu đo lường lợi nhuận của ngân hàng đó là ROA, ROE, NIM cùng với các biến độc lập để tạo ra mô hình nghiên cứu Trong ba biến giải thích trên thì ROA được xem là phù hợp nhất để lý giải về khả năng sinh lời của ngân hàng và trong đó tỷ lệ vốn chủ sở hữu/trên tổng tài sản, tính thanh khoản, quy mô ngân hàng có tương quan đồng biến với lợi nhuận Ngược lại thì tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng,

tỷ lệ chi phí trên tổng thu nhập lại có mối quan hệ nghịch biến với lợi nhuận, đồng thời các biến số thuộc yếu tố kinh tế vĩ mô như lạm phát , tốc độ tăng trưởng GDP không có ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của ngân hàng

Hsuni Ali Khrawish (2011) với bài nghiên cứu “Các nhân tố tác động đến hiệu quả tài chính của NHTM – bằng chứng thực nghiệm từ Jordan” được thực hiện điều tra khảo sát tại 14 ngân hàng tại Jordan giai đoạn 2000 – 2010 Tác giả cho rằng chỉ tiêu sinh lợi của ngân hàng cũng sẽ được đánh giá thông qua hai chỉ số đó là ROA, ROE bằng phương pháp sử dụng hồi quy Pooled OLS thì hai chỉ số này có một tương quan dương với quy mô của ngân hàng, cấu trúc vốn, NIM và tương quan âm với sự tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát Đồng thời các yếu tố như lãi suất thực, lạm phát có tác động đáng kể đến lợi nhuận của ngân hàng tại Jordan

Trang 31

Tại Thổ Nhĩ Kỳ, tác giả Deger Alper cùng cộng sự (2011) đã công bố nghiên cứu “Các nhân tố nội tại và các nhân tố vĩ mô tác động đến khả năng sinh lợi của NHTM tại Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn 2002 – 2010” Các tác giả cũng đã sử dụng hai chỉ số ROA, ROE để phân tích thì kết quả cho thấy quy mô ngân hàng và thu nhập ngoại lãi có tác động dương và đáng kể đến lợi nhuận của ngân hàng, mặt khác thì tỷ lệ nợ cho vay trên tổng tài sản thì có tác động ngược lại đến lợi nhuận ngân hàng

Trong bài viết “Các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng tại Pakistan” của Sehrish cùng cộng sự (2011), đã được khảo sát và nghiên cứu thông qua số liệu được lấy từ 15 ngân hàng thương mại tại Pakistan trong giai đoạn 2005 – 2009 Trong nghiên cứu này các tác giả đã nêu mối quan hệ giữa đặc điểm của ngân hàng, đặc điểm kinh tế vĩ mô và khả năng sinh lời của ngân hàng Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ nợ trên tổng tài sản ko có mối quan hệ với khả năng sinh lời Đối với các biến số kinh tế vĩ mô chỉ có lạm phát tác động cùng chiều với hiệu quả tài chính của các ngân hàng

Tập trung vào năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) trong việc đánh giá các yếu tố quyết định hiệu quả của các ngân hàng Trung Á giai đoạn 2003-2006, nghiên cứu của Djahlilor và Piesse (2007) qua công trình “Đo lường và các yếu tố quyết định hiệu quả trong các ngân hàng Trung Á” cho thấy, phần lớn các tổ chức ngân hàng đều hoạt động có hiệu quả và sự kém hiệu quả của một số ngân hàng Trung Á

là do hệ số an toàn vốn thấp, chất lượng tài sản kém và khả năng sinh lời thấp

Nghiên cứu “Điều gì giải thích sự khác biệt về hiệu quả của các tổ chức tài chính?” của Berger & Mester (1997) cho thấy, các yếu tố như quy mô của ngân hàng và chất lượng tài sản của các ngân hàng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng nguồn lực của các ngân hàng thương mại (NHTM) Cơ cấu nguồn vốn đo lường sức mạnh nguồn vốn của ngân hàng được thể hiện qua tỷ lệ vốn chủ sở hữu

so với tổng tài sản của ngân hàng là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng

Theo Ayadi (2013) với bài phân tích “Các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của các NHTM tại Tunisian giai đoạn 1996 – 2010” Nghiên cứu ứng dụng

Trang 32

phương pháp phân tích phi tham số để đo lường hiệu quả hoạt động của các NHTM tại Tunisian Mô hình sử dụng biến hiệu quả chi phí theo DEA làm biến phụ thuộc

và các biến độc lập lần lượt là: Chỉ số tập trung của thị trường, tỷ lệ tiền gửi của từng ngân hàng so với hệ thống, tỷ lệ dư nợ tín dụng trên tổng tài sản, tỷ lệ vốn chủ

sở hữu trên tổng tài sản, quy mô của các ngân hàng đo lường bằng logarit thập phân của tổng tài sản và biến giả về hình thức chủ sở hữu các NHTM

Các nghiên cứu trong nước về hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại gần đây đã được một số tác giả quan tâm, tuy nhiên đa phần những nghiên cứu này chỉ dùng lại ở các nghiên cứu định tính như: nghiên cứu của nghiên cứu sinh Lê Thị Hương năm 2002 về "nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại Việt Nam", hay nghiên cứu của nghiên cứu sinh Lê Dân (2004)

"vận dụng phương pháp thống kê để phân tích hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam" tuy đã có phần nào tiếp cận theo cách thức phân tích định lượng nhưng vẫn chỉ dừng lại chủ yếu ở các chỉ tiêu mang tính chất thống kê, hoặc nghiên cứu của TS Phạm Thanh Bình (2005) với đề tài "nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh

tế khu vực và quốc tế" cũng chỉ chủ yếu dừng lại ở phân tích định tính Còn các nghiên cứu định lượng về đo lường hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại nhìn chung là còn ít, gần đây có nghiên cứu của Bùi Duy Phú (2002) đó là đánh giá hiệu quả của ngân hàng thương mại qua hàm sản xuất và hàm chi phí, tuy nhiên hạn chế của nghiên cứu đó là chỉ đơn thuần dừng lại ở việc xác định hàm chi phí và ước lượng trực tiếp hàm chi phí này để tìm các tham số của mô hình, do vậy mà không thể tách được phần phi hiệu quả trong hoạt động của ngân hàng Nguyễn Thị Việt Anh (2004) ước lượng các nhân tố phi hiệu quả cho ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Việt Nam có áp dụng phương pháp hàm biên ngẫu nhiên và ước lượng dưới dạng hàm chi phí Cobb-Douglas, tuy nhiên hạn chế cơ bản của nghiên cứu đó là việc chỉ định dạng hàm Như vậy, có thể nói việc vận dụng những phương pháp phân tích định lượng trong nghiên cứu hiệu quả hoạt động của ngành ngân hàng ở Việt Nam còn rất hạn chế, thực tế cũng cho thấy hiện nay trong phân tích hoạt động của ngành ngân hàng từ cấp ngân hàng đến cấp ngành các nhà phân

Trang 33

tích vẫn quen sử dụng các cách tiếp cận truyền thống, bởi vì, hiện nay đây vẫn là một cách tiếp cận dễ hiểu và dễ tính

Trang 34

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Trong Chương 2 tác giả đã đưa ra cơ sở lý thuyết về hiệu quả tài chính của ngân hàng bao gồm khái niệm về hiệu quả tài chính cũng như hiệu quả tài chính được đo lường bởi hai chỉ số ROA, ROE Trong chương này tác giả cũng đã liệt kê những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính như Quy mô ngân hàng, Mức độ an toàn vốn, Tính thanh khoản, Hiệu quả quản lý, Tỷ lệ lập dự phòng rủi ro đó là những yếu tố nội tại của ngân hàng ngoài ra còn hai yếu tố thuộc kinh tế vĩ mô đó là tốc độ tăng trưởng GDP và tỷ lệ lạm phát Đồng thời tác giả đã khảo lược các nghiên cứu liên quan về vấn đề này trên thế giới đã đề cập để làm cơ sở cho nghiên cứu này tại các chương tiếp theo

Trang 35

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Phương pháp nghiên cứu

3.1.1 Quy trình nghiên cứu

 Xác định các vấn đề nghiên cứu

 Xác định dữ liệu thứ cấp bên trong hoặc bên ngoài

 Thu thập và xử lý số liệu trên phần mềm STATA và Excel

 Tiến hành nghiên cứu các biến để xác định mối tương quan giữa các biến

 Kết quả nghiên cứu và nhận xét

3.1.2 Chọn mẫu và thu thập dữ liệu

Nguồn dữ liệu: Tác giả tiến hành thu thập số liệu về tình hình hoạt động kinh doanh trên Bảng cân đối kế toán và Bảng kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam

Thời gian thu thập: Trong thời gian 5 năm, từ năm 2015 – 2019

3.1.3 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn này được thực hiện nhằm nghiên cứu xác định các yếu tố có tác động đến HQTC của các NHTMCP Việt Nam Sau khi đã khảo lược các lý thuyết liên quan để xây dựng giả thuyết và mô hình nghiên cứu, bước tiếp theo sẽ sử dụng phương pháp phân tích và thực hiện hồi quy mô hình để kiểm định các giả thuyết đã đặt ra Trước khi tiến hành chạy hồi quy, các khuyết tật mô hình như: hiện tượng đa cộng tuyến, phương sai thay đổi và tự tượng quan của nhiễu sẽ được kiểm định Trong luận văn này phương pháp chính được sử dụng là phương pháp Robust standard errors trên dữ liệu bảng và hai phương pháp khác được sử dụng để so sánh đối chiếu là phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS – Feasib Generalized Least Squares), GMM (General Method of Moments)

Thứ nhất là về phương pháp FGLS, FGLS là phương pháp kết hợp mô hình hồi quy có trọng số (Weighted Least Squares – WLS) với mục đích khắc phục hiện tượng phương sai của sai số thay đổi và mô hình tự hồi quy bậc nhất với mục đích khắc phục tự tương quan của phần dư (Wooldridge, 2002) Cũng theo Wooldridge (2002), việc sử dụng phương pháp FGLS tốt hơn so với phương pháp Pooled OLS (Ordinary Least Squares – Bình phương bé nhất thông thường) là do phương pháp

Trang 36

Pooled OLS được giả định rằng hiện tượng phương sai của sai số phải đồng nhất và không có hiện tượng tự tương quan để cho việc ước lượng các tham số vững và không bị chệch

Thứ hai, phương pháp GMM là phương pháp dữ liệu bảng động được Lars Peter Hansen trình bày lần đầu tiên vào năm 1982 trong bài viết “Large Sample Properties of Generalized Methods of Moments Estimators” được đăng trong Econometrica, số 50, trang 1029-1054 GMM là phương pháp tổng quát của rất nhiều phương pháp ước lược phổ biến; ngay cả trong điều kiện giả thiết nội sinh bị

vi phạm, phương pháp GMM cho ra các hệ số ước lượng vững, không chệch, phân phối chuẩn và hiệu quả Theo kết quả nghiên cứu của Arellano và Bond (1991), phương pháp hồi quy tuyến tính dữ liệu bảng động (Arellano-Bond linear dynamic panel-data estimation) là một giải pháp hữu hiệu để ước lượng hồi quy trong mô hình trong trường hợp mô hình vừa có hiện tượng phương sai thay đổi, tự tương quan và nội sinh Mô hình Arellano và Bond (1991) kiểm soát được hiện tượng tự tương quan giữa phần dư, hiện tượng phương sai thay đổi và nội sinh Sau khi thực hiện hồi quy theo hai phương pháp FGLS và GMM, luận văn thực hiện hồi quy đối chiếu (Robustness check) và mở rộng theo phương pháp Robust standard errors trên

dữ liệu bảng Theo nghiên cứu Daniel Hoechle (2007), trên dữ liệu bảng có phương sai thay đổi, có tự tương quan xảy ra Để tăng hiệu quả của ước lượng hệ số, giảm

độ lệch chuẩn của ước lượng, Daniel Hoechle (2007) sử dụng phương pháp tính độ lệch chuẩn Robust standard errors được giới thiệu bởi Driscoll-Kraay (1998) Phương pháp hồi quy Robust standard errors trên dữ liệu bảng khắc phục được phương sai thay đổi, tự tương quan nếu có và hơn nữa đưa ra hiệu quả ước lượng hệ

số tốt hơn, độ lệch chuẩn ước lượng nhỏ hơn Với những ưu việt được trình bày trên, tác giả lựa chọn kết quả hồi quy trên Robust standard errors là kết quả chính cho nghiên cứu

3.1.4 Mô hình nghiên cứu

Với nghiên cứu này tác giả sẽ chọn các biến áp dụng vào mô hình hồi quy là kết quả từ những nghiên cứu thực nghiệm trước đây để phù hợp vào thực tế, dựa vào những công trình nghiên cứu trước đây về vấn đề hiệu quả tài chính tại chương

Trang 37

2 thì tác giả vận dụng và chọn những biến số từ những mô hình nghiên cứu để tiến hành xây dựng mô hình nghiên cứu tại Việt Nam

Trong các nghiên cứu của các tác giả Nicole Petria cùng cộng sự (2015); Muhammad Sajid Saeed (2014); Sufian et al (2012); Ong Tze San cùng cộng sự (2013); Deger Alper cùng cộng sự (2011) khi nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính thì các tác giả đã sử dụng biến phụ thuộc là ROA, ROE để đo lường hiệu quả tài chính

Nghiên cứu về các nhân tố tác động về hiệu quả tài chính thì các tác giả đã sử dụng các biến độc lập ảnh hưởng đến cấu trúc vốn được kế thừa từ những nghiên cứu trước đây đã được khảo lược tại chương 2 đó là Quy mô doanh nghiệp (SIZE) theo nghiên cứu của Nicole Petria cùng cộng sự (2015); Muhammad Sajid Saeed (2014); Hsuni Ali Khrawish (2011)

NHTM là trung gian tài chính giữa người cho vay và đi vay vì vậy ngân hàng luôn phải cân đối tỷ trọng các nguồn vốn huy động được và sử dụng sao cho hợp lý

và hiệu quả nhất vì vậy nhân tố đòn bẩy tài chính (LEV) là nhân tố quan trọng tác động đến hiệu quả tài chính đó là kết quả nghiên cứu của Vincent Okoth Ongore cùng cộng sự (2013); Sufian et al (2012); Ong Tze San cùng cộng sự (2013); Hsuni Ali Khrawish (2011); Deger Alper cùng cộng sự (2011); Sehrish cùng cộng sự (2011); Djahlilor và Piesse (2007); Berger và Mester (1997); Ayadi (2013)

Tiếp đó là nhân tố hiệu quả quan lý (ME) cũng đã được đưa vào trong các nghiên cứu của Nicole Petria cùng cộng sự (2015); Sufian cùng cộng sự (2012); Ong Tze San cùng cộng sự (2013) khi nghiên cứu về hiệu quả tài chính vì nhân tố này đo lường mức độ cân đối giữa thu nhập của ngân hàng và chi phí mà ngân hàng chi trả để hoạt động Hay nói cách khách việc cân đối này có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh lời hay hiệu quả tài chính của ngân hàng

Đối với hoạt động ngân hàng thì tỷ lệ thanh khoản (LIQ) rất quan trọng và ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính đây là kết luận từ các nghiên cứu của Muhammad Sajid Saeed (2014); Ong Tze San cùng cộng sự (2013);

Ngoài ra theo Nicole Petria cùng cộng sự (2015); Ong Tze San cùng cộng sự (2013) hoạt động tín dụng là hoạt động đem lại lợi nhuận cao nhất cho ngân hàng và

Trang 38

nó cũng đem lại rủi ro nhiều nhất cho ngân hàng vì vậy các ngân hàng phải dự phòng rủi ro cho hoạt động này, cũng chính hoạt động trích lập dự phòng này sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận hay khả năng sinh lời cũng chính là hiệu quả tài chính của ngân hàng vì vậy dự phòng rủi ro phải thu khó đòi (LLR) là yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của ngân hàng

Ngoài 5 nhân tố thuộc nội tại của ngân hàng thì các tác giả Nicole Petria cùng cộng sự (2015); Muhammad Sajid Saeed (2014); Vincent Okoth Ongore cùng cộng

sự (2013); Ong Tze San cùng cộng sự (2013); Hsuni Ali Khrawish (2011); Sehrish cùng cộng sự (2011) trong các nghiên cứu của mình cùng các cộng sự về các nhân

tố tác động đến hiệu quả tài chính có đưa thêm hai nhân tố thuộc yếu tố kinh tế vĩ

mô đó là GDP và tỷ lệ lạm phát vì họ lập luận rằng ngân hàng có liên quan đến tất

cả hoạt động của nền kinh tế vì vậy các sự thay đổi hay biến động của nền kinh tế cũng có tác động ngược lại và có mối quan hệ chặt chẽ đến hoạt động của ngân hàng hay tỷ lệ sinh lời của ngân hàng

Tác giả chọn các nhân tố này vì trong hoạt động kinh tế của Việt Nam nói chung và của hệ thống NHTM nói riêng thì sự vận hành của nó có nét tương đồng trên thế giới, mặt khác các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả tài chính của các ngân hàng Việt Nam hiện nay cũng chủ yếu tập trung các yếu tố này Mặt khác cũng có nhiều công trình tại Việt Nam nghiên cứu về vấn đề này và có sự kế thừa các nhân tố này

Bảng 3.1: Bảng mô tả các biến đưa vào mô hình nghiên cứu

Biến độc lập: Các yếu tố nội tại của ngân hàng

ngân hàng

Nicole Petria cùng cộng sự (2015); Muhammad Sajid Saeed (2014); Sufian et al (2012); Hsuni Ali Khrawish (2011); Ayadi (2013)

bẩy tài chính

Vincent Okoth Ongore cùng cộng sự (2013); Sufian et al (2012); Ong Tze San cùng cộng sự (2013); Hsuni Ali Khrawish (2011); Deger Alper cùng cộng sự (2011); Sehrish cùng cộng

Trang 39

sự (2011); Djahlilor và Piesse (2007); Berger và Mester (1997); Ayadi (2013)

quản lý

Nicole Petria cùng cộng sự (2015); Sufian cùng cộng sự (2012); Ong Tze San cùng cộng sự (2013)

Nicole Petria cùng cộng sự (2015); Ong Tze San cùng cộng sự (2013)

Biến độc lập: Các yếu tố liên quan đến kinh tế vĩ mô

Tốc độ tăng trưởng kinh

tế

Nicole Petria cùng cộng sự (2015); Muhammad Sajid Saeed (2014); Vincent Okoth Ongore cùng cộng sự (2013); Ong Tze San cùng cộng sự (2013); Hsuni Ali Khrawish (2011); Sehrish cùng cộng sự (2011)

phát

Nicole Petria cùng cộng sự (2015); Muhammad Sajid Saeed (2014); Vincent Okoth Ongore cùng cộng sự (2013); Ong Tze San cùng cộng sự (2013); Hsuni Ali Khrawish (2011); Sehrish cùng cộng sự (2011)

Biến phụ thuộc: Hiệu quả tài chính

Tỷ lệ trên thu nhập trên tổng tài sản

Nicole Petria cùng cộng sự (2015); Muhammad Sajid Saeed (2014); Sufian et al (2012); Ong Tze San cùng cộng sự (2013); Deger Alper cùng cộng sự (2011)

Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở

Nicole Petria cùng cộng sự (2015); Muhammad Sajid Saeed (2014); Sufian et al (2012); Ong Tze San cùng cộng sự (2013); Deger Alper cùng

Trang 40

hữu cộng sự (2011)

(Nguồn: Tác giả tổng hợp)

Ngày đăng: 18/08/2021, 21:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w